Thứ Năm, 15 tháng 6, 2023

MỘT SỐ NHẬN THỨC MỚI VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA NHÀ NƯỚC VÀ THỊ TRƯỜNG

Về quan hệ giữa nhà nước với thị trường,  Đại hội XIII khẳng định: trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, giữa Nhà nước, thị trường và xã hội có quan hệ chặt chẽ. Nhà nước xây dựng và hoàn thiện thể chế, bảo vệ quyền tài sản, quyền kinh doanh, giữ ổn định kinh tế vĩ môi, các cân đối lớn của nền kinh tế; tạo môi trường thuận lợi, công khai, minh bạch cho các doanh nghiệp, các tổ chức xã hội và thị trường hoạt động; điều tiết, định hướng, thúc đẩy kinh tế phát triển, gắn kết phát triển kinh tế với phát triển văn hóa, xã hội, bảo đảm an sinh xã hội, đời sống nhân dân, bảo vệ môi trường, bảo đảm quốc phòng, an ninh. Nhà nước quản lý nền kinh tế  bằng pháp luật, cơ chế, chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, các tiêu chuẩn, định mức và lực lượng kinh tế nhà nước phù hợp với các yêu cầu và quy luật của nền kinh tế thị trường.

Về khía cạnh xây dựng và thực thi pháp luật, chiến lược, quy hoạch nâng cao chất lượng, hiệu quả quản trị quốc gia, Đại hội XIII của Đảng nêu bật việc xây dựng khung khổ pháp luật, môi trường kinh doanh thuận lợi, thúc đẩy phát triển, khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, phát triển kinh tế số; hỗ trợ, khuyến khích sự ra đời, hoạt động của những lĩnh vực mới, những mô hình kinh doanh mới. Tập trung sửa đổi những quy định mâu thuẫn, chồng chéo, cản trở phát triển kinh tế. Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, phân cấp, phân quyền, ủy quyền gắn với tăng cường kỷ luật, kỷ cương, trách nhiệm cá nhân và nâng cao  trách nhiệm phối hợp giữa các cấp, các ngành. Nhà nước có chính sách hỗ trợ, khuyến khích phát triển các mô hình kinh tế hợp tác, các hợp tác xã, doanh nghiệp nhỏ và vừa, kinh tế hộ, trang trại trong nông nghiệp. Hoàn thiện thể chế thúc đẩy phát triển kinh tế tư nhân, khuyến khích doanh nghiệp tư nhân đổi mới, nâng cao trình độ công nghệ, phát triển nguồn nhân lực, mở rộng thị trường, cải thiện thu nhập, điều kiện làm việc của người lao động và tham gia các hoạt động xã hội, bảo vệ môi trường, thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp. Nâng cao hiệu quả các dự án đối tác công – tư trong lĩnh vực xây dựng kết cấu hạ tầng. Ưu tiên những dự án đầu tư nước ngoài có tình độ công nghệ cao, thân thiện với môi trường, sử dụng lao động có kỹ năng; đầu tư vào những ngành, lĩnh vực cần ưu tiến phát triển; có liên kết, chuyển giao công nghệ, tạo điều kiện cho doanh nghiệp trong nước phát triển, tham gia có hiệu quả vào chuỗi giá trị toàn cầu.


Thứ Tư, 7 tháng 6, 2023

CHỦ TỊCH QUỐC HỘI VƯƠNG ĐÌNH HUỆ: VIỆT NAM – AUSTRALIA CẦN KIẾN TẠO CÁC CHUỖI CUNG ỨNG MỚI

Chiều 4/6, tại Nhà Quốc hội, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ đã hội kiến Thủ tướng Australia Anthony Albanese đang thăm chính thức Việt Nam theo lời mời của Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính.

Nhiệt liệt hoan nghênh chuyến thăm của Thủ tướng Anthony Albanese và Đoàn, Chủ tịch Quốc hội đánh giá chuyến thăm có ý nghĩa quan trọng; được thực hiện nhân dịp hai nước kỷ niệm 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao (1973-2023), tiếp theo chuyến thăm của Toàn quyền Australia David Hurley vào tháng Tư vừa qua.

Thủ tướng Anthony Albanese vui mừng gặp lại và cảm ơn Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ đã đón tiếp nồng hậu; thông báo đã có cuộc hội đàm thành công với Thủ tướng Phạm Minh Chính. Hai bên nhất trí tăng cường trao đổi đoàn và tiếp xúc cấp cao, trên cả kênh Đảng, Quốc hội và Chính phủ, giao lưu nhân dân; triển khai hiệu quả Kế hoạch thực hiện Chiến lược Tăng cường hợp tác kinh tế (EEES) giữa hai nước giai đoạn 2021-2025…

Nhấn mạnh cùng với các chuyến thăm cấp cao và các cấp giữa hai nước, Thủ tướng cho biết, Australia coi trọng quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện Australia-ASEAN và luôn ủng hộ vai trò trung tâm của ASEAN; đồng thời cho rằng quan hệ hai nước sẽ phát triển mạnh mẽ hơn nữa khi kim ngạch thương mại song phương năm 2022 tăng 30% so với năm 2021, điều này phản ánh sự năng động về hợp tác kinh tế giữa hai nước.

Thủ tướng cũng đánh giá cao quan hệ 2 nước ngày càng được thắt chặt, thể hiện bằng những kết quả hợp tác trên nhiều lĩnh vực trong những năm qua.

Tại hội kiến, bày tỏ vui mừng hai nước có chặng đường 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao với việc xây dựng niềm tin chiến lược, quan hệ hợp tác chặt chẽ trên nhiều lĩnh vực thời gian qua, hai nhà lãnh đạo bày tỏ tin tưởng rằng, với nỗ lực của hai nước, việc nâng cấp quan hệ lên tầm mức mới trong tương lai sẽ sớm được thực hiện.

Nhấn mạnh từ sau đại dịch Covid-19 cho thấy vấn đề về chuỗi cung ứng, Thủ tướng Anthony Albanese nêu rõ tầm quan trọng, sự cần thiết của sự tự cường; đồng thời cho biết, Australia công bố khoản hỗ trợ 105 triệu đô la Australia cho Việt Nam dành cho hợp tác về cơ sở hạ tầng, ứng phó biến đổi khí hậu và chuyển đổi năng lượng.

Đại học RMIT đã công bố giai đoạn tiếp theo trong cam kết đầu tư vào giáo dục, nghiên cứu và hợp tác vào Việt Nam, trong đó có quỹ đầu tư chiến lược trị giá 250 triệu đô la Australia…

Nhấn mạnh Việt Nam là nước có số lượng du học sinh lớn thứ 5 tại Australia và Australia là điểm đến thứ 2 của du học sinh Việt Nam, Thủ tướng Anthony Albanese cho rằng Trường đại học RMIT là điển hình trong quan hệ hợp tác giáo dục, đào tạo giữa hai nước; bày tỏ tin tưởng hợp tác giáo dục, đào tạo sẽ phát triển mạnh mẽ hơn nữa trong tương lai.

Trên cơ sở quan hệ chính trị, ngoại giao hết sức tốt đẹp giữa hai nước và những kết quả rất cụ thể mà hai bên đã đạt được trong cuộc hội đàm sáng 4/6 giữa hai Thủ tướng, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ bày tỏ nhất trí với ý kiến của Thủ tướng Australia cho rằng hai nước còn dư địa rất lớn để tăng cường hợp tác.

Trên cơ sở các hiệp định thương mại tự do, Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP)…, hai nước có thể gia tăng hợp tác về thương mại, đầu tư. Chủ tịch Quốc hội đề nghị, ngoài việc duy trì những chuỗi cung ứng đã có, hai nước cần kiến tạo các chuỗi cung ứng mới để đa dạng hóa thị trường của nhau. Quốc hội Việt Nam ủng hộ hai nước tăng cường hợp tác thương mại, đầu tư; mong có nhiều hơn các nhà đầu tư Australia sang đầu tư sản xuất, kinh doanh tại Việt Nam.

Ghi nhận các ý kiến của Chủ tịch Quốc hội với việc hai bên tổ chức thêm các cuộc hội thảo, tiếp xúc, chia sẻ kinh nghiệm trong thích ứng với cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, nhấn mạnh việc trao đổi, tăng cường sự hiểu biết giữa các Nghị sĩ, Quốc hội hai nước đóng vai trò quan trọng, Thủ tướng Anthony Albanese cho biết, trên tinh thần khuyến khích hợp tác giữa các địa phương hai nước, với cương vị của mình ông sẽ góp phần thúc đẩy để có thể mang lại những kết quả tích cực hơn nữa.

Chủ tịch Quốc hội thông báo, Kỳ họp thứ 5 đang diễn ra, Quốc hội Việt Nam xem xét, quyết định tới 20 dự án luật, trong đó có nhiều dự án luật liên quan tới kinh tế, thương mại, đầu tư. Quốc hội Việt Nam đang xem xét, tạo thuận lợi về visa không chỉ cho công dân Việt Nam, mà cho cả công dân các nước, góp phần thúc đẩy hợp tác về thương mại, đầu tư, du lịch.

Đánh giá cao kết quả hợp tác về giáo dục và đào tạo giữa hai nước, Chủ tịch Quốc hội nhắc lại trong chuyến thăm chính thức Australia tháng 12/2022, các trường Đại học của hai nước đã ký kết 12 thoả thuận hợp tác. Chủ tịch Quốc hội hoan nghênh Đại học RMIT tăng đầu tư, mở rộng hợp tác ở Việt Nam theo thỏa thuận hợp tác. Với việc khai trương Trung tâm Việt Nam-Australia tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Chủ tịch Quốc hội tin tưởng rằng sự vận hành của Trung tâm sẽ góp phần nâng cao năng lực cho cán bộ lãnh đạo, quản lý của Việt Nam; đồng thời cảm ơn Chính phủ Australia đã tài trợ Khóa học tổng quát về biến đổi khí hậu và năng lượng cho đại biểu Quốc hội và cán bộ Văn phòng Quốc hội Việt Nam.

Nhân dịp này, Chủ tịch Quốc hội trân trọng cảm ơn và mong Chính phủ cũng như cá nhân Thủ tướng Australia tiếp tục quan tâm, hỗ trợ, tạo điều kiện cho cộng đồng người Việt Nam tại Australia hội nhập, đóng góp ngày càng nhiều hơn cho sự phát triển kinh tế-xã hội, cũng như cho quan hệ giữa hai đất nước.

Việt Nam luôn coi trọng và đánh giá cao vai trò của Australia trong khu vực và trên trường quốc tế. Nhấn mạnh như vậy, Chủ tịch Quốc hội bày tỏ mong muốn Australia tiếp tục ủng hộ quan điểm của ASEAN và Việt Nam trong vấn đề Biển Đông.

Tại hội kiến, Thủ tướng Anthony Albanese chúc mừng Đội tuyển bóng đá nữ quốc gia Việt Nam lần đầu tiên trong lịch sử lọt vào vòng chung kết World Cup.

Liên quan đến Hội nghị nghị sĩ trẻ toàn cầu lần thứ 9 do Quốc hội Việt Nam đăng cai tổ chức, Thủ tướng Anthony Albanese khẳng định sẽ thúc đẩy việc cử Đoàn Nghị sĩ Australia đến Hà Nội tham dự vào tháng 9 tới.

 


CHỦ ĐỘNG PHÒNG NGỪA, ĐẤU TRANH VỚI CÁC HÀNH VI LỢI DỤNG MẠNG XÃ HỘI CHỐNG PHÁ ĐẢNG, NHÀ NƯỚC

Hiện nay, với tốc độ phát triển mạnh mẽ của Internet và các trang mạng xã hội, hầu hết máy chủ của các mạng xã hội như Facebook, Tiktok, Instagram, Twitter, Wechat… đều đặt ở nước ngoài dẫn đến việc quản lý của các cơ quan nhà nước gặp không ít khó khăn. Thống kê cho thấy, Việt Nam có gần 70 triệu người sử dụng Internet, chiếm khoảng 70% dân số; trên 65 triệu người sử dụng mạng xã hội (tốp 20 Quốc gia có số người sử dụng internet nhiều nhất thế giới). Nhận biết được điều này, thời gian gần đây, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị triệt để lợi dụng internet, mạng xã hội để tán phát các tin bài, video, clip có nội dung chống phá Đảng, Nhà nước với sự gia tăng về cấp độ, tần suất và lưu lượng, nhằm gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội đối với nước ta.

Các thế lực thù địch, những phần tử cơ hội chính trị thường xuyên đăng tải, phát tán thông tin xuyên tạc liên quan đến những sự kiện chính trị quan trọng của đất nước, vụ việc mang tính thời sự, dư luận xã hội quan tâm, như: công tác đấu tranh, phòng chống tham nhũng, tiêu cực; công tác nhân sự của Đảng, Nhà nước (bị xuyên tạc là đấu đá nội bộ, phe cánh, bè nhóm trong Đảng, hạ bệ lẫn nhau), các vụ việc “nóng” về khiếu kiện, môi trường, dân sinh, giải phóng mặt bằng, quan hệ ứng xử của cán bộ, công chức, lực lượng vũ trang, việc thực thi công vụ của lực lượng chức năng. Chúng thường đăng tải, tán phát các bài viết, hình ảnh, video, clip có nội dung mang tính bình luận, núp bóng “phản biện xã hội”, để gợi mở, đặt vấn đề nghi vấn, lợi dụng “khoảng trống thông tin”, đưa ra các thông tin chưa kiểm chứng, sai sự thật hoặc đã bị bóp méo, cắt ghép, đánh vào sự tò mò, tạo ra sự hoài nghi đối với người tiếp cận. Vì thế, một trong những vấn đề quan trọng đặt ra với mỗi cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức và Nhân dân là cần tỉnh táo, cảnh giác, đồng thời, nhận thức đúng trách nhiệm của mình trong việc chuyển tải thông tin trên trang mạng xã hội.

Trong thời gian qua, đại đa số cán bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân đã có những nhận thức đúng đắn, đề phòng, cảnh giác trước những thông tin xấu độc. Tuy nhiên, để nâng cao hơn nữa về phòng ngừa, đấu tranh với các hành vi lợi dụng Internet, mạng xã hội chống phá sự nghiệp cách mạng nước ta, thiết nghĩ, mỗi cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức và quần chúng nhân dân cần tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền, từ đó, làm cho cán bộ, đảng viên, Nhân dân thấy rõ tác động tích cực, tiêu cực của Internet và mạng xã hội; vạch trần bản chất, âm mưu, thủ đoạn của thế lực thù địch, phần tử phản động; nâng cao khả năng nhận diện thông tin xấu, độc, nguy hại đối với bản thân và xã hội, xây dựng phong cách văn hóa khi tham gia trên không gian mạng, chỉ cập nhật thông tin chính thống, không chia sẻ thông tin chưa được kiểm chứng. Bên cạnh đó, tập trung đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch, đồng thời, chủ động và thường xuyên tham gia bình luận, chia sẻ bài viết về điển hình tiên tiến, gương người tốt, việc tốt, những mô hình mới, cách làm hay của các cơ quan, đơn vị, địa phương và cá nhân trong tham gia thực hiện phong trào thi đua yêu nước.

Phòng ngừa, ngăn chặn hoạt động lợi dụng Internet, mạng xã hội để chống phá sự nghiệp cách mạng nước ta là công việc khó khăn, phức tạp, lâu dài. Do vậy, cần thiết phải có sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, sự chung tay, góp sức của mỗi cán bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân để tạo nên sức mạnh tổng hợp nhằm đấu tranh đẩy lùi, làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá, qua đó, góp phần bảo vệ thành quả và công cuộc cách mạng của nước ta


KỶ NIỆM 112 NĂM NGÀY CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH RA ĐI TÌM ĐƯỜNG CỨU NƯỚC (5/6/1911 – 5/6/2023)

Ngày 5/6/1911, với hành trang là chủ nghĩa yêu nước-nhân văn, bằng lao động để sinh tồn, Chủ tịch Hồ Chí Minh bắt đầu cuộc hành trình tìm con đường cứu nước, cứu dân. Cùng mục đích đi ra nước ngoài, nhưng khác với các nhà yêu nước đương thời mới chỉ dừng ở sự tiếp nhận cái dân tộc chưa có, tìm một chỗ dựa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đi phương Tây để tìm hiểu giá trị thật tạo nên cái mới, đến tận nơi xem cho rõ cách làm để trở về giúp đồng bào.

Người đã kiên trì cuộc hành trình trong gần một thập kỷ để trực tiếp khảo sát, nghiên cứu tình hình xã hội của các dân tộc, chủng tộc và thực tiễn ở những nước có các cuộc cách mạng điển hình trên thế giới nhằm làm giàu văn hóa, nâng cao trí tuệ, mở rộng tầm nhìn. Phương pháp đúng ấy đã giúp Chủ tịch Hồ Chí Minh đi từ dân tộc đến với nhân loại, từ đó chọn lọc và tiếp thu tinh hoa văn hóa-văn minh của nhân loại.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tìm ra nguồn gốc trực tiếp nỗi thống khổ chung của các dân tộc thuộc địa, của những người lao động và nhận thấy nhu cầu về quyền dân tộc và quyền con người là khát vọng chung của các dân tộc bị áp bức và nhân dân cần lao trên toàn thế giới.

Cùng với sự phê phán tính chất “không đến nơi” của cách mạng tư sản (trong Đường kách mệnh), Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã ghi nhận những lời bất hủ, không thể chối cãi được về quyền con người trong Tuyên ngôn độc lập của nước Mỹ và Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của cách mạng Pháp (trong Tuyên ngôn độc lập). Người cũng trực tiếp nghiên cứu, khảo sát công cuộc xây dựng xã hội mới ở Liên Xô (1923-1924), cuộc cách mạng giải phóng dân tộc ở nước lớn nhất phương Đông là Trung Quốc (1925-1927)... để rút ra những điều cần thiết cho việc hoạch định con đường riêng của dân tộc.

Với tầm trí tuệ không ngừng được làm giàu bằng tinh hoa văn hóa nhân loại và hoạt động thực tiễn phong phú đã giúp Chủ tịch Hồ Chí Minh lựa chọn và sử dụng thế giới quan, phương pháp luận khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác-Lênin để nhận thức được quy luật tiến hóa, xu thế phát triển của loài người. Người đi tới khẳng định: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”. Người chỉ rõ “cách mạng giải phóng dân tộc phải phát triển thành cách mạng xã hội chủ nghĩa thì mới giành được thắng lợi hoàn toàn”.

Con đường cách mạng mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tìm ra cho dân tộc ta, thực chất là giành độc lập dân tộc phải đưa tới tự do và hạnh phúc cho con người Việt Nam. Con đường đó cũng phù hợp với nguyện vọng chung của các dân tộc và xu thế phát triển của loài người, hàm chứa sâu sắc các nội dung dân tộc-nhân loại và thời đại. Thuận theo quy luật tiến hóa, đáp ứng được nhu cầu giải phóng, phát triển của dân tộc và nhân loại tiến bộ, từ trong đường lối mà Chủ tịch Hồ Chí Minh tìm ra, cách mạng Việt Nam đã hội đủ các yếu tố thiên thời-địa lợi-nhân hòa bảo đảm cho sự thắng lợi.

Đi ra nước ngoài tìm được con đường cho cách mạng Việt Nam là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là công lao vĩ đại, cống hiến lý luận sáng tạo hàng đầu của Chủ tịch Hồ Chí Minh và là di sản có giá trị vĩnh hằng đối với dân tộc Việt Nam.

Có thể coi ngày 5/6/1911 là mở đầu tiến trình hội nhập quốc tế mà Chủ tịch Hồ Chí Minh kiên trì và sáng tạo học tập, nghiên cứu, lựa chọn, tiếp nhận, vận dụng và phát triển các giá trị tinh hoa văn hóa-văn minh nhân loại nhằm tìm ra con đường đi lên cho dân tộc. Nhưng giá trị sâu sắc của con đường ấy còn ở chỗ nó không chỉ nhằm mục tiêu giải phóng và đem lại tự do và hạnh phúc cho con người Việt Nam mà còn góp phần cùng các dân tộc đấu tranh loại trừ chiến tranh và chủ nghĩa thực dân, thúc đẩy sự phát triển của lịch sử loài người.

Cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh là sự nghiệp văn hóa-văn minh, trong đó kết hợp chặt chẽ giữa mục tiêu giải phóng với phát triển và hoàn thiện con người. Sự sâu sắc, giá trị cao cả của cuộc cách mạng mà Chủ tịch Hồ Chí Minh dẫn dắt, thực hiện ở nước ta là ở chỗ làm cho con người Việt Nam tự đứng lên giải phóng bằng chính sự phát triển và hoàn thiện của mình.

Lấy thống nhất thay vì loại trừ và bằng sự giác ngộ để đoàn kết toàn dân nhằm đem sức ta giải phóng cho ta, không ngừng phát triển văn hóa làm cho nhân dân đồng thuận, tự lực, tự cường trong đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng xã hội mới là đường lối và cũng là phương pháp cách mạng mang đậm tính văn hóa mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lãnh đạo thực hiện ở Việt Nam. Giải phóng dân tộc, giải phóng con người bằng sự phát triển và hoàn thiện con người là căn nguyên làm nên những thắng lợi vĩ đại của dân tộc ta trong lịch sử hiện đại.

Trong mọi hoàn cảnh lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn chủ trương nâng cao dân trí, phát triển văn hóa, nhân cách cho toàn dân đi đôi với mở cửa tiếp thu văn hóa-văn minh nhân loại. Chủ tịch Hồ Chí Minh đòi hỏi đội ngũ lãnh đạo là Đảng Cộng sản Việt Nam phải “là đạo đức, là văn minh”. Cũng chính vì thế, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi đạo đức là gốc của người cách mạng và Người là một tấm gương ngời sáng về đạo đức, văn minh.

Ngày 5/6/1911, không chỉ đánh dấu sự khởi đầu của quá trình đi ra thế giới tìm đường cứu nước, cứu dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh mà còn là sự kiện mở ra tiến trình Việt Nam từng bước hội nhập với thế giới. Trong quá trình đó, trên cơ sở tiếp nhận những giá trị văn hóa-văn minh nhân loại và nắm bắt được xu thế phát triển của loài người trong thời đại mới, thông qua con đường cách mạng mà Người đã lựa chọn, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kết hợp thành công sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, dân tộc với quốc tế, tạo nên sức mạnh tổng hợp (cả lực, thế, thời) đưa tới những thắng lợi lịch sử của dân tộc Việt Nam trong hơn một thế kỷ qua và góp phần vào cuộc đấu tranh chung của nhân loại xóa bỏ chủ nghĩa thực dân, thúc đẩy lịch sử loài người tiến lên theo hướng tiến bộ.

Kiên trì con đường cách mạng là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tìm ra không chỉ là kiên trì mục tiêu con người Việt Nam phải được sống trong không gian sinh tồn Độc lập của dân tộc mình mà còn phải được tự do-hạnh phúc trong một xã hội tiến bộ, văn minh của chủ nghĩa xã hội.

Kiên trì con đường với mục tiêu đó cũng chính là giữ vững những nhân tố (thiên thời-địa lợi-nhân hòa), bảo đảm cho thắng lợi của cách mạng Việt Nam trong điều kiện mới để đất nước (có lực, thế, thời mới) tiếp tục tiến bước mạnh mẽ nhằm hoàn thiện những mục tiêu vì dân tộc, vì con người Việt Nam, góp phần vào cuộc đấu tranh chung của nhân loại vì hòa bình, dân chủ và tiến bộ xã hội. Với các giá trị đó, sự kiện lịch sử Chủ tịch Hồ Chí Minh ra đi tìm đường cứu nước và con đường cách mạng mà người đem lại cho dân tộc càng có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc.

Kiên trì con đường cách mạng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn, với đường lối đổi mới của Đảng, sự hội nhập quốc tế của Việt Nam cũng là tiếp tục quá trình dân tộc ta đi ra thế giới trong điều kiện lịch sử mới nhằm tiếp nhận các giá trị văn hóa-văn minh nhân loại, nắm bắt xu thế phát triển của thời đại để tiến hành thắng lợi công cuộc xây dựng đất nước phồn vinh và hạnh phúc cho dân tộc và con người Việt Nam.

Chúng ta không chỉ nắm vững thế giới quan, phương pháp Chủ tịch Hồ Chí Minh trong quá trình đi tìm đường cứu nước, mà còn phải nêu cao tinh thần độc lập, tự chủ, đổi mới và sáng tạo của Người để xây dựng đường lối và chỉ đạo thực tiễn phù hợp với sự vận động của tình hình đất nước và quan hệ quốc tế mới. Chỉ có như vậy mới giải quyết tốt các mối quan hệ dân tộc-giai cấp, quốc gia-quốc tế, dân tộc-thời đại, phát huy cao độ sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết quốc tế, kết hợp sức mạnh dân tộc với thời đại, liên tục tạo lập lực-thế-thời mới mạnh mẽ để đưa đất nước phát triển bền vững, thực hiện thắng lợi các mục tiêu vì dân tộc và con người của chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

 


QUỐC HỘI THẢO LUẬN BA DỰ ÁN LUẬT TRONG NGÀY LÀM VIỆC 5/6

Theo chương trình làm việc, sáng 5/6, Quốc hội nghe trình bày Tờ trình và Báo cáo thẩm tra về dự án Luật Các tổ chức Tín dụng (sửa đổi); Tờ trình và Báo cáo thẩm tra về dự án Luật Nhà ở (sửa đổi). Sau đó, Quốc hội thảo luận ở tổ về dự án Luật Nhà ở (sửa đổi). Việc xây dựng Luật Nhà ở (sửa đổi) nhằm kịp thời thể chế hóa các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước trong việc phát triển nhà ở cho nhân dân, đặc biệt là người có thu nhập thấp và người nghèo, không có khả năng tạo lập nhà ở theo cơ chế thị trường.

Đồng thời, sửa đổi, hoàn thiện các quy định của Luật Nhà ở năm 2014 để phù hợp với tình hình thực tế, tháo gỡ các tồn tại, hạn chế, bảo đảm tính hợp hiến, sự thống nhất, đồng bộ giữa quy định của Luật Nhà ở (sửa đổi) với các luật khác có liên quan. Dự thảo Luật gồm 13 chương với 196 điều. So với Luật Nhà ở năm 2014, dự thảo Luật (sửa đổi) đã tăng hơn 13 điều; trong đó bãi bỏ bảy điều trong Luật hiện hành; giữ nguyên 47 điều; sửa đổi, bổ sung 104 điều; bổ sung mới 34 điều; Luật hóa từ Nghị định 11 điều.

Trong phiên làm việc chiều, Quốc hội thảo luận ở tổ về dự án Luật Tài nguyên Nước (sửa đổi), dự án Luật Các tổ chức Tín dụng (sửa đổi). Việc xây dựng Luật Các tổ chức Tín dụng (sửa đổi) nhằm hoàn thiện quy định pháp luật về các tổ chức tín dụng, xử lý những vướng mắc, bất cập của Luật hiện hành; luật hóa các quy định về xử lý nợ xấu, tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu, tiếp tục tạo hành lang pháp lý trong hoạt động xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng sau khi Nghị quyết số 42 hết hiệu lực từ ngày 31/12/2023.

Đồng thời, việc xây dựng Luật để sửa đổi, bổ sung các quy định phòng ngừa rủi ro, tăng cường hơn nữa việc tự kiểm tra, kiểm soát nội bộ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức tín dụng; xây dựng công cụ để quản lý các tổ chức tín dụng, đặc biệt kiểm soát chặt chẽ nhân sự quản lý, điều hành của tổ chức tín dụng; phát hiện sớm vi phạm và xử lý kịp thời trách nhiệm của các cá nhân quản trị, điều hành tổ chức tín dụng; tăng cường phân cấp, phân quyền gắn với kiểm tra, giám sát, cá thể hóa trách nhiệm cá nhân; bảo đảm công khai, minh bạch trong hoạt động ngân hàng./

 


TÔN VINH NHỮNG HẠT NHÂN TIÊU BIỂU TRONG PHONG TRÀO THI ĐUA YÊU NƯỚC

Tối 4/6, tại Hà Nội, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam long trọng tổ chức Chương trình “Vinh quang Việt Nam” lần thứ 18 năm 2023 thiết thực chào mừng kỷ niệm 75 năm Ngày Bác Hồ ra Lời kêu gọi thi đua ái quốc (11/6/1948-11/6/2023), chào mừng Đại hội Công đoàn các cấp và Đại hội XIII Công đoàn Việt Nam.

Được tổ chức lần đầu tiên đúng vào dịp kỷ niệm Ngày Quốc tế Lao động (ngày 1/5/2004), dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Chương trình “Vinh quang Việt Nam” ngày càng trở thành sự kiện có uy tín lớn trong xã hội, thu hút sự quan tâm của nhân dân cả nước, có tác động tích cực và để lại những dấu ấn tốt đẹp trong xã hội.

Trải qua 17 lần tổ chức, đã có 258 tập thể, cá nhân có thành tích đặc biệt xuất sắc trên các lĩnh vực của đời sống được lựa chọn, tôn vinh. Các điển hình được tôn vinh trong chương trình đã không ngừng phát huy phẩm chất, kinh nghiệm, tiếp tục cống hiến phục vụ nhân dân, phục vụ xã hội. Qua đó, tạo động lực mạnh mẽ, có sức lan tỏa rộng rãi, góp phần đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước, đóng góp thiết thực cho sự phát triển, phồn vinh của đất nước.

Tiếp nối chủ đề “Khát vọng Việt Nam” năm 2021, “Bản lĩnh Việt Nam” năm 2022, Vinh quang Việt Nam năm 2023 lựa chọn chủ đề “Ý chí Việt Nam” nhằm tôn vinh, cổ vũ sức mạnh và tinh thần vượt mọi khó khăn, khát khao cống hiến của con người Việt Nam.

Chương trình đã nhận được nhiều đề cử từ các Ban, Bộ, ngành, địa phương, cơ quan báo chí, truyền thông. Căn cứ các điều kiện, tiêu chuẩn và kết quả, thành tích thực tế của các tập thể, cá nhân, trên tinh thần công tâm, khách quan, chặt chẽ và khoa học, Chương trình “Vinh quang Việt Nam” năm nay đã lựa chọn, tôn vinh 5 tập thể và 11 cá nhân xuất sắc, điển hình cho ý chí, khát vọng vươn lên, vượt mọi khó khăn, quyết tâm phát huy triệt để sức mạnh nội lực, phát huy tính tự lực, tự cường để đứng vững trong thách thức chung và tìm cách vươn lên, truyền cảm hứng cho cộng đồng xã hội.

Những tấm gương tiêu biểu mà Chương trình "Vinh quang Việt Nam" tôn vinh ngày hôm nay dù cho ở ngành nghề, lĩnh vực, vị trí khác nhau, nhưng đều có điểm chung, đó là ý chí vươn lên, vượt qua mọi khó khăn, thách thức, phụng sự đất nước, phục vụ nhân dân.

Ý chí đó chính là một trong những cội nguồn sức mạnh của con người Việt Nam, dân tộc Việt Nam đã được hun đúc trong suốt chiều dài hơn bốn nghìn năm lịch sử. Có thể nói các tập thể, cá nhân được tôn vinh trong chương trình chính là hình ảnh sinh động, chân thực và gần gũi nhất của tinh thần “thi đua ái quốc,” để tất cả chúng ta cùng tiếp tục thi đua, thi đua hơn nữa vì dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh.

16 cá nhân, tập thể được vinh danh gồm:

- Ban Huấn luyện và Đội tuyển Bóng đá Nữ Quốc gia Việt Nam

- Ngân hàng Thương mại Cổ phần Ngoại thương Việt Nam

- Trường Trung học Phổ thông Chuyên Khoa học Tự nhiên-Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội

- Đảng bộ Công ty Cổ phần Dược Hậu Giang; Giáo sư, Tiến sỹ Lê Văn Quảng - Giám đốc Bệnh viện K

- Giáo sư, Tiến sỹ Huỳnh Quyết Thắng - Giám đốc Đại học Bách Khoa Hà Nội; Vụ Tổng hợp Kinh tế-Bộ Ngoại giao

- Trung tá Nguyễn Anh Tuấn - Trưởng Công an phường Láng Thượng, Công an quận Đống Đa, Công an Thành phố Hà Nội

- Anh Lương Phi - Đoàn viên Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Thị trấn Nam Phước, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam

- Đại tá, Phó Giáo sư, Tiến sỹ Vũ Quang Vinh - Phó Giám đốc Bệnh viện Bỏng Quốc gia Lê Hữu Trác (Học viện Quân y)

- Anh Nguyễn Đình Tường - Thợ tiện Công ty trách nhiệm hữu hạn Máy và thiết bị Công nghiệp Lam Uy (Thanh Xuân, Hà Nội)

- Ông Nguyễn Quốc Dần - Tổ trưởng sản xuất, Phân xưởng Than 5, Đảng bộ Công ty Than Dương Huy, Đảng bộ Than Quảng Ninh

- Giáo sư, Tiến sỹ, Nhà giáo ưu tú Nguyễn Minh Thủy - Giảng viên cao cấp Viện Công nghệ Sinh học và Thực phẩm, Trường Đại học Cần Thơ

- Ông Lê Văn Dư - Tổng Giám đốc Công ty Trách nhiệm hữu hạn Giống gia cầm Minh Dư, tỉnh Bình Định

- Giáo sư, Tiến sỹ Hồ Thị Thanh Vân - Trưởng Phòng Khoa học Công nghệ và Quan hệ Đối ngoại, Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Thành phố Hồ Chí Minh

- Ông Trần Văn Khôi - Thuyền phó 2 tàu SAR 412, Trung tâm Phối hợp tìm kiếm, cứu nạn hàng hải Khu vực II, Trung tâm Phối hợp tìm kiếm, cứu nạn hàng hải Việt Nam

 


BA NHÓM ĐỔI TƯỢNG THUỘC DIỆN TINH GIẢM BIÊN CHẾ TỪ NGÀY 20/7/2023

Cụ thể, theo Điều 2 Nghị định 29/2023/NĐ-CP có 3 nhóm đối tượng thực hiện chính sách tinh giản biên chế gồm:

1. Cán bộ, công chức, viên chức; cán bộ, công chức cấp xã và người làm việc theo chế độ hợp đồng lao động không xác định thời hạn trong các cơ quan hành chính được áp dụng chế độ, chính sách như công chức theo quy định của Chính phủ, nếu thuộc một trong các trường hợp sau:

a) Dôi dư do rà soát, sắp xếp lại tổ chức bộ máy, nhân sự theo quyết định của cấp có thẩm quyền hoặc dôi dư do đơn vị sự nghiệp công lập sắp xếp tổ chức bộ máy, nhân sự để thực hiện cơ chế tự chủ;

b) Dôi dư do sắp xếp lại đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã theo quyết định của cấp có thẩm quyền;

c) Dôi dư do cơ cấu lại cán bộ, công chức, viên chức theo vị trí việc làm, nhưng không thể bố trí, sắp xếp được việc làm khác hoặc bố trí được việc làm khác nhưng cá nhân tự nguyện tinh giản biên chế và được cơ quan, tổ chức, đơn vị trực tiếp quản lý đồng ý;

d) Chưa đạt trình độ đào tạo theo tiêu chuẩn chuyên môn, nghiệp vụ quy định đối với vị trí việc làm đang đảm nhiệm, nhưng không có vị trí việc làm khác phù hợp để bố trí và không thể bố trí đào tạo lại để chuẩn hóa về chuyên môn, nghiệp vụ hoặc được cơ quan bố trí việc làm khác nhưng cá nhân tự nguyện thực hiện tinh giản biên chế và được cơ quan, tổ chức, đơn vị trực tiếp quản lý đồng ý;

đ) Có 02 năm liên tiếp liền kề tại thời điểm xét tinh giản biên chế, cán bộ, công chức, viên chức có 01 năm xếp loại chất lượng ở mức hoàn thành nhiệm vụ và 01 năm không hoàn thành nhiệm vụ nhưng không thể bố trí việc làm khác phù hợp; trong năm trước liền kề hoặc trong năm thực hiện xét tinh giản biên chế xếp loại chất lượng ở mức hoàn thành nhiệm vụ trở xuống nhưng cá nhân tự nguyện thực hiện tinh giản biên chế và được cơ quan, tổ chức, đơn vị trực tiếp quản lý đồng ý;

e) Có 02 năm liên tiếp liền kề tại thời điểm xét tinh giản biên chế mà trong từng năm đều có tổng số ngày nghỉ làm việc bằng hoặc cao hơn số ngày nghỉ tối đa do ốm đau theo quy định tại khoản 1 Điều 26 Luật Bảo hiểm xã hội, có xác nhận của cơ quan Bảo hiểm xã hội chi trả trợ cấp ốm đau theo quy định hiện hành của pháp luật; trong năm trước liền kề hoặc trong năm thực hiện xét tinh giản biên chế có tổng số ngày nghỉ làm việc bằng hoặc cao hơn số ngày nghỉ tối đa do ốm đau theo quy định tại khoản 1 Điều 26 Luật Bảo hiểm xã hội, có xác nhận của cơ quan Bảo hiểm xã hội chi trả trợ cấp ốm đau theo quy định hiện hành của pháp luật, cá nhân tự nguyện thực hiện tinh giản biên chế và được cơ quan, tổ chức, đơn vị trực tiếp quản lý đồng ý;

g) Cán bộ, công chức, viên chức lãnh đạo, quản lý thôi giữ chức vụ, chức danh do sắp xếp tổ chức bộ máy, đơn vị hành chính theo quyết định của cấp có thẩm quyền, cá nhân tự nguyện thực hiện tinh giản biên chế và được cơ quan, tổ chức, đơn vị trực tiếp quản lý đồng ý;

h) Cán bộ, công chức, viên chức đang trong thời gian bị kỷ luật nhưng chưa đến mức bị bãi nhiệm hoặc bị buộc thôi việc theo quy định của pháp luật tại thời điểm xét tinh giản biên chế, cá nhân tự nguyện thực hiện tinh giản biên chế, được cơ quan, tổ chức, đơn vị trực tiếp quản lý đồng ý.

2. Người làm việc theo chế độ hợp đồng lao động không xác định thời hạn thực hiện các công việc chuyên môn nghiệp vụ thuộc danh mục vị trí việc làm chức danh nghề nghiệp chuyên ngành và vị trí việc làm chức danh nghề nghiệp chuyên môn dùng chung trong đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của Chính phủ dôi dư do sắp xếp lại tổ chức hoặc cơ cấu lại nhân lực của đơn vị theo quyết định của cấp có thẩm quyền.

3. Người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã dôi dư do sắp xếp đơn vị hành chính cấp xã và người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố dôi dư do sắp xếp thôn, tổ dân phố khi sắp xếp đơn vị hành chính cấp xã nghỉ trong thời gian 12 tháng kể từ khi có quyết định sắp xếp của cấp có thẩm quyền.

Áp dụng Nghị định 29/2023/NĐ-CP về tinh giản biên chế với các đối tượng khác theo Điều 18 như sau:

1. Người làm việc trong các Hội quần chúng do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ và được Nhà nước bảo đảm kinh phí thực hiện nhiệm vụ Nhà nước giao thuộc một trong các trường hợp quy định tại điểm a, đ, e khoản 1 Điều 2 Nghị định này.

2. Chủ tịch công ty, Chủ tịch Hội đồng thành viên, thành viên Hội đồng thành viên, Tổng giám đốc, Giám đốc, Phó Tổng giám đốc, Phó giám đốc, Kế toán trưởng, Kiểm soát viên (không bao gồm Tổng giám đốc, Giám đốc, Phó Tổng giám đốc, Phó Giám đốc, Kế toán trưởng làm việc theo chế độ hợp đồng lao động) trong các công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ (gồm: công ty mẹ của tập đoàn kinh tế nhà nước; công ty mẹ của tổng công ty nhà nước; công ty mẹ trong nhóm công ty mẹ - công ty con; công ty độc lập) dôi dư do thực hiện cổ phần hóa, bán toàn bộ doanh nghiệp, sáp nhập, hợp nhất, chia tách, giải thể, phá sản hoặc chuyển thành công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên hoặc chuyển thành đơn vị sự nghiệp công lập theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền; Giám đốc, Phó giám đốc, Kế toán trưởng của các công ty lâm, nông nghiệp quốc doanh dôi dư do sắp xếp lại theo quy định của pháp luật.

3. Cán bộ, công chức, viên chức được cấp có thẩm quyền cử làm người đại diện phần vốn góp tại doanh nghiệp dôi dư do sắp xếp lại doanh nghiệp theo quyết định của cấp có thẩm quyền.

4. Cán bộ, công chức, viên chức được cấp có thẩm quyền cử sang giữ chức danh lãnh đạo, quản lý tại các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách dôi dư do sắp xếp lại quỹ đó theo quyết định của cấp có thẩm quyền.

5. Cán bộ, công chức, viên chức cấp huyện, cấp xã dôi dư do sắp xếp lại đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã giai đoạn 2019 - 2021 còn chưa giải quyết thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương áp dụng quy định tại khoản 1 Điều 9 Nghị định này để giải quyết chế độ, chính sách cho các trường hợp này. Nguồn kinh phí chi trả chính sách này do ngân sách nhà nước cấp.