Hiển thị các bài đăng có nhãn ra đi tìm đường cứu nước. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn ra đi tìm đường cứu nước. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 7 tháng 6, 2023

KỶ NIỆM 112 NĂM NGÀY CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH RA ĐI TÌM ĐƯỜNG CỨU NƯỚC (5/6/1911 – 5/6/2023)

Ngày 5/6/1911, với hành trang là chủ nghĩa yêu nước-nhân văn, bằng lao động để sinh tồn, Chủ tịch Hồ Chí Minh bắt đầu cuộc hành trình tìm con đường cứu nước, cứu dân. Cùng mục đích đi ra nước ngoài, nhưng khác với các nhà yêu nước đương thời mới chỉ dừng ở sự tiếp nhận cái dân tộc chưa có, tìm một chỗ dựa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đi phương Tây để tìm hiểu giá trị thật tạo nên cái mới, đến tận nơi xem cho rõ cách làm để trở về giúp đồng bào.

Người đã kiên trì cuộc hành trình trong gần một thập kỷ để trực tiếp khảo sát, nghiên cứu tình hình xã hội của các dân tộc, chủng tộc và thực tiễn ở những nước có các cuộc cách mạng điển hình trên thế giới nhằm làm giàu văn hóa, nâng cao trí tuệ, mở rộng tầm nhìn. Phương pháp đúng ấy đã giúp Chủ tịch Hồ Chí Minh đi từ dân tộc đến với nhân loại, từ đó chọn lọc và tiếp thu tinh hoa văn hóa-văn minh của nhân loại.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tìm ra nguồn gốc trực tiếp nỗi thống khổ chung của các dân tộc thuộc địa, của những người lao động và nhận thấy nhu cầu về quyền dân tộc và quyền con người là khát vọng chung của các dân tộc bị áp bức và nhân dân cần lao trên toàn thế giới.

Cùng với sự phê phán tính chất “không đến nơi” của cách mạng tư sản (trong Đường kách mệnh), Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã ghi nhận những lời bất hủ, không thể chối cãi được về quyền con người trong Tuyên ngôn độc lập của nước Mỹ và Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của cách mạng Pháp (trong Tuyên ngôn độc lập). Người cũng trực tiếp nghiên cứu, khảo sát công cuộc xây dựng xã hội mới ở Liên Xô (1923-1924), cuộc cách mạng giải phóng dân tộc ở nước lớn nhất phương Đông là Trung Quốc (1925-1927)... để rút ra những điều cần thiết cho việc hoạch định con đường riêng của dân tộc.

Với tầm trí tuệ không ngừng được làm giàu bằng tinh hoa văn hóa nhân loại và hoạt động thực tiễn phong phú đã giúp Chủ tịch Hồ Chí Minh lựa chọn và sử dụng thế giới quan, phương pháp luận khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác-Lênin để nhận thức được quy luật tiến hóa, xu thế phát triển của loài người. Người đi tới khẳng định: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”. Người chỉ rõ “cách mạng giải phóng dân tộc phải phát triển thành cách mạng xã hội chủ nghĩa thì mới giành được thắng lợi hoàn toàn”.

Con đường cách mạng mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tìm ra cho dân tộc ta, thực chất là giành độc lập dân tộc phải đưa tới tự do và hạnh phúc cho con người Việt Nam. Con đường đó cũng phù hợp với nguyện vọng chung của các dân tộc và xu thế phát triển của loài người, hàm chứa sâu sắc các nội dung dân tộc-nhân loại và thời đại. Thuận theo quy luật tiến hóa, đáp ứng được nhu cầu giải phóng, phát triển của dân tộc và nhân loại tiến bộ, từ trong đường lối mà Chủ tịch Hồ Chí Minh tìm ra, cách mạng Việt Nam đã hội đủ các yếu tố thiên thời-địa lợi-nhân hòa bảo đảm cho sự thắng lợi.

Đi ra nước ngoài tìm được con đường cho cách mạng Việt Nam là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là công lao vĩ đại, cống hiến lý luận sáng tạo hàng đầu của Chủ tịch Hồ Chí Minh và là di sản có giá trị vĩnh hằng đối với dân tộc Việt Nam.

Có thể coi ngày 5/6/1911 là mở đầu tiến trình hội nhập quốc tế mà Chủ tịch Hồ Chí Minh kiên trì và sáng tạo học tập, nghiên cứu, lựa chọn, tiếp nhận, vận dụng và phát triển các giá trị tinh hoa văn hóa-văn minh nhân loại nhằm tìm ra con đường đi lên cho dân tộc. Nhưng giá trị sâu sắc của con đường ấy còn ở chỗ nó không chỉ nhằm mục tiêu giải phóng và đem lại tự do và hạnh phúc cho con người Việt Nam mà còn góp phần cùng các dân tộc đấu tranh loại trừ chiến tranh và chủ nghĩa thực dân, thúc đẩy sự phát triển của lịch sử loài người.

Cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh là sự nghiệp văn hóa-văn minh, trong đó kết hợp chặt chẽ giữa mục tiêu giải phóng với phát triển và hoàn thiện con người. Sự sâu sắc, giá trị cao cả của cuộc cách mạng mà Chủ tịch Hồ Chí Minh dẫn dắt, thực hiện ở nước ta là ở chỗ làm cho con người Việt Nam tự đứng lên giải phóng bằng chính sự phát triển và hoàn thiện của mình.

Lấy thống nhất thay vì loại trừ và bằng sự giác ngộ để đoàn kết toàn dân nhằm đem sức ta giải phóng cho ta, không ngừng phát triển văn hóa làm cho nhân dân đồng thuận, tự lực, tự cường trong đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng xã hội mới là đường lối và cũng là phương pháp cách mạng mang đậm tính văn hóa mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lãnh đạo thực hiện ở Việt Nam. Giải phóng dân tộc, giải phóng con người bằng sự phát triển và hoàn thiện con người là căn nguyên làm nên những thắng lợi vĩ đại của dân tộc ta trong lịch sử hiện đại.

Trong mọi hoàn cảnh lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn chủ trương nâng cao dân trí, phát triển văn hóa, nhân cách cho toàn dân đi đôi với mở cửa tiếp thu văn hóa-văn minh nhân loại. Chủ tịch Hồ Chí Minh đòi hỏi đội ngũ lãnh đạo là Đảng Cộng sản Việt Nam phải “là đạo đức, là văn minh”. Cũng chính vì thế, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi đạo đức là gốc của người cách mạng và Người là một tấm gương ngời sáng về đạo đức, văn minh.

Ngày 5/6/1911, không chỉ đánh dấu sự khởi đầu của quá trình đi ra thế giới tìm đường cứu nước, cứu dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh mà còn là sự kiện mở ra tiến trình Việt Nam từng bước hội nhập với thế giới. Trong quá trình đó, trên cơ sở tiếp nhận những giá trị văn hóa-văn minh nhân loại và nắm bắt được xu thế phát triển của loài người trong thời đại mới, thông qua con đường cách mạng mà Người đã lựa chọn, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kết hợp thành công sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, dân tộc với quốc tế, tạo nên sức mạnh tổng hợp (cả lực, thế, thời) đưa tới những thắng lợi lịch sử của dân tộc Việt Nam trong hơn một thế kỷ qua và góp phần vào cuộc đấu tranh chung của nhân loại xóa bỏ chủ nghĩa thực dân, thúc đẩy lịch sử loài người tiến lên theo hướng tiến bộ.

Kiên trì con đường cách mạng là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tìm ra không chỉ là kiên trì mục tiêu con người Việt Nam phải được sống trong không gian sinh tồn Độc lập của dân tộc mình mà còn phải được tự do-hạnh phúc trong một xã hội tiến bộ, văn minh của chủ nghĩa xã hội.

Kiên trì con đường với mục tiêu đó cũng chính là giữ vững những nhân tố (thiên thời-địa lợi-nhân hòa), bảo đảm cho thắng lợi của cách mạng Việt Nam trong điều kiện mới để đất nước (có lực, thế, thời mới) tiếp tục tiến bước mạnh mẽ nhằm hoàn thiện những mục tiêu vì dân tộc, vì con người Việt Nam, góp phần vào cuộc đấu tranh chung của nhân loại vì hòa bình, dân chủ và tiến bộ xã hội. Với các giá trị đó, sự kiện lịch sử Chủ tịch Hồ Chí Minh ra đi tìm đường cứu nước và con đường cách mạng mà người đem lại cho dân tộc càng có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc.

Kiên trì con đường cách mạng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn, với đường lối đổi mới của Đảng, sự hội nhập quốc tế của Việt Nam cũng là tiếp tục quá trình dân tộc ta đi ra thế giới trong điều kiện lịch sử mới nhằm tiếp nhận các giá trị văn hóa-văn minh nhân loại, nắm bắt xu thế phát triển của thời đại để tiến hành thắng lợi công cuộc xây dựng đất nước phồn vinh và hạnh phúc cho dân tộc và con người Việt Nam.

Chúng ta không chỉ nắm vững thế giới quan, phương pháp Chủ tịch Hồ Chí Minh trong quá trình đi tìm đường cứu nước, mà còn phải nêu cao tinh thần độc lập, tự chủ, đổi mới và sáng tạo của Người để xây dựng đường lối và chỉ đạo thực tiễn phù hợp với sự vận động của tình hình đất nước và quan hệ quốc tế mới. Chỉ có như vậy mới giải quyết tốt các mối quan hệ dân tộc-giai cấp, quốc gia-quốc tế, dân tộc-thời đại, phát huy cao độ sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết quốc tế, kết hợp sức mạnh dân tộc với thời đại, liên tục tạo lập lực-thế-thời mới mạnh mẽ để đưa đất nước phát triển bền vững, thực hiện thắng lợi các mục tiêu vì dân tộc và con người của chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

 


Thứ Tư, 2 tháng 6, 2021

TẦM NHÌN CỦA NGUYỄN ÁI QUỐC TRONG TÌM ĐƯỜNG CỨU NƯỚC

Nguyễn Tất Thành rất khâm phục ý chí đấu tranh giành độc lập dân tộc của các bậc tiền bối, nhưng không tán thành đường lối cứu nước của họ. Trong bối cảnh những năm đầu thế kỷ XX, vào tháng 6-1911, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành đã quyết chí ra đi tìm đường cứu nước. Người đi sang phương Tây, nhưng không phải đi tìm chỗ dựa, hoặc cầu viện các thế lực bên ngoài để cứu nước, mà là đi xem các nước làm như thế nào về giúp đồng bào mình.

Quyết định sang Pháp là một quyết định có ý nghĩa lịch sử, thể hiện rõ tầm nhìn, tư duy độc lập, sáng tạo của Người. Hồ Chí Minh đã mở tầm nhìn ra thế giới, sẵn sàng tiếp biến tinh hoa, trí tuệ của thời đại. Người phân tích, đánh giá ý nghĩa các sự kiện lớn trên thế giới, đặc biệt là các cuộc cách mạng xã hội. Bắt đầu từ lòng yêu nước, sự nhạy cảm với cái mới, cái tiến bộ, dựa trên tiêu chí ai, tổ chức nào bênh vực các dân tộc thuộc địa, ủng hộ và đoàn kết với họ trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân, đế quốc, giành độc lập dân tộc, Người đã định hình ra con đường để đòi các quyền tự do, dân chủ tối thiểu cho nhân dân mình.

Tại Pa-ri thủ đô nước Pháp, lúc này được coi là “trung tâm liên minh thế giới của bọn đế quốc”, Người đã có một bước phát triển mới trong nhận thức về con đường cứu nước khi tiếp nhận ảnh hưởng của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917. Mặc dù, chưa hiểu hết ý nghĩa cực kỳ to lớn của Cách mạng Tháng Mười, nhưng với Người, đây là một biến cố to lớn, “có một sức lôi cuốn kỳ diệu vô cùng”. Đặc biệt, từ tháng 7-1920, khi tiếp xúc với bản “Sơ thảo lần thứ nhất những Luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa” của V.I.Lê-nin, Người đã tìm thấy ở Luận cương những giải đáp về con đường giải phóng cho các dân tộc thuộc địa, trong đó có Việt Nam.

Bằng hoạt động thực tiễn, Nguyễn Ái Quốc đã vượt qua tầm nhìn hạn chế, ảo tưởng mong chờ sự giúp đỡ của các chính phủ đế quốc đã từng tồn tại ở một số nhà yêu nước khác cùng thời. Nguyễn Ái Quốc nhận rõ, trong thế giới chỉ có “một mối tình hữu ái là thật mà thôi: tình hữu ái vô sản”. Vào tháng 7/1920, Nguyễn Ái Quốc đọc bản Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lênin đăng trên báo L’ Humanité, Người nhận ra: “Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta”. Nguyễn Ái Quốc tìm thấy trong Luận cương của Lê nin lời giải đáp về con đường giải phóng cho nhân dân Việt Nam; lời giải đáp về vấn đề dân tộc thuộc địa trong mối quan hệ với phong trào cách mạng thế giới - mối quan hệ giữa yếu tố sức mạnh dân tộc với sự giúp đỡ, ủng hộ của quốc tế. Người nhận thức được rằng: “Không có một sức mạnh thống nhất của cả nước, không có sự giúp đỡ mạnh mẽ của bên ngoài, công cuộc vận động giải phóng khó mà thành công được”.

Tháng 12/1920, tại Đại hội lần thứ XVIII Đảng Xã hội Pháp ở Tua, với tư cách là đảng viên Đảng Xã hội Pháp, Nguyễn Ái Quốc bỏ phiếu ra nhập Quốc tế thứ ba - Quốc tế Cộng sản, tán thành chủ trương thành lập Đảng Cộng sản pháp và trở thành một trong những người sáng lập Đảng Cộng sản pháp. Cuộc gặp gỡ với chủ nghĩa Mác - Lênin vào những năm 20 của Thế kỷ XX là sự kiện đánh dấu Nguyễn Ái Quốc giác ngộ lập trường, quan điểm vô sản và quyết định lựa chọn con đường giải phóng dân tộc ở Việt Nam theo quỹ đạo của cách mạng vô sản.

KHÔNG THỂ XUYÊN TẠC, PHỦ NHẬN ĐỘNG CƠ RA ĐI TÌM ĐƯỜNG CỨU NƯỚC CỦA NGUYỄN TẤT THÀNH

Cứ liệu mấu chốt mà các thế lực thù địch, phản động sử dụng để xuyên tạc, phủ nhận động cơ ra  đi tìm đường cứu nước của Nguyễn Tất Thành là Đơn xin vào Trường Thuộc địa mà  Người đã gửi cho Tổng thống và Bộ trưởng Bộ Thuộc địa Pháp ngày 15/9/1911. Nhiều người chỉ vin vào những nội dung trong lá đơn này rồi rằng, động cơ Nguyễn Tất Thành sang Pháp là tìm đường làm quan, “mộng làm quan” cho thực dân, là do “kinh tế gia đình, ra đi để tìm đường cứu nhà” hoặc để “cãi tội”, “xin tội cho cha”, v.v..

Thực tế  lịch  sử  hoàn toàn phủ nhận những luận điệu xuyên  tạc trên của các thế lực thù địch. Vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, nhân dân ta rên xiết dưới chế độ “thuộc địa nửa phong kiến” hà khắc, dân tộc chìm trong đêm trường nô lệ. Tại thời điểm này, xã hội Việt Nam đã trải qua những cuộc thử nghiệm để lựa chọn con đường cứu nước. Nổi lên là các phong trào yêu nước chống thực dân Pháp đã diễn ra sôi nổi, rộng khắp, tiêu biểu là các phong trào Cần Vương, cuộc khởi nghĩa nông dân Yên Thế, phong trào Duy Tân.v.v. Song tất cả các phong trào này đều thất bại. Trước tình cảnh ấy, ngày 05/6/1911, từ bến cảng Nhà Rồng, Nguyễn Tất Thành đã ra đi tìm đường cứu nước, giải phóng dân tộc. Người nói: “Tôi muốn đi ra nước ngoài xem nước Pháp và các nước khác. Sau khi xem xét họ làm như thế nào, tôi sẽ trở về giúp đồng bào chúng ta”. Nếu như phần lớn những người Việt Nam xuất dương lúc bấy giờ là để tìm sự giúp đỡ của bên ngoài, cầu ngoại viện để đánh Pháp, thì Nguyễn Ái Quốc ra đi là để tìm con đường, cách thức đánh đuổi thực dân Pháp, giải phóng dân tộc, giải phóng đồng bào.

Từ Bến cảng Nhà Rồng, Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc đã thực hiện một hành trình đi tìm chân lý kéo dài hơn 30 năm (1911 - 1941). Người đã đi xuyên qua ba đại dương, bốn châu lục Á, Âu, Phi, Mỹ, tìm hiểu bản sắc văn hóa, kinh tế, chính trị của biết bao quốc gia, dân tộc… để hiểu hơn Tổ quốc mình. Năm 1923, tại Mátxcơva khi trả lời cuộc phỏng vấn của phóng viên tạp chí Ngọn lửa nhỏ, Người đã giải thích quyết định ra đi của mình như sau: Vào trạc tuổi 13 lần đầu tiên tôi được nghe những từ ngữ tiếng Pháp: tự do, bình đẳng, bác ái – đối với chúng tôi lúc ấy, mọi người da trắng được coi là người Pháp - thế là tôi muốn làm quen với văn minh Pháp”. Đi sang Pháp tìm hiểu tận gốc kẻ thù đang áp bức nô dịch đất nước mình, để từ đó có phương pháp và vũ khí phù hợp đánh đuổi chúng, phải chăng đây cũng là một lý do quyết định hướng đi của Người. Suốt hơn 30 năm bôn ba, Nguyễn Ái Quốc đã vượt qua nhiều khó khăn, gian khổ, trở ngại, để tìm ra con đường cứu nước cho dân tộc Việt Nam - con đường cách mạng vô sản. Và cả cuộc đời Bác Hồ là một cuộc hành trình không mệt mỏi vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân.  Điều  đó là một sự thật mà  không một luận điệu sai trái nào có thể xuyên tạc, phủ nhận.