Thứ Hai, 11 tháng 9, 2017

ĐỪNG ĐỂ LÒNG TIN BỊ LỢI DỤNG!

Sự cố biển miền Trung hơn một năm qua do Công ty Formosa Hà Tĩnh gây ra đã làm cho ngư dân 4 tỉnh nói chung và Quảng Bình nói riêng gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống. Tuy nhiên, với sự vào cuộc nhanh chóng và quyết liệt của Chính phủ, cấp ủy, chính quyền các cấp, Công ty Formosa Hà Tĩnh đã bồi thường cho ngư dân 4 tỉnh miền Trung số tiền 500 triệu USD (khoảng 11.000 tỷ đồng).
Từ đó đến nay, cùng với những chính sách hỗ trợ của Đảng, Nhà nước, các địa phương đã thực hiện việc chi trả đền bù cho những người dân bị ảnh hưởng của sự cố. Người dân đã và đang dần ổn định cuộc sống. Biển đang hồi sinh trở lại. Nhiều ngư dân ra khơi đánh bắt đã trúng lớn những mẻ cá có giá trị kinh tế cao...
Dẫu vậy, trong thời gian qua, các thế lực thù địch, các đối tượng cơ hội chính trị, các linh mục cực đoan tiếp tục lợi dụng vấn đề "dân chủ", "nhân quyền", "tự do tôn giáo", lợi dụng việc chi trả tiền đền bù của các địa phương để kích động nhân dân, giáo dân, những người nhẹ dạ cả tin kéo đến chính quyền nhằm "đòi quyền lợi".
Điều đáng nói ở đây, các hoạt động của một số vị linh mục, hội đồng mục vụ này khi kích động giáo dân nhẹ dạ cả tin đi theo để kéo lên chính quyền, thì họ thường bố trí người quay phim, chụp ảnh để đăng phát lên mạng xã hội, đồng thời xuyên tạc thêm sự việc cho có phần "hấp dẫn", "li kỳ", thu hút tính tò mò của người đọc, người xem, từ đó coi nhẹ vai trò của chính quyền các cấp trong việc điều hành, thực hiện các chế độ, chính sách của Đảng, Nhà nước, từng bước gây rối tình hình, làm mất tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ngay từ địa bàn cơ sở.
Hành vi tuyên truyền, rao giảng sai sự thật, chia rẽ đoàn kết dân tộc, xuyên tạc, bịa đặt, nói xấu chế độ của một số linh mục cực đoan là hành vi vi phạm pháp luật theo khoản 1, Điều 258, Bộ luật Hình sự về lợi dụng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân. Điều 15, Hiến pháp năm 2013 của nước CHXHCN Việt Nam quy định: “Quyền công dân không được tách rời nghĩa vụ, công dân phải có trách nhiệm với Nhà nước và xã hội; việc thực hiện quyền con người, quyền công dân không được xâm phạm lợi ích quốc gia, dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác”.
Tại Việt Nam, việc khiếu kiện, khiếu nại được quy định trong Luật Khiếu nại, tố cáo ban hành năm 2011. Khoản 6, Điều 6, Luật Khiếu nại, tố cáo quy định: “Cấm kích động, xúi giục, cưỡng ép, dụ dỗ, mua chuộc, lôi kéo người khác tập trung đông người khiếu nại, gây rối an ninh trật tự công cộng”...
Trong khi đó, nhiều địa phương khác trên địa bàn tỉnh đã và đang rất tin tưởng vào đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước ta, từng bước khắc phục khó khăn, ổn định đời sống. 
Sau sự cố Formosa, người dân đã được Chính phủ, các cấp chính quyền quan tâm thực hiện nhiều chính sách hỗ trợ, giúp đỡ, tiến hành đền bù, khắc phục khó khăn, cuộc sống đang dần trở lại sản xuất bình thường thì một số nơi người dân lại nhẹ dạ cả tin nghe theo sự xúi giục của một số ít người vì lợi ích cá nhân để trục lợi, kích động chia rẽ nhân dân, chia rẽ các dân tộc, gây rối an ninh trật tự, mà điều này chính những người trong cuộc biết rất rõ điều đó...
Hơn ai hết, mỗi một người dân, mỗi một giáo dân hãy phát huy trách nhiệm công dân của mình, đừng để niềm tin của mình bị lợi dụng cho những điều đi ngược lại lợi ích quốc gia, lợi ích dân tộc./.

BỘ MẶT THẬT CỦA NHỮNG KẺ MANG DANH KN72

Trong thời gian tổ chức lấy ý kiến nhân dân tham gia sửa đổi Hiến pháp năm 1992, bên cạnh sự tiếp tục góp ý thẳng thắn, công khai, dân chủ và đầy tinh thần trách nhiệm với Tổ quốc, với nhân dân của các tầng lớp nhân dân ta, thì bọn cực đoan, hận thù dân tộc và kẻ địch tiếp tục có những chiêu thức mới trong việc lợi dụng góp ý sửa đổi Hiến pháp năm 1992, nhằm tán phát những tài liệu với nội dung sai trái, phản động làm nhiễu thông tin, làm phân tâm nhân dân trong việc tham gia góp ý xây dựng Hiến pháp, trong đó có nhóm KN72, vậy nhóm KN72 là ai?
Nhóm KN72 xướng danh: “... chúng tôi, những người Việt Nam ký tên dưới đây...”, thật là một kiểu danh xưng vô thưởng vô phạt, vô văn hóa, bởi chắc chắn họ không đủ tư cách đại diện cho tất cả 90 triệu người Việt Nam, vậy họ đại diện cho bao nhiêu người? Điều đó đủ thấy kẻ giấu mặt đứng đằng sau nhóm KN72 không dám xưng gì hơn, đồng nghĩa với việc họ sợ đối mặt với nhân dân, những người làm chủ vận mệnh đất nước, mặt khác họ sợ đối mặt với sự thật lịch sử hào hùng của dân tộc mà họ đang rắp tâm bôi nhọ, xuyên tạc một cách trơ trẽn.

Họ làm như vậy để làm gì? Trả lời câu hỏi này không khó, bởi những gì họ bộc lộ trong cái gọi là “Dự thảo Hiến pháp năm 2013” đã nói thay họ - những người với nhiều lý do khác nhau đang bất mãn chế độ, được các thế lực thù địch bơm thổi kích động, được bọn phản động trong và ngoài nước lôi kéo, mua chuộc, cổ súy. Họ - những con người quỳ gối luồn cúi, bán rẻ lương tâm cho các thế lực thù địch vì những lợi ích bẩn thiểu để thực hiện cho bằng được chiêu bài chiến tranh không tiếng súng, chiến lược “diễn biến hòa bình” vốn được dàn dựng khá công phu từ lâu, hòng chống phá Đảng và Nhà nước ta, chống lại sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa của nhân dân ta.

NHẬN DIỆN LUẬN ĐIỆU CỦA NHỮNG KẺ ĐÒI PHI CHÍNH TRỊ HÓA ĐỐI VỚI LỰC LƯỢNG VŨ TRANG

Trong thời gian tổ chức lấy ý kiến nhân dân tham gia sửa đổi Hiến pháp năm 1992, bên cạnh sự tiếp tục góp ý thẳng thắn, công khai, dân chủ và đầy tinh thần trách nhiệm với Tổ quốc, với nhân dân của các tầng lớp nhân dân ta, thì bọn cực đoan, hận thù dân tộc và kẻ địch tiếp tục có những chiêu thức mới trong việc lợi dụng góp ý sửa đổi Hiến pháp năm 1992, nhằm tán phát những tài liệu với nội dung sai trái, phản động làm nhiễu thông tin, làm phân tâm nhân dân trong việc tham gia góp ý xây dựng Hiến pháp, trong đó có nhóm KN72.
Trong các kiến nghị của mình, nhóm KN72 đưa ra luận điệu đòi phi chính trị đối với lực lượng vũ trang, với lập luận hết sức đơn điệu và lạc lõng là: “Lực lượng vũ trang phải trung thành với Tổ quốc và nhân dân chứ không phải trung thành với bất kỳ tổ chức nào, như quy định tại Điều 70 của Dự thảo...”, sau đó họ ngang nhiên tuyên bố : “Chúng tôi yêu cầu bỏ quy định lực lượng vũ trang phải trung thành với Đảng Cộng sản Việt Nam”. Đòi hỏi phi lý này của nhóm KN72 thật là lố bịch.
Ai cũng biết rằng lực lượng vũ trang được sinh ra từ nhân dân, họ là con, dân của đất Việt, vì nhân mà phục vụ, vì nhân dân mà chiến đấu, có mối quan hệ gắn bó mật thiết với nhân dân. Làm nhiệm vụ là công cụ chuyên chính sắc bén đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp, tuyệt đối về mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam. Chính sự tuyệt đối trung thành, hoàn toàn tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng mà gần bảy thập niên qua, quân đội ta đã xây dựng, chiến đấu, chiến thắng và trưởng thành, thêu dệt nên truyền thống anh hùng, đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh, lãnh tụ vĩ đại của dân tộc và nhân dân Việt Nam, là người Cha thân yêu của các lực lượng vũ trang nhân dân ân cần chỉ bảo: “Phải xây dựng và lãnh đạo vững chắc lực lượng vũ trang cách mạng của nhân dân, bảo đảm đánh thắng bất cứ kẻ thù nào, bất cứ trong hoàn cảnh nào. Phải luôn luôn củng cố và tăng cường Nhà nước dân chủ nhân dân, kiên quyết giữ vững chuyên chính đối với kẻ thù của dân tộc, của giai cấp và thực hiện dân chủ thật sự đối với nhân dân”.
Thực tiễn đã chứng minh lực lượng vũ trang nói chung và Quân đội nhân dân Việt Nam nói riêng đã đánh thắng các đội quân xâm lược nhà nghề hùng mạnh nhất của thế giới là Pháp và Mỹ... Truyền thống vẻ vang của Quân đội nhân dân Việt Nam là trung với Đảng, trung với Nước, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, vì hạnh phúc bền vững của nhân dân, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng.

Thực tế lịch sử cách mạng nước ta cho thấy, nếu không có lực lượng vũ trang tuyệt đối trung thành và bách chiến bách thắng thì liệu đất nước Việt Nam có được như hôm nay? Từ sau chiến thắng mùa xuân 1975 lịch sử đến nay, dưới sự lãnh đạo sâu sát, sáng tạo và kịp thời của Đảng, lực lượng vũ trang ta đã đánh tan quân xâm lược ở biên giới Tây Nam và biên giới phía Bắc vào những năm 1976-1979, bảo vệ toàn vẹn biên cương ở hai đầu Tổ quốc, sau đó là liên tiếp dẹp tan nhiều vụ bạo loạn mang màu sắc chính trị, do các thế lực thù địch trong nước cấu kết với bọn phản động nước ngoài thực hiện. Đó là những bài học xương máu, cảnh tỉnh cho chúng ta về sự trung thành vô hạn của quân đội đối với Đảng. Hay nói cách khác rằng, lục lượng vũ trang Việt Nam cần phải luôn luôn đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt; tuân thủ đường lối quân sự và phương châm chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc do Đảng ta định hướng. Nếu thoát ly khỏi sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đồng nghĩa với việc lực lượng vũ trang ta sớm hoặc muộn sẽ mất phương hướng chiến đấu, không xác định được đối tượng tác chiến, chắc chắn sẽ thất bại trên chiến trường, đó là điều chúng ta nhất quyết không để xảy ra. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra rằng: “Sự đoàn kết nhất trí giữa Đảng, Chính phủ, quân đội và nhân dân ta trở thành một lực lượng vô cùng to lớn. Nó giúp ta vượt tất cả mọi khó khăn gian khổ. Nó rèn luyện cho chiến sĩ, cán bộ và đồng bào ta thành những người anh hùng”. Liên hệ với thực tiễn cách mạng Việt Nam để kiểm nghiệm lời nói ấy của Người quả không sai chút nào.

PHẢI CHĂNG “CHẾ ĐỘ CHUYÊN CHẾ CỘNG SẢN PHI NHÂN QUYỀN” ĐƯỢC TẠO NÊN TỪ CƠ CHẾ NHẤT NGUYÊN CHÍNH TRỊ?

Tính nhất nguyên chính trị là đặc trưng cơ bản, vốn có và là thuộc tính bản chất của hệ thng chính trị nước ta ngay từ những ngày đầu thành lập đến nay. Trong giai đoạn đầu của hệ thng chính trị dân chủ nhân dân, do điều kiện lịch sử, để đối phó thù trong giặc ngoài, thực hiện sách lược nhân nhượng có nguyên tắc, chúng ta đã chấp nhận sự tham gia của một s đảng phái chính trị vào hệ thng chính trị, nhưng Đảng ta vẫn giữ vai trò lãnh đạo. Khi miền Bắc xây dựng chủ nghĩa xã hội và miền Nam tiếp tục tiến hành cách mạng dân tộc, dân chủ. Trong hệ thng chính trị c ta có sự tham gia của Đảng Dân ch và Đảng Xã hội, nhưng cả hai đảng này đều thừa nhận sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Như vậy, do điều kiện lịch sử cụ thể, hệ thng chính trị ở nước ta luôn luôn mang tính nhất nguyên về chính trị.
Hiện nay, có những luận điểm cho rằng: cơ chế nhất nguyên chính trị ở nước ta làm cho “dân chủ bị bóp nghẹt”, tạo nên “chế độ chuyên chế cộng sản phi nhân quyền”, vì vậy cần thực hiện chế độ đa đảng để có dân chủ, tự do hơn?!. Lại có những thế lực đòi xoá bỏ Điều 4 trong Hiến pháp nước ta vì cho rằng điều đó cản trở việc thực hiện quyền dân chủ?!.
Xuất phát từ việc phân tích một cách khách quan tình hình cụ thể nước ta hiện nay, chúng ta vừa không chấp nhận chế độ đa nguyên về chính trị. vừa không chủ trương thiết lập tr lại chế độ đa đảng. Đó là sự lựa chọn duy nhất đúng đn phù hợp vi đòi hỏi của hiện thực khách quan, đảm bảo sự ổn định chính trị, ổn định xã hội và sự phát triển của đất nưc theo định hướng xã hội chủ nghĩa vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Trong điều kiện nước ta hiện nay, việc thiết lập trở lại chế độ đa đảng cũng đồng nghĩa với việc chấp nhận cơ chế đa nguyên chính trị và đó sẽ thực sự là thảm hoạ của đất nước. Vì vậy, giữ vững và tăng cường tính nhất nguyên trong đổi mới hệ thng chính trị là nguyên tắc bất di, bất dịch cần được nhận thức sâu sắc và thực thi.
Lý luận và thực tiễn đều minh chứng rằng tính nhất nguvên chính trị của hệ thống chính trị nước ta hoàn toàn không đồng nghĩa vi hiện thân của chế độ chuyên chế, mất dân chủ, phản nhân quyền và không phải cứ thực hiện đa đảng thì sẽ dân chủ, tự do hơn. Trái lại, trong điều kiện khách quan cụ th của nước ta thì giữ vững và tăng cường tính nhất nguyên của hệ thống chính trị là điều kiện cốt yếu để giữ vững độc lập dân tộc và đảm bảo quyền lực thực tế, quyền làm chủ thực sự của nhân dân Việt Nam. Đảng không chỉ là sự phản ánh khách quan tương quan lực lượng kinh tế, chính trị, xã hội ở nước ta hiện nay, phản ánh yêu cầu khách quan sự kế thừa và phát triển truyền thống chính trị ở nước ta, sự nối tiếp tất yếu của quá trình hình thành và phát triển các đảng phái chính trị ở nước ta mà còn là sự phản ánh khách quan khả năng và thực thi đúng đắn ý chí, lợi ích cơ bản của nhân dân Việt Nam và của cả dân tộc Việt Nam.
Đm bo nguyên tắc giữ vững và tăng cường tính nht nguyên chính trị trong đổi mi hệ thng chính trị nước ta hiện nay, trước hết đòi hỏi phải giữ vững, tăng cường vai trò và không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với hệ thng chính trị. Tính chất xã hội chủ nghĩa đích thực của hệ thng chính trị chỉ có thể được đảm bảo và phát triển, quyền lực thực tế của nhân dân lao động chỉ được coi trọng và phát huy khi mà vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với hệ thống đó luôn giữ vững và tăng cường.
Thật trớ trêu thay, trái với những luận điệu mà bọn chúng đưa ra, một người bạn Mỹ trong thư ngỏ gửi Chính phủ Việt Nam gần đây đã viết: "Việt Nam trên nhiều phương diện còn tự do hơn, dân chủ hơn Singapo và hàng tá nưc khác đang được Mỹ toàn tâm ủng h. Chẳng lẽ hai đảng chính trị ở Mỹ gộp lại mà dân chủ” hơn một Đảng Cộng sản của các bạn? Tôi thực sự ngạc nhiên". Thiết nghĩ, không cần bình luận gì thêm.

SỰ DẠI DỘT VÀ NGÂY THƠ CỦA NHỮNG KẺ ĐÒI ĐA NGUYÊN, ĐA ĐẢNG Ở VIỆT NAM

Hiện nay, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đang ra sức thực hiện Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng, trong đó có nội dung tăng cường xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực và sức chiến đấu của Đảng, xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh…, thì các thế lực thù địch vẫn đẩy mạnh thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” nhằm thực hiện mục tiêu nhất quán của chúng là lật đ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nưc ta, trong đó, chúng tập trung vào các hoạt động  đòi phân chia sự lãnh đạo duy nhất của Đảng, bằng cách yêu cầu thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập với lập luận theo lối “ru ngủ” những ai nhẹ dạ, mất cảnh giác như: “Việc đảng cầm quyền chấp nhận cạnh tranh chính trị là phù hợp với xu thế lịch sử, là điều kiện cho sự phát triển của đất nước, đáp ứng đòi hỏi của nhân dân, kể cả các đảng viên trung thực của Đảng Cộng sản Việt Nam trước bối cảnh hiện nay của đất nước”. Và rằng : “Nhất nguyên, độc đảng là vi phạm dân chủ, mất nhân quyền???”.
Những hành động đó nhắc nh chúng ta cần hết sức cảnh giác, không bao gi mơ hồ, ảo tưởng về sự thay đổi bản chất của chủ nghĩa đế quốc và mục tiêu nhất quán của chúng là lật đ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nưc ta.
Ở đây, một lần nữa cần khẳng định rằng, sự lãnh đạo của Đảng ta đi với hệ thng chính trị và xã hội không phải là sự áp đặt mà là sứ mệnh lịch sử giao phó cho Đảng ta; đồng thi Đảng ta xứng đáng vi sứ mệnh cao cả mà nhân dân ta đã tin cậy trao cho Đảng. Hơn 80 năm qua, Đảng ta là lực lượng chính trị duy nhất lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Có được vai trò đó là do Đảng ta là một tổ chức chiến đấu, đội tiền phong ca giai cấp công nhân và nhân dân lao động, bao gồm những con người ưu tú, giác ngộ, tiên tiến nhất của dân tộc, hết mình phấn đấu vì độc lập dân tộc, vì tự do hạnh phúc của nhân dân. Lý tưởng chiến đấu của Đảng ta phù hợp với xu thế khách quan của thời đại. Đảng ta được trang bị chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưng Hồ Chí Minh; nắm bắt và vận dụng quy luật khách quan phù hợp vi điu kiện lịch sử đất nước, kế thừa và phát huy truyền thống anh hùng của dân tộc được nhân dân tin yêu, đùm bọc và ủng hộ; đã lãnh đạo nhân dân ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

Thực tiễn cũng cho thấy, ở nước ta hiện nay không có sự cần thiết khách quan để lập nên cơ chế chính trị đa nguyên, đa đảng đi lập. Thừa nhận đa đảng đi lập, có nghĩa là tạo điều kiện pháp lý cho sự ngóc đầu dậy ngay tức khắc của các lực lượng phản động, phục thù trong nưc và từ nước ngoài trở về hoạt động chng Tổ quốc. Chúng ta đã vượt qua giai đoạn cách mạng dân chủ nhân dân, các lực lượng chính trị đi kháng đã bị đánh đổ. Không có lý do gì chúng ta lại cho phép chúng phục hồi và hành động hợp pháp để chng lại Đảng ta và chế độ ta. Đó là điều Đảng ta và nhân dân ta công khai tuyên bố. Bởi vì, nếu làm điều đó, chỉ là sự hồ về giai cấp và đấu tranh giai cấp, là sự dại dột và ngây thơ, thậm chí ngu dốt về chính trị. Đó còn là sự vô ơn, bội nghĩa, phản bội lịch sử mà bao thế hệ đồng bào, đồng chí đã dũng cảm chiến đấu, hy sinh vì độc lập tự do vì chủ nghĩa xã hội. Hiện nay, một s kẻ đang lớn tiếng vu khống Đảng, Nhà nước ta vi phạm dân chủ. nhân quyền. Thực chất đó là thủ đoạn kích động, hòng gây mất ổn định chính trị để làm suy yếu, tiến tới lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa nước ta. Thực tế lịch sử cho thấy, tiêu chí của dân chủ đâu phải là chế độ một đảng hay đa đảng, mà tùy thuộc o thực chất nhân dân có là chủ thể của quyền hay không? dân chủ của s ít hay s đông ? Dân ch vì ai và cho ai ? Chúng ta đã chứng kiến miền Nam nưc ta thi kỳ dưới chế độ Mỹ - ngụy và hiện nay nhiều nước trên thế gii có chế độ đa đảng, thực chất các quyền tự do, dân chủ của nhân dân rất hạn chế, và bị chà đạp trắng trợn hoặc che đậy tinh vi; đồng thời, đi liền với nó là tình trạng tranh giành quyền lực quyết liệt gây nên hỗn loạn xã hội.

CẦN LÊN ÁN NHỮNG KẺ ĐÒI XÓA BỎ VAI TRÒ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

Hiện nay, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đang ra sức thực hiện Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng, trong đó có nội dung tăng cường xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực và sức chiến đấu của Đảng, xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh…, thì các thế lực thù địch vẫn đẩy mạnh thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” nhằm thực hiện mục tiêu nhất quán của chúng là lật đ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nưc ta, trong đó, chúng tập trung vào các hoạt động đòi xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam tại Điều 4 của Hiến pháp, với lý lẽ vừa hết sức ngụy biện, vừa suy diễn một cách tùy tiện, có tính công kích, nói xấu Đảng ta không hơn, không kém.
Ai cũng hiểu rất rõ, lịch sử cách mạng Việt Nam đã ghi nhận toàn bộ quá trình thực thi nội dung các bản Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1980, Hiến pháp năm 1992 và Hiến pháp năm 2013 đều gắn liền với những thắng lợi to lớn có ý nghĩa cực kỳ quan trọng của cách mạng nước ta do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Điều đó cho thấy rất rõ Đảng ta đã, đang và chắc chắn sẽ thể hiện đầy đủ vai trò là người lãnh đạo và tổ chức mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Đây là sự thật lịch sử hoàn toàn không thể phủ nhận. Do vậy, việc đòi xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong Hiến pháp là một hành động xét về mặt đạo lý thuần túy khác gì là vô ơn, bội nghĩa cần phải lên án mạnh mẽ, một thái độ như vậy đã gây phẫn nộ hơn lúc nào hết cho những ai biết chuyện.
Quá trình ra đời, phát triển và lãnh đạo cách mạng cho thấy, Đảng Cộng sản Việt Nam là một thành t của hệ thống chính trị, là hạt nhân lãnh đạo hệ thng chính trị và toàn xã hội. Đây là vấn đề có tính nguyên tắc, quyết định sự tồn tại và vững mạnh của hệ thống chính trị, bản chất giai cấp công nhân của Nhà nưc, thực hiện và phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân.
Cơ s lý luận của luận điểm này, trưc hết xuất phát từ sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân. Giữ vững và tăng cưng vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản đối với hệ thống chính trị là điều kiện tiên quyết bảo đảm cho việc thực hiện thắng lợi sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, cho sự tồn tại của chế độ xã hội chủ nghĩa nước ta.    
Sự lãnh đạo của Đảng ta đối vi hệ thống chính trị quyết định tới bản chất chính trị của Nhà nước, đó là bản chất giai cấp công nhân, Nhà nước của dân, do dân và vì dân: thực hiện dân chủ với nhân dân và dân tộc. Sự lãnh đạo đó định hướng cho các hoạt động của Nhà nước được đúng đắn, ngăn ngừa và khắc phục những khuyết tật có thể nảy sinh của bộ máy và công chức nhà nước, làm cho Nhà nước trong sạch, vững mạnh, hoàn thành tốt chức năng giai cấp và quản lý xã hội.
Hệ thng chính trị là thiết chế, cơ chế chính trị bảo đảm và thông qua đó nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình. Tuy nhiên, quyền làm chủ của nhân dân chỉ được thực hiện và phát huy cao độ, có hiệu quả tích cực khi có định hưng chính trị đúng đắn, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Nó khắc phục những nhận thức và hành vi sai trái về dân chủ như: dân ch tư sản. dân chủ cực đoan, vô chính phủ, coi thường kỷ cương hoặc thờ ơ chính trị... trong xã hội.

GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO SINH VIÊN CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC – MỘT YÊU CẦU CẤP BÁCH HIỆN NAY

Giáo dục pháp luật cho sinh viên các trường đại học là một hoạt động giáo dục cụ thể, gắn bó hữu cơ với hoạt động giáo dục nói chung. Hoạt động giáo dục pháp luật được thực hiện thông qua các hoạt động, chương trình giáo dục chính khóa và ngoại khóa, đây là hoạt động có vai trò to lớn đối với sự phát triển toàn diện của con người Việt Nam, đặc biệt là thế hệ trẻ, trong đó có việc hình thành ý thức pháp luật và văn hóa pháp lý trong nhân dân.
 Giáo dục pháp luật cho sinh viên các trường đại học là hoạt động có định hướng, có tổ chức, có chủ đích của các chủ thể giáo dục pháp luật thông qua các hoạt động giáo dục chính khóa và ngoại khóa bằng các phương pháp giáo dục khác nhau nhằm trang bị tri thức pháp luật cơ bản, định hướng, phát triển nhân cách và tư cách công dân, nâng cao nhận thức, góp phần điều chỉnh hành vi, hình thành thói quen tự giác xử sự đúng pháp luật, có ý thức tuân thủ pháp luật và có tri thức pháp luật về chuyên môn nghiệp vụ, ngành nghề lĩnh vực mình được đào tạo.
Thứ nhất, cần nâng cao nhận thức, đổi mới tư duy giáo dục và giáo dục pháp luật cho sinh viên các trường đại học. Các trường đại học phải nhận thức toàn diện, đúng đắn và tích cực hơn về vị trí, vai trò của giáo dục pháp luật cho sinh viên. Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng như các bộ, ngành có liên quan cần tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện tốt công tác giáo dục pháp luật cho sinh viên các trường đại học.
Thứ hai, hoàn thiện pháp luật về giáo dục pháp luật cho sinh viên các trường đại học. Các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, nhất là Bộ Giáo dục và Đào tạo cần quy định phải giảng dạy môn pháp luật đại cương trong chương trình chính khóa với số lượng là 60 tiết trong tất cả các chương trình đào tạo đại học các ngành và giảng dạy môn pháp luật chuyên ngành phù hợp với từng ngành đào tạo tối thiểu với thời lượng 45 tiết.
Thứ ba, chuẩn hóa nội dung, chương trình, giáo trình giảng dạy pháp luật chính khóa. Nội dung, chương trình giáo dục pháp luật chính khóa trong các trường đại học phải đảm bảo phục vụ mục tiêu giáo dục đại học, thể hiện được tính liên tục, hệ thống và có kế thừa, đảm bảo tính thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, giữa giáo dục pháp luật với giáo dục chuyên môn nghề nghiệp. 
Thứ tư, đổi mới phương pháp dạy và học pháp luật trong chương trình chính khóa. Việc đổi mới chương trình đào tạo theo hướng giảm số giờ giảng lý thuyết, tăng cường số giờ thảo luận và tự học của sinh viên, các trường đại học cần thay đổi cách thức đào tạo một cách cơ bản, đào tạo theo hình thức tín chỉ. Các lớp học cần được tổ chức lại khoảng từ 40 sinh viên trở xuống.
Thứ năm, xây dựng chương trình giáo dục pháp luật ngoại khóa và đổi mới cách thức tổ chức các hoạt động giáo dục pháp luật ngoại khóa. Giáo dục pháp luật ngoại khóa có tác dụng hỗ trợ đắc lực cho hoạt động giảng dạy chính khóa, kịp thời cập nhật thông tin và tác động trực tiếp đến tình cảm, thái độ của sinh viên. Chương trình giáo dục pháp luật ngoại khóa cần đa dạng hóa các hình thức như tổ chức các báo cáo chuyên đề, thi tìm hiểu về pháp luật, lồng ghép pháp luật vào các hoạt động văn hóa, văn nghệ, tổ chức các hoạt động sinh viên tình nguyện tham gia bảo vệ an ninh trật tự, an toàn xã hội…
Thứ sáu, nâng cao chất lượng giảng viên giảng dạy pháp luật trong các trường đại học không chuyên luật. Giảng viên giảng dạy pháp luật cần phải được đào tạo tốt cả về kiến thức chuyên môn và phương pháp giảng dạy; đảm bảo tài liệu, trang thiết bị, cơ sở vật chất và kinh phí phục vụ cho công tác giáo dục pháp luật cho sinh viên các trường đại học. 

Thứ bảy, tăng cường công tác xã hội hóa trong hoạt động giáo dục pháp luật cho sinh viên các trường đại học. Giáo dục pháp luật cho sinh viên các trường đại học là công việc chủ yếu của các trường đại học, đặc biệt là của các giảng viên, đồng thời là trách nhiệm của ngành giáo dục và các ngành có liên quan. Trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình, các ngành các cấp phải tổ chức hỗ trợ, ủng hộ và tạo điều kiện cho công tác giáo dục pháp luật cho sinh viên.