Thứ Năm, 24 tháng 11, 2016

Sự khác nhau giữa những “quan điểm sai trái, thù địch” với những ý kiến khác với quan điểm, đường lối của Đảng.

Sự khác nhau giữa những “quan điểm sai trái, thù địch” với những ý kiến khác với quan điểm, đường lối của Đảng.
Thứ nhất, về động cơ, mục đích.
Các thế lực thù địch, cơ hội chính trị tung ra những quan điểm sai trái, thù địch một cách công khai, thẳng thắn nhằm đả kích vào Đảng, phủ nhận vai ừò lãnh đạo của Đảng, đả kích vào chế độ XHCN, phủ nhận con đường XHCN, nhằm lái đất nước đi vào con đường TBCN. Còn có những ý kiến của cán bộ, đảng viên khác, thậm chí có khi trái với một số chủ trương của Đảng trong một thời điểm nào đó nói chung là vì mục đích xây dựng, muốn đóng góp ý kiến với Đảng, Nhà nước để làm tốt hơn, lãnh đạo và quản lý đất nước hiệu quả hơn. Thậm chí trước những tiêu cực xã hội, những yếu kém ừong lãnh đạo, quản lý, có thể có những ý kiến của cán bộ, đảng viên tâm huyết quá bức xúc, phê phán mạnh mẽ, gay gắt cũng là vì mục đích, động cơ xây dựng. 
Thứ hai, về nội dung các quan điểm.
Các quan điểm sai trái, thù địch phủ nhận, bác bỏ thẳng thừng những nội dung cốt lõi, then chốt trong đường lối chính trị, quan điểm cơ bản của Đảng. Cụ thể là:
-      Bác bỏ những nguyên lý cơ bản hoặc toàn bộ nền tảng tư tưởng của Đảng là chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Những quan điểm này bằng nhiều cách xuyên tạc, phủ nhận, nói xấu, bôi đen nền tảng tư tưởng của Đảng và những người sáng lập ra nền tảng tư tưởng đó.
-      Bác bỏ lý tưởng XHCN, con đường đi lên CNXH, ca ngợi, cồ súy cho CNTB, bôi đen CNXH, xuyên tạc CNXH cả trên lý luận lẫn thực tiễn.
Phủ nhận, bác bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, quy mọi sai lầm, khuyết điểm về cho Đảng Cộng sản.
-                              Muốn lật đổ chế độ XHCN, thay đổi chế độ chính trị ở nước ta. Gần đây họ đưa ra cái gọi là “Diễn đàn xã hội dân sự”, họ tung lên mạng Internet, mạng xã hội đủ loại ý kiến mà mục đích cuối cùng là “chuyển đổi thể chế chính trị Việt Nam”.v.v.. 
           Thứ ba, về phương pháp, cách thức.
Những người có quan điểm sai trái, thù địch không từ một thủ đoạn nào dù là xấu xa, bẩn thỉu nhất để chống Đảng Cộng sản Việt Nam, chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, chống chế độ XHCN, chống nhân dân. Họ sẵn sàng bịa đặt, nói xấu một cách vô liêm sỉ, đổi trắng thay đen, suy diễn một cách vô căn cứ, đồng nhất toàn bộ Đảng Cộng sản với một số cán bộ đảng viên tham nhũng, thoái hóa biến chất, phủ nhận công lao của Đảng, phủ nhận lịch sử, cực đoan, phiến diện, siêu hình., quy chụp mọi khuyết điểm, sai lầm về cho Đảng Cộng sản Việt Nam, lấy hiện tượng thay cho bản chất V.V..về hình thức diễn đạt, các quan điểm sai trái, thù địch còn dùng những ngôn từ xấu xa, tệ hại, vũ đoán, nói lấy được, thậm chí còn chửi bới bậy bạ, vô văn hóa. 
Thứ tư, về nhân thân.
Những người tung ra các quan điểm sai trái, thù địch chủ yếu là các thế lực thù địch bên ngoài, các đảng phái chính trị phản động như Đảng Việt Tân ở hải ngoại, các phần tử cơ hội, chính trị trong và ngoài nước, có những người đã từng vi phạm pháp luật Việt Nam, lòng đầy hận thù với chế độ. Trong số này, có cả một số người trước kia là cán bộ, đảng viên song bây giờ họ đã chuyển sang “trận tuyến bên kia”, họ đã sám hối, trở cờ, trở thành thế lực thù địch. Còn những cán bộ, đảng viên có ý kiến khác với đường lối của Đảng có thể do trình độ nhận thức hạn chế, do phương pháp tư duy giản đơn, không biện chứng, do ngộ nhận hoặc chịu ảnh hưởng nhất đinh của những quan điểm sai trái chứ không phải là thế lực thù địch.
Thứ năm, về cách thức đăng tải ỷ kiến. 
Các thế lực thù địch tìm mọi cách để tuyên truyền, phát tán những quan điểm sai ữái của mình trên các phương tiện thông tin đại chúng như cho xuất bản sách, báo ở nước ngoài, sản xuất băng đĩa hình, in truyền đơn rồi tìm cách chuyển về trong nước, sử dụng các đài truyền hình, phát thanh của nước ngoài (như RFI, BBC...) nhằm vào Việt Nam. Đặc biệt ngày nay dựa vào thành tựu của công nghệ thông tin hiện đại, các thế lực thù địch sử dụng mạng Internet, các mạng xã hội (facebook, twiste...) các bloge để tán phát rất nhanh, hữu hiệu quan điểm của họ vào Việt Nam và trên, khắp thế giới.Trái lại, là cán bộ, đảng viên, nếu có ý kiến khác hoặc trái với đường lối, quan điểm của Đảng có thể phản ánh lên cấp trên, cấp có thẩm quyền, có quyền bảo lưu ý kiến, hoặc trình bày, thảo luận trong các hội thảo khoa học, hội nghị nội bộ chứ không được tùy tiện phát tán trên các phương tiện thông tin đại chúng; đảng viên phải chấp hành Điều lệ Đảng và Quy định của Ban Chấp hành Trung ương Trung ương về những điêu đảng viên không được làm. Đối với 2 loại ý kiến trên đây chúng ta phải có thái độ và phương pháp đối xử đúng đắn, phù hợp. 
Đối với quan điểm sai trái, thù địch trong và ngoài nước, chúng ta phải đấu tranh, phê phán mạnh mẽ, kiên quyết, kiên tri, không mơ hồ, không thỏa hiệp. Các thế lực thù địch không từ một thủ đoạn nào để chống phá sự nghiệp cách mạng của chúng ta, chống phá Đảng, chống phá chế độ ta. Dã tâm của họ là không thay đổi. Còn đối với những cán bộ, đảng viên có ý kiến khác với đường lối, quan điểm của Đảng, đây là mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân, chúng ta cũng phải đấu tranh, phê phán, làm rõ đúng - sai thông qua đối thoại, trao đổi, tọa đàm, thuyết phục trên tinh thần đồng chí, tăng cường đoàn kết, đồng thuận, không đẩy họ về phía các thế lực thù địch mà cố gắng lôi kéo họ về phía chúng ta; chúng ta phê phán quan điểm sai chứ không phê phán con người, xúc phạm, đả kích cá nhân. Thông qua phê phán, chúng ta cũng phải xem lại mình, xem lại chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước có chỗ nào không đúng, còn khiếm khuyết cần phải sửa chữa, bổ sung, hoàn thiện; những nội dung nào thực hiện chưa tốt cần phải chấn chỉnh, thực hiện tốt hơn để giải tỏa bức xúc của nhân dân và cán bộ, những nội dung nào có vấn đề hoặc chưa rõ cần tiếp tục đi sâu nghiên cứu để làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn, qua đó hoàn thiện chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Như vậy sự phê phán đã chuyển thành tự phê phán, sự phê phán tiêu cực đã chuyển thảnh phê phán tích cực./.


Thế nào là cộng đồng tộc người?

Cộng đồng tộc người là một phạm trù lịch sử dùng để chỉ một cộng đồng người được hình thành trong những điều kiện lịch sử nhất định, gồm một hay nhiều tộc người cùng sinh sống trên một lãnh thổ nhất định, gắn bó với nhau bởi các quan hệ xã hội cùng nguồn gốc, ngôn ngữ, lãnh thổ, kinh tế, đặc trưng văn hóa, tâm lý, ý thức tự giác theo những đặc trưng, tiêu chí chung nhất định.
Cộng đồng tộc người là một loại hình cộng đồng người hình thành lâu dài trong trong lịch sử, khác với các loại cộng đồng người theo tổ chức hành chính (tỉnh, huyện, xã), giai cấp, tầng lớp xã hội, nghề nghiệp, tôn giáo, kinh tế...
Cộng đồng tộc người có quá trình ra đời, vận động, phát triển và đến một lúc nào đó sẽ tiêu vong. Chẳng hạn, hình thức cộng đồng bộ tộc hiện nay hầu như đã không còn tồn tại ở nhiều tộc người trên thế giới.
Đặc điểm phổ biến là phần lớn các cộng đồng tộc người thường gồm nhiều tộc người thành phần. Mẫu số chung là trong một cộng đồng tộc người thường có một tộc người đa số, chiếm ưu thế, đóng vai trò hạt nhân tập hợp, quy tụ các tộc người thành phần. Như bộ tộc Văn Lang thời Hùng vương có nhiều tộc người thuộc nhóm ngôn ngữ Việt Mường, Tày Thái, Môn - Khmer tham gia cấu thành, nhưng tộc người đa số là tộc người Việt (Kinh).
Khi nói đến cộng đồng tộc người, người ta thường nhấn mạnh đến với tư cách là cộng đồng chính trị xã hội để phân biệt với tộc người, tính tộc người. Do trải qua các hình thái kinh tế - xã hội, các tộc người chịu sự tác động của các yếu tố kinh tế, chính trị, xã hội, giai cấp để tạo thành các hình thức cộng đồng tộc người khác nhau. Nên bên cạnh cốt cách tộc người, các đặc trưng của hình thức cộng đồng ở các hình thái kinh tế - xã hội khác nhau cũng có sự khác nhau về kinh tế, thể chế chính trị, đặc điểm cơ cấu xã hội...

Theo quan điểm phổ biến hiện nay, lịch sử tộc người đã trải qua 3 hình thức cộng đồng phát triển từ thấp lên cao. Do điều kiện và hoàn cảnh cụ thể của từng nơi mà sự phát triển của các loại hình đó không diễn ra như nhau; có nơi trải qua lần lượt các hình thức cộng đồng tộc người; có nơi có thể bỏ qua một hình thức tổ chức nào đó, hoặc có nhưng không điển hình. Ba hình thức đó là: Thị tộc - bộ lạc (thời cộng sản nguyên thủy), bộ tộc (thời chiếm hữu nô lệ và phong kiến) và dân tộc (thời tư bản chủ nghĩa và xã hội hội chủ nghĩa). Mỗi hình thức cộng đồng tộc người có các đặc điểm, kết cấu xã hội, đặc trưng văn hóa khác nhau, ra đời và tồn tại ở các hình thái kinh tế - xã hội khác nhau. 

Thứ Tư, 23 tháng 11, 2016

VIỆT NAM LÀ ĐẤT NƯỚC CỦA TỰ DO TÔN GIÁO

        Ở Việt Nam từ trước đến nay, vấn đề dân tộc, tôn giáo luôn là vấn đề được quan tâm và coi trọng, cụ thể hóa trong các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam liên quan đến vấn đề này. Là một nước đa tôn giáo, vì vậy Đảng, Nhà nước luôn quan tâm, đưa ra các chính sách, chủ trương về vấn đề tôn giáo mà trong tháng 10/2016, Quốc hội khóa 14 đã lấy ý kiến về dự thảo Luật tín ngưỡng, tôn giáo. Lợi dụng vấn đề đó các thế lực thù địch, các tổ chức phản động đột lốt dân chủ, nhân quyền đã rêu rao trên các diễn đàn, đăng tải nhiều bệnh phẩm với nội dung phản đối, công kích, bôi nhọ, xuyên tạc về dự thảo Luật trên.
          Gần đây các diễn đàn độc hại như anhbasam, Việt Tân, danluan, danlambao đăng tải các bài viết với nội dung như: “Yêu cầu sửa đổi Dự thảo Luật Tôn giáo và Tín ngưỡng mới - Thư ngỏ của 54 Tổ chức Nhân quyền và Xã hội Dân sự Quốc tế”“Nghị sĩ Asean lo ngại luật tôn giáo Việt Nam”. Luận điệu của chúng có đoạn viết: “…Tiếp tục lưu giữ những hạn chế không thể chấp nhận đối với quyền tự do tôn giáo hay tín ngưỡng, cũng như các nhân quyền khác. Đặc biệt, những bảo đảm cơ bản cho quyền tự do tôn giáo hay tín ngưỡng tiếp tục bị xói mòn với cơ chế Đăng ký hà khắc, bó buộc, cho phép nhà nước xâm phạm quá đáng vào công việc nội bộ các tổ chức tôn giáo… Đây là điều trái chống với tinh thần và nguyên tắc của quyền tự do tôn giáo và tín ngưỡng…”.
            Về vấn đề này, tác giả xin phép có một vài ý kiến như sau:
           Thứ nhất, các phần tử phản động có tư tưởng chống đối Nhà nước đã không bỏ lỡ sự kiện góp ý dự thảo Luật tín ngưỡng, tôn giáo, mà ra sức xuyên tạc, bóp méo, vu khống vấn đề tự do tôn giáo tại Việt Nam. Hay nói cách khác, chúng lợi dụng phản biện, góp ý để công kích, tác động gây chia rẽ đoàn kết dân tộc, đoàn kết lương - giáo. Động cơ không phải muốn sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam phát triển hơn, văn minh hơn mà chúng chỉ muốn chọc ngoáy, tìm cớ phê phán, góp ý sửa đổi những quy định trong luật theo hướng “có lợi” cho việc tiến hành các hoạt động chống phá núp dưới danh nghĩa tôn giáo.
            Hơn nữa, nhìn vào thực tế hiện nay, nước ta có 13 tôn giáo với 36 tổ chức tôn giáo và 01 pháp môn tu hành đã được công nhận và cấp đăng ký hoạt động, với gần 24 triệu tín đồ, 83.000 chức sắc, 46 cơ sở đào tạo chức sắc tôn giáo, 25.000 cơ sở thờ tự… Qua số liệu này cho thấy chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta đảm bảo các quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo, phát triển của các tôn giáo, tồn tại cùng dân tộc lâu dài trong quá trình phát triển của đất nước. Đây là một sự thật không ai có thể xuyên tạc và phủ nhận.
            Đồng thời, việc xây dựng và ban hành Luật tín ngưỡng, tôn giáo là rất cần thiết, là cơ sở pháp lý quan trọng để bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân. Việc ban hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo sẽ tiếp tục thể chế hóa quan điểm, đường lối của Đảng về tín ngưỡng, tôn giáo; cụ thể hóa tinh thần và nội dung của Hiến pháp năm 2013 về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; nội luật hóa các Điều ước quốc tế liên quan mà Việt Nam đã ký kết hoặc gia nhập; đồng thời khắc phục những hạn chế, bất cập của pháp luật hiện hành về tín ngưỡng, tôn giáo.
             Nhà nước ta bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; đồng thời, để quyền tự do đó được bảo đảm thì mọi tổ chức, cá nhân phải nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật Nhà nước. Pháp luật sẽ nghiêm trị những kẻ lợi dụng tôn giáo để xâm phạm lợi ích cộng đồng, xâm phạm quyền và lợi ích của công dân, làm mất ổn định chính trị, xã hội, ảnh hưởng đến sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đây là lẽ đương nhiên, phù hợp với luật pháp và thông lệ quốc tế.
            Chính sách nhất quán của Nhà nước Việt Nam là tôn trọng và bảo đảm các quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân. Điều này được ghi rõ trong Hiến pháp, hệ thống pháp luật của Việt Nam và được bảo đảm, tôn trọng trên thực tế. Pháp luật Việt Nam nghiêm cấm sự phân biệt đối xử với công dân vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo. Nhà nước Việt Nam đã và đang thực thi nhiều chính sách và biện pháp cụ thể để đảm bảo người dân được thụ hưởng đầy đủ các quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng. Chính điều này đã tạo nên một đời sống tôn giáo, tín ngưỡng hết sức phong phú, sinh động ở Việt Nam.


TRÒ HỀ MANG TÊN GIẢI THƯỞNG NHÂN QUYỀN NĂM 2016

          Những tổ chức chống đối trong nước thường được hỗ trợ rất nhiều tiền từ nước ngoài, những gói tiền này được xé lẻ gửi qua tài khoản của nhiều người, đến khi có lời hô hào hưởng ứng thì ngay lập tức có thể gom được vài trăm triệu hỗ trợ cho lực lượng biểu tình. Để hợp thức, tô vẽ bộ mặt cho đẹp đẽ thì những tổ chức chống đối ngoài nước bày ra những giải thưởng nhân quyền để gửi về trong nước qua những cá nhân tiêu biểu trong hoạt động gây rối.
          Sắp tới, tổ chức Viet Nam Human Right đề cử những cá nhân trao giải nhân quyền năm 2016. Trong danh sách có những cái tên như luật sư Võ An Đôn, bà Cấn Thị Thêu, bà Trần Thị Ngọc Anh là những gương mặt thường xuyên ăn vạ tại các trụ sở cơ quan Nhà nước. Thành tích nhân quyền của những người kia thì vô cùng tồi tệ, họ chủ yếu đi khiếu kiện, gửi đơn vượt cấp, cãi cọ nhằm thỏa mãn niềm sung sướng nhân quyền “mồm” của bản thân. Thực chất hành vi gây rối của những con người đội lốt nhân quyền trên chỉ nhằm thỏa mãn niềm sung sướng cái mồm của chính bản thân họ. Họ đi gây rối, náo loạn thì những nhà dân chủ vỗ ngực là vì nhân quyền hết buổi thì chụp ảnh, ghi hình quân số về nhận tiền công. Thành tích nhân quyền của những con người trên chủ yếu là kể lể vì những lần đi gây rối bị Công an ngăn chặn, rồi bị bắt vì gây rối trật tự công cộng, tụ tập biểu tình phá rối an ninh trật tự trên các địa bàn.
            Phải chăng thành tích nhân quyền đó thì sẽ được tiền đô la, phải chăng những việc làm, hành động đó thì được gọi là nhân quyền, đó là nhân quyền thực sự hay chỉ là nhân quyền “mồm”? Nhân quyền “mồm” thì không thể coi là nhân quyền được, tuy rằng nó núp bóng dưới dạng đấu tranh với các tiêu cực xã hội, nhân quyền thực sự là nhân quyền của đông đảo quyền lợi nhân dân chứ không phải trở thành các công cụ cho những nhà dân chủ, dân oan lợi dụng để chuộc lợi cá nhân. Giải thưởng mà các tổ chức chống đối nước ngoài gửi cho những nhà dân chủ trong nước, đấu tranh nhân quyền hay là xin tiền mà tại sao suốt ngày thấy những nhà dân chủ vận động người hải ngoại gửi tiền vào trong nước hỗ trợ cho họ, đó có phải là đấu tranh nhân quyền hay chỉ là một màn kịch được vạch ra để bóc lột tiền của hải ngoại.

             Không biết những phong trào nhân quyền này có thể lôi kéo được đông đảo người dân tham gia hay không, nhưng nếu chỉ thỏa mãn nhu cầu nhân quyền “mồm” thì có lẽ sẽ chẳng thể nào lôi kéo người dân, tầng lớp thanh niên, trí thức tham gia được. Những hình thức đấu tranh nhân quyền này chỉ giành cho những kẻ mặt trơ trơ như viên đá mài. Tốt nhất, với số đối tượng này nên kiềm chế hành động của mình, đừng hung hăng khi xông vào những trụ sử tiếp dân, cơ quan Nhà nước, đừng to tiếng, thô lỗ, tụ tập phá rối an ninh trật tự trên địa bàn thủ đô, nếu không có ngày lại rước họa vào thân.

RSF THÔI ĐỪNG XUYÊN TẠC!

            Thời gian qua, một số tờ báo, trang Blog cá nhân, mạng xã hội đăng tải thông tin sai sự thật, vu khống lãnh đạo Đảng và Nhà nước Việt Nam, xuyên tạc tình hình Việt Nam đã ảnh hưởng rất lớn tới hình ảnh đất nước, con người Việt Nam với bạn bè thế giới. Gần đây nhất dư luận không khỏi bức xúc về vụ việc Tổ chức Phóng viên không biên biên giới (RSF) đưa Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng vào danh sách “kẻ thù của tự do truyền thông” và xếp Việt Nam đứng thứ 175 trong số 180 quốc gia “đàn áp tự do báo chí”. Chúng hả hê xuyên tạc rằng: Tại Việt Nam báo chí hoàn toàn bị cấm đoán, internet bị theo dõi và kiểm soát chặt chẽ; Nhiều công dân mạng và Blogger bị chính quyền đàn áp vì những cáo buộc mơ hồ…thực hư vấn đề này như thế nào chưa nói chắc bạn đọc củng đã rõ mấy phần.
             Trước tiên tác giả muốn bạn đọc biết được Tổ chức Phóng viên không biên biên giới (RSF) là gì? Đây là một tổ chức phi Chính phủ hoạt động toàn cầu với mục đích bảo vệ tự do báo chí trên thế giới, chống kiểm duyệt và tạo áp lực giúp đỡ những nhà báo đang bị giam giữ. Tổ chức hoạt động dựa trên điều 19 của Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền. Phóng viên không biên giới do nhà báo người Pháp Robert Ménard thành lập năm 1985. Những năm gần đây dưới sự tài trợ, thao túng của Mỹ và các nhà tài phiệt phương Tây tôn chỉ, mục đích ban đầu mà Tổ chức Phóng viên không biên biên giới đã đề ra đang dần trở nên méo mó hơn bao giờ hết. Mặc dù, đang khoác lên mình cái nhãn hiệu bảo vệ quyền lợi của các nhà báo, nhưng trên thực tế, RSF không hề bảo vệ các nhà báo chân chính mà chỉ chăm chăm tiếp tay một số Blogger và nhà báo giả danh để hoạt động chống phá chính quyền mà không ít Quốc gia đã lên tiếng để phản đối.
             Tại Việt Nam, quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí được Hiến pháp ghi nhận, tôn trọng và bảo đảm thực thi. Theo đó, tất cả các bản Hiến pháp của nước ta từ trước đến nay đều có những quy định về tự do ngôn luận, tự do báo chí và khẳng định đây là một trong những quyền cơ bản nhất của con người, của mọi công dân.
             Điều 25, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định
                Điều 2, Luật báo chí Việt Nam quy định:
Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi để công dân thực hiện quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí và để báo chí phát huy đúng vai trò của mình.
Báo chí, nhà báo hoạt động trong khuôn khổ pháp luật và được Nhà nước bảo hộ ; không một tổ chức, cá nhân nào được hạn chế, cản trở báo chí, nhà báo hoạt động. Không ai được lạm dụng quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, tập thể và công dân...”
             Hành động trên của RSF rõ ràng là một sự xuyên tạc, bóp méo, bịa đặt, vu cáo, bôi đen thực tế xã hội và thực trạng tự do, dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam, thể hiện cái nhìn phiến diện và áp đặt của tổ chức này.
             Hơn nữa, những trường hợp mà RSF gọi là “các Bloggers có tiếng nói đối lập bị đàn áp” như: Nguyễn Hữu Vinh, Nguyễn Văn Đài, Tạ Phong Tần, Nguyễn Ngọc Như Quỳnh hay Hồ Hải họ đã lợi dụng việc tự do ngôn luận, tự do báo chí, có quan điểm sai trái, thù hằn với Việt Nam tự ý thành lập các trang Blog cá nhân, các website, lợi dụng mạng xã hội facebook, twitter… để tuyên truyền những vấn đề không đúng với sự thật tại Việt Nam, vu khống Việt Nam đàn áp tự do tôn giáo, không có dân chủ, nhân quyền. Đây là những hành động hoàn toàn sai trái vi phạm nghiêm trọng pháp luật Việt Nam và  phải bị xử lý nghiêm khắc để đảm bảo mọi người dân Việt Nam cũng như trên thế giới có quyền tiếp cận những thông tin chính thống, đúng sự thật về tình hình Việt Nam. Đây là lẽ đương nhiên, phù hợp với luật pháp và thông lệ quốc tế.
       RSF thực chất chỉ là một công cụ đắc lực cho các tổ chức phản động bên cạnh các tổ chức như HRW nhằm chống phá tình hình nội bộ các quốc gia, can thiệp sâu vào các sự việc điều này làm lộ rõ bản chất diều hâu của tổ chức này là hoạt động dựa trên sự chỉ đạo của các thế lực thù địch chứ chẳng hề có cái gọi là “tự do” như họ quảng bá.

Phải chăng hiện nay chúng ta không cần tiếp tục kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội?

             Văn kiện Đại hội XI của Đảng yêu cầu phải “kiên định mục tiêu là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”, vì đây vừa là mục tiêu, lý tưởng, vừa thể hiện bản lĩnh chính trị, trình độ trí tuệ của Đảng và mỗi cán bộ, đảng viên. Nắm vững mối quan hệ biện chứng giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vận dụng phù hợp trong từng thời kỳ lịch sử là một trong những nguyên nhân của thành tựu cách mạng nước ta. Đặc biệt, trong bối cảnh phức tạp của tình hình thế giới cũng như những thuận lợi và khó khăn ở trong nước hiện nay, việc kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội lại càng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.
            1. Lựa chọn mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là tất yếu khách quan của cách mạng nước ta. Quá trình ra đi tìm đường cứu nước, chỉ khi đến được với chủ nghĩa Mác – Lê-nin, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc mới tìm thấy con đường cứu nước, giải phóng dân tộc. Năm 1924, khi đọc Luận cương của V.I. Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa, Người thấy “Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta!”1. Trong cuốn “Đường Kách mệnh”, Người viết rằng, bây giờ chủ nghĩa nhiều, học thuyết nhiều nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin. Người chỉ ra:“Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”2. Đó cũng chính là con đường kết hợp độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Sự lựa chọn của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta là một tất yếu khách quan do lịch sử quy định, phù hợp với chủ nghĩa Mác - Lênin, với mục tiêu lớn của thời đại và ý nguyện của nhân dân; được gắn với đặc điểm, tình hình của mỗi giai đoạn khác nhau của cách mạng Việt Nam. Đây không phải do ý muốn chủ quan của Đảng mà là tổng hợp những điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan, kinh tế và chính trị, trong nước và quốc tế, phản ánh khát vọng của dân tộc.
              Năm 1945, Cách mạng Tháng Tám thành công, lập nên Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á. Đảng ta trở thành đảng cầm quyền, tiếp tục lãnh đạo nhân dân ta tiến hành thắng lợi hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, thống nhất Tổ quốc, hoàn thành cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội.
Năm 1986, trong bối cảnh cực kỳ khó khăn do chủ nghĩa xã hội trên thế giới lâm vào thoái trào, phe xã hội chủ nghĩa đứng trước nguy cơ tan rã, khủng hoảng kinh tế - xã hội trong nước kéo dài, Đảng ta đã khởi xướng và lãnh đạo công cuộc đổi mới, tạo ra một bước ngoặt mang ý nghĩa cách mạng cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội.
 Nhờ đó, gần 30 năm qua, nước ta đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, tạo ra thế và lực mới, nâng cao vị thế trên trường quốc tế. Có thể khẳng định các sự kiện trong những năm: 1930, 1945, 1954, 1975, 1986 đã trở thành những cột mốc lịch sử quan trọng cho sự lựa chọn con đường chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Nó minh chứng con đường cách mạng giải phóng dân tộc do Đảng Cộng sản chân chính lãnh đạo tất yếu đi lên chủ nghĩa xã hội; độc lập dân tộc luôn gắn liền với chủ nghĩa xã hội là một tất yếu, nội tại. Bởi, độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết để thực hiện chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa xã hội là cơ sở bảo đảm vững chắc cho độc lập dân tộc. Đúng như Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) khẳng định: “Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử”3.
2. Kiên quyết đấu tranh chống các quan điểm sai trái phủ nhận mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Gần 30 năm đổi mới, đất nước đã đạt những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trên con đường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; tạo tiền đề quan trọng để nước ta tiếp tục đổi mới và phát triển; khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội là phù hợp với thực tiễn của Việt Nam và xu thế phát triển của lịch sử. Tuy nhiên, đất nước ta cũng đang đứng trước những khó khăn, thách thức không nhỏ. Tình hình thế giới, khu vực diễn biến phức tạp, khó lường, nhất là sự cạnh tranh về chủ quyền, lãnh thổ, biển, đảo ngày càng quyết liệt giữa các nước diễn ra ở nhiều khu vực, trong đó có Biển Đông; sự chống phá quyết liệt bằng chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, v.v. Trong nước, những hạn chế, khuyết điểm vốn có của nền kinh tế chưa được giải quyết; những hạn chế, yếu kém trong lãnh đạo, quản lý và những vấn đề mới phát sinh đã làm cho kinh tế phát triển thiếu ổn định, chưa bền vững; chất lượng, hiệu quả, năng suất lao động xã hội và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp, v.v. Lợi dụng tình hình đó, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị, thậm chí một số cán bộ, đảng viên non kém về bản lĩnh chính trị và sự nhạy cảm về chính trị muốn phủ nhận mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và vai trò lãnh đạo của Đảng. Họ cho rằng “chủ nghĩa xã hội là con đường mù mờ, không có tương lai”, “đi vào ngõ cụt”, “đã bị lịch sử phủ định”; “ngày xưa trong thời kỳ phong kiến đã có chủ nghĩa xã hội đâu mà vẫn giữ được độc lập dân tộc”, “lựa chọn con đường xã hội chủ nghĩa là do ý chí chủ quan của Đảng”; “chủ nghĩa nào, chế độ nào cũng được, miễn là dân giàu, nước mạnh”, v.v. Những quan điểm trên đây không thể đứng vững được trước sự phê phán, bởi lý luận và trước thực tế lịch sử.
               Trong thời kỳ trước đây, ở nước ta, các triều đại phong kiến tiến bộ đại diện cho dân tộc đã lãnh đạo nhân dân đấu tranh chống ngoại xâm, giành độc lập cho đất nước. Khi đó chưa có chủ nghĩa xã hội. Trên thế giới, chủ nghĩa xã hội được đặt ra về lý luận khoa học khi chủ nghĩa Mác ra đời, về thực tiễn khi Cách mạng Tháng Mười Nga (1917) thành công. Do đó, nếu đặt vấn đề chủ nghĩa xã hội ở nước ta trong thời kỳ phong kiến là phi lịch sử và không thể dựa vào đó để phủ nhận con đường xã hội chủ nghĩa của nước ta. Những quan điểm phủ nhận trên đã có cái nhìn sai lệch về chủ nghĩa tư bản và xã hội chủ nghĩa, nó cường điệu những thành tựu của chủ nghĩa tư bản mà không thấy hoặc coi nhẹ những khuyết tật, mâu thuẫn của chủ nghĩa tư bản. Hiện tại, chủ nghĩa tư bản vẫn còn tiềm năng phát triển, nhất là về kinh tế, nhờ ứng dụng những thành tựu mới của khoa học và công nghệ, v.v. 
               Tuy vậy, về bản chất, chủ nghĩa tư bản vẫn là một chế độ áp bức, bóc lột và bất công, dù có những điều chỉnh thích nghi. Những người phủ nhận mục tiêu của cách mạng Việt Nam còn có cái nhìn định kiến với quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội trước đây ở một số nước. Họ đồng nhất chủ nghĩa xã hội hiện nay với những khuyết tật trong mô hình chủ nghĩa xã hội Xô - viết trước đây, không thấy những thành tựu trong đổi mới, cải cách đang diễn ra ở Việt Nam, Trung Quốc, Lào, Cu Ba. Cần phải rõ rằng: sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu không phải là sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa nói chung, mà chỉ là sự sụp đổ của một mô hình chủ nghĩa xã hội - mô hình chủ nghĩa xã hội tập trung, quan liêu, bao cấp. Chủ nghĩa xã hội với những phẩm giá tốt đẹp vẫn là lý tưởng mà nhân loại tiến bộ đang hướng tới; những giá trị cao cả của nó vẫn tồn tại trong đời sống nhân loại. Điều này được minh chứng rõ ở phong trào xã hội “cánh tả”, phong trào cộng sản và công nhân quốc tế đang từng bước phục hồi.
                Thời gian gần đây xuất hiện trên internet và một số ấn phẩm in, tán phát những quan điểm sai trái, như đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lênin để từ đó phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin và con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Họ nói: “Đảng Cộng sản Việt Nam dẫn dắt dân tộc đi theo đường lối sai lầm về xây dựng chủ nghĩa xã hội”, “thể chế chính trị ở Việt Nam hiện nay là độc đảng, toàn trị, đang kìm hãm tự do, dân chủ, chia rẽ dân tộc,…”; họ yêu cầu “Việt Nam ngày nay phải chuyển đổi thể chế chính trị từ toàn trị sang dân chủ”, v.v. Thực chất, họ muốn chúng ta phải thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập; Đảng phải từ bỏ vai trò lãnh đạo của mình, từ bỏ hệ tư tưởng Mác - Lênin, từ bỏ con đường xã hội chủ nghĩa để chuyển sang dân chủ tư sản, tức là từ bỏ mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.
              3. Nắm vững và thực hiện có hiệu quả mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trong tình hình mới.
              Chúng ta luôn kiên định và tiếp tục giữ vững mục tiêu độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội, coi đó là định hướng quan trọng cho con đường phát triển của cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng trong giai đoạn mới của cách mạng. Tuy nhiên, để thực hiện mục tiêu đó, Đảng cần phải đánh giá, dự báo một cách khách quan tình hình thời cuộc, nhất là tình hình thế giới và trong nước cả thời cơ, thuận lợi và khó khăn, thách thức đan xen, ảnh hưởng trực tiếp đối với sự nghiệp đổi mới, phát triển đất nước và bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.
            Chúng ta nhất trí với hệ thống phương hướng, giải pháp nêu trong các văn kiện Đại hội XII của Đảng và làm rõ thêm một số vấn đề có tính nguyên tắc để tiếp tục khẳng định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội trong giai đoạn mới, đó là:
        - Phải kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vận dụng sáng tạo và phát triển phù hợp với thực tiễn Việt Nam.
        - Không ngừng đổi mới tư duy lý luận, làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn, hoàn thiện hệ thống quan điểm về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam;
       - Đẩy mạnh công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, cung cấp các luận cứ khoa học cho việc hoạch định, phát triển đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.
       - Tăng cường xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu đối với sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, hội nhập quốc tế; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược đủ năng lực, phẩm chất và uy tín, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.
        - Thực hiện đổi mới đồng bộ giữa kinh tế và chính trị với những bước đi phù hợp.
        -  Tổ chức bộ máy hệ thống chính trị tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả.
        - Đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu.
       - Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức, bảo vệ tài nguyên, môi trường; cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, tiếp tục thực hiện 3 khâu đột phá chiến lược.
       - Phấn đấu nâng cao năng suất lao động, chất lượng tăng trưởng và sức cạnh tranh của nền kinh tế.
       - Tiếp tục hoàn thiện thể chế, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và các thành phần kinh tế, trong đó, kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, khuyến khích phát triển kinh tế tư nhân, kinh tế có đầu tư nước ngoài. 
       - Phát huy nhân tố con người cả về đạo đức, nhân cách, lối sống, trí tuệ và năng lực làm việc.
      - Xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh; giải quyết tốt những vấn đề bức thiết, tăng cường quản lý xã hội, bảo đảm an sinh, phúc lợi cho người dân.
      - Thực hiện tốt hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.
      - Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; kinh tế với quốc phòng và an ninh, quốc phòng, an ninh và đối ngoại, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển.
       -  Mở rộng và đưa vào chiều sâu các quan hệ đối ngoại, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế một cách có hiệu quả.

        - Giải quyết tốt quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế, phát huy sức mạnh toàn dân tộc trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

HỘI NGHỊ TRUNG ƯƠNG 4 KHÓA XII VÀ ÂM MƯU CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

          Vừa qua, Hội nghị Trung ương 4 khóa XII của Đảng diễn ra trong 6 ngày từ ngày 09 đến ngày 14/10/2016. Trong kỳ họp lần này, đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã ký và ban hành Nghị quyết 04/TW của Hội nghị và phổ biến trên diện rộng ở các phương tiện thông tin đại chúng (bạn đọc có thể tìm thấy toàn văn Nghị quyết này trên mạng internet ở các trang báo mạng chính thống). Nội dung của Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII được tóm tắt lại thành hai chủ đề lớn và quan trọng nhất của Đảng và đất nước trong giai đoạn hiện nay đó là: Sự phát triển của nền kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa và công tác chỉnh đốn nội bộ Đảng. Có thể khẳng định rằng, thông qua Nghị quyết này, Đảng ta đã đánh giá, hoạch định được đường hướng phát triển kinh tế của đất nước và đồng thời nhìn thẳng vào các tồn tại trong nội bộ Đảng trong giai đoạn hiện nay. Không chỉ vậy, Nghị quyết còn đưa ra các giải pháp để khắc phục những tồn tại, đề phòng trước những nguy cơ có thể xảy ra một cách cụ thể, chi tiết cho từng tồn tại, hạn chế qua đó đẩy mạnh phát triển kinh tế đất nước và làm tốt công tác bảo vệ Đảng từ bên trong. Đây cũng là tiếng nói, niềm mong mỏi của nhân dân khi trong thời gian gần đây đã xuất hiện nhiều đại án, hiện tượng tiêu cực của cán bộ (kể cả cao cấp) trong Đảng, làm suy giảm niềm tin của nhân dân vào vai trò lãnh đạo của Đảng. Do vậy, việc Trung ương Đảng đã mạnh dạn, thẳng thắn nhận ra những thiếu sót của mình qua Nghị quyết này là rất cần thiết.
             Tuy nhiên, cũng như nhiều lần khác, khi mà đất nước ta có những sự kiện lớn có liên quan đến chính trị, kinh tế, đặc biệt là liên quan đến nội bộ thì đều được các tổ chức, cá nhân có quan điểm chống đối với Việt Nam tập trung khai thác, chống phá và việc Đảng ta đưa ra Nghị quyết này và công bố trên các phương tiện thông tin đại chúng cũng không ngoại lệ.
               Trên trang mạng Dân luận mới đây, ngày 11/11/2016 có bài viết: “Căn bệnh nan y và cận kề cái chết” của Thiên Thanh tập trung phân tích, xuyên tạc Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII cho rằng đó chỉ là chiêu trò mị dân của Đảng. Tuy nhiên, nếu như công tâm mà xét (thực ra là nếu mà thôi bởi lẽ những trang mạng như vậy hoàn toàn không có chuyện công tâm mà các bài viết được viết ra đều nhằm mục đích hướng lái dư luận chống lại chính quyền hiện tại của Việt Nam bất kể nội dung hay chủ đề là gì) thì Thiên Thanh chỉ dừng lại ở mức độ đó là chỉ ra những tồn tại thiếu sót hiện nay của Đảng nhất là trong nội bộ (vì trên thực tế chắc chắn có và có nhiều thực tế đã, đang diễn ra). Tuy nhiên người này đưa kèm vào bài viết của mình những ngôn từ vô cùng kích động, đả kích, quy chụp, thậm chí là vu khống chính quyền Việt Nam kết hợp với đó là những lập luận hướng sự chú ý của người đọc tới sự tự diễn biến, suy thoái trong Đảng mà quên đi các tác động của thông tin ngoài luồng bên ngoài mà những tổ chức đứng đằng sau các trang mạng như Dân luận là “nhà tài trợ” liên tục được đưa ra nói xấu chính quyền một cách rất có chủ đích. Do đó, bỏ qua những màu mè, hoa mĩ ở những đoạn đầu của bài viết của Thiên Thanh nêu trên thì nội dung chính của toàn bộ bài viết mà người này muốn hướng tới không gì khác ngoài việc chia rẽ, nói xấu nội bộ Đảng Cộng sản Việt Nam mà cụ thể là vai trò lãnh đạo của Đảng với nhân dân.
             Còn trên trang mạng “quen thuộc” là Blog Dân làm báo ngày 13/11/2016 có bài viết: “Hãy nghe những gì Trọng lú nói” của Blogger Nguyễn Bá Chổi cũng tập trung xuyên tạc một cách thô thiển nội dung của Nghị quyết nêu trên, thậm chí còn thô thiển hơn rất nhiều bài viết trên Dân luận. Bạn đọc muốn tìm hiểu thêm mời truy cập vào Blog này để biết thông tin chi tiết…

              Không chỉ thực tại mà từ trước, trong lịch sử và kể cả đến tương lai sau này, chủ đề chính trị luôn là lĩnh vực nhạy cảm mà các thế lực thù địch tập trung chống phá vì suy cho cùng, bằng bất cứ giá nào, điều cuối cùng mà chúng muốn đó là lật đổ thể chế chính trị của Việt Nam hiện tại. Do vậy, công tác chỉnh đốn nội bộ Đảng là khâu quan trọng, cốt yếu nhất của Đảng hiện nay bởi lẽ không có một thế lực nào có thể lật đổ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam với nhân dân trừ những người trong Đảng như lời Tổng Bí thư đã nói.

DONALD TRUMP ĐẮC CỬ TỔNG THỐNG, CÁC VỊ DÂN CHỦ LO HAY MỪNG?

            Cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ là một trong các sự kiện chính trị được cả thế giới quan tâm. Bởi vì Mỹ là cường quốc số một thế giới về kinh tế và quân sự nên mọi thay đổi dù là nhỏ nhất đều có sự ảnh hưởng đến rất nhiều quốc gia trên thế giới. Và các chính sách của Mỹ sẽ phụ thuộc nhiều vào ý chí của các vị tổng thống đương nhiệm. Cuộc bầu cử tổng thống Mỹ năm này là cuộc “đo găng” giữa hai ứng cử viên Donald Trump và Hillary Clinton.
           Sau nhiều ngày tranh cử, kết quả cuối cùng vào ngày 8/11/2016 Donald Trump giành được 290 phiếu đại cử tri, trở thành Tổng thống thứ 45 của nước Mỹ. Trong khi đó Bà Hillary Clinton chỉ giành được 218 phiếu đại cử tri, sau khi để thua ở một loạt bang quan trọng.
          Ngay sau đó, hàng trăm người biểu tình tuần hành ở thành phố Portland, bang Oregon, khi biết tin ứng viên Tổng thống đảng Cộng hòa Donald Trump giành chiến thắng. Họ hô vang khẩu hiệu chống ông Trump, một số đốt cờ Mỹ. Tiếp theo đó là các cuộc biểu tình diễn ở nhiều thành phố trong đó có Oakland, Los Angeles và New York. Cũng có các báo cáo ghi nhận biểu tình ở ở Davis, bang California và đại học Columbia ở New York. Cao điểm trong sự kiện này là việc bang California muốn tách ra khỏi Mỹ để thành lập một quốc gia riêng.
          Với hàng loạt các vấn đề xảy ra chắc chắn Tổng thống Donald Trump sẽ có rất nhiều việc phải làm, không những thế Tổng thống Mỹ - Donald Trump còn cam kết sẽ thay đổi rất nhiều các chính sách của Mỹ.
          Vậy đối với các tổ chức phản động, các nhà dân chủ rởm trước nay vẫn dựa hơi Mỹ, sống bằng nguồn tiền, bằng sự hỗ trợ của Mỹ thì sao?
          Rất nhiều các đối tượng dân chủ rởm và các tổ chức phản động đáng nhẽ ra phải hân hoan chúc mừng nước Mỹ, chúc mừng vị tân Tổng thống nhưng trong nhiều ngày qua thì chúng lại tỏ ra hoang mang, lo sợ. Chúng lo sợ vì Tổng thống mới của Mỹ sẽ phải giải quyết hàng loạt các vấn đề nội tại của nước Mỹ, giải quyết hàng loạt cuộc biểu tình chống đối Donald Trump thì sẽ quên không tài trợ tiền cho bọn chúng nữa thì bọn chúng sẽ không biết sống ra sao. Không những thế Tổng thống Donald Trump cam kết sẽ trục xuất những người nhập cư bất hợp pháp, đồng thời sẽ hạn chế nhập cư như vậy thì rất nhiều vị dân chủ rởm sẽ không còn cơ hội để sang Mỹ nương nhờ nữa.

          Có lẽ trong rất nhiều ngày qua các đối tượng phản động đang ăn không ngon, ngủ không yên và cũng chẳng sung sướng gì khi Donald Trump đắc cử Tổng thống Mỹ. Một tương lai mù mịt đang chờ đợi các đối tượng phản động khi không được Mỹ nuôi nấng nữa.

Cần nhận rõ cuộc đấu tranh giai cấp hiện nay

          Trước xu thế hoà bình - hợp tác, toàn cầu hóa, khu vực hóa và quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng, nhiều người dường như lãng quên vấn đề giai cấp và đấu tranh giai cấp. Ai nói đến đấu tranh giai cấp liền bị quy là "bảo thủ", "giáo điều". Ai nhắc nhở phải cảnh giác với âm mưu "diễn biến hòa bình" thì cho là "thiếu thức thời", "tư duy cũ". Nhất là sau sự sụp đổ chế độ XHCN ở các nước Đông Âu và Liên Xô, một lần nữa, nhiều nhân vật chống cộng và không ít kẻ "ăn theo" càng được thể lu loa đủ điều, hí hửng rằng: CNXH đã chết, lý tưởng cộng sản đã hết thời; rằng chủ nghĩa Mác - Lê-nin đã cáo chung! Họ cố tình đồng nhất việc Liên Xô đổ vỡ với việc chấm dứt CNXH và chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Tại sao có chuyện rùm beng như thế? Nếu như vấn đề giai cấp không còn nữa; nếu đấu tranh giai cấp không còn nữa, thì lẽ gì họ phải quá hằn học với CNXH và lý tưởng cộng sản làm vậy? Hóa ra là, vấn đề giai cấp vẫn còn nguyên đó. Nó tồn tại tới khi nào không còn giai cấp đối kháng về lợi ích kinh tế và lập trường chính trị.
           Vấn đề giai cấp thể hiện ra ở tất cả các khía cạnh: kinh tế, chính trị và xã hội; thể hiện trong các cuộc đấu tranh tư tưởng, trong chính sách và hành động trước các sự kiện diễn ra trên thế giới.   Hiện nay cũng như trước đây, vì lợi ích của bản thân, giai cấp tư sản luôn dùng mọi thủ đoạn để loại bỏ công cụ soi sáng các biến cố của xã hội có giai cấp; đó là: lợi ích giai cấp và đấu tranh giai cấp. Quan hệ giai cấp là yếu tố quan trọng nhất để phân tích một cách khoa học mâu thuẫn và sự vận động, phát triển của xã hội có giai cấp.
             Thực tế cho thấy, cuộc đấu tranh giai cấp vẫn tiếp tục diễn ra theo đúng quy luật phát triển của xã hội loài người; vẫn là cuộc đấu tranh "ai thắng ai" trên bình diện quốc tế, cũng như trong điều kiện cụ thể của từng nước. Với tầm nhìn chiến lược, toàn diện và lâu dài về cuộc đấu tranh giai cấp, bài học về sự sụp đổ chế độ XHCN ở các nước Đông Âu và Liên Xô trước đây vẫn luôn mới mẻ đối với người cách mạng. Bất kì ở đâu, bất kể thời điểm nào, khi cố tình coi nhẹ hoặc không đếm xỉa đến tính phức tạp của cuộc đấu tranh giai cấp trên mặt trận tư tưởng; trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội, tư tưởng và văn hóa, thì chính lúc đó, cách mạng sẽ phải trả giá đắt. Cho dù sự sụp đổ chế độ XHCN ở Đông Âu và Liên Xô đã xảy ra, thì những học thuyết về giai cấp, vai trò của giai cấp lãnh đạo cách mạng vẫn không thay đổi. Gần 20 năm qua, nhân dân các nước Đông Âu và Liên Xô (trước đây) bắt đầu nhận ra rằng, họ đã bị mất đi một thể chế xã hội tốt đẹp gắn liền với lợi ích và hạnh phúc của con người, đó là: chữa bệnh, giáo dục không mất tiền, lương hưu bảo đảm chắc chắn, xã hội bình đẳng, không có bóc lột, không có áp bức giai cấp... 
               Có thể nói, trong thời đại ngày nay, cuộc đấu tranh giai cấp vẫn diễn ra ở tất cả các chế độ xã hội, biểu hiện ra nhiều mức độ khác nhau. Với chế độ tư bản chủ nghĩa, đấu tranh giai cấp vẫn tiềm ẩn với sự bất công, phân cực giàu nghèo ngày càng sâu sắc; thất nghiệp ngày càng đông; tính mạng, an ninh và trật tự xã hội luôn bị đe dọa; sự phá hủy và suy đồi đạo đức xã hội ngày càng gia tăng vì cơn lốc của lợi nhuận. Nếu đi sâu thêm, ta thấy rằng, nguồn gốc của sự xung đột giai cấp trong xã hội tư bản là do lô-gích phát triển trong điều kiện bất bình đẳng, đa số phải phục tùng lợi ích và quyền lực của thiểu số; đồng thời, đó là sự vận hành trên cơ sở quan hệ bóc lột và bị bóc lột giữa giai cấp tư sản và người lao động.
             Ở các nước phương Tây hiện nay, đi đôi với việc phát triển khoa học-công nghệ và tăng năng suất lao động, mức độ bóc lột của giai cấp tư sản (thể hiện ở tỷ suất giá trị thặng dư) vẫn tăng đáng kể. Chẳng hạn ở Mỹ, tỷ suất giá trị thặng dư trong các ngành sản xuất công nghiệp mấy thập kỷ qua đã tăng như sau: năm 1950: 241%; năm 1960: 247,6%; năm 1970: 255%; năm 1980: 289%; những năm 1990: khoảng 300%; những năm đầu thế kỷ XXI: khoảng 307%.... Không chỉ ở các nước đang phát triển, mà ngay trong lòng các nước TBCN giàu có nhất, luôn đồng thời tồn tại một thế giới của những người nghèo khó (số người sống dưới mức nghèo khổ hiện nay ở Mỹ khoảng 30 triệu, ở Tây Âu khoảng 40 triệu). Mặc dù giai cấp tư sản đã có sự mềm dẻo nhất định trong việc làm dịu mâu thuẫn giữa tư bản và lao động, nhưng đấy vẫn chỉ là ở từng nơi, từng lúc, còn về cơ bản, mâu thuẫn giữa tư bản và lao động vẫn ngày càng gay gắt; thuế khóa, thất nghiệp, các tệ nạn xã hội luôn đeo đẳng người nghèo. Điều đó, sẽ đẩy những mâu thuẫn xã hội lên đỉnh điểm, dẫn đến bùng nổ xã hội. Cuộc sống ngày càng chứng minh dự báo của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác - Lê-nin là hoàn toàn đúng đắn: mâu thuẫn giữa tính chất xã hội hoá của lực lượng sản xuất với hình thức chiếm hữu tư nhân TBCN về tư liệu sản xuất sẽ được giải quyết theo hướng công cộng hóa hình thức sở hữu cho phù hợp với tính chất xã hội hoá của lực lượng sản xuất, và điều đó không phải cái gì khác mà chính là CNXH. Từ tự do cạnh tranh, CNTB phát triển tới độc quyền, độc quyền nhà nước; trong phạm vi, rồi ra ngoài phạm vi quốc gia và trở thành CNTB toàn cầu. Cùng với quá trình toàn cầu hóa ngày càng tăng, những biện pháp điều chỉnh các quan hệ kinh tế và sở hữu theo hướng công cộng hóa cũng ngày càng tăng; bảo đảm cho các cổ đông, các tổ chức công đoàn và người lao động ngày càng trực tiếp hoặc gián tiếp tham gia quản lý kinh tế-xã hội. Những biến đổi trên, vô hình dung đã trở thành những tiền đề của chế độ xã hội mới trong lòng CNTB.       
            Mặc dù các nhà kinh doanh tư sản hiện đại đã biết linh hoạt và đôi khi ứng phó có hiệu quả trước diễn biến của tình hình kinh tế-xã hội, nhưng các lực lượng dân chủ, đội ngũ đông đảo những người làm công ăn lương ở các nước TBCN hiện nay cũng đã khác trước. Họ hiểu biết và có nhiều hình thức đấu tranh linh hoạt hơn, nhưng không kém phần mạnh mẽ, hiệu quả, tạo ra trong lòng xã hội tư bản những cơ cấu mới và những quan hệ mới, không mang tính chất tư sản. Cuộc đấu tranh giai cấp của những người lao động chống bóc lột và bất công ở các nước TBCN hiện nay diễn ra không chỉ trong khuôn khổ cấu trúc thượng tầng mà cả ở cơ sở hạ tầng, làm thay đổi nền móng xã hội, làm biến dạng chế độ tư sản. Để có thể thích nghi với thời đại, CNTB đã cố gắng tự điều chỉnh trên mọi lĩnh vực, nhưng cũng chính vì thế đã tự làm nảy sinh những vấn đề mới, ngoài ý muốn của giai cấp tư sản. Nó sẽ bị hút dần một cách không tự giác vào một trật tự xã hội; mà ở đó, những mầm mống và yếu tố mới phát sinh trong lòng xã hội tư bản sẽ là những điều kiện dẫn tới sự thay thế chế độ tư hữu bằng chế độ công hữu trên cơ sở cuộc đấu tranh giai cấp diễn ra theo một cách thức mới.    
            Với các nước trong thế giới thứ ba, cuộc đấu tranh giai cấp cũng diễn ra không kém phần quyết liệt. Có lẽ trên thế giới, nhiều người vẫn chưa quên nỗi đau về cái chết của Tổng thống A-gien-đê với chế độ xã hội mà ông định xây dựng ở Chi-lê; về sự thất bại ở Ni-ca-ra-goa, En Xan-va-đo, những đảo lộn ở Mô-dăm-bich, Dim-ba-bu-ê, Ăng-gô-la, Xéc-bi, Áp-ga-ni-xtan,... Người ta cũng không quên những gì đã và đang diễn ra xung quanh việc bao vây, cấm vận đối với nước Cu-ba dũng cảm và kiên cường, cùng các điểm nóng khác ở một số nước thuộc Liên Xô (cũ)... Tất cả những sự việc trên cho thấy: cuộc đấu tranh giai cấp ở mọi nơi chưa hề ngưng nghỉ, kể cả sau chiến tranh lạnh. Cũng vì lẽ đó, mà lịch sử đã diễn ra với nhiều sự kiện chưa từng thấy ở các nước thế giới thứ ba; phong trào cánh tả Mỹ La tinh - nơi các dân tộc ngày càng thức tỉnh, không cam phận phụ thuộc vào Mỹ. Một sự thật mà ai cũng biết là, ở Mỹ, hết đời tổng thống này đến đời tổng thống khác, chính sách đối ngoại đều có một điểm chung: đối phó với cuộc đấu tranh giai cấp ở các nước thế giới thứ ba. Và cũng vì thế, trên thế giới đã xuất hiện những nhân vật nổi tiếng, đại diện cho lương tri của các dân tộc: A-rơ-ben, Hồ Chí Minh, Lu-mum-ba, Phi-đen Ca-xtơ-rô, A-gien-đê... Trên quy mô toàn cầu, các lực lượng chống cộng và chống cách mạng vẫn tiếp tục các đòn tiến công, không chỉ bằng các vũ khí hủy diệt con người, mà bằng mọi vũ khí có thể sử dụng, như: kinh tế, tư tưởng, văn hóa, truyền thông... Điều đó càng chứng tỏ, CNTB lo sợ sức mạnh ngày càng tăng của các dân tộc kiên quyết đấu tranh xoá bỏ xiềng xích nô lệ, thực hiện bằng được chân lý "Không có gì quý hơn độc lập, tự do". Sức mạnh của CNTB ở cuối thập kỷ đầu tiên của thế kỷ XXI đang bị lung lay, không còn như trong thế kỷ XX.  
              Các thế lực đế quốc hiếu chiến và các lực lượng thù địch bao giờ cũng coi sự tồn tại của CNXH là sự uy hiếp đối với chúng. Vì thế, chúng không chấp nhận sự hiện diện của CNXH và phong trào đấu tranh vì sự tiến bộ, công bằng xã hội trên thế giới. Âm mưu phá bỏ Liên Xô, làm tan rã CNXH hiện thực ở Đông Âu, lật đổ lãnh đạo của các đảng cộng sản, phủ định hình thái ý thức XHCN là mục tiêu nhất quán trong kế hoạch, cũng như trong hành động của chủ nghĩa đế quốc. Thực hiện hàng loạt chiến lược qua nhiều thập kỷ "chiến tranh lạnh", mà đặc biệt là cuộc chạy đua vũ trang vô cùng tốn kém làm suy yếu và kiệt sức Liên Xô, chủ nghĩa đế quốc tới nay vẫn chưa từ bỏ âm mưu làm suy yếu các nước XHCN còn lại. Ở mỗi giai đoạn khác nhau, tùy theo sự phát triển tình hình của mỗi nước, chúng đều tiến hành điều chỉnh chiến lược chống phá cách mạng và các lực lượng tiến bộ trên thế giới cho thích hợp.     
              "Diễn biến hòa bình", tiếp đến là “cách mạng nhung”, “cách mạng màu”... là những chiến lược tổng thể của chủ nghĩa đế quốc, nhằm thực hiện mục tiêu nói trên. Thế giới gọi đó là "cuộc chiến tranh không có khói súng". Đây thực chất là kế sách phá vỡ thành lũy của CNXH từ bên trong, là chiến thuật "mối xông nhà", nhằm phá ruỗng cơ cấu kinh tế - chính trị - xã hội của các nước XHCN. Các chính trị gia đề xuất chiến lược "Diễn biến hòa bình" đã tổng kết: muốn xoá bỏ chế độ XHCN, không thể dùng vũ lực tấn công từ bên ngoài. Thực tiễn đã diễn ra đúng như vậy. Chủ nghĩa đế quốc từng bị thất bại liên tiếp trong những cuộc xâm lược vũ trang chống các nước XHCN, như: đối với Liên Xô sau Cách mạng Tháng Mười; đối với Cộng hoà Dân chủ nhân dân Triều Tiên đầu những năm 50; đối với Cu-ba đầu những năm 60; và nổi bật nhất, đối với Việt Nam từ cuối những năm 40 đến giữa thập kỷ 70 của thế kỷ XX... Do vậy, họ chuyển hướng sang chống phá các nước XHCN bằng cách làm tan rã các đảng cộng sản cầm quyền-hạt nhân lãnh đạo ở các nước đó. Để thực hiện điều đó, họ đã tìm mọi thủ đoạn phá hoại các đảng đó về mặt tư tưởng và tổ chức. Nhằm phá hoại đảng cộng sản cầm quyền về tư tưởng, họ lấy tư tưởng xã hội-dân chủ thay cho chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Những chuyên gia chống cộng của Mỹ đánh giá rằng: chủ nghĩa xã hội-dân chủ và nhà nước phúc lợi là biện pháp hữu hiệu để đấu tranh với sự hấp dẫn của chủ nghĩa cộng sản. Từ đó, họ đưa ra những cách lựa chọn dân chủ khác nhau cho mô hình cộng sản chủ nghĩa. Đây là cơ sở phương pháp luận cho việc đa nguyên hóa về tư tưởng, tiến tới thay thế lập trường tư tưởng của chủ nghĩa Mác bằng ý thức hệ tư sản. Từ việc phá hoại về tư tưởng, bài bản "diễn biến" tiếp theo là phá hoại đảng cộng sản về mặt tổ chức: cổ vũ đa nguyên chính trị và đa đảng đối lập trong chế độ XHCN; đòi huỷ bỏ nguyên tắc tập trung dân chủ, hạ thấp yếu tố "tập trung", nhấn mạnh vai trò của nhân tố "dân chủ", hô hào dân chủ tư sản... Một khi đã chấp nhận đa nguyên chính trị và đa đảng đối lập, thì làm sao tránh khỏi tình trạng trong đảng thì có các "phái", bên ngoài thì có các đảng khác? Để thực hiện "diễn biến hòa bình" ở các nước không theo con đường TBCN, các thế lực chống cộng còn dùng thủ đoạn từng bước mua chuộc, lôi kéo các phần tử dao động, bất mãn, gây dựng các tổ chức chống cộng ngay trong nội bộ đảng cộng sản và các tổ chức xã hội ở các nước đó.      
        Thực tế cho thấy, phương Tây không chỉ nuôi dưỡng, mà còn ủng hộ, thúc đẩy phe đối lập chính trị đoạt quyền lãnh đạo của đảng cộng sản. Để làm được điều đó, các thế lực chống cộng thường dùng các hình thức sau: 
        1. Vạch kế hoạch gây rối trong xã hội để dễ bề giành quyền lực. Hoặc, lợi dụng khó khăn về kinh tế, phối hợp bên trong với bên ngoài để thực hiện âm mưu chính trị.
         2. Thông qua bầu cử hợp pháp (sau khi bằng nhiều thủ đoạn tinh vi gây sức ép về kinh tế và chính2. Thông qua bầu cử hợp pháp (sau khi bằng nhiều thủ đoạn tinh vi gây sức ép về kinh tế và chính trị), buộc đảng cộng sản cầm quyền phải thực hiện đa nguyên chính trị và đa đảng đối lập trong xã hội. 
          3. Phát động đảo chính quân sự khi đảng cộng sản cầm quyền suy yếu, mất tín nhiệm và sự ủng hộ trong quần chúng do đường lối, chính sách sai lầm. Tất cả những thủ đoạn mà các thế lực đế quốc đã và đang sử dụng đối với các nước XHCN cũng như đối với giai cấp những người lao động trên toàn thế giới cho thấy, cuộc đấu tranh giai cấp hiện nay so với trước đây không kém phần gay go, quyết liệt, phức tạp. Đối với các nước XHCN, nó thể hiện cả trong việc bảo vệ lý tưởng cộng sản, chủ nghĩa Mác - Lê-nin và trong việc giữ vững định hướng XHCN. Trong điều kiện mở cửa và hội nhập với thế giới, sử dụng công cụ kinh tế của CNTB để xây dựng CNXH, đảng cộng sản cầm quyền càng phải đề cao cảnh giác, mài sắc ý chí cách mạng, kiên định lập trường giai cấp, nhận dạng thật rõ các hành động và âm mưu thù địch để có biện pháp đấu tranh có hiệu quả.


BẢN CHẤT CỦA VIỆC BẦU CỬ Ở HOA KỲ VÀ SỰ “NGỚ NGẨN CỦA DÂN LÀM BÁO”


            Vừa qua, việc ông Donald Trump - Đại diện Đảng Cộng hòa ở Mỹ đã chính thức được bầu làm Tổng thống thứ 45 của đất nước xứ “cờ hoa” là một sự kiện lớn không chỉ của nước Mỹ mà còn là của cả thế giới vì tầm ảnh hưởng của nước này trên trường quốc tế trong thời điểm hiện tại. Tuy nhiên, để hiểu hết được bản chất của chuyện bầu cử của nước Mỹ là không hề đơn giản chứ chưa nói tới việc nhân sự kiện đó để so sánh với bầu cử tại Việt Nam của nhiều trang mạng, trong đó có Blog Dân làm báo. Việc đề cao tính tích cực của bầu cử tại Mỹ để qua đó quy chụp cho rằng bầu cử ở Việt Nam là độc đoán, không có tự do, dân chủ là một việc không thể chấp nhận. Ngày 12/11/2016, trên trang Blog Dân làm báo có đăng bài viết “Bầu cử Mỹ - Việt, khác biệt thế nào?” của Blogger Nguyễn Lộc Yên đã thể hiện rất rõ cho điều này (mời bạn đọc xem tại http://danlambaovn.blogspot.com/2016/11/bau-cu-my-viet-khac-biet-nao.html). 
            Để hiểu được bản chất của việc bầu cử tại Mỹ, trước tiên chúng ta cần tìm hiểu thêm thông qua chế độ lưỡng Đảng tại đất nước này từ trước tới nay. Nước Mỹ có nhiều đảng phái khác nhau, trong đó có cả Đảng cộng sản và một số Đảng xã hội, nhưng chỉ có hai Đảng lớn là Dân chủ và Cộng hoà. Hai Đảng này luôn chiếm ưu thế ở mọi cấp độ chính quyền từ trung ương cho tới địa phương và luôn khống chế nền chính trị Mỹ. Hai Đảng này luôn thống trị chính trường Mỹ và cho dù có Đảng thứ ba xuất hiện trong các cuộc bầu cử Tổng thống, thì Đảng thứ ba cũng chưa bao giờ giành được chiến thắng, các ứng viên Tổng thống phải đứng tên ở một trong hai Đảng này. Các Đảng thiểu số đôi khi cũng giành được một số chức vụ trong chính quyền cấp dưới ở các bang hoặc các hạt, nhưng hầu như không có vai trò gì quan trọng trong nền chính trị Mỹ. Cuộc ganh đua giữa hai Đảng Dân chủ và Cộng hòa là một trong những đặc điểm nổi bật và lâu đời nhất của nền chính trị Mỹ kể từ những năm1860, phản ánh những đặc trưng về mặt cơ cấu của hệ thống chính trị Mỹ và sự khác biệt về mặt đảng phái của Mỹ so với các nước khác đặc biệt là các nước theo ý thức hệ tư bản chủ nghĩa. Xét ở tổng thể, về cơ bản, hai Đảng Cộng hoà và Dân chủ tại Mỹ có những nét đặc trưng sau:
               Thứ nhất, hai Đảng Cộng hòa và Dân chủ không phải là những tổ chức có cơ cấu chặt chẽ mà là những liên minh lỏng lẻo, rộng lớn và không có đường lối nhất quán. Bốn năm một lần, các Đảng thông qua quan điểm của mình về chương trình trong hội nghị đề cử ứng viên Tổng thống tuy nhiên quan điểm này cũng rất chung chung, không rõ ràng và có thể có nhiều cách hiểu khác nhau chứ không có một sự hoạch định về đường hướng cụ thể nào. Dẫn tới nguyên nhân này là do Mỹ là một quốc gia rộng lớn và hết sức đa dạng về chủng tộc, địa lý và đặc biệt là về văn hóa. Do đó, để xây dựng một Đảng có đủ sức mạnh giành được sự ủng hộ của đa số cử tri đòi hỏi phải gắn kết được liên minh gồm rất nhiều loại người khác nhau về tầng lớp, chủng tộc, tôn giáo, sắc tộc và khu vực. Trong khi đó, đa số các cử tri bình thường của Mỹ đều không hăng hái, nhiệt tình như những thành viên hoạt động tích cực của Đảng, ít cam kết về lý tưởng và thiên về tán thành quan điểm trung dung hơn. Vì vậy, phần lớn các chính trị gia đều không thể liều lĩnh xa lánh một nhóm đông đảo cử tri bất kỳ nào đó bằng cách đưa ra những quan điểm quá mạnh mẽ về ý thức hệ, đường lối cụ thể, quyết liệt mà thay vào đó, họ lựa chọn các phương cách để có thể chiếm được lá phiếu ủng hộ của tầng lớp trung dung đông đảo nếu muốn có cơ hội trở thành Tổng thống Hoa Kỳ
               Thứ hai, vì các Đảng không có một tổ chức chặt chẽ và tập trung, cho nên, đa số các thành viên không trung thành sâu sắc với Đảng. Các Đảng ở Mỹ được mô tả như là những tổ chức phi tập trung cao độ và được gắn kết một cách lỏng lẻo hơn hẳn so với các đảng phái ở nhiều nước khác. Hai Đảng Dân chủ và Cộng hòa ở Mỹ cũng không ngoại lệ. Tổ chức Đảng không có khái niệm về tư cách thành viên của Đảng và không có một sự nhất trí về ý nghĩa của từ thành viên của Đảng Dân chủ hay Cộng hoà, không có một cơ chế hay điều lệ để ràng buộc đảng viên phải tuân theo kỷ luật của Đảng (như ở Việt Nam), không có chế tài nào đối với đảng viên chống lại đường lối do lãnh đạo đảng vạch ra. Do đó, ở Mỹ, Chính phủ luôn tồn tại sự chia rẽ, bởi trong khi Tổng thống là người của một Đảng thì Quốc hội lại thường do Đảng kia nắm ưu thế (Tổng thống có tiếng nhưng gần như không có miếng). Hoặc kể cả trong trường hợp, Tổng thống cũng là người của Đảng đang nắm đa số trong Quốc hội, nhưng khi thông qua chính sách vẫn có thể có sự chia rẽ. Nguyên nhân là do mặc dù vẫn có sự thống nhất nhất định trong một Đảng, vẫn luôn có trường hợp đảng viên của đảng này bầu cho những vấn đề do người của đảng kia bảo trợ và đề xuất ra Quốc hội
               Thứ ba, có rất ít sự khác nhau về tư tưởng giữa Đảng Dân chủ và đảng Cộng hoà, có chăng là ở chỗ, Đảng Dân chủ dành sự quan tâm nhiều hơn đến những người nghèo khổ và thất thế, các cộng đồng thiểu số, công đoàn về mặt tuyên bố, lý thuyết. Còn lại, hai Đảng này giống nhau về những quan điểm cơ bản: hoàn toàn tán thành Chủ nghĩa tư bản và các thể chế của nó, ủng hộ sứ mạng toàn cầu của Mỹ, bác bỏ Chủ nghĩa cộng sản cả trong nước Mỹ và trên thế giới. Gần như không có sự khác biệt nào đáng kể giữa hai Đảng này. Người đứng đầu hai Đảng đều giống nhau về nguồn gốc xã hội, quá trình đào tạo và tuyển dụng. Cơ cấu tổ chức của các đảng phái chính trị Mỹ về cơ bản gồm: Uỷ ban quốc gia - với Chủ tịch là người đứng đầu của Đảng; Uỷ ban vận động tranh cử Thượng viện và Hạ viện được tổ chức độc lập với Uỷ ban quốc gia; tổ chức Đảng ở các bang, hạt, thành phố và ở cấp địa phương. Bản chất của chức danh Tổng thống Mỹ dù đại diện cho chính đảng nào đều phục vụ cho một số nhỏ các công ty tài phiệt của đất nước này với phương châm “Business is business”. Nếu ai đó coi Đảng Dân chủ là đại diện cho quyền lợi của tầng lớp trung lưu hay thấp hơn thì sẽ là cực kỳ ấu trĩ. Về lý thuyết, danh nghĩa là vậy nhưng trên thực tế thì không bao giờ. Tiêu biểu nhất là hãy nhìn những gì mà chính quyền của Tổng thống Barrack Obama đã làm tại Syria hay Ai cập thì sẽ cảm nhận được rất rõ điều này.
              Do vậy, có thể khẳng định rằng, mọi sự so sánh đều là khập khiễng nhất là so sánh về chính trị. Do đó, bài viết của Blogger Nguyễn Lộc Yên cần phải xem xét lại và người đọc cũng cần tìm hiểu thật kỹ trước khi tiếp nhận luồng thông tin rất thiển cận đó.

Thế nào là bản sắc tộc người?

Bản sắc tộc người là tổng thể các giá trị đặc trưng, bản chất của văn hóa tộc người, gồm những giá trị bền vững, những tinh hoa của tộc người được hình thành, tồn tại và phát triển trong quá trình lịch sử.
Các giá trị đặc trưng bắn sắc tộc người mang tính bền vững, trường tồn, trừu tượng và tiềm ẩn. Muốn nhận biết chúng, phải thông qua các sắc thái văn hóa biểu hiện trên mọi lĩnh vực đời sống xã hội tộc người. Các sắc thái biểu hiện tương đối cụ thể, bộc lộ, dễ nhận biết như: nhà cửa, trang phục... Bản sắc vǎn hóa tộc người còn đậm nét cả trong các hình thức biểu hiện mang tính độc đáo, đặc trưng.
Bản sắc là cái gốc, cái căn bản, cốt lõi, cái hạt nhân của một tộc người. Khi nói đến bản sắc tộc người tức là nói đến những giá trị căn bản, cốt lõi, những giá trị hạt nhân của tộc người, dân tộc. Song bản sắc không hẳn là tất cả mọi giá trị của văn hóa tộc người, mà thường là những giá trị tiêu biểu, bản chất nhất, mang thuộc tính tộc người sâu sắc.
Bản sắc tộc người vừa chịu tác động của kinh tế - xã hội để có sự biến đổi, vừa tồn tại bền vững trong tiến trình lịch sử, có cốt lõi xuyên qua mọi giai đoạn lịch sử tộc người. Nó được tạo dựng và xác lập dần dần trong quá trình lịch sử ra đời, vận động và phát triển của tộc người; là thành quả lâu dài của lao động sáng tạo; là kết quả tiếp xúc, giao lưu và tiếp thu tinh hoa của nhiều tộc người.
Bản sắc tộc người cũng bao gồm cả cái chung ở các tộc người khác. Các giá trị bản sắc không phải là không thay đổi, “nhất thành bất biến”. Có các yếu tố cũ, lỗi thời bị xóa bỏ, có những giá trị mới, tiến bộ được bổ sung, tiếp biến vào bản sắc tộc người, làm giàu thêm nền văn hóa. Có các giá trị tiếp tục phát huy tác dụng, dưới những hình thức mới, được trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Nếu nó không được giữ gìn, bồi dưỡng, tiếp biến để kế thừa qua các thế hệ thì sẽ bị mai một và tàn lụi.

Trong thời đại toàn cầu hóa, hội nhập, giao lưu tiếp xúc giữa các tộc người, dân tộc là tất yếu. Bản sắc văn hóa tộc người đều có sự biến đổi và phát triển. Tộc người bao giờ cũng có sự học hỏi, tiếp thu, chắt lọc tinh hoa văn hóa. Bảo vệ bản sắc văn hóa các dân tộc phải gắn kết với mở rộng giao lưu quốc tế, tiếp thu có chọn lọc những cái hay, cái tiến bộ của các dân tộc khác và nhân loại. Giữ gìn bản sắc dân tộc đi liền với chống lạc hậu, lỗi thời trong phong tục, tập quán, lề thói cũ.

Văn hóa tộc người có các thành tố cơ bản nào?

Văn hóa tộc người là tổng thể các yếu tố văn hóa mang tính đặc trưng tộc người. Để thuận lợi cho công tác nghiên cứu và dễ nhận biết, các nhà dân tộc học phân chia văn hóa tộc người thành 4 lĩnh vực như sau:
Văn hóa sản xuất là cách thức tác động, ứng xử của tộc người đối với môi trường thiên nhiên để lao động sản xuất, bảo đảm sự sinh tồn, phát triển của tộc người. Sự tác động của tộc người vào giới tự nhiên hình thành nên văn hóa mưu sinh của tộc người gồm các phương thức sinh kế, kỹ thuật sản xuất, biện pháp canh tác, tri thức, kinh nghiệm sản xuất… của các tộc người. Môi trường cư trú khác nhau, các tộc người có văn hóa mưu sinh khác nhau: văn hóa lúa nước, văn hóa nương rẫy, văn hóa du mục.
Văn hóa vật chất còn gọi là văn hóa bảo đảm đời sống của các tộc người gồm những giá trị vật chất do tộc người tạo ra: trang phục, trang sức, nhà cửa, phương tiện đi lại, đồ ăn thức uống, nhạc cụ, tác phẩm điêu khắc... Mỗi tộc người đều có dạng thức văn hóa vật chất phong phú, vừa kết tinh bản sắc tộc người, vừa là kết quả giao lưu giữa các tộc người.
Văn hóa tinh thần là đời sống sinh hoạt tinh thần của mỗi tộc người, dân tộc trong không gian sinh tồn của họ, như thế giới quan, quan niệm về trời đất, con người, tư tưởng, phong tục tập quán, tín ngưỡng, các giá trị tinh thần truyền thống, văn học, nghệ thuật, văn hóa dân gian...
Văn hóa xã hội là văn hóa phản ánh các hình thái tổ chức sinh hoạt xã hội tộc người, các mối quan hệ, cách ứng xử theo tập tục trong hôn nhân, gia đình, dòng tộc, cộng đồng, tình cảm, tổ chức thiết chế xã hội (hôn nhân gia đình, dòng họ, làng bản, châu mường), luật tục...
      Như vậy, văn hóa tộc người thể hiện trên toàn bộ đời sống xã hội của tộc người. Sự tổng hòa các đặc trưng sinh hoạt văn hóa tộc người trong mối liên hệ giữa chúng tạo thành truyền thống văn hóa tộc người được hình thành trong quá trình lịch sử, được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.