Thứ Năm, 1 tháng 12, 2022

XÂY DỰNG CHUẨN MỰC ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG CHO CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN TRONG TÌNH HÌNH MỚI

Hiện nay, đất nước đang bước vào thời kỳ mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế sâu, rộng. Tình hình mới đặt ra rất nhiều yêu cầu mới về chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên.

Đã vậy, thực tế công tác xây dựng Đảng cho thấy còn “Một bộ phận cán bộ, đảng viên phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí, ngại khó, ngại khổ, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa””(1). Tình hình này đặt ra cho chúng ta nhiệm vụ phải từng bước xây dựng được chuẩn mực đạo đức cách mạng và chuẩn mực ứng xử đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên.

Theo từ điển Tiếng Việt, chuẩn là “cái được chọn làm căn cứ để đối chiếu, để hướng theo đó mà làm cho đúng”, chuẩn mực là “chuẩn”(2). Chuẩn mực khác với nguyên tắc - “là điều cơ bản định ra, nhất thiết phải tuân theo trong một loạt việc làm”, hoặc nên tránh, không nên làm(3). Chuẩn mực cũng khác với quy tắc - “là những điều quy định mọi người phải tuân theo trong một hoạt động chung nào đó”(4).

Có thể hiểu chuẩn mực đạo đức cách mạng là những tiêu chuẩn đạo đức cách mạng và những tiêu chuẩn ứng xử đạo đức cách mạng có tính khuôn mẫu, mực thước được toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta công nhận dùng làm căn cứ, cơ sở để đánh giá và điều chỉnh hành vi ứng xử của cán bộ, đảng viên, là căn cứ để xác định việc nên làm và việc không nên làm, giúp cán bộ, đảng viên với tư cách chủ thể đạo đức có căn cứ, cơ sở điều chỉnh hành vi ứng xử đạo đức của mình hướng tới chân - thiện - mỹ và phục vụ sự nghiệp cách mạng của Đảng. Khi còn sống, Chủ tịch Hồ Chí Minh dùng khái niệm tư cách đạo đức của cán bộ, đảng viên - về thực chất cũng là chuẩn mực đạo đức của cán bộ, đảng viên.

Chúng tôi cho rằng, những chuẩn mực đạo đức cách mạng mà Hồ Chủ tịch xây dựng vẫn còn nguyên giá trị trong giai đoạn hiện nay. Do vậy, xây dựng chuẩn mực đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên cũng là xây dựng những chuẩn mực đạo đức cách mạng theo tư tưởng Hồ Chí Minh. Đó là:

1. Trung với Tổ quốc, hiếu với nhân dân. Trung với Tổ quốc và hiếu với nhân dân là những chuẩn mực đạo đức đầu tiên cao nhất của người cán bộ cách mạng. Tuy nhiên: “ngày xưa trung là trung với vua. Hiếu là hiếu với cha mẹ mình thôi”; còn ngày nay, “trung là trung với Tổ quốc, hiếu là hiếu với nhân dân”(5). Trung với Tổ quốc là trung thành với lợi ích của Tổ quốc, của dân tộc, của Ðảng, với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam, trung thành với đường lối đổi mới của Đảng. Tiêu chuẩn này cũng đòi hỏi cán bộ, đảng viên phải quán triệt tinh thần “lợi ích của cá nhân nhất định phải phục tùng lợi ích của Đảng... Nghĩa là phải đặt lợi ích của Đảng lên trên hết, lên trước hết. Vì lợi ích của Đảng tức là lợi ích của dân tộc, của Tổ quốc.

Vô luận lúc nào, vô luận việc gì, đảng viên và cán bộ phải đặt lợi ích của Đảng ra trước, lợi ích của cá nhân lại sau”(6).

Hiếu với dân là không chỉ yêu thương cha mẹ mình, “mà còn phải thương cha mẹ người, phải cho mọi người đều biết thương cha mẹ”(7). Trung, Hiếu trong chuẩn mực đạo đức cách mạng gắn bó mật thiết với nhau và nhằm phục vụ mục tiêu độc lập dân tộc, hạnh phúc cho nhân dân.

2. Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư.

Cần, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh “là siêng năng, chăm chỉ, cố gắng dẻo dai”(8); “Cần không phải là làm xổi. Nếu làm cố chết cố sống trong một ngày, một tuần, hay một tháng, đến nỗi sinh ốm đau, phải bỏ việc. Như vậy không phải là cần. Cần là luôn luôn cố gắng, luôn luôn chăm chỉ, cả năm cả đời. Nhưng không làm quá trớn. Phải biết nuôi dưỡng tinh thần và lực lượng của mình, để làm việc cho lâu dài”(9). Tuy nhiên, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng yêu cầu Cần phải gắn với kế hoạch, nghĩa là phải tính toán cẩn thận, sắp đặt gọn gàng khi làm việc thì Cần mới có hiệu quả, lười biếng là kẻ thù to nhất của Cần. Người căn dặn: “Công việc bất kỳ to nhỏ, đều có điều nên làm trước, điều nên làm sau. Nếu không có kế hoạch, điều nên làm trước mà để lại sau, điều nên làm sau mà đưa làm trước, như thế thì sẽ hao tổn thì giờ, mất công nhiều mà kết quả ít”(10). Như vậy thì Cần cũng vô nghĩa. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng yêu cầu “Cần và chuyên phải đi đôi với nhau. Chuyên nghĩa là dẻo dai, bền bỉ. Nếu không chuyên, nếu một ngày cần mà mười ngày không cần, thì cũng vô ích”(11).

Kiệm, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh “Là tiết kiệm, không xa xỉ, không hoang phí, không bừa bãi. CẦN với KIỆM, phải đi đôi với nhau, như hai chân của con người.

CẦN mà không KIỆM, “thì làm chừng nào xào chừng ấy”. Cũng như một cái thùng không có đáy; nước đổ vào chừng nào, chảy ra hết chừng ấy, không lại hoàn không.

KIỆM mà không CẦN, thì không tăng thêm, không phát triển được. Mà vật gì đã không tiến tức phải thoái. Cũng như cái thùng chỉ đựng một ít nước, không tiếp tục đổ thêm vào, lâu ngày chắc nước đó sẽ hao bớt dần, cho đến khi khô kiệt”(12). Kiệm đòi hỏi không chỉ tiết kiệm của cải, tiền bạc, nguyên vật liệu mà còn phải tiết kiệm cả thời giờ, tiết kiệm sức dân, sức người. “Thời giờ cũng cần phải tiết kiệm như của cải.

Của cải nếu hết, còn có thể làm thêm. Khi thời giờ đã qua rồi, không bao giờ kéo nó trở lại được...

Muốn tiết kiệm thời giờ, thì việc gì ta cũng phải làm cho nhanh chóng, mau lẹ. Không nên chậm rãi. Không nên “nay lần mai lữa”.

Tiết kiệm thời giờ là Kiệm, và cũng là Cần”(13).

Nhưng để Kiệm có kết quả thì phải khéo tổ chức công việc. Điều cần lưu ý là điểm mới trong quan niệm về Kiệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh là “Tiết kiệm không phải là bủn xỉn.

Khi không nên tiêu xài thì một đồng xu cũng không nên tiêu. Khi có việc đáng làm, việc ích lợi cho đồng bào, cho Tổ quốc, thì dù bao nhiêu công, tốn bao nhiêu của, cũng vui lòng. Như thế mới đúng là kiệm.

Việc đáng tiêu mà không tiêu, là bủn xỉn, chứ không phải là kiệm.

Tiết kiệm phải kiên quyết không xa xỉ”(14).

Liêm, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh “là trong sạch, không tham lam”(15). “Chữ LIÊM phải đi đôi với chữ KIỆM. Cũng như chữ KIỆM phải đi đôi với chữ CẦN.

Có KIỆM mới LIÊM được. Vì xa xỉ mà sinh tham lam.

Tham tiền của, tham địa vị, tham danh tiếng, tham ăn ngon, sống yên đều là BẤT LIÊM.

Người cán bộ, cậy quyền thế mà đục khoét dân, ăn của đút, hoặc trộm của công làm của tư”(16), người buôn gian, bán lậu, người nhân lúc khó khăn mà bắt chẹt dân,v.v. đều là bất liêm. Người “Gặp việc phải, mà sợ khó nhọc nguy hiểm, không dám làm, là tham vật úy lạo. Gặp giặc mà rút ra, không dám đánh là tham sinh úy tử. Đều làm trái với chữ LIÊM”(17). Do vậy, cán bộ chẳng những phải thực hành CẦN, KIỆM mà còn phải thực hành chữ LIÊM trước để làm kiểu mẫu cho dân.

Chính, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh “là không tà, nghĩa là thẳng thắn, đứng đắn. Điều gì không đứng đắn, thẳng thắn, tức là tà.

CẦN, KIỆM, LIÊM, là gốc rễ của CHÍNH. Nhưng một cây cần có gốc rễ, lại cần có ngành, lá, hoa, quả mới là hoàn toàn. Một người phải Cần, Kiệm, Liêm, nhưng còn phải CHÍNH mới là người hoàn toàn...

Làm việc CHÍNH, là người THIỆN.

Làm việc TÀ, là người ÁC.

Siêng năng (cần), tần tiện (kiệm), trong sạch (liêm), CHÍNH là THIỆN.

Lười biếng, xa xỉ, tham lam, là tà, là ác”(18).

Chí công vô tư, là làm bất cứ việc gì cũng phải nghĩ về Tổ quốc, Dân tộc, Đảng trước hết. Người cán bộ, đảng viên “Đem lòng chí công vô tư mà đối với người, đối với việc”(19). Nếu “Lòng mình chỉ biết vì Đảng, vì Tổ quốc, vì đồng bào thì mình sẽ tiến đến chỗ chí công vô tư. Mình đã chí công vô tư thì khuyết điểm sẽ càng ngày càng ít, mà những tính tốt... ngày càng thêm”(20). Những tính tốt ấy là Nhân, Nghĩa, Trí, Dũng, Liêm.

Với chuẩn mực ứng xử của người cán bộ, đảng viên, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu:

1) Đối với mình, không được tự kiêu, tự đại; luôn luôn cầu tiến bộ; luôn luôn tự kiểm điểm, tự phê bình; “Tự mình phải chính trước, mới giúp được người khác chính. Mình không chính, mà muốn người khác chính là vô lý”(21). “Nếu chính mình tham ô bảo người ta liêm khiết có được không? Không được. Mình trước hết phải siêng năng, trong sạch thì mới bảo người ta trong sạch, siêng năng được”(22).

2) Đối với người, “Chớ nịnh hót người trên. Chớ xem khinh người dưới. Thái độ phải chân thành, khiêm tốn, phải thật thà đoàn kết. Phải học người và giúp người tiến tới. Phải thực hành chữ Bác-Ái”(23).

3) Đối với việc, “Phải để công việc nước lên trên, trước việc tư, việc nhà.

Đã phụ trách việc gì, thì quyết làm cho kỳ được, cho đến nơi, đến chốn, không sợ khó nhọc, không sợ nguy hiểm. Bất kỳ việc to, việc nhỏ, phải có sáng kiến, phải có kế hoạch, phải cẩn thận, phải quyết làm cho thành công. Việc thiện thì dù nhỏ mấy cũng làm. Việc ác thì dù nhỏ mấy cũng tránh. Việc gì dù lợi cho mình, phải xét nó có lợi cho nước không? Nếu không có lợi, mà có hại cho nước thì quyết không làm.

Mỗi ngày cố làm một việc lợi cho nước (lợi cho nước tức là lợi cho mình), dù là việc nhỏ”(24). Như vậy, người cán bộ, đảng viên luôn phải đặt lợi ích của Tổ quốc, dân tộc, của Đảng lên trên hết.

Để xây dựng được những chuẩn mực đạo đức này cho cán bộ, đảng viên cần thực hiện các giải pháp cơ bản sau:

Mỗi cán bộ, đảng viên căn cứ vào vị trí, chức năng nhiệm vụ cụ thể của mình phải cụ thể hóa được các tiêu chí trung với nước, hiếu với dân, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư và thái độ ứng xử với mình, với người và với việc cho phù hợp.

Phát huy vai trò của nhân dân, trong xây dựng chuẩn mực đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên. Bởi lẽ, đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn “so với số nhân dân thì số đảng viên chỉ là tối thiểu, hàng trăm người dân mới có một người đảng viên. Nếu không có nhân dân giúp sức, thì Đảng không làm được việc gì hết… Rời xa dân chúng là cô độc. Cô độc thì nhất định thất bại”(25). Hơn nữa, nếu chúng ta lôi cuốn được nhân dân tham gia kiểm tra, giám sát, phòng, chống những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên thì việc xây dựng chuẩn mực đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên sẽ hiệu quả hơn.

Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng với chủ trương “Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện các quy định, quy chế nhằm giữ nghiêm kỷ luật, kỷ cương, nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát”(26) và bảo đảm đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên.

Phát huy tinh thần tích cực, chủ động và thực hiện nghiêm túc quy định của Đảng về trách nhiệm nêu gương, chức vụ càng cao càng phải gương mẫu, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương trong xây dựng chuẩn mực đạo đức cách mạng. Mỗi đảng viên tự giác nêu gương để khẳng định vai trò tiên phong, gương mẫu, tạo sự lan tỏa những tấm gương sáng về đạo đức cách mạng. Đồng thời, tăng cường đấu tranh chống các quan điểm, hành vi phản đạo đức, phi đạo đức. Cổ vũ, biểu dương các gương sáng đạo đức tạo ảnh hưởng sâu, rộng trong Đảng và ngoài xã hội. Thực hiện tốt các giải pháp này sẽ từng bước xây dựng được chuẩn mực đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên.

GS, TS TRẦN VĂN PHÒNG

CHIÊU TRÒ TUNG HỎA MÙ DỊP NGÀY HỘI ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC

Điều 11, Luật Mặt trận Tổ quốc (MTTQ) Việt Nam quy định: “Ngày 18 tháng 11 hằng năm là Ngày truyền thống của MTTQ Việt Nam và là Ngày hội đại đoàn kết toàn dân tộc”. Từ đó đến nay, hằng năm, việc tổ chức “Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc” ở khu dân cư đã trở thành sinh hoạt xã hội rộng rãi ở từng cộng đồng dân cư trong cả nước.

Năm nay, ngày hội được tổ chức rộng khắp trên toàn quốc, tại các địa bàn, khu dân cư thôn, bản, ấp, làng, tổ dân phố, khu dân cư… với đa dạng hình thức, tạo khí thế sôi nổi, đoàn kết. Các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, lãnh đạo các bộ, ngành, địa phương dành thời gian về dự chung vui ngày hội với bà con, đồng thời thăm hỏi, tặng quà những cá nhân, hộ gia đình có hoàn cảnh khó khăn…

Vậy nhưng, khi đồng bào ta phấn khởi, chung vui Ngày hội đại đoàn kết toàn dân tộc thì cũng là lúc các tổ chức, cá nhân phản động lưu vong ở nước ngoài, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị giở trò xuyên tạc, chống phá.

Mượn chuyện hòa hợp để chia rẽ đoàn kết, kích động hận thù

Trên trang mạng xã hội của một số hội, nhóm phản động đưa ra những luận điệu xuyên tạc về chính sách hòa hợp dân tộc của Đảng, Nhà nước ta. Mới đây, trang mạng xã hội của Đài Á châu tự do (RFA) dựng lên câu chuyện sai trái, kệch cỡm khi cố tình đánh tráo bản chất, chính sách hòa hợp dân tộc của Đảng, Nhà nước ta là “chiêu nạp” lại cộng đồng người Việt ở nước ngoài; bôi lem, phủ nhận chính sách hòa hợp dân tộc khi xem đó là những mục tiêu chính trị nhất thời; phớt lờ những cố gắng, thành tựu trong thực hiện chiến lược đại đoàn kết dân tộc; vu cáo “cộng sản Việt Nam muốn nhận của kiều bào nhưng vẫn chưa muốn cho”… Họ cố tình kích động, chia rẽ đoàn kết bằng việc đưa ra trò so sánh lố bịch rằng người Việt Nam ở trong nước và kiều bào ta ở nước ngoài “mang bản sắc riêng”, như nước với dầu không thể “trộn” vào nhau, không thể dung hòa, không thể đại đoàn kết!

Một số cá nhân còn đưa ra “yêu sách” bằng cách quy chụp công cuộc giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước là cuộc “nội chiến”!. Tổ chức Việt Tân đăng bài viết bôi nhọ sự thật, đánh đồng người có công với cách mạng giống như những người thương phế binh từng làm việc cho chính quyền Sài Gòn trước đây. Từ đó, đòi xóa bỏ chính sách xã hội đối với người có công với cách mạng.

Chiêu trò chống phá chính sách đại đoàn kết, hòa hợp dân tộc được xáo đi xáo lại nhiều lần, xét về bản chất là không mới nhưng qua mỗi năm lại được biến tấu, nhào nặn theo các hình thức khác nhau. Tựu trung thủ đoạn, mưu mô rất nguy hiểm, biểu hiện ở chỗ số đối tượng phản động, cơ hội chính trị thường lựa chọn thời điểm nước ta tổ chức các sự kiện trọng đại, kỷ niệm các ngày lễ lớn như kỷ niệm Ngày Giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước (30/4) hay ngày Ngày hội đại đoàn kết toàn dân tộc (18/11)… Các đối tượng đánh tráo bản chất sự việc theo kiểu “lập lờ đánh lận con đen”, nói không thành có, nói có thành không…

Họ bẻ cong lịch sử, đảo ngược chân lý nhằm làm cho người dân Việt Nam, nhất là kiều bào ta ở xa Tổ quốc hiểu sai, dẫn tới thiếu niềm tin, hoài nghi về chủ trương, chính sách đại đoàn kết, hòa hợp dân tộc; gợi lại vết thương trong quá khứ; gây chia rẽ, nghị kỵ lẫn nhau, cố tình tạo ra sự phân biệt, ngăn cách, kỳ thị trong nhân dân. Họ cố tình làm cho thế giới hiểu sai về một Việt Nam nhân văn, hòa hiếu, trọng tình, trọng nghĩa; làm giảm sự chung tay, đồng lòng trong tiến trình hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; cản trở, tiến tới xóa bỏ con đường đi lên CNXH của Việt Nam.

Hãy tôn trọng lịch sử, đừng phủ mờ chân lý

Trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc ta cũng có những trường hợp người ăn ở hai lòng, khi gặp khó khăn, gian nan thì làm tay sai cho giặc. Nhưng với sự nhân văn “đánh người chạy đi, không ai đánh người chạy lại”, dân tộc ta luôn thể hiện hành xử độ lượng, bao dung với số này khi họ nhận ra lỗi lầm của mình. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu bật quan điểm nhân văn: “Tôi khuyên đồng bào đoàn kết chặt chẽ và rộng rãi. Năm ngón tay cũng có ngón vắn, ngón dài, nhưng vắn dài đều họp nhau lại nơi bàn tay. Trong mấy triệu người cũng có người thế này thế khác, nhưng thế này hay thế khác đều dòng dõi của tổ tiên ta. Vậy nên ta phải khoan hồng, đại độ. Ta phải nhận rằng đã là con Lạc, cháu Hồng thì ai cũng có ít hay nhiều lòng ái quốc”. Sau này Người khẳng định chân lý: “Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một. Sông có thể cạn, núi có thể mòn song chân lý ấy không bao giờ thay đổi”.

Kế thừa truyền thống nhân văn hòa hiếu của dân tộc, tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết, từ trong quá khứ cho đến hiện tại, chính sách hòa giải, hòa hợp dân tộc luôn là chủ trương nhất quán, xuyên suốt của Đảng và Nhà nước ta. Theo đó, năm 2003, Hội nghị Trung ương 7 (khóa IX) của Đảng đã ban hành nhiều nghị quyết quan trọng như: Nghị quyết số 23-NQ/TW “Về phát huy sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”; Nghị quyết số 24-NQ/TW “Về công tác dân tộc”; Nghị quyết số 36-NQ/TW (2004) của Bộ Chính trị (khóa IX) “Về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài”; Chỉ thị 45-CT/TW về tăng cường công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài của Bộ Chính trị (2015).

Trong Chỉ thị 45 đã khẳng định “Đề cao tinh thần dân tộc, truyền thống nhân nghĩa, khoan dung...; xây dựng tinh thần cởi mở, tôn trọng, thông cảm, tin cậy lẫn nhau, cùng hướng tới tương lai; xoá bỏ mặc cảm, định kiến; chấp nhận những điểm khác nhau không trái với lợi ích chung của dân tộc; mọi người Việt Nam, không phân biệt dân tộc, tôn giáo, nguồn gốc xuất thân, địa vị xã hội, lý do ra nước ngoài, mong muốn góp phần thực hiện mục tiêu trên đều được tập hợp trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc” và “Người Việt Nam ở nước ngoài là bộ phận không tách rời và là một nguồn lực của cộng đồng dân tộc Việt Nam… Mọi người Việt Nam ở nước ngoài đều được khuyến khích, tạo điều kiện trở về thăm quê hương, đầu tư sản xuất kinh doanh, góp phần vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam”. Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh mục tiêu: Xây dựng cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài tiếp tục phát triển ổn định, đoàn kết, có địa vị pháp lý vững chắc, phát triển kinh tế và đời sống, hòa nhập xã hội nước sở tại, tạo điều kiện để đồng bào giữ gìn tiếng Việt, bản sắc văn hóa dân tộc, nâng cao lòng tự hào, tự tôn dân tộc...

Hòa hợp dân tộc là chủ trương nhất quán, xuyên suốt của Đảng, Nhà nước ta. Ở trong nước hiện nay, đồng bào thuộc mọi thành phần xã hội, kể cả những người từng làm việc trong chế độ cũ đều không bị phân biệt đối xử, bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ như những công dân khác. Với đồng bào ở nước ngoài, Đảng, Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách tạo điều kiện ngày càng thuận lợi hơn cho kiều bào trên nhiều lĩnh vực như: Xuất nhập cảnh, cư trú, hồi hương, quốc tịch, hộ tịch, về đầu tư kinh doanh; về quyền được mua và sở hữu nhà ở tại Việt Nam…

Đối với kiều bào Việt Nam ở Mỹ, tại Hội nghị cấp cao đặc biệt ASEAN - Mỹ từ ngày 11/5 đến 17/5/2022, trong đẩy mạnh hợp tác song phương và đa phương, Việt Nam đã đề nghị Chính phủ Mỹ công nhận cộng đồng người Việt tại Mỹ là một dân tộc thiểu số. Nếu đề nghị này được Chính phủ Mỹ chấp thuận sẽ là một bước tiến quan trọng trong mối quan hệ Việt – Mỹ, là cơ sở để mang lại nhiều quyền lợi và giá trị to lớn đối với kiều bào ta.

Trong năm 2021, với tinh thần “không để ai bị bỏ lại phía sau”, Nhà nước ta đã tích cực hỗ trợ đồng bào có hoàn cảnh khó khăn ở nước ngoài, huy động các doanh nghiệp và địa phương hỗ trợ vật tư y tế cho hơn 20 quốc gia và vùng lãnh thổ. Từ năm 2015 đến năm 2020, tổng lượng kiều hối đạt hơn 71 tỷ USD. Năm 2021, dù chịu tác động bất lợi của đại dịch COVID-19, lượng kiều hối về Việt Nam vẫn đạt 12,5 tỷ USD, tăng khoảng 10% so với năm 2020. Tính đến cuối năm 2020, kiều bào từ 27 quốc gia và vùng lãnh thổ đã có 362 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tại Việt Nam, với tổng số vốn đăng ký 1,6 tỷ USD. Trên phương diện nghĩa đồng bào những đóng góp xây dựng quê hương, đất nước của kiều bào là rất quý giá và trân trọng; xét về mặt kinh tế, việc đầu tư sản xuất kinh doanh dịch vụ trong nước mang lại lợi ích cho chính kiều bào và lợi ích quốc gia dân tộc. Điều này khẳng định Đảng, Nhà nước ta luôn quan tâm, khuyến khích, hỗ trợ kiều bào và chính kiều bào luôn hướng về Tổ quốc. Đây là những con số biết nói cho thấy những chủ trương, chính sách hòa hợp dân tộc của Đảng, Nhà nước là vô cùng đúng đắn, hợp lòng dân; đồng thời, thể hiện rõ nét nghĩa tình đồng bào, góp phần đập tan những mưu mô chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, ly gián đồng bào trong và ngoài nước.

Để có được thành quả cách mạng như ngày hôm nay, đất nước ta đã kinh qua bao gian khổ, hy sinh, mất mát. Hậu quả của chiến tranh để lại là hết sức nặng nề, cả nước có 1.146.250 liệt sỹ, trong đó 191.605 liệt sỹ trong kháng chiến chống Pháp, 849.018 liệt sỹ trong kháng chiến chống Mỹ và hơn 4 triệu dân thường đã thiệt mạng hoặc bị thương tật suốt đời. Chúng ta không gợi lại quá khứ để sự hận thù che mờ hiện tại và tương lai nhưng chúng ta không được lãng quên lịch sử mà phải luôn ghi nhớ sự mất mát trong chiến tranh để trân trọng hòa bình, độc lập, tự do và thực hiện cho bằng được hòa hợp dân tộc. Chúng ta ghi nhận thái độ chân thành hòa giải, thiện chí hòa hợp, đóng góp xây dựng đất nước từ phía những người từng lầm đường, lạc bước.

Hòa hợp không phải là cái cớ để những người định kiến, những kẻ thù địch gieo rắc sự hận thù; đưa ra những đòi hỏi vô lý đối với đất nước, đối với dân tộc; bóp méo lịch sử, đảo ngược chân lý, phủ nhận những nỗ lực, thành tựu trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Nhân chuyến thăm chính thức Hoa Kỳ vào tháng 6/2007, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết trong cuộc gặp gỡ với kiều bào tại quận Cam đã bày tỏ cảm xúc: “Chúng ta nghĩ Tổ quốc là cái gì xa xôi, nhưng Quốc văn giáo khoa thư nói rằng, đó là những gì gần gũi nhất... Tôi mong bà con của mình, hãy vì quê hương đất nước, gác bỏ những khác biệt của mình, hãy đoàn kết lại, cùng nhau xây dựng Mẹ hiền Việt Nam, đất nước Việt Nam giàu mạnh, hùng cường”.

GIỮ NGUYÊN TẮC, ĐÚNG QUY CHẾ

Nguyên tắc tổ chức, sinh hoạt Đảng, quy chế làm việc là những vấn đề có ý nghĩa quan trọng hàng đầu đối với mỗi cấp ủy, tổ chức Đảng cũng như với từng cán bộ, đảng viên. Bởi vô nguyên tắc, vi phạm quy chế làm việc là một bước rất ngắn dẫn tới vi phạm kỷ luật Đảng, vi phạm pháp luật.

Điều lệ Đảng quy định: “Đảng là một tổ chức chặt chẽ, thống nhất ý chí và hành động, lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản, thực hiện tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, thương yêu đồng chí, kỷ luật nghiêm minh, đồng thời thực hiện các nguyên tắc: Tự phê bình và phê bình, đoàn kết trên cơ sở Cương lĩnh chính trị và Điều lệ Đảng, gắn bó mật thiết với nhân dân, Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”.

Trong khi đó, quy chế làm việc là sự cụ thể hóa các nguyên tắc, quy định của Điều lệ Đảng, của Bộ Chính trị, Ban Bí thư thành chế độ vận hành điều chỉnh hoạt động của cấp ủy, tổ chức Đảng và việc làm của cán bộ, đảng viên. Do đó, việc xây dựng và tổ chức thực hiện quy chế làm việc có quan hệ mật thiết với việc tuân thủ các nguyên tắc Đảng; là “hệ tuần hoàn” không thể tách rời nhau.

Đối với mỗi tổ chức Đảng hay cán bộ, đảng viên, việc tuân thủ nguyên tắc, thực hiện đúng quy chế làm việc là rất quan trọng. Thực tế cho thấy, tổ chức Đảng thực hiện tốt nguyên tắc Đảng, ban hành quy chế làm việc chặt chẽ, tổ chức thực hiện hiệu quả đều là những tập thể mạnh. Ngược lại, những nơi vi phạm nguyên tắc, không làm đúng quy chế làm việc thường dẫn tới những khuyết điểm, sai phạm...

Tìm hiểu từ những trường hợp sai phạm bị cấp ủy, Ủy ban Kiểm tra cấp ủy kỷ luật thì gần như 100% đều vi phạm nguyên tắc Đảng, vi phạm quy chế làm việc. Mới đây nhất, tại kỳ họp thứ 22 vừa diễn ra đầu tháng 11-2022, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã xem xét kết quả kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm đối với Ban Thường vụ Đảng ủy Tổng công ty Công nghiệp Tàu thủy. Trong đó, Ủy ban Kiểm tra Trung ương nhận định: “Ban Thường vụ Đảng ủy Tổng công ty các nhiệm kỳ 2010-2015, 2015-2020 đã vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, quy chế làm việc; buông lỏng lãnh đạo, chỉ đạo, thiếu kiểm tra, giám sát...”.

Trước đó, theo thống kê trong hơn 110 cán bộ thuộc diện Ban Bí thư quản lý bị kỷ luật thời gian qua đều ghi nhận những mức độ vi phạm nguyên tắc Đảng và vi phạm quy chế làm việc khác nhau, như: Vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ dẫn tới chuyên quyền, độc đoán; vi phạm nguyên tắc tự phê bình và phê bình dẫn đến không kịp thời nhận ra sai sót, để sai sót nhỏ thành sai sót lớn; vi phạm nguyên tắc đoàn kết làm nảy sinh thói kèn cựa, cục bộ, địa phương, chia bè, kết cánh; vi phạm nguyên tắc gắn bó mật thiết với nhân dân dẫn đến quan liêu, xa rời quần chúng, phiền hà, sách nhiễu...

Trong phát biểu kết luận Hội nghị Trung ương 4 (khóa XIII), Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhìn nhận, không thực hiện đúng các nguyên tắc xây dựng Đảng và tổ chức sinh hoạt Đảng là một trong những biểu hiện nguy hiểm dẫn đến suy thoái, tự diễn biến, tự chuyển hóa trong nội bộ.

Để các nguyên tắc Đảng, quy chế làm việc phát huy đúng vai trò, vị trí, góp phần xây dựng Đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên, đòi hỏi sự quan tâm, vào cuộc quyết liệt của các cấp ủy, tổ chức Đảng, nhất là đội ngũ cán bộ chủ chốt.

Nhiệm vụ, giải pháp quan trọng hàng đầu và phải làm trước tiên là đẩy mạnh tuyên truyền, nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên về tầm quan trọng, sự cần thiết của các nguyên tắc Đảng và quy chế làm việc. Thực tế, không ít trường hợp khi sai phạm xảy ra ở chi bộ, đảng bộ cơ sở thì mới phát hiện là cấp ủy, cán bộ lãnh đạo không nắm rõ các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt Đảng, lúng túng trong triển khai thực hiện, thậm chí có tâm lý coi thường; có nơi không kịp thời xây dựng quy chế làm việc, quy chế làm việc không đúng với quy định chung; không bổ sung, chỉnh sửa hoàn thiện quy chế phù hợp với điều kiện mới...

Do đó, để tránh vi phạm hoặc không biết để thực hiện, cấp ủy cấp trên, đặc biệt là bộ phận chuyên trách công tác Đảng phải có chỉ đạo, hướng dẫn kịp thời, cụ thể cho cấp dưới về nhiệm vụ tuân thủ các nguyên tắc của Đảng, xây dựng và thực hiện quy chế làm việc; đẩy mạnh công tác kiểm tra, giám sát các cấp ủy, tổ chức Đảng, cán bộ, đảng viên trong thực hiện nhiệm vụ trên. Việc này cần thiết phải làm từ sớm và thường xuyên hơn.

Tại Đảng bộ thành phố Hà Nội, ngay từ đầu nhiệm kỳ khóa XVII, Ban Thường vụ Thành ủy và nhiều cấp ủy Đảng trực thuộc đã tiến hành giám sát, kiểm tra cấp ủy cấp dưới về việc xây dựng quy chế làm việc. Trong khi, nhiều cấp ủy Đảng thành phố tổ chức tập huấn nâng cao nghiệp vụ công tác Đảng cho các bí thư chi bộ, cán bộ chủ chốt, trong đó có nghiệp vụ về xây dựng quy chế làm việc, chương trình, kế hoạch công tác... Đây là những giải pháp rất hiệu quả, tích cực, cần được quan tâm, nhân rộng.

Đối với cấp ủy, tổ chức Đảng cần xác định rõ, thực hiện tốt các nguyên tắc Đảng, cụ thể là 5 nguyên tắc được nêu trong Điều lệ Đảng là nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu. Các nguyên tắc phải được cụ thể hóa vào quy chế làm việc. Quá trình xây dựng phải bám sát Điều lệ Đảng, các quy định, hướng dẫn của cấp trên; bảo đảm quy chế làm việc là sản phẩm của trí tuệ tập thể, hội tụ tinh thần đoàn kết, thống nhất, toát lên các nguyên tắc của Đảng, trước hết là nguyên tắc tập trung dân chủ. Quy chế làm việc đã ban hành phải bảo đảm tính khả thi, phân công rõ người, rõ việc. Quá trình thực hiện phải thường xuyên quan tâm đánh giá, để kịp thời sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới; tuyệt đối không để vì chậm sửa đổi, bổ sung quy chế làm việc mà ảnh hưởng đến hoạt động, làm giảm sút vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, tổ chức Đảng.

Xét cho cùng, trong bất kỳ trường hợp nào, cấp ủy, tổ chức Đảng và mỗi cán bộ, đảng viên nhất định phải “giữ nguyên tắc, đúng quy chế”.

LỢI ÍCH CỦA VIỆC KHÔNG LIÊN MINH QUÂN SỰ

Không tiến hành liên minh quân sự là biện pháp loại bỏ rủi ro, tác động bất lợi, tránh rơi vào vòng xoáy cạnh tranh giữa các cường quốc. Không tham gia liên minh quân sự để Việt Nam không “chuốc” thêm kẻ thù. Mặt khác, nó còn tạo thuận lợi cho Việt Nam hợp tác thực chất, hiệu quả với tất cả các quốc gia trên thế giới, tham gia sâu rộng và phát huy được vai trò trong các cơ chế, diễn đàn an ninh khu vực, quốc tế.

Không tiến hành liên minh quân sự,mối quan hệ hoà bình, hợp tác, hữu nghị giữa Việt Nam với các nước láng giềng được giữ vữngvàsự hợp tác giữa Việt Nam với các nước sẽ góp phần giữ gìn an ninh biên giới, đối phó với các thách thức an ninh phi truyền thống.

Không liên liên minh quân sự giúp Việt Nam không đánh mất lợi thế địa chiến lược. Khi tiến hành liên minh quân sự có nghĩa là việc “chọn bên” đã được thực hiện. Trong toan tính của bên đối lập, vị trí địa chiến lược của Việt Nam sẽ không còn giá trị lợi dụng. Nhiều quốc gia trung lập khác sẽ không còn mặn mà tìm đến Việt Nam. Vì thế, vị thế địa chiến lược của đất nước suy giảm, làm mất đi cơ hội hợp tác sâu rộng và thực chất với nhiều đối tác.

Trong điều kiện hoà bình, có vị trí địa chiến lược, có “cơ đồ”, vị thế như hiện nay, thì việc liên minh quân sự sẽ là “lợi bất cập hại”. Thay vì tiến hành liên minh quân sự, Việt Nam cần tiếp tục thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hoà bình, đa dạng hoá, đa phương hoá như Văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng đã chỉ rõ.

Để đối phó với các thách thức bên ngoài, Việt Nam cần xây dựng các mối quan hệ quốc tế song phương, đa phương thực chất, hiệu quả, đồng thời phát huy tối đa sức mạnh nội lực và tranh thủ ngoại lực, nâng cao sức mạnh tổng hợp quốc gia, vị thế quốc tế để bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa”.

NẾU VIỆT NAM LIÊN MINH QUÂN SỰ SẼ TIỀM ẨN NHIỀU RỦI RO, THÁCH THỨC

Là một quốc gia có biển, phụ thuộc nhiều vào đường biển, nếu Việt Nam tiến hành liên minh quân sự với một cường quốc ngoài khu vực thì chắc chắn sẽ làm gia tăng bất ổn ở Biển Đông. Điều đó ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường an ninh và phát triển của đất nước. Vì vậy, giữ vững môi trường hoà bình, ổn định ở khu vực Biển Đông, tình hữu nghị với các cường quốc là vấn đề mang tầm chiến lược đối với Việt Nam.

Liên minh quân sự với bên ngoài có thể sẽ ảnh hưởng xấu tới quan hệ giữa Việt Nam với các nước, trước hết là với các nước láng giềng, trong đó trực tiếp là ảnh hưởng đến quan hệ giữa Việt Nam với Trung Quốc. Trong trường hợp, nếu Việt Nam tiến hành liên minh quân sự với một quốc gia có lợi ích đối lập với Trung Quốc thì dù ta có biện giải như thế nào cũng không làm cho Trung Quốc loại bỏ được những nghi ngại rằng liên minh đó là nhằm vào họ, chống lại họ. Và, với vị thế là một nước lớn, chi phối nhiều hoạt động kinh tế, lại là quốc gia láng giềng “núi liền núi, sông liền sông”,… Trung Quốc sẽ có những phản ứng gây ảnh hưởng tiêu cực đến an ninh và phát triển của Việt Nam. Điều đó đặt đất nước trước nhiều thách thức, rủi ro, thậm chí rơi vào tình thế nguy hiểm.

Liên minh quân sự tạo cơ hội cho các thế lực thù địch chống phá cách mạng Việt Nam, làm giảm tính hiệu quả của đường lối đối ngoại.Liên minh quân sự sẽ “phá vỡ” chính sách quốc phòng “Bốn không” của Việt Nam hiện nay, đi ngược lại đường lối đối ngoại hoà bình, nhất quán của Đảng, tạo kẽ hở cho các thế lực thù địch tấn công.

Trên bình diện quốc tế, Việt Nam là một quốc gia tầm trung, nhưng trong quan hệ với Trung Quốc, Việt Nam là một nước nhỏ. Quan hệ giữa một nước nhỏ với một nước lớn chỉ có thể được bình thường nếu như nước nhỏ không cảm thấy bị đe doạ bởi nước lớn, và nước lớn thấy sức mạnh của mình được nước nhỏ tôn trọng. Vì vậy, Việt Nam cần tuân thủ nguyên tắc thực hiện đường lối đối ngoại hoà bình, dựa trên Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế.

VIỆT NAM LIÊN MINH QUÂN SỰ - GIẢI PHÁP KHÔNG ĐÚNG ĐẮN, HIỆU QUẢ

Xét về mặt lý thuyết và thực tiễn lịch sử rộng lớn của thế giới cho thấy trong một số trường hợp, việc liên minh là có lợi. Nhưng trong rất nhiều trường hợp, liên minh quân sự không phải là màu hồng mà luôn tiềm ẩn những rủi ro, phức tạp.

Nếu tiến hành liên minh quân sự với một cường quốc thì khả năng Việt Nam bị lệ thuộc là rất cao. Vì một quốc gia nhỏ liên minh với một cường quốc thì mối quan hệ đó trên thực tiễn không thể bình đẳng được, nước nhỏ sẽ bị nước lớn chi phối, tính độc lập, tự chủ sẽ suy yếu hoặc mất đi.

Quá trình đấu tranh dựng và giữ nước của dân tộc Việt Nam đã để lại bài học vô cùng quý báu, đó là thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, dựa vào nội lực là chính. Trong bối cảnh các nước đề cao lợi ích quốc gia, dân tộc thì không có một cường quốc nào lại sẵn sàng đối đầu với một cường quốc khác để bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ cho một nước thứ ba.

Liên minh quân sự để bảo vệ độc lập, chủ quyền quốc gia là một “ảo tưởng”, “ảo vọng”. Thực tiễn đã chứng minh một “chân lý” là mỗi quốc gia phải tự quyết định vận mệnh dân tộc mình và không thể trông chờ vào sự “che chở” của quốc gia khác.

PHẢI CHĂNG VIỆT NAM CẦN LIÊN MINH QUÂN SỰ ĐỂ GIỮ VỮNG ĐỘC LẬP, CHỦ QUYỀN VÀ TOÀN VẸN LÃNH THỔ”

Quan điểm “Việt Nam cần liên minh quân sự để giữ vững độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ” là rất sai lầm, thiếu cơ sở, “lợi bất cập hại”, đi ngược lại đường lối đối ngoại đúng đắn của Đảng. Vì vậy, cần phải được phê phán, bác bỏ.

Những năm gần đây, đặc biệt từ khi Sách trắng quốc phòng Việt Nam công khai với giới truyền thông trong nước và quốc tế rằng sẽ không tiến hành liên minh quân sự với bất cứ một quốc gia nào thì các thế lực thù địch tuyên truyền đó là một chính sách “bảo thủ”, “lạc hậu”, đi ngược lại xu thế tăng cường hợp tác và toàn cầu hoá (?!).

Lợi dụng những diễn biến phức tạp về tranh chấp chủ quyền ở khu vực Biển Đông, đặc biệt là những hành vi ngày càng mạnh bạo của Trung Quốc, các thế lực thù địch lập luận rằng: Một quốc gia nhỏ yếu như Việt Nam sẽ không thể đứng vững nếu không tiến hành liên minh quân sự với một cường quốc bên ngoài, nhất là với Mỹ, một quốc gia có lợi ích đối lập với Trung Quốc, đang xem Trung Quốc là đối thủ số một, thậm chí như kẻ thù (?!).

Khi cuộc xung đột quân sự Nga - Ukraine nổ ra, chúng càng cổ xuý cho quan điểm trên. Chúng lập luận rằng vì Ukraine không phải là thành viên của liên minh quân sự Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) nên NATO không có nghĩa vụ cùng Ukraine chống lại Nga. Bên cạnh đó, chúng còn tuyên truyền Phần Lan và Thuỵ Điển sớm “thức tỉnh” nên đã từ bỏ đường lối trung lập, chủ động viết đơn xin gia nhập khối quân sự này, và được NATO chính thức khởi động tiến trình kết nạp từ ngày 5/7/2022.

Các phần tử đóng vai người “tư vấn”, “kiến nghị”, “hiến kế”, thúc giục Việt Nam tiến hành liên minh quân sự nhằm mục đích làm giảm niềm tin của nhân dân vào đường lối đối ngoại đúng đắn, sáng suốt của Đảng, tạo ra sự chia rẽ nội bộ, đồng thời gây chia rẽ Việt Nam - Trung Quốc, tạo cơ sở cho những kẻ cơ hội can thiệp vào nội bộ của Việt Nam.

Đối với Việt Nam thì việc tiến hành liên minh quân sự để giữ vững độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ là hết sức sai lầm, thiếu cơ sở, “lợi bất cập hại”, đi ngược lại đường lối đối ngoại đúng đắn của Đảng.

FRIEDRICH ENGELS VỚI DỰ BÁO THIÊN TÀI VỀ VẤN ĐỀ QUỐC TẾ HÓA ĐỜI SỐNG MỌI MẶT CỦA XÃ HỘI

Friedrich Engels sinh ngày 28-11-1820 ở thành phố Barmen, tỉnh Rhein, Vương quốc Phổ (nay là nước Đức), trong một gia đình chủ xưởng dệt.

Ông là nhà lý luận chính trị, một triết gia và nhà khoa học nổi tiếng thế kỷ 19. Tên tuổi và sự nghiệp cách mạng của Engels gắn liền và trở thành sự nghiệp chung với Karl Marx, nhưng ông chỉ tự nhận mình là “một cây vĩ cầm thứ hai, bên cạnh Marx”.

Với bộ óc thiên tài, trái tim nhân hậu và đức tính khiêm nhường, Engels đã để lại cho nhân loại một kho tàng lý luận về chiến lược và sách lược đấu tranh của giai cấp vô sản thế giới. Đồng thời, ông còn để lại những di sản tư tưởng, lý luận về khoa học dự báo mang tính “vạch thời đại”, trong đó có dự báo vấn đề quốc tế hóa đời sống mọi mặt của xã hội, mà dấu ấn sâu sắc ngày nay đó là quá trình toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế đang diễn ra rất mạnh mẽ trên thế giới, trong đó có Việt Nam.

Sinh thời, Engels đã cùng với Marx dày công nghiên cứu thực tiễn xã hội tư bản, tổng kết lý luận, hợp sức viết và công bố các tác phẩm lý luận nổi tiếng như: “Gia đình thần thánh”, “Hệ tư tưởng Đức”, “Chống Duhring”, “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”... Những tác phẩm đó đã góp phần quan trọng tạo nên bước ngoặt cách mạng trong lịch sử tư tưởng nhân loại với việc xây dựng và phát triển một thế giới quan triết học mới: Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử.

Trong tác phẩm “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” (1848), mà dấu ấn của Engels “không thể phai mờ”, có nội dung nêu rõ: “Vì luôn luôn bị thúc đẩy bởi nhu cầu về những nơi tiêu thụ sản phẩm, giai cấp tư sản xâm lấn khắp hoàn cầu. Nó phải xâm nhập vào khắp nơi, trụ lại ở khắp nơi và thiết lập những mối liên hệ ở khắp nơi. Do bóp nặn thị trường thế giới, giai cấp tư sản đã làm cho sản xuất và tiêu dùng của tất cả các nước mang tính chất thế giới”. Tuy các nhà kinh điển mác-xít chưa trực tiếp sử dụng khái niệm “quốc tế hóa” mà sử dụng thuật ngữ “mang tính chất thế giới” nhưng vấn đề này được các ông luận giải thấu đáo và sâu sắc trên quan điểm duy vật biện chứng về lịch sử, đó là: Khi con người, công cụ sản xuất và tổng thể các yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất phát triển vượt quá ranh giới của một quốc gia-dân tộc, chính là lúc xuất hiện nhu cầu xã hội hóa mọi mặt đời sống xã hội. Đến một mức độ nhất định, xã hội hóa trở thành xu thế khách quan, thành tiền đề, điều kiện để lực lượng sản xuất phát triển. “Đại công nghiệp tạo ra thị trường toàn thế giới”, cho nên xã hội hóa là sản phẩm của nền văn minh nhân loại, không phải chỉ riêng có ở chủ nghĩa tư bản.

Theo tư tưởng của Engels, khi vấn đề kinh tế (rộng hơn là sản xuất vật chất) đã được quốc tế hóa thì tất yếu dẫn đến xu hướng quốc tế hóa các lĩnh vực khác của đời sống xã hội; đồng thời làm tăng sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia, dân tộc trên thế giới. Không một quốc gia, dân tộc nào có thể đứng ngoài những xu hướng quốc tế hóa mang tính tất yếu, khách quan đó. Trong xu hướng quốc tế hóa của nhân loại, Engels luôn đặt con người ở vị trí trung tâm của sự phát triển xã hội, được chứng minh bằng luận điểm nổi tiếng: “... trong một hệ thống những quốc gia độc lập, quan hệ với nhau trên một cơ sở bình đẳng và ở vào một trình độ phát triển tư sản xấp xỉ ngang nhau, cho nên lẽ dĩ nhiên là yêu sách về bình đẳng phải mang một tính chất chung, vượt ra ngoài ranh giới của một quốc gia riêng biệt, là tự do và bình đẳng phải được tuyên bố là những quyền của con người”. Như vậy, quyền bình đẳng giữa các quốc gia, dân tộc, giữa các màu da, chủng tộc gắn với tự do của con người và không chỉ dừng lại ở một quốc gia mà mang tính quốc tế, tính nhân loại, tính phổ biến, là một trong những quyền cơ bản của con người, của các dân tộc trên thế giới.

Hiện nay, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư trên thế giới đang phát triển mạnh mẽ với những đột phá lớn. Từ “kinh tế tri thức” đến “kinh tế số”, “xã hội số” đang trở thành cái đích mà nhiều quốc gia-dân tộc trên thế giới phải đến, đã đẩy nhanh quá trình quốc tế hóa đời sống mọi mặt của xã hội, làm tăng mối liên kết, hợp tác và phát triển giữa các nước. Đó chính là hệ quả tất yếu của sự phát triển lực lượng sản xuất và xã hội hóa sản xuất trên phạm vi toàn thế giới, điều mà Engels đã tiên đoán.

Việt Nam là một bộ phận không tách rời trong cộng đồng thế giới, cho nên tất yếu phải hội nhập vào xu thế quốc tế hóa đời sống mọi mặt của xã hội. Toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế-bước phát triển cao của quốc tế hóa-đã, đang và tiếp tục trở thành xu thế chung của toàn nhân loại hiện nay.

Vì vậy, trên cơ sở tiếp tục quán triệt sâu sắc Nghị quyết số 22-NQ/TW của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế, Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã nêu rõ: “Chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, giải quyết tốt mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế; thúc đẩy hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, linh hoạt, hiệu quả vì lợi ích quốc gia-dân tộc, bảo đảm độc lập, tự chủ, chủ quyền quốc gia. Gắn kết chặt chẽ quá trình chủ động, tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng với việc nâng cao sức mạnh tổng hợp, huy động tiềm năng của toàn xã hội; đổi mới, hoàn thiện thể chế trong nước, nâng cao năng lực tự chủ, cạnh tranh và khả năng thích ứng của đất nước”. Trong bối cảnh tình hình thế giới hiện nay, việc “chủ động và tích cực hội nhập quốc tế” ở nước ta cần thấu triệt quan điểm lấy hội nhập kinh tế làm nền tảng để bảo đảm tồn tại bền vững của hội nhập trong các lĩnh vực khác của đời sống xã hội.

Sau hơn 35 năm đất nước thực hiện công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo, nước ta đã giành được nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, trong bối cảnh thế giới, khu vực tiếp tục có nhiều biến động phức tạp, nhanh chóng và khó lường. Đảng ta đã khẳng định: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”. Vì vậy, việc vận dụng sáng tạo tư tưởng, lý luận của Engels về quốc tế hóa đời sống mọi mặt của xã hội vào công cuộc “chủ động và tích cực hội nhập quốc tế” ở nước ta hiện nay vẫn giữ nguyên giá trị cả về lý luận và thực tiễn.

MỤC TIÊU ĐẾN 2030, GDP BÌNH QUÂN ĐẦU NGƯỜI VIỆT NAM ĐẠT KHOẢNG 7.500 USD

Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã ký ban hành nghị quyết 29 của Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

Nghị quyết nêu rõ mục tiêu tổng quát đến năm 2030 Việt Nam cơ bản đạt được các tiêu chí của nước công nghiệp, là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đời sống của nhân dân được nâng cao.

Xây dựng nền công nghiệp quốc gia vững mạnh với năng lực sản xuất mới, tự chủ, khả năng thích ứng, chống chịu cao, từng bước làm chủ công nghệ lõi, công nghệ nền của các ngành công nghiệp nền tảng, công nghiệp ưu tiên, công nghiệp mũi nhọn...

Về các chỉ tiêu cụ thể đến năm 2030, nghị quyết nêu rõ mục tiêu tốc độ tăng trưởng GDP bình quân khoảng 7%/năm; GDP bình quân đầu người theo giá hiện hành đạt khoảng 7.500 USD; GNI bình quân đầu người theo giá hiện hành đạt trên 7.000 USD.

Đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng kinh tế ở mức trên 50%; chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII) thuộc nhóm 40 nước dẫn đầu thế giới.

Tỉ lệ lao động nông nghiệp trong tổng lao động xã hội dưới 20%; tỉ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ đạt 35 - 40%; tỉ lệ người dân trong độ tuổi lao động được đào tạo kỹ năng số cơ bản đạt trên 80%; đạt khoảng 260 sinh viên trên một vạn dân.

Thuộc nhóm ba nước dẫn đầu ASEAN về năng lực cạnh tranh công nghiệp; tỉ trọng công nghiệp đạt trên 40% GDP; tỉ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo đạt khoảng 30% GDP; tỉ trọng giá trị sản phẩm công nghiệp công nghệ cao trong các ngành chế biến, chế tạo đạt trên 45%.

Giá trị gia tăng công nghiệp chế tạo, chế biến bình quân đầu người đạt trên 2.000 USD. Tỉ trọng của khu vực dịch vụ đạt trên 50% GDP, trong đó du lịch đạt 14 - 15% GDP.

Hình thành được một số tập đoàn, doanh nghiệp công nghiệp trong nước có quy mô lớn, đa quốc gia, có năng lực cạnh tranh quốc tế trong các ngành công nghiệp nền tảng, công nghiệp ưu tiên, công nghiệp mũi nhọn.

Xây dựng và phát triển được một số cụm liên kết ngành công nghiệp trong nước có quy mô lớn, có năng lực cạnh tranh quốc tế; làm chủ một số chuỗi giá trị công nghiệp, nông nghiệp.

Xây dựng được ngành công nghiệp quốc phòng, công nghiệp an ninh tự lực, tự cường, lưỡng dụng, hiện đại.

Tỉ trọng kinh tế số đạt khoảng 30% GDP. Hoàn thành xây dựng chính phủ số, thuộc nhóm 50 quốc gia hàng đầu thế giới và xếp thứ ba trong khu vực ASEAN về chính phủ điện tử, kinh tế số.

Tỉ lệ đô thị hóa đạt trên 50%. Phấn đấu đạt được các chỉ tiêu về sử dụng hiệu quả tài nguyên (đất, nước, khoáng sản), tái sử dụng, tái chế chất thải tương đương với các nước dẫn đầu ASEAN; chỉ số hiệu quả môi trường (EPI) đạt trên 55. Chỉ số phát triển con người (HDI) duy trì trên 0,7.

Về tầm nhìn đến năm 2045, nghị quyết nêu rõ mục tiêu Việt Nam trở thành nước phát triển, có thu nhập cao, thuộc nhóm các nước công nghiệp phát triển hàng đầu khu vực châu Á.

* Về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu, nghị quyết nêu rõ việc đổi mới tư duy, nhận thức và hành động quyết liệt, tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Trong đó các nội dung cốt lõi của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước giai đoạn 2021 - 2030 là thúc đẩy ứng dụng mạnh mẽ khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, nhất là thành tựu của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, tạo ra bứt phá về năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của các ngành, lĩnh vực và cả nền kinh tế.

Đồng thời thực hiện chuyển đổi số toàn diện, thực chất, hiệu quả, bền vững; nâng cao năng lực tự chủ về sản xuất, công nghệ và thị trường, bảo vệ và phát huy tốt thị trường trong nước.

Nghị quyết cũng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện thể chế, chính sách thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Xây dựng nền công nghiệp quốc gia vững mạnh, tự lực, tự cường; nâng cao năng lực ngành xây dựng...

“...CHỈ CÓ HAI HẠNG NGƯỜI KHÔNG MẮC KHUYẾT ĐIỂM”

Trong bài nói tại Hội nghị nghiên cứu lịch sử Đảng của Ban Tuyên giáo Trung ương, ngày 28-11-1959, được Báo Nhân Dân số 2093, đăng ngày 9-12-1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh huấn thị: “…Chỉ có hai hạng người không mắc khuyết điểm: Là đứa bé còn ở trong bụng mẹ và người đã chết bỏ vào quan tài. Có hoạt động thì khó tránh khỏi khuyết điểm. Nhưng khi có khuyết điểm thì phải thật thà tự phê bình, hoan nghênh người khác phê bình và kiên quyết sửa chữa”.

Với thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, cách mạng Việt Nam bước vào thời kỳ mới với đặc điểm: Đất nước tạm thời chia cắt làm hai miền, miền Bắc đã có hòa bình, dưới sự lãnh đạo của Đảng đang bắt đầu xây dựng một xã hội mới, miền Nam vẫn còn dưới ách đô hộ, áp bức của chủ nghĩa đế quốc. Đây cũng là thời điểm Đảng và Chính phủ, các cấp và các ngành từ Trung ương đến địa phương tiến hành công tác sửa sai trong cải cách ruộng đất ở miền Bắc một cách kiên quyết và toàn diện, trên tinh thần đề cao, thật thà tự phê bình và phê bình (TPB&PB) để nghiêm túc khắc phục, sửa chữa khuyết điểm.

Trong sinh hoạt và hoạt động thực tiễn, mỗi con người và mỗi tổ chức đều có những ưu điểm và khuyết điểm, có mặt thuận lợi và khó khăn, có nhân tố tích cực và tiêu cực, có cái tiến bộ và cái lạc hậu. Quá trình phát triển của mỗi con người, mỗi tổ chức như thế nào và theo chiều hướng nào phụ thuộc chính vào cách thức giải quyết mâu thuẫn giữa các mặt tốt - xấu, thuận lợi - khó khăn, tích cực - tiêu cực. Mỗi đảng viên và tổ chức đảng cũng như vậy; muốn tiến bộ và phát triển thì phải phát huy ưu điểm, sửa chữa khuyết điểm. Muốn sửa chữa khuyết điểm, phát huy ưu điểm, phải đề cao và thật thà TPB&PB.

Quán triệt và thực hiện tư tưởng Hồ Chí Minh về TPB&PB, trong suốt quá trình xây dựng và hoạt động, Đảng ta luôn coi trọng TPB&PB; coi đó là quy luật phát triển của Đảng, là thước đo trình độ sinh hoạt dân chủ trong Đảng và là ý thức trách nhiệm của Đảng với nhân dân. TPB&PB là biện pháp quan trọng để giải quyết mâu thuẫn trong nội bộ Đảng, để giữ vững và tăng cường bản chất giai cấp công nhân của Đảng. Trong điều kiện Đảng cầm quyền, vấn đề TPB&PB càng trở nên cần thiết hơn.

QĐND

CẢNH GIÁC VỚI CÁC VIDEO ĐỘC HẠI TRÊN MẠNG XÃ HỘI

Những năm gần đây, mạng xã hội ở Việt Nam phát triển bùng nổ. Những cái tên như Facebook, Zalo, Tiktok, Youtube đã trở nên quen thuộc trong đời sống. Thế nhưng, nhiều người đã lâm vào tình trạng "nghiện" mạng xã hội mà không biết. Thậm chí, một số trường hợp bị kẻ xấu lợi dụng dẫn dắt thông tin, có hành động vi phạm pháp luật.

Theo thống kê mới nhất, trung bình hàng ngày mỗi người Việt Nam dành khoảng 6 tiếng 42 phút, tương đương với 1/4 ngày, để truy cập Internet trên tất cả các thiết bị. Trong đó, 2 tiếng 33 phút được dành để truy cập vào các mạng xã hội, cao hơn so với mức trung bình của thế giới là 2 tiếng 16 phút. Theo báo cáo, 76% người được khảo sát cho biết, họ sử dụng các nền tảng số để theo dõi và tương tác với bạn bè và người thân. Tiếp đến là các hoạt động cập nhật tin tức về các sự kiện đang diễn ra hoặc các tin tức giải trí, lần lượt chiếm 48% và 39% các hoạt động trực tuyến của người dùng Việt.

Theo số liệu thống kê, tính tới tháng 6/2021 của NapoleonCat (công cụ thống kê giám sát những chỉ số mạng xã hội), tổng số người dùng Facebook tại Việt Nam là gần 76 triệu người. Con số này chiếm hơn 70% dân số cả nước, tăng 31 triệu người dùng so với năm 2019 và vẫn đứng vị trí số 1 trong những mạng xã hội phổ cập tại Việt Nam.

Lợi dụng sự phổ cập của mạng xã hội Facebook, các thế lực thù địch và các phần tử cực đoan, chống đối đã tăng cường chống phá với hình thức và nội dung ngày càng tinh vi, xảo quyệt. Đặc biệt, từ khi xuất hiện dịch Covid-19, người dân có xu hướng dùng mạng xã hội nhiều hơn, kéo theo đó, các thông tin độc hại xuất hiện ngày càng dày đặc.

Hiện nay, trên hệ thống video (Watch) của Facebook, xuất hiện hàng chục kênh thông tin thường xuyên đăng tải những video clip có nội dung nóng, nhạy cảm. Ẩn chứa sau những video đó là âm mưu chống phá, làm mất uy tín của Đảng, Nhà nước, gây hại đến mối đoàn kết toàn dân tộc. Các kênh này triệt để khai thác những sự kiện chính trị, xã hội của đất nước để biên tập bài viết, dùng trí tuệ nhân tạo (AI) để chuyển thể văn bản thành giọng nói, rồi cắt ghép các hình ảnh từ internet để dàn dựng thành video clip. Những kênh như 'Nước Mỹ trở lại”, “Tiếng nói Hoa Kỳ”, “Sự thật 24”… thường xuyên dàn dựng và đăng tải các video clip về tình hình chính trị, xã hội của đất nước Việt Nam. Trong đó, chúng dùng nhiều từ ngữ, tiếng lóng thiếu tôn trọng, mang tính châm biếm đối với lãnh đạo Đảng, Nhà nước.

Nguy hiểm hơn, chúng gắn những sự kiện không liên quan với nhau để xuyên tạc, bêu rếu, làm mất uy tín của tổ chức, cá nhân. Ví dụ như vụ án liên quan đến Vạn Thịnh Phát bị xuyên tạc với chuyến công tác của các đồng chí lãnh đạo cấp cao; vụ án liên quan đến các chuyến bay giải cứu với công tác tổ chức cán bộ… Cùng với đó, chúng triệt để lợi dụng các vụ kiện tụng, các vụ án kéo dài hoặc các trường hợp bất mãn để làm nội dung chống phá.

Tinh vi hơn, trong nhiều video, chúng không trực tiếp phê phán hay nêu quan điểm mà sử dụng "chiêu thức" khơi gợi, lôi kéo người xem. Ví dụ như: Sau khi xuyên tạc việc một vụ án về đất đai, chúng đặt câu hỏi cuối clip: “Theo bạn, chính quyền như thế có đúng không?”, “Pháp luật sai hay người dân sai” hoặc “Pháp luật như thế có bảo vệ người dân được không?”... Đây là thủ đoạn rất nguy hiểm, nó khiến người xem có thái độ không thiện cảm với cách xử lý của cơ quan chức năng trong từng vụ việc. “Mưa dầm thấm lâu”, nhiều clip như thế khiến người xem nảy sinh tâm lý nghi ngờ, mất niềm tin vào hệ thống pháp luật; từ đó làm mai một niềm tin đối với Đảng…

Để chống phá, các thế lực thù địch không trừ một thủ đoạn nào. Chúng triệt để cắt ghép các hình ảnh không liên quan để xuyên tạc sự việc; sẵn sàng xâm phạm bản quyền hình ảnh và nội dụng các tờ báo, tạp chí của Việt Nam để chỉnh sửa nội dung nhằm bôi đen, vấy bẩn hình ảnh đất nước ta. Đặc biệt, nguy hiểm là thời gian gần đây, chúng xây dựng các video clip theo dạng có vẻ ca tụng chế độ, ca ngợi Đảng nhưng chèn giữa các đoạn là nhiều nội dung bóp méo sự thật, hạ thấp uy tín của Đảng và Nhà nước ta. Đây là thủ đoạn nham hiểm nhằm tránh né lực lượng an ninh mạng Việt Nam nhưng vẫn lôi kéo được người xem.

Phải thừa nhận rằng, các đối tượng này rất am hiểu trong việc dàn dựng video clip để thu hút người xem. Các hình thức đồ hoạ, kỹ xảo được sử dụng phong phú để tạo cảm giác luôn mới mẻ. Tốc độ sản xuất video của chúng cũng rất nhanh. Ngay khi báo chí trong nước đăng bài về một sự kiện, thì chỉ sau vài chục phút, các video xuyên tạc và bình luận trái chiều đã xuất hiện trên mạng xã hội. Từ đó, chúng chia sẻ và phát tán qua các hội, nhóm với mật độ ngày càng dày đặc.

Hiện nay, các thế lực thù địch đang có xu hướng liên kết các mạng xã hội để chống phá với cường độ cao. Các video độc hại trên hệ thống Watch của Facebook được tải lên hệ thống Tiktok, Youtube, Instagram,… để tiếp cận nhiều người xem hơn. Vì vậy, mỗi người cần cảnh giác cao với các video clip kiểu này, cần có sự tỉnh táo để sàng lọc thông tin khi xem và chia sẻ. Cơ quan chức năng cần có thêm các biện pháp hữu hiệu để ngăn chặn việc phát tán video độc hại trên mạng xã hội.

TĂNG CƯỜNG ĐẤU TRANH PHẢN BÁC CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

Hiện nay, các thế lực thù địch, phản động và những phần tử cơ hội chính trị đang gia tăng các hoạt động tuyên truyền chống phá Đảng và Nhà nước ta.

Đẩy mạnh công tác đấu tranh phản bác quan điểm sai trái của các thế lực thù địch là nhiệm vụ thường xuyên, quan trọng của cấp ủy, tổ chức đảng, cả hệ thống chính trị và mọi cán bộ, đảng viên để góp phần ngăn chặn, đẩy lùi những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch

Mỗi một công dân yêu nước, hãy cùng nhau chia sẻ, cùng nhau đấu tranh chống các luận điệu xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước, lực lượng vũ trang và chế độ XHCN. Để cùng nhau đoàn kết xây dựng nước Việt Nam ngày càng giàu mạnh, phát triển, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, Nhân dân ấm no, hạnh phúc./.

YÊU NƯỚC PHẢI LÀM TỐT TUYÊN TRUYỀN

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Mỗi người yêu nước đều phải làm tuyên truyền. Mỗi cử chỉ, mỗi hành động của chúng ta có thể là một công tác tuyên truyền”.

Công tác tuyên truyền là một bộ phận của công tác tư tưởng, có vị trí hết sức quan trọng trong hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo, truyền tải các quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, những tri thức, giá trị tinh thần, tư tưởng, các sự kiện, những vấn đề mới, vấn đề cấp bách trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Từ đây, mang lại thế giới quan, nhân sinh quan, lý tưởng sống, nhãn quan chính trị; từng bước vun đắp niềm tin, tình cảm cách mạng cho cộng đồng, hướng dẫn thống nhất hành động cho mọi người.

Để công tác tuyên truyền có hiệu quả cao, sức lan tỏa rộng. Trước hết, cần ở mỗi người tính tự giác cao, tinh thần học hỏi lớn, biết phát huy vai trò làm chủ, tích cực, tự giác, sáng tạo. Bên cạnh đó, phải biết khích lệ, động viên, cổ vũ quần chúng nhân dân làm tuyên truyền. Trong đó, lực lượng nòng cốt là cán bộ, đảng viên. Có như vậy, công tác tuyên truyền mới thực sự là công cụ sắc bén trong đấu tranh, phản bác có hiệu quả trước mọi luận điệu, âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch. Sẵn sàng đập tan chiến lược “diễn biến hòa bình”, kìm hãm hiệu quả sự suy thoái “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ.

Muốn công tác tuyên truyền có sức lan tỏa lớn phải có cách làm hay, nội dung, hình thức phong phú. Trong đó, yếu tố con người là chủ đạo. Do vậy, người làm tuyên truyền phải có bản lĩnh chính trị, có phẩm chất đạo đức cách mạng trong sáng; luôn nói, viết và làm việc mẫu mực, tiêu biểu cả về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và năng lực công tác thì công tác tuyên truyền mới đạt được mục đích, yêu cầu đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Một trăm bài diễn thuyết hay không bằng một tấm gương sống” và “Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách, đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước”.