Thứ Hai, 29 tháng 8, 2022

ĐỔI MỚI, CHỈNH ĐỐN ĐẢNG LÀ VIỆC LÀM THƯỜNG XUYÊN

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi cán bộ, đảng viên phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần, kiệm, liêm chính, chí công, vô tư.

Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đày tớ thật trung thành của nhân dân”. Thực hiện tư tưởng của Người, Đảng ta không ngừng chăm lo công tác xây dựng Đảng, lãnh đạo nhân dân ta vượt qua mọi gian nan, thử thách, đưa cách mạng đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

Ngày nay, Đảng đang lãnh đạo nhân dân ta thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện đất nước và đã đạt được những thành tựu to lớn và quan trọng. Tuy nhiên trước yêu cầu mới ngày càng cao của sự nghiệp cách mạng, trong Đảng đã bộc lộ một số yếu kém như: sự suy thoái về tư tưởng chính trị, tình trạng tham nhũng, quan liêu, lãng phí của một bộ phận cán bộ, đảng viên, việc thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ không nghiêm… Đảng ta đã xác định phải tiếp tục coi xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt, nhiệm vụ sống còn, củng cố, chỉnh đốn, làm cho Đảng ngày càng vững mạnh về mọi mặt.

Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Với cương vị lãnh đạo của mình, Đảng phải là một Đảng trí tuệ, đạo đức, văn minh. Là thành viên của hệ thống chính trị, Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Đảng phải xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân; chống mọi biểu hiện tiêu cực của bộ máy nhà nước như bệnh quan liêu, tham nhũng, lãng phí; xây dựng và nâng cao bản lĩnh chính trị và uy tín của đội ngũ cán bộ, đảng viên với tinh thần hiểu dân, học dân, hỏi dân, tin dân, thật sự là người đày tớ trung thành của nhân dân. Đảng phải luôn chú trọng công tác xây dựng Đảng, thường xuyên tự đổi mới và chỉnh đốn. Đảng phải quan tâm đến việc nâng cao chất lượng đảng viên, đưa ra khỏi hàng ngũ của Đảng những người không xứng đáng. “Đảng không che giấu những khuyết điểm của mình, không sợ phê bình, Đảng phải nhận khuyết điểm của mình mà tự sửa chữa để tiến bộ, để dạy bảo cán bộ và đảng viên” (Hồ Chí Minh). Đây là nhiệm vụ xuyên suốt trong công tác xây dựng Đảng.

Đứng trước thời cơ và thách thức mới, để Đảng luôn trong sạch, vững mạnh, mỗi cán bộ, đảng viên, các tầng lớp nhân dân cần nâng cao hơn nữa tinh thần cảnh giác, không chủ quan với những thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị, không mơ hồ, lơ là với tình trạng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; kiên định chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; tiếp tục thực hiện hiệu quả Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII, XIII) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng gắn với Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị (khóa XII) về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, Quy định về những điều đảng viên không được làm… coi đây là giải pháp đột phá để xây dựng Đảng, xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên trong sạch, gương mẫu. Từ đó đưa ra khỏi Đảng những cán bộ, đảng viên thiếu gương mẫu, không đủ tư cách, tham nhũng, tiêu cực, thoái hóa, biến chất về đạo đức, lối sống, cơ hội, bè phái, cục bộ địa phương, coi thường pháp luật, không tôn trọng nhân dân...

MỤC TIÊU CAO CẢ KHÔNG THỂ PHỦ NHẬN

Thời gian qua, nhất là từ khi Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng được tổ chức thành công, vấn đề độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là một trong những nội dung mà các đối tượng phản động, bất đồng chính kiến đưa ra những luận điệu xuyên tạc, công kích. Chúng cho rằng, chủ nghĩa xã hội đã sụp đổ ở Liên Xô và Đông Âu từ cuối những năm 80, đầu những năm 90 của thế kỷ trước. Hiện nay, hầu hết các nước đang đi theo con đường tư bản chủ nghĩa, do vậy Việt Nam không nên giữ mãi mục tiêu đi lên chủ nghĩa xã hội. Chính vì vậy, cần phải nhận thức cho đầy đủ vì sao chúng ta kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

Trong suốt quá trình lãnh đạo, Đảng ta luôn khẳng định nhất quán mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung và phát triển năm 2011) khẳng định: “nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội - ngọn cờ vinh quang mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trao lại cho thế hệ hôm nay và các thế hệ mai sau. Độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết để thực hiện chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa xã hội là cơ sở bảo đảm vững chắc cho độc lập dân tộc”. Đại hội XIII của Đảng cũng xác định: “kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”. Nhìn lại lịch sử nước ta thế kỷ XX và hai thập niên đầu thế kỷ XXI, chúng ta càng nhận thấy sự lựa chọn của Đảng và nhân dân ta là hoàn toàn chính xác. Chính vì vậy, chúng ta càng có đầy đủ cơ sở để khẳng định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là mục tiêu cao đẹp, bất di bất dịch của dân tộc Việt Nam.

Trải qua gần 80 năm giành và giữ độc lập dân tộc, xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc, nhất là qua 36 năm thực hiện công cuộc đổi mới với mục tiêu cao cả đó, Đảng ta đã lãnh đạo đất nước khẳng định bản lĩnh Việt Nam trong việc giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, tỏ rõ tính độc lập, tự chủ trong thực hiện chính sách đối nội, đối ngoại, đưa nước ta từ một nước thuộc địa, nửa phong kiến trở thành một quốc gia độc lập, tự do, phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa; nhân dân ta từ thân phận nô lệ đã trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ xã hội; đất nước ra khỏi tình trạng nước nghèo, kém phát triển, đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, có vị thế ngày càng cao trên trường quốc tế. Vì vậy, dù thời cuộc biến đổi xoay vần ra sao, dù phải đối mặt với rất nhiều thách thức phía trước, dù cho ai có ảo tưởng vào thiên đường tư bản chủ nghĩa thì hệ giá trị độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội vẫn là mục tiêu, là lý tưởng, là ngọn cờ tiếp tục dẫn dắt nhân dân ta đi tới tương lai tươi sáng.

PHẢN BÁC LUẬN ĐIỆU CHO RẰNG: VIỆT NAM ĐÃ THỪA NHẬN CHỦ QUYỀN CỦA TRUNG QUỐC TẠI HOÀNG SA VÀ TRƯỜNG SA

Từ trước đến nay, các học giả Trung Quốc luôn viện dẫn nội dung Bức thư của Thủ tướng Phạm Văn Đồng gửi các nhà lãnh đạo Trung Quốc ngày 14 - 9 - 1958, xem đây là bằng chứng cho rằng Việt Nam đã thừa nhận chủ quyền của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Ngày 17 - 4 - 2020, Trung Quốc gửi công hàm lên Liên Hợp Quốc để khẳng định chủ quyền với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (thuộc chủ quyền của Việt Nam), trong đó, Trung Quốc khẳng định Chính phủ Việt Nam cũng đã công nhận điều này thông qua công hàm 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng.

Vậy sự thật lịch sử về nội dung Bức thư của Thủ tướng Phạm Văn Đồng gửi Thủ tướng Trung Quốc ngày 14 - 9 - 1958 như thế nào?

Văn kiện (Sách trắng) của Bộ Ngoại giao nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1982 nêu rõ: “Nội dung công hàm không hề nói tới Hoàng Sa và Trường Sa, thậm chí không nói đến cả vấn đề lãnh thổ một cách chung chung, và lại càng không nói gì về việc “công nhận” chủ quyền của Trung Quốc đối với hai quần đảo đó. Bắc Kinh đã cố tình biến cử chỉ hữu nghị chân thành của Việt Nam thành một tuyên bố “công nhận” Hoàng Sa và Trường Sa là của Trung Quốc để rồi lớn tiếng vu cáo “Việt Nam lật lọng”.Trong cuộc gặp các nhà lãnh đạo Trung Quốc vào tháng 4 - 1977, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nói rõ: “Công hàmngày 14 - 9 - 1958 của Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chỉ biểu thị thái độ ghi nhận và tán thành tuyên bố ngày 4/9/1958 của Trung Quốc về hải phận 12 hải lý, hoàn toàn không nói gì đến quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa mà lúc đó Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chưa có chủ quyền, nên Trung Quốc không thể coi đó là văn bản xác nhận chủ quyền của Trung Quốc trên hai quần đảo”.Trong cuộc họp báo quốc tế về tình hình Biển Đông ngày 16 - 6 - 2014, Bộ Ngoại giao Việt Nam nêu rõ,Trung Quốc đã cố tình xuyên tạc lịch sử và diễn giải sai lịch sử khi viện dẫn Công thư của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng năm 1958 và một số tài liệu, ấn phẩm được xuất bản ở Việt Nam trước năm 1975 như là bằng chứng về việc Việt Nam công nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với Hoàng Sa.

Chủ quyền Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa là thiêng liêng, không thể nhân nhượng, không thể thỏa hiệp, không thể đánh đổi. Nhà nước Việt Nam chưa bao giờ thừa nhận chủ quyền của Trung Quốc ở quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa, luôn kiên quyết bác bỏ yêu sách chủ quyền phi lý và kiên trì đấu tranh trước những hành động của Trung Quốc xâm phạm chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa.Trong các tuyên bố chính thức của Chính phủ Việt Nam và các Công hàm gửi Liên Hợp Quốc, Việt Nam luôn khẳng định lập trường pháp lý về chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Savà các vùng biển đảo thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam được xác định trên cơ sở Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS 1982). Việt Nam không công nhận bất kỳ yêu sách biển nào của Trung Quốc dựa trên cái gọi là “đường chín đoạn” tại Biển Đông. Việt Nam khẳng định,Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982 là cơ sở pháp lý duy nhất, quy định toàn diện và triệt để về phạm vi quyền được hưởng vùng biển giữa Việt Nam và Trung Quốc.

MỘT SỐ GIẢI PHÁP CƠ BẢN PHÒNG CHỐNG CHIÊU TRÒ ĐÒI "TỰ TRỊ DÂN TỘC" HIỆN NAY

Một là, tiếp tục tăng cường tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên và nhân dân về âm mưu, thủ đoạn hoạt động ly khai, đòi tự trị dân tộc của các thế lực thù địch để chống phá Đảng, Nhà nước ta; nâng cao ý thức tự giác của nhân dân trong việc thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về dân tộc, tôn giáo; tích cực tham gia công tác phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn hoạt động này. Tiếp tục phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dân đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp, tuyệt đối, toàn diện của Đảng trong công tác đấu tranh, ngăn chặn âm mưu, hoạt động lợi dụng vấn đề này để chống phá nước ta.

Hai là, tiếp tục thực hiện hiệu quả các chương trình, dự án phát triển kinh tế, xã hội, xóa đói giảm nghèo, bảo đảm an sinh xã hội, thường xuyên chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân; không ngừng nâng cao trình độ dân trí, văn hóa, xã hội cho đồng bào DTTS, vùng sâu, vùng xa. Tiếp tục thực hiện hiệu quả các chương trình, dự án phát triển kinh tế, xã hội, xóa đói giảm nghèo nhằm góp phần bảo đảm ngày càng tốt hơn quyền và lợi ích chính đáng của đồng bào các DTTS, vùng sâu, vùng xa trên cơ sở pháp luật. Thường xuyên chăm lo xây dựng, củng cố, kiện toàn hệ thống chính trị ở cơ sở; quan tâm xây dựng, củng cố nền quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân thực sự vững chắc, trong đó, tập trung xây dựng các khu vực phòng thủ “cơ bản, toàn diện, liên hoàn, vững chắc”; xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân trên địa bàn vững mạnh, thực sự là nòng cốt trong giữ vững an ninh trật tự tại địa phương.

Ba là, không ngừng xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc dựa trên nền tảng khối liên minh công-nông-trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng; nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước, hiệu lực hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân trong mở rộng, đa dạng hóa các hình thức tập hợp nhân dân; là “cầu nối” giữa Đảng với nhân dân, làm cho mối liên hệ giữa Đảng, Nhà nước với đồng bào các DTTS ngày càng gắn bó khăng khít. Tiếp tục phát huy và thực hiện đồng bộ, triệt để, hiệu quả Quy chế dân chủ ở cơ sở trong vùng đồng bào DTTS, vùng sâu, vùng xa. Đề cao tinh thần dân tộc và tôn trọng những điểm khác biệt của các DTTS không trái với lợi ích chung của đất nước; kiên quyết chống tư tưởng kì thị, chia rẽ dân tộc, tôn giáo, dân tộc hẹp hòi, cực đoan hoặc mặc cảm dân tộc, tôn giáo.

Bốn là, chủ động nắm chắc tình hình từ sớm, từ xa; ngay từ trung tâm của các tổ chức phản động lưu vong; tập trung đánh giá, dự báo sát tình hình biến động của cục diện thế giới, khu vực; sự điều chỉnh chiến lược, chính sách các nước lớn... để kịp thời phát hiện, đấu tranh, ngăn chặn âm mưu, hoạt động đòi ly khai, tự trị dân tộc của các thế lực thù địch chống phá nước ta. Giải quyết triệt để, kịp thời các “điểm nóng”, các mâu thuẫn, khiếu kiện trong đồng bào DTTS ngay từ cơ sở, không để kéo dài, không lây lan, vượt cấp. Thường xuyên chăm lo bồi dưỡng, nâng cao phẩm chất đạo đức và năng lực chuyên môn gắn với chế độ đãi ngộ hợp lý cho đội ngũ cán bộ chuyên trách về công tác dân tộc, tôn giáo ở địa phương.

Năm là, tiếp tục đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền chính sách, thành tựu đã đạt được trong việc bảo đảm quyền con người ở Việt Nam, trong đó có các quyền của đồng bào DTTS. Kết hợp chặt chẽ giữa tuyên truyền đối nội và tuyên truyền đối ngoại; tận dụng thế mạnh của các kênh ngoại giao, đối thoại, hợp tác làm cho cộng đồng quốc tế, kiều bào ta ở nước ngoài hiểu đúng quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và thành tựu đã đạt được trong thực hiện chính sách dân tộc, tôn giáo, bảo đảm quyền của đồng bào DTTS ở nước ta. Qua đó, nhằm tranh thủ sự ủng hộ của các quốc gia, các chính khách quốc tế và cộng đồng người Việt ở nước ngoài đối với nước ta.

CHIÊU TRÒ ĐÒI "TỰ TRỊ DÂN TỘC" - SỰ MƠ MỘNG HÃO HUYỀN

Trong chiến lược “diễn biến hòa bình” đối với nước ta, hoạt động kích động người dân tộc thiểu số (DTTS) đòi ly khai tự trị dân tộc luôn là một trong những nội dung chủ đạo được các thế lực thù địch triệt để lợi dụng nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, gây mất ổn định an ninh chính trị ở các vùng DTTS...

Qua theo dõi có thể thấy, thời gian gần đây, các thế lực thù địch đã dùng nhiều thủ đoạn, phương thức để tiến hành hoạt động ly khai, đòi tự trị dân tộc chống phá nước ta. Trong đó, chúng tập trung vào một số phương thức, thủ đoạn sau:

Một là, các thế lực thù địch triệt để lợi dụng các vấn đề về nguồn gốc lịch sử tộc người, đất đai, lợi dụng những hạn chế, thiếu sót trong việc thực hiện chủ trương, chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước, việc giải quyết các khiếu nại, tố cáo phức tạp, giải quyết các “điểm nóng” tại địa phương; những tác động của mặt trái kinh tế thị trường... để tuyên truyền, xuyên tạc chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước ta, tìm cách bôi đen cán bộ lãnh đạo để kích động tư tưởng ly khai, dân tộc hẹp hòi, tâm lý mặc cảm, kỳ thị dân tộc và cho rằng, chỉ có thành lập “nhà nước mới, quốc gia mới riêng thì mới giàu có, văn minh, phát triển” để lôi kéo, vận động đồng bào DTTS chống lại chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng, Nhà nước; tham gia biểu tình, bạo loạn, phá hoại an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội tại địa phương.

Hai là, các thế lực thù địch triệt để lợi dụng chiêu bài “tôn giáo hóa dân tộc”, thông qua tôn giáo thâm nhập, gây ảnh hưởng, tập hợp lực lượng là người DTTS, tiến tới hình thành tổ chức phản động trên địa bàn. Chúng lợi dụng các tôn giáo ở vùng DTTS hoặc lập ra một số hình thức "tôn giáo riêng" cho người DTTS như: "Tin lành Đề ga" ở Tây Nguyên để hình thành “Nhà nước Đề ga độc lập”; lợi dụng "Tin lành của người Mông" để thành lập “Nhà nước Mông” ở Tây Bắc; lợi dụng "Phật giáo Nam Tông Khmer" để thành lập “Vương quốc Chăm Pa” ở vùng DTTS Nam Trung Bộ, “Nhà nước Khmer Kampuchea Krom” ở Tây Nam Bộ... Chúng tập trung móc nối, lôi kéo người có uy tín trong đồng bào DTTS, học sinh, sinh viên, thanh niên DTTS, đối tượng cầm đầu, cốt cán các “tà đạo, đạo lạ”, “hiện tượng tôn giáo mới” trong vùng DTTS...

Thế lực thù địch đặc biệt triệt để lợi dụng chiêu bài “đấu tranh đòi quyền lợi cho người DTTS, đòi ly khai, tự trị” để thu hút, lôi kéo người tham gia tổ chức phản động. Ở bên ngoài, các thế lực thù địch xây dựng, phát triển lực lượng chống đối; nuôi dưỡng, hậu thuẫn, tổ chức các lớp đào tạo, huấn luyện kỹ năng hoạt động và chỉ đạo số này móc nối, tác động, xâm nhập về nước hoạt động xâm phạm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở địa phương.

Ba là, núp dưới chiêu bài hoạt động “nhân đạo”, “từ thiện” của các tổ chức phi chính phủ để lôi kéo, kích động người DTTS, người dân ở vùng sâu, vùng xa chống phá Nhà nước ta. Đây là một thủ đoạn mới hết sức tinh vi mà các thế lực thù địch đang triệt để lợi dụng để tác động, mua chuộc đồng bào DTTS; dùng thần quyền, giáo lý để nắm và khống chế người DTTS, chi phối các địa bàn; qua đó hòng kích động, lôi kéo người DTTS tham gia hoạt động đòi ly khai, tự trị, thành lập “nhà nước riêng”; gây mất ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội ở địa phương. Đặc biệt, thông qua hoạt động “nhân đạo”, “từ thiện”, kẻ địch còn tìm cách thâm nhập vào các địa bàn chiến lược, nhất là các địa bàn vùng sâu, vùng xa để thu thập tình hình, cung cấp cho các tổ chức phản động lưu vong bên ngoài báo cáo xuyên tạc chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng và Nhà nước Việt Nam.

Bốn là, chúng tìm cách đánh tráo và đồng nhất khái niệm “quyền dân tộc tự quyết” là quyền của quốc gia-dân tộc với quyền của các DTTS để tuyên truyền, xuyên tạc nhằm làm cho một số đồng bào các dân tộc ngộ nhận rằng, “quyền dân tộc tự quyết” là quyền của riêng các DTTS, từ đó, chúng tìm cách kích động, lôi kéo đồng bào dân tộc đòi thành lập nhà nước riêng, phá hoại khối đại đoàn kết của dân tộc như: “Nhà nước Tin lành Đề ga” ở Tây Nguyên, “Vương quốc Chăm Pa” ở Tây Nam Bộ, “Vương quốc Mông” ở Tây Bắc... Lợi dụng “quyền dân tộc tự quyết” làm điều kiện trong quan hệ ngoại giao với nước ta; gắn vấn đề viện trợ, hợp tác kinh tế với việc đòi Nhà nước Việt Nam trao “quyền tự quyết, tự quản” cho các DTTS ở trong nước, qua đó hòng tạo cớ can thiệp vào công việc nội bộ nước ta.

Năm là, tìm mọi cách để tác động quốc hội các nước phương Tây, các tổ chức quốc tế thông qua các dự luật, nghị quyết, báo cáo... hoặc tổ chức nhiều cuộc điều trần, hội thảo, họp báo nhằm xuyên tạc, bóp méo tình hình dân chủ, nhân quyền ở các vùng DTTS trong nước. Thông qua đó, họ tìm cách vận động các nước, các chính khách, người Việt ở nước ngoài tài trợ vật chất, tiền, phương tiện để tiến hành các hoạt động đòi ly khai, tự trị dân tộc đối với nước ta. Họ còn tăng cường “quốc tế hóa” vấn đề “quyền dân tộc tự quyết” để tạo sức ép từ bên ngoài, đồng thời kích động các hoạt động chống đối Nhà nước ta từ bên trong. Bên ngoài, các tổ chức phản động lưu vong như: "Hội người Mông thế giới", "Hội những người miền núi", "Nhà nước Đề ga độc lập"... tăng cường tổ chức biểu tình ủng hộ các đối tượng trong nước hoạt động tích cực, quyết liệt hơn.

Thời gian qua, các thế lực thù địch triệt để lợi dụng những khó khăn trong cuộc sống của đồng bào DTTS để tổ chức truyền đạo trái pháp luật, đội lốt tôn giáo hoạt động chính trị, móc nối xây dựng cơ sở. Đi liền với việc truyền bá các tà đạo, phát triển cái gọi là “hiện tượng tôn giáo mới”; chúng khuyến khích đồng bào các DTTS duy trì tập tục lạc hậu, thiếu khoa học, cổ vũ cho lối sống thực dụng trong thanh niên, thiếu niên, từng bước làm băng hoại đạo đức, bản sắc văn hóa dân tộc. Họ cũng tận dụng thế mạnh các phương tiện thông tin đại chúng trong đó tập trung sử dụng internet, đài phát thanh, truyền hình bằng tiếng dân tộc; in ấn tài liệu, văn hóa phẩm, đặc biệt là sử dụng phương pháp tuyên truyền miệng, rỉ tai để kích động hoạt động ly khai, đòi tự trị dân tộc đối với đồng bào các DTTS ở trong nước.

Những năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào DTTS ở nước ta không ngừng được cải thiện, nâng lên, các quyền cơ bản của đồng bào DTTS ngày càng được bảo đảm. Tuy nhiên, việc giải quyết vấn đề dân tộc trong thời gian qua còn có những hạn chế nhất định. Đó là đời sống văn hóa-xã hội của đồng bào DTTS tuy đã có những tiến bộ đáng kể, song mức hưởng thụ văn hóa tinh thần của người dân còn thấp, vẫn còn một bộ phận đồng bào DTTS có cuộc sống khó khăn. Hệ thống chính trị cơ sở ở một số vùng DTTS còn yếu; công tác quản lý xã hội còn có sơ hở, chưa sát dân, chưa nắm bắt kịp thời tâm tư nguyện vọng của đồng bào, nhất là vùng sâu, vùng xa, biên giới. Công tác nắm tình hình có lúc, có nơi còn yếu, chưa phát hiện kịp thời các vụ việc phức tạp xảy ra, dẫn đến việc giải quyết còn lúng túng, thụ động; chính quyền ở một số địa phương còn sơ hở, thiếu sót trong việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhất là các chính sách về dân tộc, tôn giáo để các đối tượng và các thế lực bên ngoài lợi dụng tuyên truyền, xuyên tạc, chống phá ta.

KIÊN ĐỊNH CHỦ TRƯƠNG, ĐƯỜNG LỐI VÀ CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI ĐÚNG ĐẮN CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC TA

Ai đó cho rằng Việt Nam phải tham gia liên minh quân sự vì sức mạnh quốc phòng của ta yếu, lạc hậu là không chính xác, hãy xem lại thực lực của Việt Nam như thế nào mà chúng ta đã dám đánh, quyết đánh và đánh thắng hai đế quốc đầu sỏ là thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược. Mặt khác, những người này nên xem lại lịch sử dân tộc Việt Nam và xem bảng xếp hạng Chỉ số sức mạnh quân sự toàn cầu của trang web Global Firepower đánh giá xếp loại thì Việt Nam nằm trong tốp 25 nước có sức mạnh quân sự lớn nhất thế giới. Năm 2020, Việt Nam ở vị trí 20/137 nước; năm 2021, ở vị trí 24/139 nước. Việt Nam luôn luôn đứng ở vị trí thứ hai (sau Inđônêsia) trong khu vực Đông Nam Á. Điều này đúng với sự khẳng định của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng: “Đất nước chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”. Ai đó cho rằng sức mạnh quân sự Việt Nam hiện nay là “quá yếu”, “lạc hậu” chỉ là cái cớ yêu cầu Đảng, Nhà nước ta tham gia liên minh quân sự với cường quốc, Đó là điều phi lý, không thể chấp nhận.

Để bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, chúng ta cần chăm lo cho sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc; kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại. Trong đó, sức mạnh bên trong, sức mạnh nội sinh của đất nước, của chế độ và của nền kinh tế và tiềm lực quốc gia là nhân tố quyết định. Vì vậy, chủ trương không tham gia liên minh quân sự của Đảng ta là đúng đắn, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của Việt Nam.

Hiện nay, Việt Nam có quan hệ đối tác chiến lược với 17 nước cùng với 13 nước đối tác toàn diện. Việt Nam đã chính thức thiết lập quan hệ đối ngoại quốc phòng với hơn 80 quốc gia và vùng lãnh thổ; đặt văn phòng tùy viên quân sự tại Liên hợp quốc và 37 quốc gia khác. Có 49 quốc gia đặt văn phòng tùy viên quân sự tại Việt Nam[1]. Sự thật ấy bác bỏ quan điểm sai trái cho rằng Việt Nam “bị cô lập”, “tự trói buộc chân tay mình”.

Thực tế khẳng định rằng Việt Nam luôn thể hiện là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực; có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hòa bình, hợp tác và phát triển, thực hiện tiến bộ xã hội. Đây là thái độ, quan điểm và việc làm thiết thực để bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa”, giữ nước từ khi nước chưa nguy. Ai đó còn yêu cầu phải cắt bỏ “bốn không” thì nên thực hiện “một điều không” là đừng nói nữa. Các người đã sai rồi; không ai tin các người đâu./.

NHẬN DIỆN QUAN ĐIỂM SAI TRÁI PHỦ NHẬN CHÍNH SÁCH QUỐC PHÒNG “BỐN KHÔNG” CỦA VIỆT NAM

Từ sau Đại hội XIII của Đảng, đặc biệt là từ khi cuộc xung đột giữa Nga và Ucraina nổ ra đến nay, không ít người đã lấy nó làm cái cớ, dựa vào “chuyện của người ta” để bàn “việc nhà mình”, cho rằng, chính sách quốc phòng “bốn không” của Việt Nam là “sai ầm”, “không thức thời”, “không phù hợp với thời đại toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế”. Theo họ, Việt Nam thực hiện chính sách quốc phòng “bốn không”, thực chất là không muốn tham gia liên minh quân sự. Đây là một chủ trương “cứng nhắc” vì làm như thế, Việt Nam “sẽ bị cô lập”, “thiệt đơn thiệt kép”; “một mình một chợ”, “một mình một bàn cờ, tự chơi, tự thắng”, sẽ mất hết bạn bè, không còn ai chơi với Việt Nam. Họ sẽ “ồ ạt tẩy chay Việt Nam” trên trường quốc tế, và như thế, “Đảng Cộng sản Việt Nam “có tội với nhân dân”, “đánh mất cơ hội hòa nhập, hòa đồng”, “tự trói buộc chân tay mình”, “tự gạt mình ra khỏi các quan hệ quốc tế”, “tách mình ra khỏi cộng đồng quốc tế”, v.v..

Một số người còn cho rằng, nếu Đảng, Nhà nước Việt Nam không thay đổi chính sách quốc phòng “bốn không”, không sớm tỉnh ngộ về “sự yếu kém”, “lạc hậu” của vũ khí, trang bị quân sự thì chẳng những không có liên minh quân sự nào được xác lập mà còn “tuột xích không phanh”, không thể giữ nước, bảo vệ thành quả đạt được trước sự xâm lăng của mọi loại kẻ thù. Đảng sẽ mất “cả chì lẫn chài”, không thể giữ được chế độ, theo đó, Đảng sẽ mất quyền lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Đây là “nguy cơ nhãn tiền” làm cho Việt Nam “tự suy yếu”, không thể bảo vệ được lãnh thổ, quyền chủ quyền của Việt Nam ở Biển Đông. Nguy cơ “mất chế độ”, bị đánh cắp lợi ích của quốc gia – dân tộc là không thể tránh khỏi…

Với cách tiếp cận trên và sự lập luận của họ, thoạt đầu mới nghe, không ít người lầm tưởng nó là “sự đúng rồi”, rất mùi mẫn và rất thiết thực nhưng xem kỹ, chiêm nghiệm cuộc sống, nhiều người đã ngộ ra nó chính là âm mưu, thủ đoạn thâm độc, là chiêu trò “chọc gậy bánh xe” của những người bất mãn, cơ hội chính trị nhằm chống phá đường lối đối ngoại và chính sách quốc phòng độc lập, tự chủ của Đảng ta. Tuy nhiên, sự thật không thể xuyên tạc, một bộ phận người dân do “nhẹ dạ cả tin” và thiếu thông tin đã bị lừa gạt. Có người đã dao động, ngả nghiêng trước các tin đồn giả, dư luận xấu, nhưng qua một số lần bị lừa gạt, họ đã tỉnh ngộ, không để mất niềm tin. Chính những người ấy đã lên tiếng phản đối, vạch trần tội lỗi của những kẻ xấu và họ đứng ra đấu tranh để bảo vệ lẽ phải, bảo vệ Đảng, Nhà nước và chế độ.

Các chiêu trò gian trá, sự chống phá bị lật mặt, các thủ đoạn bị phơi bày

Ai cũng đều biết, muốn bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ lợi ích quốc gia – dân tộc, chúng ta phải nêu cao tinh thần độc lập, tự chủ, tự lực tự cường; không thể phó thác vận mệnh quốc gia – dân tộc cho “người khác”, cậy nhờ “các thế lực bên ngoài” dù đó là đồng minh, dù cho có liên minh. Trong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc ta cũng như trong lịch sử cách mạng Việt Nam do Đảng ta lãnh đạo, chúng ta chưa bao giờ liên minh quân sự với cường quốc.

Thực tế chỉ ra rằng trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quóc Mỹ xâm lược, Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa, các nước bạn bè quốc tế đã giúp đỡ chúng ta về vật chất và tinh thần nhưng chúng ta không ỷ lại vào họ, không tham gia khối liên minh quân sự nào, dù là liên minh với Liên Xô hay Đông Âu. Do lịch sử mối quan hệ truyền thống và yêu cầu nhiệm vụ chống kẻ thù chung là thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược ba nước Đông Dương, chúng ta chủ động xây dựng và tham gia khối liên minh Việt Nam – Lào – Campuchia (1951). Đây là liên minh đặc biệt, mang tính tự vệ, chính nghĩa nhằm đánh đuổi quân xâm lược, giành lại độc lập dân tộc, hòa bình cho nhân dân ba nước Đông Dương. Nó trở thành biểu tượng của tình đoàn kết chiến đấu, một phương thức bảo vệ Tổ quốc vào thời điểm đặc biệt do lịch sử quy định.

Khảo cứu kinh nghiệm lịch sử dân tộc, chúng ta không thấy có quan điểm lý luận, học thuyết quân sự nào bàn về liên minh quân sự để chống lại kẻ thù khác. Thắng lợi của nhân dân ta trong cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, cơ bản và chủ yếu là do chúng ta nêu cao tinh thần độc lập, tự chủ; tự lực tự cường, tự lực cánh sinh, “tự cứu lấy mình”. Việt Nam không liên minh quân sự với cường quốc nào. Điều đó cho thấy những giả tưởng, ảo tưởng về tham gia “liên minh thần thánh” của một số người chỉ là “ý muốn chủ quan”, một sự huyễn hoặc. Tất cả điều đó không có chỗ đứng trong đời sống xã hội ta.

Ai đó muốn Việt Nam – một nước nhỏ liên minh quân sự với một cường quốc (nước lớn) hoặc với NATO để bảo vệ lợi ích quốc gia – dân tộc, chúng ta – một nước nhỏ sẽ là gì trong liên minh ấy? Thực tế chỉ ra rằng, trong quan hệ giữa các quốc gia – dân tộc, không có thế lực nào, tập đoàn nào lại “làm công không” cho các thế lực, tập đoàn khác; họ đều có mục đích và biết rõ: đạt được cái này thì sẽ mất cái khác nhưng phải chấp nhận; trong đó biết rõ sự phụ thuộc vào người khác là điều không thể tránh khỏi. Đó là “luật chơi” không thể nào khác trong quan hệ giữa các giai cấp, nhà nước xưa và nay. Điều đó cũng có nghĩa là trong mọi điều kiện, hoàn cảnh, nhân dân Việt Nam muốn bảo vệ lợi ích quốc gia – dân tộc, tránh khỏi sự phụ thuộc vào nước khác, nhất thiết chúng ta phải đề cao tinh thần độc lập, tự chủ; tự lực tự cường; không bao giờ được ảo tưởng vào lòng tốt của “các nhà tư bản” và sự giúp đỡ của nước ngoài.

Với tư duy lý luận sắc bén và tầm nhìn chiến lược, Đảng ta và Bác Hồ luôn nhắc nhở cán bộ, chiến sĩ và nhân dân ta phải đề cao tinh thần: độc lập, tự chủ; tự lực tự cường”, “tự lực cánh sinh”, “lấy sức ta mà giải phóng cho ta”, “dựa vào sức mình là chính” để “tự cứu lấy mình”, trên cơ sở kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại; tranh thủ sự giúp đỡ của bạn bè quốc tế. Việt Nam không chọn bên, không nghiêng hẳn về một bên nào, không đi theo một cường quốc nào; luôn độc lập, tự chủ, tỉnh táo và sáng suốt lựa chọn lẽ phải, chính nghĩa để phát huy sức mạnh nội sinh là khối đại đoàn kết toàn dân tộc, coi đó là nguồn sức mạnh vô địch để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ lợi ích quốc gia – dân tộc và hạnh phúc của nhân dân.

CHÍNH SÁCH QUỐC PHÒNG “BỐN KHÔNG” – KẾ SÁCH GIỮ NƯỚC ĐẶC SẮC, HIỆU QUẢ

Quan điểm và chủ trương nhất quán của Đảng ta là thực hiện chính sách quốc phòng “bốn không”, đó là “Không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước này đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa bằng vũ lực trong quan hệ quốc tế”. Cùng với thực hiện chính sách quốc phòng “bốn không”, chúng ta đồng thời thực hiện chủ trương “bốn tránh”: (1) Tránh xung đột về quân sự; (2) Tránh bị cô lập về kinh tế; (3) Tránh bị cô lập về ngoại giao; (4) Tránh bị lệ thuộc về chính trị.

Thực hiện chủ trương “bốn không” và “bốn tránh” là cần thiết đối với Việt Nam trong quan hệ quốc tế, giúp chúng ta giữ vững độc lập, tự chủ, chủ động, tích cực hội nhập quốc tế, ứng xử và giải quyết hài hòa các mối quan hệ, hợp tác quốc tế hiện nay vì lợi ích quốc gia – dân tộc, tránh căng thẳng, đối đầu, xung đột vũ trang, tránh lệ thuộc về chính trị; thực hiện được chủ trương, đường lối đối ngoại vì hòa bình, vì sự ổn định và phát triển, thực hiện tiến bộ xã hội. Điều đó phản ánh vị thế, tư duy và tầm nhìn chiến lược của Đảng ta, hàm chứa những tư tưởng lớn, độ sâu sắc và biện chứng của đường lối đối ngoại về quốc phòng trong kế sách giữ nước độc đáo, hợp lòng dân với sự ứng phó mềm dẻo, linh hoạt, phù hợp với định hướng phát triển theo xu thế thời đại và khát vọng hòa bình của nhân dân Việt Nam cũng như nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới.

Đây là hệ quan điểm nhất quán, xuyên suốt của Đảng, Nhà nước ta trong lãnh đạo, chỉ đạo đường lối đối ngoại về quốc phòng nhằm giải quyết ổn thỏa mối quan hệ “được mình, được việc, được quan hệ”, góp phần giữ vững môi trường hòa bình, ổn định ở khu vực và trên thế giới. Nhờ đó, chúng ta an tâm xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế đầy biến động, phức tạp hiện nay.

KHÔNG ĐƯỢC PHÉP XUYÊN TẠC, BỊA ĐẶT VỀ NỖI ĐAU, SỰ HI SINH, MẤT MÁT CỦA DÂN TỘC

Dân tộc Việt Nam đã phải trải qua rất nhiều cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại mới có được sự độc lập, tự do và cơ đồ như ngày hôm nay. Nhân dân ta đã phải anh dũng đấu tranh, chấp nhận mọi hi sinh, mất mát, đau thương mới có được cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc. Vì vậy, mỗi người dân Việt Nam cần tỉnh táo trước các luận điệu xuyên tạc, bịa đặt, phủ nhận lịch sử; cần gìn giữ hòa bình, chung tay xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

Lịch sử cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta đã lùi xa. Dấu mốc ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975) đến nay đã hơn 47 năm. Vậy nhưng những kẻ chống cộng cực đoan ở hải ngoại và một số đối tượng từng được hưởng lợi dưới chế độ Việt Nam cộng hòa, hoặc một số đối tượng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ở trong nước vẫn không thôi xuyên tạc về cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Luận điệu họ đưa ra là do sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam mà dẫn đến “cuộc nội chiến huynh đệ tương tàn”, “Nồi da xáo thịt” hoặc “miền Bắc xâm lược miền Nam”… Thực chất, đây chỉ là giọng điệu của những kẻ “mong muốn” được làm tay sai cho ngoại bang để có lợi lộc, hoặc “ước mơ hão huyền” về danh phận nếu âm mưu diễn biến hòa bình của các thế lực thù địch thành công. Họ hết lời ca ngợi chế độ Việt Nam cộng hòa, họ bị đồng đô la che mắt nên sẵn sàng chấp nhận thân phận “con rối”, “chú hề”. Đó là những luận điệu dối trá, khơi gợi hận thù, kích động mâu thuẫn nhằm gây mất ổn định, phá hoại sự đoàn kết, thống nhất của dân tộc. Về bản chất của chế độ Việt Nam cộng hòa, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã từng thừa nhận: “Mỹ còn viện trợ, thì chúng tôi còn chống Cộng. Nếu Hoa Kỳ mà không viện trợ cho chúng tôi nữa thì không phải là một ngày, một tháng hay một năm mà chỉ sau ba giờ, chúng tôi sẽ rời khỏi Dinh Độc Lập”.

Những kẻ bị đồng tiền làm tha hóa, biến chất, sẵn sàng làm tay sai cho các thế lực thù địch để họ thực hiện âm mưu diễn biến hòa bình ở Việt Nam phải biết rằng: đằng sau đồng đô la “nhơ bẩn” mà họ thụ hưởng ấy chính là máu và nước mắt của đồng bào ta. Họ phải biết rằng, hành động “Rước voi về giày mả tổ”, “Cõng rắn cắn gà nhà” từ xưa trong lịch sử luôn luôn bị lên án. Thời kỳ 1954 - 1975, họ đã tiếp tay cho Mỹ đưa sang Việt Nam hàng triệu lượt quân nhân (có thời điểm cao nhất hơn nửa triệu quân Mỹ cùng có mặt) cùng lính đánh thuê ở nhiều nước khác; đã rải gần 8 triệu tấn bom đạn, gần 80 triệu lít chất độc hóa học cùng nhiều loại vũ khí tối tân khác…

Bom đạn, vũ khí của Mỹ đã gây nên những hậu quả hết sức thảm khốc cho dân tộc ta. Theo thống kê, có khoảng hơn 4 triệu dân thường ở cả miền Nam và miền Bắc bị chết và bị thương tật suốt đời; có khoảng 850.000 quân nhân hy sinh, 600.000 quân nhân bị thương hoặc bị bệnh; có hơn 200.000 hài cốt liệt sỹ vẫn chưa tìm thấy, khoảng 300.000 hài cốt liệt sỹ chưa xác định được danh tính tại các nghĩa trang; có trên 312.000 người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học; có hơn 3.000 nghĩa trang liệt sĩ trên cả nước… Trong đó, tỉnh Quảng Nam có hơn 65.000 liệt sỹ (là tỉnh có số liệt sỹ nhiều nhất cả nước), trong đó huyện Điện Bàn (tỉnh Quảng Nam) có hơn 19.800 liệt sỹ (là huyện có số liệt sỹ nhiều nhất cả nước). Nước ta hiện có gần 140.000 Bà mẹ Việt Nam Anh hùng, trong đó Quảng Nam có hơn 15.000 mẹ (là tỉnh có nhiều Mẹ Việt Nam Anh hùng nhất cả nước). Ngoài ra, còn rất nhiều hậu quả của chiến tranh vẫn còn tồn tại cho tới ngày nay, tiêu biểu như những di chứng của thương tật, của chất độc màu da cam, bom mìn còn sót lại... Đó là những sự mất mát, hi sinh, là xương máu, là nỗi đau mà dân tộc ta đã phải trải qua mới có được thắng lợi, thống nhất, hòa bình và độc lập như ngày hôm nay.

Những mất mát, hi sinh, nỗi đau to lớn còn hiện hữu, mỗi người chúng ta đều có thể nhận thức rõ. Vì vậy, tháng 7 hàng năm chúng ta tổ chức các hoạt động nhân Ngày Thương binh liệt sĩ (ngày 27/7) là khoảng thời gian cao điểm thể hiện sự tri ân sâu sắc đối với công lao to lớn của những thương binh, liệt sĩ trong cuộc chiến giành độc lập, bảo vệ Tổ quốc. Đó là những nỗ lực của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân nhằm đền ơn đáp nghĩa, nhằm xoa dịu một phần nỗi đau không gì bù đắp được của những gia đình liệt sỹ, thương binh, những người có công với cách mạng.

Không được phép đem những mất mát, hi sinh, nỗi đau to lớn đó của nhân dân, của dân tộc ra để mà xuyên tạc và bịa đặt. Những kẻ sống như “thân tầm gửi” thiếu gốc rễ, như “con rối” bị giật dây, phải bám vào các thế lực thù địch ở nước ngoài để tìm nguồn sống cho bản thân liệu có sớm tỉnh ngộ!?. Họ đã mù quáng mà vô tình xúc phạm biết bao anh linh của các thế hệ tiền nhân, làm tổn hại tình đoàn kết và tương lai của đất nước.

Họ không biết rằng, ngay cả người Mỹ và nhân dân yêu chuộng hòa bình trên khắp thế giới đã có nhiều hành động ủng hộ Việt Nam trong cuộc chiến chống Mỹ, cứu nước. Điều đó được thể hiện trong thời gian Mỹ tham chiến tại Việt Nam, đã có 50 quốc gia có phong trào ủng hộ Việt Nam, hơn 200 tổ chức, ủy ban, phong trào đoàn kết ủng hộ Việt Nam, hơn 160 triệu người ở nhiều nước ghi tên tình nguyện sang Việt Nam đánh Mỹ, 83 cơ quan đại diện của Mỹ ở các nước bị nhân dân sở tại đập phá… Ngay trong nội bộ nước Mỹ, cũng có hơn 200 tổ chức chống chiến tranh Việt Nam trên khắp các bang; thậm chí, có những công dân Mỹ tự thiêu để phản đối cuộc chiến… Đó là những bằng chứng hùng hồn cho thấy tính chất chính nghĩa của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc Việt Nam; ngược lại, cho thấy tính chất phi nghĩa của cuộc chiến tranh mà Mỹ tiến hành ở Việt Nam.

Vì vậy, người Việt Nam chúng ta, nhất là lớp trẻ hãy cảnh giác với những luận điệu xuyên tạc, bịa đặt của những kẻ phản quốc, những kẻ bán rẻ lương tâm, xem thường đạo lý dân tộc. Chúng ta - những con người Việt Nam chân chính, một mặt cần nhận thức đúng đắn về bản chất của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước; mặt khác,quan trọng hơn, cần xác định rõ trách nhiệm của mỗi người trong việc tri ân, đền đáp công lao đối với các thế hệ tiền nhân đã cống hiến, đã hy sinh để gìn giữ sự thống nhất, sự độc lập và tự do cho Tổ quốc. Đặc biệt,cùng nhau nỗ lực phấn đấu để xây dựng một nước Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc.

SỨC MẠNH TOÀN DÂN TRONG PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG, TIÊU CỰC

Các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị đã và đang tim mọi cách xuyên tạc, chống phá cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng của Việt Nam. Một trong những nội dung chúng thường dùng là gây mất đoàn kết giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân, nhân dân với Đảng, Nhà nước để phủ nhận thành công, kích động nhân dân chống lại chủ trương, giải pháp phòng, chống tham nhũng mà chúng ta đang đẩy mạnh với nhiều kết quả tích cực. Chúng đòi Việt Nam phải đa nguyên, đa đảng vì cho rằng nếu còn chế độ độc đảng thì sẽ không chống tham nhũng, tiêu cực được và vu cáo: Đảng chỉ lo củng cố quyền lực, tham nhũng, tiêu cực, không quan tâm đến cuộc sống của nhân dân, nhân dân không biết gì, không được tham gia gì vào việc chống tham nhũng, tiêu cực…

Đây là sự chống phá trắng trợn, thậm độc, nhưng đều đã bị thất bại trước sự kiên quyết, kiên trì đấu tranh phản bác có hiệu quả của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta. Thực tiễn ở Việt Nam những năm qua đã chứng minh rõ điều đó, nhất là về việc phát huy sức mạnh của nhân dân trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.

Chủ nghĩa Mác – Lênin và thực tế các cuộc cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản cho thấy vai trò rất to lớn của quần chúng nhân dân cũng như sự cần thiết phải huy động được sự ủng hộ, đóng góp của quần chúng nhân dân vào sự nghiệp cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Lênin đã nhắc nhở những người cộng sản rằng: đối với Đảng Cộng sản “…thì một trong những nguy hiểm lớn nhất và đáng sợ nhất là sự tự cắt đứt liên hệ với quần chúng”.

Với cách mạng Việt Nam, Hồ Chủ tịch cũng chỉ rõ sức mạnh to lớn của nhân dân: “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân”. Người luôn yêu cầu phải huy động được cao nhất, hiệu quả nhất sức mạnh của nhân dân vào sự nghiệp cách mạng.

Đảng Cộng sản Việt Nam đã chỉ ra một trong những bài học thành công của cách mạng Việt Nam, là: “Tập trung khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, niềm tự hào, ý chí tự cường, lòng nhân ái, tinh thần đoàn kết, đồng thuận xã hội và khát vọng phát triển đất nước của toàn dân tộc. Xây dựng các cơ chế, chính sách phát huy tinh thần cống hiến vì đất nước của mọi người dân Việt Nam”.

Thực tiễn cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực những năm qua của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta cũng đã chứng minh rất rõ vai trò to lớn của nhân dân trong nhiệm vụ quan trọng này.

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn thấy rõ vai trò và trách nhiệm của quần chúng nhân dân trong phòng, chống tham nhũng. Ngay từ năm 1946, Người đã xác định: “Quan liêu, tham ô, lãng phí là tội ác. Phải tẩy sạch nó để thực hiện cần, kiệm, liêm chính…”. Người còn chỉ rõ: “Tham ô, lãng phí và bệnh quan liêu là kẻ thù của nhân dân, của bộ đội và của chính phủ”.

Hồ Chủ tịch cũng đề các giải pháp chống tham nhũng, tiêu cực, trong đó có giải pháp thực hiện dân chủ: “Dân chủ là dựa vào lực lượng quần chúng, đi đúng đường lối quần chúng. Cho nên, phong trào chống tham ô, lãng phí, quan liêu ắt phải dựa vào lực lượng quần chúng mới thành công”. Người còn cho rằng: cũng như các công việc khác của cách mạng, phòng, chống tham nhũng phải có được sự hưởng ứng, tham gia của đông đảo quần chúng nhân dân, vì: “Quần chúng tham gia càng đông, thành công càng đầy đủ, mau chóng”. ”. Từ đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu phải huy động được sức mạnh của nhân dân bằng các biện pháp tích cực, đồng bộ, trong đó có việc quan trọng là: “làm cho quần chúng khinh ghét tệ tham ô, lãng phí, quan liêu; biến hàng triệu con mắt, lỗ tai cảnh giác của quần chúng thành những ngọn đèn pha soi sáng khắp mọi nơi, không để cho tham ô, lãng phí, quan liêu còn chỗ ẩn nấp”. Đồng thời, Người căn dặn quần chúng nhân dân: “Cán bộ phải tôn trọng dân chủ, nhưng đồng bào phải đòi quyền dân chủ nhân dân của mình. Mình làm cách mạng để thực hiện dân chủ, không phải làm cách mạng để thành “Cán chủ”. Phải loại trừ cho nhanh chừng nào tốt chừng ấy các tệ nạn quan liêu, mệnh lệnh, tham ô, lãng phí”.

Trong quá trình triển khai công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, Đảng Cộng sản Việt Nam cũng rất chú trọng đến vai trò to lớn của nhân dân. Đảng quan tâm đến việc đề ra những chủ trương, chính sách, cơ chế, các giải pháp tích cực, phù hợp trong hoạt động của Đảng cũng như của hệ thống chính trị để nhân dân có thể tham gia hiệu quả nhất vào công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng chỉ rõ giải pháp là: “Phát huy vai trò, trách nhiệm của các cơ quan và đại biểu dân cử, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị xã hội, nhân dân và cơ quan truyền thông, báo chí trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí; nâng cao hiệu quả phát hiện và xử lý tham nhũng, lãng phí”.

Nổi bật trong thời gian qua là Đảng, hệ thống chính trị, các bộ, ban, ngành, địa phương, đoàn thể… đã rất quan tâm vấn đề công khai, dân chủ, tạo thuận lợi để nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình, có cơ hội tham gia hiệu quả vào công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Chúng ta thực hiện tốt cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ. Trong làm chủ của nhân dân có quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm tham gia phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Nghị quyết của Đảng ta đã khẳng định phải: “Thường xuyên tăng cường mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa Đảng với nhân dân, phát huy vai trò của nhân dân và thật sự dựa vào dân để xây dựng Đảng”. Tại Hội nghị toàn quốc tổng kết 10 năm phòng, chống tham nhũng, tiêu cực được tổ chức vào ngày 30 – 6 – 2022 vừa qua, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh một trong những bài học thành công của công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực là: “Chúng ta đã phát huy được vai trò vô cùng quan trọng của nhân dân, như lời căn dặn của Bác Hồ: Phải “động viên quần chúng, phải thực hành dân chủ, phải làm cho quần chúng hăng hái tham gia mới chắc chắn thành công!”.

Tuy nhiên, việc huy động sức mạnh nhân dân tham gia phòng, chống tham nhũng, tiêu cực vẫn còn nhiều hạn chế. Một số ý kiến phản ánh, đóng góp, phê bình… của nhân dân chưa được quan tâm xem xét, xử lý kịp thời, đúng mức. Ở một số nơi, một số lĩnh vực nhân dân chưa được tạo thuận lợi để thực hiện chức năng biết, bàn, kiểm tra, giám sát. Việc bảo vệ, động viên khen thưởng người dân có thành tích trong phòng, chống tham nhũng, tiêu cực còn nhiều bất cập.

Những hạn chế, khuyết điểm trên cùng với các nguyên nhân chủ quan và khách quan khác dẫn đến tham nhũng, tiêu cực ở nước ta vẫn còn phức tạp với nhiều hậu quả khôn lường, như Nghị quyết Đại hội XIII Đảng Cộng sản Việt Nam xác định: “Tham nhũng vẫn là một trong những nguy cơ đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ ta”. Chính vì vậy, Đảng tiếp tục xác định phải: “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, lãng phí, với quyết tâm chính trị cao hơn, hành động mạnh mẽ, triệt để hơn, hiệu quả hơn”. Và để đạt hiệu quả tốt trong phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, Đảng đề ra nhiều giải pháp kiên quyết, tích cực: “Phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và của toàn dân; thực hiện đồng bộ các biện pháp chính trị, tư tưởng, tổ chức, hành chính, kinh tế, hình sự”.

Nghị quyết Đại hội XIII còn chỉ rõ phải có cơ chế, chính sách, quy định cụ thể để khen thưởng, động viên người có thành tích tốt, đồng thời ngăn ngừa, xử lý những sai phạm trong công tác này. Cụ thể là: “bảo vệ, khuyến khích những người làm công tác kiểm tra, giám sát, phát hiện xử lý tham nhũng cũng như với người tố cáo, tích cực đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, đồng thời xử lý nghiêm những người lợi dụng chống tham nhũng, lãng phí để vu khống, gây mất đoàn kết nội bộ”. Đây chính là cơ sở quan trọng để nhân dân tích cực tham gia, thực hiện tốt quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của mình trong phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Trước hết mỗi người dân cần làm tốt chức trách, công việc, nhiệm vụ của mình ở nơi làm việc, công tác với nhiệm vụ cụ thể được giao. Đồng thời, chấp hành nghiêm chỉnh các quy định, quy trình về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực theo đúng pháp luật hiện hành, không lợi dụng việc tham gia phòng, chống tham nhũng tiêu cực để làm sai, vu khống, có hại cho Đảng, cho cách mạng, cho đất nước và nhân dân

Với quyết tâm cao, giải pháp tích cực, sự lãnh đạo, vào cuộc quyết liệt của Đảng, hệ thống chính trị, sức mạnh toàn dân, nhất định cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng của Việt Nam sẽ đạt kết quả tốt đẹp.


NHẬN DIỆN BIỂU HIỆN LẠM DỤNG QUYỀN LỰC NHÂN DÂN

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) đã khẳng định: “Dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất của chế độ ta, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước. Xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm dân chủ được thực hiện trong thực tế cuộc sống ở mỗi cấp, trên tất cả các lĩnh vực”… Thế nhưng, trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, Việt Nam đang phải đối mặt với những lực cản, trong đó có biểu hiện lạm dụng quyền lực nhân dân - thực chất là biến quyền lực tập thể, quyền lực nhân dân thành quyền lực cá nhân.

Thời gian qua, vẫn còn một số cán bộ thuộc các bộ, ngành, địa phương khi xây dựng và đề xuất dự thảo các văn bản quy phạm pháp luật thường đưa vào những điều khoản có lợi cho lĩnh vực mình quản lý, nhất là những lĩnh vực có điều kiện để trục lợi về kinh tế và phục vụ lợi ích nhóm. Cử tri rất dễ nhận ra biểu hiện này khi một số đại biểu còn vận động hành lang (lobby) để hợp pháp hóa một số ngành nghề, lĩnh vực nhạy cảm trái với thuần phong, đạo đức dân tộc, trái với giá trị của chủ nghĩa xã hội và không đồng ý thông qua Luật Phòng, chống tác hại của rượu, bia! Thậm chí có đại biểu nhân danh việc phản ánh, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân đã tuyệt đối hóa, thổi phồng những khó khăn, bức xúc của đơn vị, địa phương và của cử tri nơi mình công tác để được ưu tiên giải quyết trước hoặc “tô hồng” tình hình đơn vị, ngành, địa phương mình để tạo uy tín giả cho bản thân, cho nhóm lợi ích...

Trong thực thi công vụ, biểu hiện lạm dụng quyền lực nhân dân thể hiện ở việc để bảo vệ lợi ích cục bộ của ngành, địa phương mình, một số ít cán bộ, đảng viên giữ vị trí quản lý đã chậm cắt giảm những thủ tục hành chính gây phiền hà cho nhân dân và doanh nghiệp. Mặt khác, lại “đẻ” thêm các quy định, rào cản mới làm cho nhân dân và doanh nghiệp gặp khó khăn trong tiếp cận các dịch vụ công... Cũng có trường hợp cán bộ đi cơ sở, tranh thủ phát biểu, úy lạo tinh thần cấp dưới, nói bằng giọng “dân túy” đánh vào tâm lý vốn đang bức xúc của một bộ phận người dân, doanh nghiệp để vận động hành lang, tranh thủ sự ủng hộ. Trong khi đó lại có người sẵn sàng “xắn tay vớt bèo”, làm sạch môi trường “trống dong, cờ mở”, kéo theo hàng loạt các phóng viên báo chí để đánh bóng tên tuổi…

Tất cả đều để mị dân, tạo uy tín giả và để khỏa lấp đi những hạn chế về phẩm chất, năng lực cũng như những sai phạm trước đó của bản thân…

Trong công tác cán bộ, vì tư tưởng cục bộ, bản vị, một số cán bộ nhân danh sự tín nhiệm của nhân dân địa phương đối với mình, tìm mọi cách để “kéo dài” vị trí công tác nhằm mục đích đưa người nhà, người thân vào các vị trí chủ chốt trong hệ thống chính trị các cấp hay trong các doanh nghiệp có vốn nhà nước. Không những vậy, họ tìm cách để gây khó khăn, cản trở cán bộ từ địa phương, ban, ngành và đơn vị khác được các cấp có thẩm quyền điều động đến. Có cán bộ chủ trì nhân danh tập thể hoặc là áp đặt ý kiến của cá nhân bắt tập thể phải thông qua các quyết định thiếu dân chủ về công tác cán bộ. Vì vậy, trong các kết luận của Ủy ban Kiểm tra Trung ương đối với các vụ việc nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng vừa qua đều chỉ ra khuyết điểm là vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ của cán bộ chủ chốt và cấp ủy.

Trong giải quyết các vấn đề xã hội bức xúc, một số “công bộc”, “đầy tớ” của dân, chẳng những không “lấy dân làm gốc” mà còn “lấy gốc làm thớt” khi kê khai khống thiệt hại của bà con lúc giáp hạt, thiên tai, dịch bệnh để trục lợi các gói an sinh xã hội của Nhà nước. Qua đó làm méo mó chính sách nhân văn, nhân đạo của Đảng, Nhà nước ta, gây bức xúc trong nhân dân. Đó còn là những cán bộ hứa vô tội vạ, khi thực hiện quyền vận động bầu cử nhưng khi trúng cử thì "thất hứa"...

Những biểu hiện trên thực chất là tha hóa quyền lực, vi phạm quyền làm chủ của nhân dân bằng hình thức này hay hình thức khác. Quyền lực đó được nhân dân ủy quyền cho đội ngũ cán bộ để bảo đảm quyền làm chủ của mình theo luật định. Thế nhưng, họ lại bị chính người được ủy quyền đó biến quyền lực nhân dân thành quyền lực cá nhân và sử dụng sai mục đích, làm biến dạng bản chất của chế độ dân chủ ở ta. Đó là trở lực lớn để xây dựng và hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

Các biểu hiện lạm dụng quyền lực nhân dân trong đội ngũ cán bộ được nhận diện ở trên không phải là phổ biến, là bản chất của chế độ ta mà chỉ rơi vào một số cán bộ trong hệ thống chính trị các cấp và ở một số lĩnh vực nhất định. Mặc dù chỉ là hiện tượng, nhưng nếu không nhận diện đúng và trúng để kịp thời có phương cách khắc phục thì rất dễ để xảy ra vi phạm quyền làm chủ của nhân dân trên diện rộng. Vì vậy, từ thực tiễn công cuộc đổi mới, nhất là 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng, một trong những bài học kinh nghiệm quý báu mà Đảng đúc rút là: “Trong mọi công việc của Đảng và Nhà nước, phải luôn quán triệt sâu sắc quan điểm “dân là gốc”; thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, kiên trì thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Bài học đó vẫn vẹn nguyên giá trị trong thời điểm hiện nay cũng như lâu dài.

DỰA VÀO DÂN ĐỂ XÂY DỰNG VÀ CHỈNH ĐỐN ĐẢNG

Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã chỉ rõ thực trạng: “Một bộ phận cán bộ, đảng viên phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí, ngại khó, ngại khổ, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”... Cùng với đó, Đảng ta cũng nhận định, cuộc đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi những biểu hiện trên diễn ra rất khó khăn, phức tạp, thực sự là vấn đề cấp bách đối với sự tồn vong của Đảng, Nhà nước và chế độ ta.

Để làm tốt công tác đấu tranh, ngăn chặn sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đòi hỏi phải có nhiều biện pháp cụ thể, kiên trì, với quyết tâm cao của cả hệ thống chính trị. Đặc biệt, cần thấy rõ và phát huy có hiệu quả vai trò quan trọng của Nhân dân trong cuộc đấu tranh này.

Khi nói về mục tiêu, lý tưởng của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Ngoài lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân, Đảng ta không có lợi ích gì khác”. Thực tiễn cách mạng Việt Nam cũng đã chứng minh, muốn hoàn thành mục tiêu, lý tưởng của mình, muốn trường tồn và phát triển vững mạnh, Đảng phải gắn bó máu thịt với Nhân dân. Đảng phải biết dựa vào Nhân dân, phát huy vai trò của Nhân dân.

Những thành tựu to lớn mà Đảng và Nhân dân ta đã giành được 36 năm đổi mới xây dựng và bảo vệ đất nước đã chứng minh rất rõ vai trò to lớn của Nhân dân. Một trong những bài học sâu sắc mà Đảng ta rút ra đó là: Phải luôn quán triệt quan điểm “Dân là gốc”, vì lợi ích của Nhân dân, dựa vào Nhân dân, phát huy vai trò làm chủ, tinh thần trách nhiệm, sức sáng tạo và mọi nguồn lực của Nhân dân, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc.

Cuộc đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ của Đảng ta những năm qua đã đạt được nhiều kết quả quan trọng. Nhiều biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên đã được nhân dân phát hiện, chỉ rõ, đặc biệt là những hành vi tham nhũng, tiêu cực.

Từ thực tiễn trên, có thể khẳng định rằng: Đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ không chỉ là trách nhiệm của các tổ chức đảng, chính quyền, tổ chức chính trị - xã hội, mà là trách nhiệm của toàn dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng khẳng định: “Nhân dân là tai mắt của Đảng”. Đặc biệt, trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch vững mạnh toàn diện nói chung, trong đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nói riêng, Nhân dân đóng vai trò rất quan trọng. Đúng như lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong”.

Với sự giúp đỡ, ủng hộ của nhân dân thì công việc dù khó khăn phức tạp đến mấy, nhất định Đảng ta sẽ vượt qua, và công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng nhất định sẽ đạt được mục tiêu đề ra, để Đảng ta mãi mãi “là đạo đức, là văn minh”, xứng đáng với niềm tin tưởng tuyệt đối của Nhân dân.

TỈNH TÁO, THẬN TRỌNG, KHÔN NGOAN KHI SỬ DỤNG MẠNG XÃ HỘI

Ngày nay, con người không thể sống mà thiếu môi trường mạng, nhưng điều quan trọng là phải sử dụng MXH một cách thông minh hơn. Hiểu được luật chơi của những nhà cung cấp dịch vụ MXH, sẽ có các giải pháp để đảm bảo việc sử dụng MXH không ảnh hưởng đến công việc và đời sống thực.

Một là, khuyến cáo người dùng luôn tuân thủ các quy định, quy chế sử dụng MXH đã được Bộ Thông tin và Truyền thông ban hành, nên sử dụng MXH một cách đúng đắn và chuẩn mực. Việc bày tỏ suy nghĩ, ý kiến, quan điểm; tự do trao đổi các thông tin trên hệ thống báo chí, xuất bản, Internet, MXH là quyền tự do của mỗi công dân…, tuy nhiên phải tuân thủ theo quy định pháp luật. Đó là những điều đã được quy định pháp luật được cụ thể hóa trong Hiến pháp và các bộ luật như: Luật Xuất bản, Luật Báo chí, Luật Công nghệ thông tin, Luật An ninh mạng…

Ngày nay, con người không thể sống mà thiếu môi trường mạng, nhưng điều quan trọng là phải sử dụng MXH một cách thông minh hơn. Hiểu được luật chơi của những nhà cung cấp dịch vụ MXH, sẽ có các giải pháp để đảm bảo việc sử dụng MXH không ảnh hưởng đến công việc và đời sống thực.

Hai là, với cá nhân người sử dụng MXH cần xây dựng cơ chế phản biện, phân tích, chọn lọc, chắt lọc thông tin; tự mình “gạn đục khơi trong”, phân biệt và chọn lọc những thông tin được đưa ra là chính xác, phù hợp với bản thân. Tránh thích (like), chia sẻ (share) những bài viết, hình ảnh chưa rõ ràng, chưa được kiểm chứng thông tin và và những bài có quan điểm đi ngược với chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước.

Ba là, tăng cường thanh tra, kiểm tra, xử phạt các hình thức sử dụng MXH để tung tin bịa đặt, tin giả nhằm tăng tính răn đe và tuyên truyền pháp luật. Đồng thời, có cơ chế, hình thức biểu dương, tôn vinh kịp thời những tổ chức, cá nhân có những bài viết thuyết phục phản bác lại các thông tin sai trái, thù địch

Bốn là, nâng cao nhận thức cán bộ quản lý thông tin, truyền thông; lãnh đạo, phóng viên, biên tập viên các cơ quan báo chí từ Trung ương đến địa phương, lãnh đạo, công chức, viên chức về MXH, Luật An ninh mạng cũng như các biện pháp, quy trình xử lý khủng hoảng truyền thông nhằm nâng cao kỹ năng, nghiệp vụ công tác…

Năm là, xây dựng cơ chế, chính sách thu hút các tổ chức, doanh nghiệp xây dựng hệ thống MXH của Việt Nam, tạo diễn đàn, sân chơi MXH cho người dùng trong nước cạnh tranh với các nền tảng MXH đa quốc gia. Việc này vừa đảm bảo được quản lý thông tin, dữ liệu người dùng vừa đảm bảo chủ quyền an ninh trên không gian mạng./.

Phạm Quý Trọng

QUYỀN LỰC ẢO TRÊN MẠNG XÃ HỘI

Sự phát triển của công nghệ truyền thông và các nền tảng mạng xã hội đã giúp cho người sử dụng đạt được nhiều tiện ích trong tiếp nhận, chia sẻ thông tin, hình ảnh, đồng thời được bộc lộ chính kiến, quan điểm và thảo luận đa chiều về nhiều vấn đề xã hội. Tuy nhiên, bên cạnh những tác dụng tích cực, việc sử dụng mạng xã hội (MXH) cũng gây ra rất nhiều hệ lụy cho người dùng.

“NGÁO” PHÂY, “HÁO” LIKE, “NGHIỆN” TRANH LUẬN

Với cách mạng công nghiệp 4.0, thế giới vật lý đang được số hóa. Đời sống thực đang được phản chiếu vào không gian mạng. Chỉ cần có một chiếc điện thoại thông minh và có sóng wifi, 4G người ta có thể tham gia thế giới ảo trên MXH mọi lúc, mọi nơi. Chính vì vậy, MXH ngày càng chiếm ưu thế và là phương tiện truyền thông rộng rãi và nhanh nhất thế giới với lượng người dùng lên tới hàng tỷ người, tính tương tác cao.

Đặc trưng nổi bật của MXH là sự bình đẳng trong tranh luận và bày tỏ quan điểm chính kiến, thể hiện sự yêu – ghét đối với các vấn đề được đăng tải công khai trên các nền tảng MXH. Trên MXH, một vị giáo sư, bác tiến sỹ hay anh lái xe công nghệ, bà bán trà đá, cô công nhân vệ sinh môi trường cũng đều có quyền như nhau khi thả các nút “yêu thích”, “thương thương” hay “phẫn nộ”, “buồn chán”; đồng thời được thoải mái “bình luận” thể hiện kiến thức, cảm xúc, phông văn hóa của mình đối với một chủ đề. Các nền tảng MXH xuyên quốc gia cho phép người dùng tranh luận, đưa ra quan điểm, chính kiến cá nhân một cách công khai, “tự do” đăng tải hình ảnh, bài viết về các sự kiện mà không bị “kiểm duyệt”, không phải xác minh, không chịu trách nhiệm về tính đúng đắn của thông tin, hình ảnh đã lôi kéo được rất nhiều người sử dụng. Việc tham gia MXH có nhiều đối tượng ở nhiều ngành nghề, mỗi người tham gia đều mang một tâm thế, sở thích khác nhau. Có người tham gia chỉ thuần túy giải trí, thư giãn; tìm hiểu thông tin cho công việc; người khác lại tìm kiếm lợi nhuận từ việc bán hàng “online”… Một số người nhờ những bài viết của mình mà trở thành thành KOLs (người dẫn dắt ý tưởng), có vị thế, uy tín trên MXH…

Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực là những mảng tối. Một bộ phận không nhỏ người dùng MXH vướng vào “quyền lực ảo” trên không gian mạng với một số biểu hiện đặc trưng sau:

Thứ nhất, mất quá nhiều thời gian truy cập MXH. Người sử dụng liên tục ở trạng thái “online”, mất thời gian lướt mạng, luôn phải tìm kiếm, nghĩ ra đề tài, bài viết nhằm duy trì lượng người người đọc, người hâm mộ. Thậm chí, MXH luôn còn khiến người dùng luôn “nơm nớp” một cảm giác FOMO (sợ hãi về việc sẽ bỏ lỡ một điều gì đó). Cảm giác này ám ảnh rằng nếu không thường xuyên vào mạng sẽ bị bỏ lỡ những điều hay ho, rồi trở thành “lạc hậu” trong mắt cộng đồng mạng.

Thứ hai, được tung hô thái quá, quên đi xuất phát điểm, quên vị trí và công việc chuyên môn của mình. Có một thực tế là, một số nhà báo, giảng viên, nhà nghiên cứu, cán bộ công chức do đặc thù nghề nghiệp nên được tiếp cận sớm với nhiều thông tin, trong đó có những thông tin quan trọng, thông tin mang tính chất “nội bộ” hơn các đối tượng khác. Nhờ việc được tiếp cận, biết thông tin sớm cộng với có kiến thức chuyên sâu về chuyên ngành theo dõi nên họ viết bài đăng tải trên trang cá nhân và được cộng động mạng hưởng ứng, khích lệ bằng lượt “thích”, “chia sẻ”, “bình luận”… Hiệu ứng từ việc hưởng ứng và “tung hô” của “cư dân mạng” khiến cho người viết trước mắt có được cảm giác hân hoan, được thừa nhận, được chứng tỏ, nhưng về lâu dài khi cảm giác được “tung hô” và những lời khen “vô thưởng vô phạt” luôn thường trực sẽ khiến người viết sa vào ngộ nhận về một thứ quyền lực ảo mà quên đi trách nhiệm và đạo đức nghề nghiệp.

Nguy hiểm hơn, một bộ phận có biểu hiện “hai mặt”, chẳng hạn như có những phóng viên, nhà báo khi viết tin bài đăng báo theo nhiệm vụ thì ủng hộ chủ trương chính sách, nhưng trong các bài viết đăng tải trên MXH thì luôn đi ngược lại những quy định, chủ trương, đường lối, thể hiện thái độ tiêu cực; có những cán bộ ngành trong họp chuyên môn thuần túy không phát biểu ý kiến, nhưng trên trang cá nhân lại gay gắt bày tỏ thái độ bất mãn, phản đối các chủ trương, định hướng của lãnh đạo ngành… Chưa kể một số KOLs, một số nhà báo có fanpages có lượng theo dõi lớn chỉ chú tâm đăng tải bài viết với mục đích “tống tiền” doanh nghiệp và tổ chức, cá nhân có dấu hiệu sai phạm.

Thứ ba, có quan điểm lệch lạc, sai trái dẫn đến lèo lái, định hướng dư luận xã hội một cách tiêu cực. Thực tế việc duy trì chế độ “online” trên mạng đã khiến một số KOLs đắm chìm trong thế giới ảo gây nên những hệ lụy thật. Không ít người đã đăng tải trạng thái, bài viết với những thông điệp cực đoan, lệch lạc, tiêu chuẩn kép, công kích về giới tính, tôn giáo, đạo đức và pháp luật. Xu thế chửi bới, bôi nhọ, “bóc phốt”, tấn công cá nhân trên không gian mạng là những biểu hiện “lệch chuẩn”, đang thu hút một lượng lớn người theo dõi, lấn át các thông tin quan trọng của đất nước, của đời sống xã hội. Nó là sự thách thức đối với thể chế, khi một số lượng lớn những người theo dõi trở thành “fan cuồng” có thể quay ra “tấn công” các cơ quan nhà nước, các cơ quan truyền thông chính thống bằng nhiều hình thức.

Để được cộng đồng mạng tung hô, chia sẻ, bình luận nhiều một số người dùng MXH đã không ngần ngại đánh tráo khái niệm, sao chép, trích dẫn, cắt dán tùm lum để dựng nên những bài viết không chính xác, đi ngược dòng dư luận, phản biện lại các thông tư, nghị định, dự thảo luật đang được đệ trình, xin ý kiến… mà không căn cứ vào cơ sở khoa học, cơ sở pháp luật, văn hóa… miễn sao nhiều like, nhiều chia sẻ là vui.

Thứ tư, xa rời thực tế, đắm chìm trong không gian ảo khiến họ trở nên lạc lõng, không bắt nhịp được với đời sống thực tại. Điều nguy hại này không chỉ xảy đến với những người lớn tuổi mà có một bộ phận không nhỏ giới trẻ cũng đang mắc phải biểu hiện sống ảo. Vì quá đắm chìm trong sự “tung hô”, cổ vũ mà không ít người luôn có biểu hiện, thái độ thờ ơ, vô cảm với mọi diễn biến cuộc sống xung quanh. Đi ăn, đi cà phê, đi du lịch cũng chỉ “loay hoay” chụp ảnh, nghĩ ý tứ minh họa cho ảnh rồi đăng tải, xong rồi “cắm mặt” vào đếm “like”! Có người chỉ vì mê mải với “cõi ảo” khiến năng lực công tác giảm sút, không đáp ứng và theo kịp yêu cầu nhiệm vụ chuyên môn…

Thứ năm, ảo tưởng, sẵn sàng công kích cá nhân, nhãn hàng, cơ quan nếu như không được cung cấp dịch vụ vừa ý. Từ khi MXH phát triển một số bộ phận người dân đã nảy sinh thái độ ứng xử không đúng mực, ra đường khi vi phạm pháp luật, gặp cảnh sát giao thông thay vì xuất trình giấy tờ hợp lệ chỉ “lăm lăm” dùng điện thoại để quay phim, chụp ảnh. Khi xếp hàng thực hiện các dịch vụ công thay vì lấy số thứ tự chờ đến lượt thì xông vào giơ điện thoại “livestream” chất vấn người tiếp nhận hồ sơ. Một số khác khi đi du lịch về thì đăng hóa đơn thanh toán dịch vụ, viết các bài đánh giá chất lượng dịch vụ du lịch nhằm hạ uy tín nhà hàng, khách sạn, nhãn hàng… Đến khi bị phản biện, biết sai thì ầm thầm hạ tút, xóa bài không một lời xin lỗi, giải thích. Việc “sống ảo” của một số người dùng MXH đã gây thiệt hai không nhỏ cho một số tổ chức, cơ quan và các nhãn hàng.

Thứ sáu, chuyện gì cũng đưa lên MXH. Chính nhờ MXH có tính tương tác cao, kết nối nhiều thành phần, nhiều tổ chức, nhiều đối tượng nên tạo ra sự tự do kết nối, tự do tiếp cận, tương tác, giao lưu, chia sẻ; thực tế MXH cũng có sự hữu ích khi có không ít các vụ việc, sự vụ được giải quyết nhanh chóng và kịp thời. Tuy nhiên, một số người vì ngộ nhận “quyền lực ảo” nên luôn hiếu thắng, manh động, “cầm đèn chạy trước ô tô”, chuyện gì cũng đưa lên MXH để bàn thảo.


NHẬN DIỆN CHẾ ĐỊNH THU HỒI TÀI SẢN THAM NHŨNG

Thiệt hại do tham nhũng gây ra đối với ngân sách Nhà nước là rất lớn, nghiêm trọng nhưng giá trị tài sản tham nhũng thu hồi lại rất thấp, điều này khiến dư luận thời gian qua không khỏi bức xúc. Đây cũng là một trong những thách thức, rào cản mà Việt Nam đang phải đối mặt khi giải quyết vấn nạn tham nhũng.

Trong thời gian qua, với sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, hệ thống pháp luật về phòng, chống tham nhũng và thu hồi tài sản tham nhũng đã không ngừng được hoàn thiện… Nhiều đạo luật quan trọng đã được sửa đổi, bổ sung, ban hành mới như Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự, Luật Phòng, chống tham nhũng…, tạo cơ sở pháp lý cho việc điều tra, truy tố, xét xử, xử lý thu hồi tài sản trong các vụ án tham nhũng.

Sự lãnh đạo, chỉ đạo đã được thể hiện qua nhiều Văn kiện của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước. Nghị quyết Trung ương 3 (khóa X) nêu rõ: “Chú trọng thu hồi tài sản tham nhũng; áp dụng chính sách khoan hồng đối với những người phạm tội nhưng có thái độ thành khẩn, đã bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả kinh tế, hợp tác tốt với cơ quan chức năng; nghiên cứu sửa đổi pháp luật hình sự theo hướng khoan hồng hơn đối với những người đưa hoặc người nhận hối lộ nhưng đã tự giác khai báo và nộp lại tài sản trước khi bị phát hiện; chú trọng tới các chế tài phạt tiền nhằm tăng khả năng thu hồi tài sản tham nhũng”.

Chỉ thị số 50-CT/TW, ngày 07/12/2015 về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phát hiện, xử lý vụ việc, vụ án tham nhũng”, Bộ Chính trị nhấn mạnh: “Trong xử lý tham nhũng phải xác minh rõ, chính xác tài sản của người có hành vi tham nhũng; áp dụng kịp thời các biện pháp thu hồi tối đa tài sản do tham nhũng mà có trong quá trình thanh tra, kiểm tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án. Xử lý nghiêm minh những cán bộ không tích cực thu hồi hoặc cản trở hoạt động thu hồi tài sản tham nhũng”. Đặc biệt, ngày 02/6/2021, Ban Bí thư đã ban hành Chỉ thị số 04-CT/TW về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thu hồi tài sản bị thất thoát, chiếm đoạt trong các vụ án hình sự về tham nhũng, kinh tế”, yêu cầu các cấp ủy, tổ chức đảng thực hiện nghiêm túc 07 nhiệm vụ, giải pháp, nhiệm vụ nhằm tạo chuyển biến mạnh mẽ trong công tác này.

Bên cạnh đó, Luật phòng chống tham nhũng (PCTN) và Nghị định 130/2020/NĐ-CP ngày 30/10/2020 có nhiều điểm mới, trong đó trọng tâm là quy định mới về kiểm soát tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức. Luật quy định: “Tài sản tham nhũng phải được thu hồi, tịch thu; người có hành vi tham nhũng gây thiệt hại thì phải bồi thường, bồi hoàn theo quy định của pháp luật” (Khoản 3, Điều 4) và “Cơ quan, tổ chức có thẩm quyền phải áp dụng các biện pháp cần thiết để thu hồi, tịch thu tài sản tham nhũng; tài sản tham nhũng phải được trả lại cho chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp hoặc sung quỹ nhà nước; người đưa hối lộ mà chủ động khai báo trước khi bị phát hiện hành vi đưa hối lộ thì được trả lại tài sản đã dùng để hối lộ” (Điều 70). Đối với vấn đề thu hồi tài sản có yếu tố nước ngoài, Điều 71 Luật PCTN quy định: “Trên cơ sở điều ước quốc tế mà Cộng hòa XHCN Việt Nam là thành viên và phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam, Chính phủ Việt Nam hợp tác với Chính phủ nước ngoài trong việc thu hồi tài sản của Việt Nam hoặc của nước ngoài bị tham nhũng và trả lại tài sản đó cho chủ sở hữu hợp pháp”.

Thể chế hóa quan điểm của Đảng được nêu tại Nghị quyết Trung ương 3 (khóa X), “chú trọng tới các chế tài phạt tiền nhằm tăng khả năng thu hồi tài sản tham nhũng”, Điều 40 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định không thi hành án tử hình đối với người bị kết án nếu: “Người bị kết án tử hình về tội tham ô tài sản, tội nhận hối lộ mà sau khi bị kết án đã chủ động nộp lại ít nhất ba phần tư tàisản tham ô, nhận hối lộ và hợp tác tích cực với cơ quan chức năng trong việc phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm hoặc lập công lớn”.

Những văn bản chỉ đạo trên thể hiện quyết tâm chính trị của Đảng, Nhà nước trong lãnh đạo, chỉ đạo, hoàn thiện thể chế pháp luật về thu hồi tài sản tham nhũng ở nước ta những năm qua. Điều này cũng được hiện thực hóa, hành động hóa qua kết quả thực tế trong các báo cáo của Ban Nội chính Trung ương, cơ quan thi hành án dân sự các cấp.

Nếu trước năm 2013, tỷ lệ thu hồi tài sản tham nhũng trung bình chỉ đạt khoảng 10% trên tổng số phải thu hồi, thì đến giai đoạn 2013-2020 kết quả bình quân đã đạt hơn 26%. Đặc biệt là năm 2019 và năm 2020, khi có sự chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về PCTN, Ban Chỉ đạo đã thành lập 05 Đoàn kiểm tra tại nhiều địa phương, bộ, ngành để kiểm tra, đánh giá đầy đủ, toàn diện kết quả thu hồi tài sản, từ đó chỉ ra những tồn tại, hạn chế, khó khăn và chỉ đạo khắc phục, kết quả thu hồi tài sản trong các vụ án kinh tế, tham nhũng do Ban Chỉ đạo Trung ương theo dõi, chỉ đạo năm 2020 thu hồi bằng 61% tổng số đã thu hồi được trước đây. Tính cả giai đoạn 10 năm (2012-2022) đã thu hồi 61.000 tỷ đồng, đạt 34,7%, trong đó riêng trong các vụ án thuộc diện Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực theo dõi có gần 50.000 tỷ đồng được thu hồi, cũng chỉ đạt 41,3%.

Một số vụ việc điển hình đã thu hồi được số tiền lớn trong thời gian qua như: Vụ Hứa Thị Phấn, cho đến nay đã thu hồi được hơn 12.000 tỷ đồng; vụ Phạm Công Danh, đã thu hồi được trên 5.405 tỷ đồng. Đáng chú ý, năm 2021, VKSND tối cao đã tham dự phiên điều trần trực tuyến của Tòa án Singapore thực hiện yêu cầu tương trợ tư pháp về thu hồi tài sản trong vụ án Phan Sào Nam, kết quả, đã thu hồi được hơn 2,6 triệu USD (gần 2.000 tỷ đồng). Đây cũng là lần đầu tiên Việt Nam thu tiền thi hành án từ nước ngoài. Đặc biệt, trong vụ án AVG, cơ quan chức năng đã thu hồi được 100% số tiền thất thoát (hơn 8.000 tỷ đồng).

Cùng với việc chứng minh tội phạm, các cơ quan tiến hành tố tụng đã tích cực chủ động áp dụng các biện pháp truy tìm, kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản, hạn chế để các đối tượng có liên quan tẩu tán, che giấu, hợp pháp hóa tài sản tham nhũng; khuyến khích người phạm tội giao nộp tài sản để được hưởng chính sách khoan hồng của pháp luật.

Mới đây nhất, liên quan đến Vụ Việt Á, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã kịp thời phong tỏa, ngăn chặn, kê biên nhiều tài khoản, sổ tiết kiệm của Phan Quốc Việt và các đối tượng thuộc Công ty Việt Á trị giá hơn 320 tỷ đồng, 100.000 USD, 20 bất động sản trên địa bàn TP.Hồ Chí Minh, Hà Nội và các địa phương khác; 8 bất động sản của Phạm Duy Tuyến…

Tại Hội nghị toàn quốc tổng kết 10 năm công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực diễn ra mới đây ngày 30/6/2022, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: Chưa bao giờ công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực lại được thực hiện một cách mạnh mẽ, đồng bộ, quyết liệt, bài bản và hiệu quả như thời gian gần đây. Trong đó,công tác thu hồi tài sản tham nhũng cũng có nhiều chuyển biến tích cực; việc kê biên, thu giữ tài sản trong nhiều vụ án tham nhũng, kinh tế nghiêm trọng đạt khá cao; tỉ lệ thu hồi tài sản tham nhũng trong các vụ án hình sự về tham nhũng, kinh tế tăng lên rõ rệt. Qua đó, để lại dấu ấn nổi bật, tạo sự đồng thuận cao trong xã hội và củng cố, tăng cường niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân đối với Đảng, Nhà nước.

Từ thực tiễn công tác thu hồi tài sản tham nhũng thời gian qua, có thể thấy sự quan tâm, quyết tâm rất cao của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ban Chỉ đạo Trung ương về PCTN mà trực tiếp, thường xuyên là đồng chí Tổng Bí thư – Trưởng Ban Chỉ đạo đối với công tác này; sự nhất quán, quyết liệt trong nhận thức và hành động từ Ban chỉ đạo phòng chống tham nhũng Trung ương, Chính phủ, các bộ, ngành đến các địa phương, nhất là sự nỗ lực rất cao của các cơ quan, đơn vị có chức năng phòng, chống tham nhũng và các cơ quan tiến hành tố tụng Trung ương và địa phương… đã tạo ra bước chuyển lớn trong nhận thức về tầm quan trọng của nhiệm vụ thu hồi tài sản ngày càng rõ. Từ chuyển biến về nhận thức đã tạo ra những cú huých quan trọng trong hành động, đến kết quả như ngày hôm nay.

Những biện pháp quyết liệt được Đảng, Nhà nước thực hiện thời gian qua mặc dù đã tạo nên những chuyển biến rõ rệt, đáng ghi nhận trong công tác thu hồi tài sản tham nhũng song cũng cần phải thẳng thắn thừa nhận việc phát hiện, xử lý tham nhũng vẫn còn hạn chế; công tác thu hồi tài sản bị chiếm đoạt, thất thoát trong các vụ án hình sự về tham nhũng, kinh tế vẫn còn thấp, chưa mang tính bền vững, chưa đạt yêu cầu đề ra.

Chuyến tàu “vét” Mobifone mua 95% cổ phần AVG trước khi cựu Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông Nguyễn Bắc Son về hưu ít ngày đã khiến hai cựu Bộ trưởng Bộ này là Nguyễn Bắc Son và Trương Minh Tuấn lĩnh án tù và thu hồi được 100% số tiền tham nhũng, chỉ là một đốm sáng nhỏ trong công tác thu hồi tài sản tham nhũng.

Tính cả giai đoạn 10 năm (2012-2022) mới chỉ thu hồi 61.000 tỷ đồng, đạt 34,7%, như vậy còn khoảng hơn 120 nghìn tỷ đồng chưa được thu hồi; trong đó riêng trong các vụ án thuộc diện Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực theo dõi còn gần 70.000 tỷ đồng cần được thu hồi. Đây cũng là một trong những thách thức, rào cản mà Việt Nam cũng như nhiều nước trên thế giới đang phải đối mặt khi giải quyết vấn nạn tham nhũng.