Thứ Ba, 26 tháng 4, 2022

CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI CỦA VIỆT NAM LÀ PHÙ HỢP VỚI XU THẾ THỜI ĐẠI

Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là đường lối cơ bản và xuyên suốt của cách mạng Việt Nam. Ngay từ khi ra đời và trong suốt quá trình đấu tranh cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn khẳng định: chủ nghĩa xã hội là mục tiêu, lý tưởng của Đảng và của Nhân dân Việt Nam; đi lên chủ nghĩa xã hội là yêu cầu khách quan, là con đường tất yếu của cách mạng Việt Nam.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, công cuộc bảo vệ và xây dựng Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa đã đạt được những thành tựu to lớn về mọi mặt, vị thế và uy tín quốc tế của nước ta ngày càng được nâng cao. Đại hội XIII của Đảng tiếp tục khẳng định, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của chúng ta là đúng đắn, phù hợp với quy luật khách quan, thực tiễn Việt Nam và xử thế phát triển của thời đại.

Thực tiễn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam mang đặc thù riêng từ một nước thuộc địa nửa phong kiến, sau khi giành độc lập đã bỏ qua thời kỳ phát triển tư bản chủ nghĩa để tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội. Đây là sự lựa chọn đúng đắn, mang tính thời đại, phù hợp với xu thế và thực tiễn lịch sử.

Năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời trong bối cảnh trên thế giới chủ nghĩa tư bản đang phát triển chuyển sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa, tăng cường áp bức, bóc lột nhân dân các nước thuộc địa và nhân dân lao động chính quốc. Lúc này với Liên Xô, công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội đạt nhiều thành tựu to lớn về mọi mặt. Trong bối cảnh ấy, ngay từ khi ra đời trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên, Đảng ta đã xác định, làm cách mạng tư sản dân quyền giành độc lập dân tộc đi tới chủ nghĩa cộng sản, bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa. Sự lựa chọn này phù hợp với xu thế phát triển và mang tính thời đại sâu sắc.

Năm 1945, sau khi giành độc lập, Đảng ta lựa chọn xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa vì mục tiêu độc lập dân tộc và hạnh phúc của nhân dân. Đây là sự lựa chọn đúng đắn và phù hợp xu thế thời đại và yêu cầu thực tiễn. Bởi sau chiến tranh thế giới thứ 2, hệ thống xã hội chủ nghĩa trên thế giới đã hình thành và phát triển. Sự lựa chọn đúng đắn ấy đã tạo nên sức mạnh để dân tộc Việt Nam kiên cường vượt qua mọi khó khăn thử thách, tiến hành cuộc kháng chiến trường kỳ “9 năm làm một Điện Biên” chống thực dân Pháp và 21 năm kháng chiến “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào” giành độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc.

Việt Nam đã trở thành tấm gương mẫu mực trong công cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc và bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa đi lên chủ nghĩa xã hội. Đây là sự độc đáo, sáng tạo về đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam, là cơ sở bảo đảm vững chắc cho nền độc lập, tự do của dân tộc.

Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là vấn đề cốt lõi trong tư tưởng Hồ Chí Minh, là đường lối cơ bản, xuyên suốt và nhất quán của cách mạng Việt Nam, khẳng định sự đúng đắn của Đảng và Bác Hồ trong nhận thức về chủ nghĩa xã hội và lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội phù hợp với xu thế thời đại, khẳng định bản lĩnh, sự sáng tạo của Đảng trong lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mang đặc thù riêng của dân tộc Việt Nam.

LẬT TẨY CHIÊU TRÒ BÔI NHỌ, KÍCH ĐỘNG

Cứ đến dịp kỷ niệm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30-4), những kẻ "lật sử" lại tìm mọi cách để chia rẽ khối đoàn kết dân tộc, bôi nhọ lịch sử Việt Nam và công cuộc thống nhất đất nước của toàn dân ta.

Lợi dụng tính đại chúng của mạng xã hội, thành phần bất mãn mượn cớ khoa học hay tự xưng là “người cầm bút chân chính” đăng đàn các nội dung cho rằng, có những sự thật lịch sử, nhân vật lịch sử trong dịp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước cần phải xem xét lại (!). Một số kẻ giở trò “nước mắt cá sấu” để kêu thay, vái đỡ cho nhóm người bất mãn, “bên kia chiến tuyến” với luận điệu "thống nhất đất nước là sai lầm" (!); nhiều người đang tha hương, lưu lạc, vì sợ mà không dám trở về quê hương... Dù xảo quyệt đến đâu, ngôn từ có hùng hồn hay tỏ ra bi lụy thì tựu trung lại, chúng đều tỏ rõ bộ mặt thật của những kẻ có mưu đồ bất chính, hòng phủ nhận các giá trị lịch sử dân tộc, chia rẽ mối quan hệ đoàn kết, thống nhất Bắc-Nam một nhà.

Thực tế là, bao thế hệ cha anh đã đoàn kết một lòng, không tiếc máu xương để đánh đuổi đế quốc Mỹ xâm lược, đập tan ngụy quân, ngụy quyền, thống nhất đất nước, non sông thu về một mối. Những chiến sĩ cách mạng bước ra từ cuộc chiến ấy mỗi người một công việc, tiếp tục cống hiến, chung tay xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, chứ không phải như luận điệu của các thế lực thù địch, bất mãn đang rêu rao rằng có nhiều người đang “tranh công, đổ lỗi...”.

Bên cạnh đó, với chính sách hòa hợp dân tộc, Đảng, Nhà nước, nhân dân ta luôn sẵn sàng chào đón tất cả kiều bào trở về đóng góp cho quê hương, đất nước... Nhiều năm qua, các hoạt động chăm lo cho kiều bào ta ở nước ngoài đã được tổ chức thiết thực. Nhà nước luôn khuyến khích và tạo mọi điều kiện để kiều bào trở về quê hương, tham gia vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Dĩ nhiên, chẳng ai lại chào đón những thành phần bất mãn, thù địch, có âm mưu chống phá.

Và sự thật không ai có thể phủ nhận là, cứ mỗi dịp kỷ niệm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, tất cả người dân đất Việt đều tự hào với hai tiếng Việt Nam, đều xúc động rưng rưng khi giai điệu hùng hồn của bản Quốc ca vang lên dưới cờ đỏ sao vàng tung bay phấp phới, bởi đất nước thống nhất giúp toàn dân tộc không phải chịu cảnh ly tán, khổ đau do cùng dòng tộc, thân thiết với nhau mà phải chia ly, cách biệt. Chắc chắn cũng chẳng luận điệu nào có thể làm lu mờ chân lý mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đúc kết: “Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý ấy không bao giờ thay đổi".

"HỌC, HỌC NỮA, HỌC MÃI": CÂU NÓI TRUYỀN CẢM HỨNG NHẤT CỦA LÊNIN

V.I.Lênin hiểu rõ tầm quan trọng của trí tuệ, Người cho rằng trí thức chính là “niềm tự hào vĩ đại của nhân loại”. Chính vì vậy, vị lãnh tụ vĩ đại đã có một câu nói rất nổi tiếng, đó là: “Học, học nữa, học mãi”.

Nguồn học là vô tận và con người đứng trước kiến thức rộng lớn của nhân loại lại trở thành một loài sinh vật bé nhỏ, nó giống như hạt cát giữa sa mạc rộng lớn. Kiến thức là vô tận, nếu con người chúng ta cứ sống mãi trong khuôn phép, cứ tự cho mình là tài giỏi thì quả thật là thiệt thòi. Chính vì chúng ta không tiếp thu là tạo cơ hội cho người khác giỏi hơn mình.

Học như một cánh cửa kì diệu nhưng không có chiếc chìa khóa nào để mở nó ra, vậy học cũng là đang dần dần chế tạo ra chiếc “chìa khóa” đó và khám phá mọi điều ở bên trong cánh cửa, đó là kiến thức và sự thành công. Nhà bác học Charles Robert Darwin cũng từng nói "Bác học không có nghĩa là ngừng học”.

Như chúng ta thấy có những cụ già, những người đã lớn tuổi nhưng ngày ngày vẫn đọc sách, vẫn ngâm nga những câu thơ trong những cuốn sách thời xưa. Học không chỉ là tính toán mà nó còn là đọc và chiêm nghiệm. Họ tuổi già sức yếu nhưng điều đó không có nghĩa là họ dừng lại mọi con đường đi đến với kiến thức.

Nhưng ngược lại, bên cạnh những người ngày đêm miệt mài với sách vở với trau dồi rèn luyện cho bản thân thì cũng không ít những người lại chây lười, tự cao tự đại không muốn tiếp thu của ai một điều gì và luôn tự cho mình là đúng.

Câu nói của Lênin mặc dù trải qua bao nhiêu thời gian nhưng nó vẫn luôn là một câu nói đầy động lực cho bất cứ một con người nào. "Học, học nữa, học mãi" để luôn là người linh hoạt và hiểu biết để bắt kịp với thời đại. Mỗi loại kiến thức đều giúp ta mở rộng hiểu biết về một lĩnh vực riêng.

Như kiến thức toán học giúp chúng ta tính toán dễ dàng, kiến thức văn học giúp ta có hiểu biết về ngôn từ, cách biểu đạt, kiến thức địa lí giúp chúng ta biết thêm về những miền đất mới, con người mới... Còn rất nhiều lĩnh vực khác nữa với nhiều điều thú vị, hấp dẫn.

Trong mỗi một câu chuyện hay mỗi một lời nói đều ẩn chứa một phần của kiến thức, chúng ta chỉ cần biết hợp những điều mà mắt thấy tai nghe, sự hiểu biết của chúng ta lại thì sẽ có được một khái niệm, một chân lí, một định lí nào đó rồi hãy khắc ghi lại, sẽ có lúc chúng ta cần vận dụng đến. Chính những vốn kiến thức từ bé, tu luyện bồi dưỡng dần cùng thời gian, nó sẽ kết lại thành một khối kiến thức giúp ích cho ta về hiện tại và cả về sau, nó giúp chúng có thể thành đạt trong cuộc sống.

Trong thời đại khoa học ngày nay, nhu cầu về học tập là rất cấp thiết. Và để theo kịp xã hội và cách thích nghi với đời sống văn minh thì lại càng cấp thiết hơn. Cứ mỗi giờ trôi qua, mỗi ngày trôi qua thì lượng kiến thức lại càng nhiều, do đó chúng ta cần phải luôn luôn học. Đó chính là ý nghĩa của ý thứ hai “học nữa”.

Thế giới kiến thức là rất rộng lớn, để tiếp thu, tìm hiểu được hết mọi kiến thức thì chắc hẳn là không thể, thậm chí cả đời người cũng không xong, bởi vậy ngoài việc “học nữa”, thì còn phải “học mãi”.

Biểu tượng thế giới vì nhân quyền thế kỷ 20 - Tổng thống Nam Phi N. Mandela từng nói: “Giáo dục là vũ khí mạnh nhất mà người ta có thể sử dụng để thay đổi cả thế giới”. Bill Gates - Chủ tịch tập đoàn phần mềm khổng lồ Microsoft nói: “Nhà trường chỉ cho chúng ta chiếc chìa khóa tri thức, học trong cuộc sống là công việc cả đời”.

Hay tục nữ Việt Nam có câu: “Đi một ngày đàng học một sàng khôn". Tất cả đều cho thấy rằng, mục đích của việc học tập là đổi mới con người, đổi mới xã hội, bởi kiến thức khoác lên cho dân tộc, cho thế giới một bộ áo văn minh, hiện đại mà mỗi chúng ta chính là người được hưởng thành quả ấy.

Câu nói “Học, học nữa, học mãi” của Lênin chính là chân lí của học tập. Câu nói trên chính là một lời khuyên, một định hướng đúng đắn trong cuộc sống. Có học mới có được kiến thức, có được kiến thức mới có thể có hành trang để bước vào đời.

Cái “học” ở đây không đơn thuần là tiếp nhận kiến thức khoa học mà nó còn là tiếp nhận kiến thức đạo đức, lí lẽ, biết phân biệt tốt xấu. Nó còn thể hiện cần học ở mọi lúc, mọi nơi, mọi phương diện.

KHÔNG THỂ XUYÊN TẠC CHIẾN THẮNG LỊCH SỬ 30/4/1975

Chiến thắng 30/4 đã qua đi 47 năm. Nhưng ý nghĩa, giá trị to lớn của nó vẫn tồn tại mãi với thời gian, nhất là đối với các dân tộc đã và đang nỗ lực đấu tranh vì sự tiến bộ, văn minh, hạnh phúc. Ca ngợi, đánh giá tích cực đối với sự kiện này, luôn là chiều hướng chủ đạo, là điều được thế giới quan tâm, thừa nhận trong suốt những năm qua. Nhưng nực cười thay, bên cạnh sự đánh giá khách quan, trung thực đó, vẫn còn những tiếng nói lạc lõng cố tình phủ định sự thật lịch sử với động cơ, mục đích đen tối, định kiến, thù địch. Không những tìm cách cào bằng vai trò của các bên tham chiến, họ còn trắng trợn ngụy biện, đổi trắng thay đen giữa kẻ đi xâm lược đã từng gây vô vàn tội ác cho dân tộc Việt Nam với những người đã không tiếc máu xương hy sinh vì hoà bình, độc lập, tự do và thống nhất đất nước.

Ngược dòng lịch sử sẽ thấy, một sự thật hiển nhiên là cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam do Mỹ khởi xướng, với sự tiếp tay, phản bội dân tộc của ngụy quyền Sài Gòn đã thất bại thảm hại vào tháng 4-1975 là một tất yếu không tránh khỏi. Nguyên nhân cơ bản, sâu xa nhất dẫn tới thất bại, trước hết, đó là một cuộc chiến tranh phi nghĩa, vô cùng tàn bạo. Từ lâu, Mỹ đã coi miền Nam Việt Nam là địa bàn chiến lược, để ngăn chặn ảnh hưởng của chủ nghĩa Cộng sản tại Đông Nam Á. Họ cần có một chính phủ chống Cộng, biết nghe lời và phục vụ đắc lực cho mưu đồ bá chủ thế giới. Thực hiện Hiệp định Giơ-ne-vơ về lập lại hòa bình ở Việt Nam và Đông dương, trong khi Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa cố gắng theo đuổi các giải pháp hòa bình, thì ngay từ đầu, Mỹ và chế độ Ngô Đình Diệm, sau đó là chế độ Nguyễn Văn Thiệu, đã rắp tâm tìm mọi cách chia cắt, phá hoại công cuộc hòa bình, thống nhất đất nước. Các yêu cầu đàm phán, tiến tới Tổng tuyển cử, thống nhất hai miền Nam - Bắc, liên tiếp được Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa đưa ra và đều bị từ chối vào tháng 6, tháng 7-1957, tháng 3, tháng 12-1959 và tháng 7-1960. Thay vào đó là các chiến dịch lê máy chém khắp miền Nam, đàn áp khốc liệt những người kháng chiến cũ, những đảng viên Cộng sản, những ai mong muốn thống nhất đất nước. Tiếp đó là các chiến lược: “Chiến tranh đặc biệt” (1961 – 1965), “Chiến tranh cục bộ” (1965 – 1966) và “Việt Nam hóa chiến tranh (1969 – 1973) tàn phá miền Nam, tiêu diệt phong trào đấu tranh của quần chúng, nhằm thực hiện mưu đồ của chúng.

Cuộc chiến tranh do Mỹ và tay sai tiến hành ở Việt Nam được cho là phi nghĩa, trái đạo lý, bị lên án không phải chỉ vì thực chất mục đích của nó, vì sự hao người, tốn của, mà còn bởi nó đã thể hiện rõ tính chất tàn bạo, vô nhân tính. Đó là một trong các cuộc chiến tranh tổn hại nhất trong lịch sử nước Mỹ, với tổng chi phí lên tới 686 tỉ đô la (tính theo thời giá năm 2008). Đó là khoản tiền lớn nhất mà Mỹ đã chi cho chiến tranh, chỉ sau đại chiến Thế giới thứ 2.

  Vì thế, Chiến thắng 30/4/1975 cho thấy một chân lý: không phải bao giờ sức mạnh của cường quyền bạo lực và đồng tiền cũng đè bẹp được chính nghĩa. Đấu tranh cho hòa bình, độc lập, thống nhất đất nước, Việt Nam là đại diện chân chính cho chính nghĩa, cho nên trong suốt cuộc chiến tranh chống Mỹ, cứu nước, nhân dân ta đã nhận được sự đồng tình ủng hộ to lớn cả về vật chất và tinh thần của bạn bè quốc tế và lực lượng tiến bộ, yêu chuộng hòa bình trên toàn thế giới. Tính chất phi nghĩa, tàn bạo của Mỹ và ngụy quyền Sài Gòn bộc lộ rõ trong chiến tranh, đã ngày càng bị thế giới, trong đó có cả nhân dân tiến bộ Mỹ lên án, phản đối.

CẢNH GIÁC VỚI LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC VỀ CHIẾN THẮNG 30/4/1975

Mỗi năm, cứ đến ngày 30/4 là trên mạng internet lại xuất hiện nhiều bài viết xuyên tạc lịch sử về ngày 30/4/1975 của các thế lực thù địch, phản động và phần tử xấu, tác động đến tư tưởng trong một bộ phận nhân dân, nhất là trong giới trẻ.

Là người dân Việt Nam, chúng ta cần hiểu rõ, chiến tranh đã để lại cho đất nước những nỗi đau to lớn; biết bao xương máu các anh hùng đã đổ xuống để giành lấy độc lập, tự do. Hơn ai hết, chúng ta cần nhận thức đầy đủ nguyên nhân vì sao đất nước ta có chiến tranh, vì sao Bắc – Nam bị chia cắt. Đó là do mưu đồ của bọn đế quốc xâm lược, chúng muốn biến dân ta thành nô lệ, biến đất nước Việt Nam phải lệ thuộc vào ngoại bang.

Với truyền thống yêu nước và quật khởi, nhân dân ta không khuất phục trước những áp bức, bất công nên đã đứng lên chiến đấu để giành lại độc lập, tự do. Chúng ta phải chứng minh cho thế giới thấy được nguyên nhân sâu xa thất bại của Mỹ – Ngụy ngày 30/4/1975 là do cuộc chiến tranh phi nghĩa, tàn bạo, trái với đạo lý, bị nhân dân trên thế giới lên án mạnh mẽ. Nhân dân Việt Nam đã trải qua biết bao mất mát hy sinh.

Vì vậy, đến dịp kỷ niệm ngày giành được chiến thắng, chúng ta không chỉ vui mừng vì đất nước được độc lập, tự do, vui mừng vì quê hương ngày càng phát triển, giàu đẹp, mà còn tưởng nhớ công lao và tôn vinh những người đã anh dũng hy sinh máu xương cho Tổ quốc, để chúng ta có cuộc sống như hôm nay. Chiến thắng 30/4/1975 luôn là niềm tự hào của người dân Việt Nam, sẽ là sức mạnh tinh thần to lớn giúp cho Đảng và nhân dân ta phát huy cao độ tinh thần yêu nước, tính tự lực, tự cường, quyết tâm xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Do đó, Chúng ta không mơ hồ, mất cảnh giác trước các luận điệu của các thế lực thù địch xuyên tạc lịch sử, tích cực tham gia đấu tranh, đập tan mọi luận điệu xuyên tạc.

CHÀO MỪNG NGÀY GIẢI PHÓNG MIỀN NAM 30/4 VÀ NGÀY QUỐC TẾ LAO ĐỘNG 1/5

Ngày 30 tháng 4 năm 1975 đã đi vào lịch sử dân tộc như một mốc son chói lọi đưa đất nước ta bước vào một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta từ đây tập trung sức lực và trí tuệ hàn gắn vết thương chiến tranh xây dựng cuộc sống mới; xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Chiến thắng 30/4/1975 là thành quả vĩ đại trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội do Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo; là trang sử hào hùng, chói lọi trên con đường dựng nước và giữ nước hàng ngàn năm lịch sử của dân tộc. Quân và dân ta đánh thắng kẻ thù lớn mạnh và hung hãn nhất của loài người tiến bộ; kết thúc oanh liệt cuộc chiến đấu 30 năm giành độc lập tự do, thống nhất cho Tổ quốc; chấm dứt ách thống trị hơn một thế kỷ của chủ nghĩa thực dân cũ và mới trên đất nước ta; là thắng lợi tiêu biểu của lực lượng cách mạng thế giới, góp phần thúc đẩy mạnh mẽ cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì mục tiêu độc lập dân tộc, hoà bình, dân chủ và tiến bộ xã hội; cổ vũ động viên các dân tộc đang tiến hành công cuộc giải phóng dân tộc, chống chủ nghĩa thực dân kiểu mới trên toàn thế giới.

Ngày nay, trong công cuộc đổi mới của đất nước, chúng ta mãi tự hào và biết ơn sự hy sinh to lớn của các anh hùng, các thế hệ cha ông đã chiến đấu hy sinh anh dũng vì độc lập tự do và thống nhất Tổ quốc. Chúng ta càng tự hào, tin tưởng vào sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt tài tình của Đảng Cộng sản Việt Nam, vào tinh thần quật cường bất khuất và trí thông minh, sáng tạo của dân tộc ta, của quân đội ta. Mỗi người dân Việt Nam nguyện tiếp tục phát huy chủ nghĩa anh hùng cách mạng, tinh thần tự lực, tự cường, tinh thần đại đoàn kết toàn dân, quyết tâm vươn lên hoàn thành tốt các chỉ tiêu phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội, an ninh - quốc phòng theo chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng đề ra.

Hòa chung không khí vui tươi phấn khởi chào mừng 47 năm ngày Giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, trong những ngày này cả nước cũng đang hân hoan chào mừng ngày Quốc tế Lao động 01/5, là dịp để giai cấp công nhân và nhân dân lao động cả nước ôn lại truyền thống đấu tranh, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc đồng thời tiếp tục phát huy vai trò của mình và có những đóng góp to lớn vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, theo tinh thần Nghị quyết Ðại hội XIII của Ðảng xác định: Quan tâm giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng, phát triển giai cấp công nhân cả về số lượng và chất lượng; nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ học vấn, chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, tác phong công nghiệp, kỷ luật lao động của công nhân; bảo đảm việc làm, nâng cao thu nhập, cải thiện điều kiện làm việc, nhà ở, các công trình phúc lợi phục vụ công nhân; sửa đổi, bổ sung các chính sách, pháp luật về tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp...nhằm bảo vệ quyền lợi, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của công nhân.

Chào mừng 47 năm ngày Giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, 136 năm ngày Quốc tế Lao động 01/5 là dịp thiết thực cổ vũ, động viên toàn đảng, toàn quân và toàn dân ra sức thi đua thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ, mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội mà Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII đã xác định.

VẠCH TRẦN LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC, PHỦ NHẬN LỊCH SỬ

Cứ vào dịp Nhân dân ta tổ chức kỷ niệm các ngày lễ lớn của đất nước, số đối tượng cực đoan, thù địch trong và ngoài nước lại tru tréo những luận điệu bịa đặt, bóp méo lịch sử… nhằm hạ thấp ý nghĩa các sự kiện quan trọng này. Trên Internet, mạng xã hội chúng tán phát các bài viết, sáng tác, phỏng vấn, hình ảnh… hòng gây hoang mang dư luận, gây rối tình hình an ninh chính trị đất nước.

Ví dụ, khi đất nước ta tổ chức kỷ niệm ngày toàn thắng 30/4, các thế lực thù địch, số đối tượng chống đối trong các hội, nhóm phản động lưu vong lại lu loa, nào là “Ngày Quốc Hận”, “Tháng Tư Đen”… Tương tự, khi cả nước tổ chức kỷ niệm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9, luận điệu xuyên tạc lịch sử cách mạng, phủ nhận vai trò lãnh đạo sáng suốt, tài tình của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam lại rêu rao trên các diễn đàn mạng xã hội. Chúng diễn trò “hạ bệ” lãnh tụ; phủ nhận công lao trời biển của Chủ tịch Hồ Chí Minh và vai trò to lớn của Chủ nghĩa Mác - Lênin đối với cách mạng Việt Nam. Chúng cho rằng: “Hồ Chí Minh du nhập chủ nghĩa Mác - Lênin với học thuyết đấu tranh giai cấp đã gây ra cảnh “nồi da nấu thịt” suốt mấy chục năm…

Nguyễn Thanh Giang (kẻ chống đối cực đoan ở Hà Nội) đã lộng ngôn phủ nhận toàn bộ công lao, sự hy sinh xương máu của các thế hệ Nhân dân Việt Nam qua 2 cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ để giành độc lập, thống nhất đất nước của dân tộc ta. Lão trân tráo: “Cách nay mươi năm, tôi vẫn nghĩ đánh Pháp, đuổi Nhật là công của Đảng…. Nhưng giờ này tôi nhận ra là vô nghĩa.”. “Tôi nhận ra cuộc kháng chiến chống Mỹ là vô nghĩa. Đáng lẽ không nên xảy ra núi sông xương máu” (?!). Xin hỏi: Ngày nay, Nhân dân Việt Nam (có gia đình lão) được sống trong một đất nước hòa bình, độc lập, tự chủ, đó là điều vô nghĩa sao? Theo lão, cứ cam tâm sống kiếp nô lệ, lầm than của người dân mất nước là có nghĩa hay sao?

Từ xuyên tạc, phủ nhận vai trò lãnh tụ và Đảng Cộng sản Việt Nam, “phủi bụi” vào quá khứ oai hùng của dân tộc, chúng lộ “nguyên hình” là những kẻ phản quốc. Nếu theo luận điệu ươn hèn như trên, thì những công lao và sự hy sinh của hàng triệu chiến sĩ trong các lực lượng kháng chiến của Nhân dân ta trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp từ năm 1858 đến 1954 đều là vô ích hay sao! Và hàng triệu cán bộ, chiến sĩ đã ngã xuống trong cuộc chiến chống Mỹ từ 1954 - 1975 để giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước là vô ích hay sao! Ðưa ra luận điệu này là tỏ ra vô ơn với hàng triệu anh hùng liệt sĩ đã ngã xuống cho Tổ quốc Việt Nam được trường tồn”.

Thực tiễn sau 47 năm đất nước hoàn toàn độc lập và hơn 35 năm đổi mới, Việt Nam đã thay đổi vượt bậc, đất nước phồn vinh, Nhân dân có cuộc sống ngày càng sung túc, đủ đầy và đang thực hiện khát vọng vươn lên trở thành quốc gia hùng cường.

Đạo lý truyền thống của người Việt, bất hiếu với cha mẹ là tội nặng nhất; vong ân, bội nghĩa với thế hệ tiền nhân đã hy sinh xương máu để vun đắp, tạo dựng cuộc sống hiện tại cho mình là mắc tội vô ơn với tổ tiên, nguồn cội, đó là những kẻ đê tiện.

Sự dối trá, hèn hạ, phỉ bán lịch sử, khơi gợi hận thù để kích động mâu thuẫn…không chỉ là hành động vô cương, vô pháp và vô ơn với tiền nhân; xúc phạm sự hy sinh xương máu của biết bao thế hệ người Việt Nam mà còn là sự phá hoại tương lai tươi sáng của dân tộc. Vì thế, chúng ta cần quyết liệt đấu tranh, lên án, vạch trần./.

MÔN LỊCH SỬ, XIN ĐỪNG TRỞ THÀNH “KÉP PHỤ”

Suốt nhiều ngày qua, thậm chí nhiều năm qua, xung quanh việc dạy và học môn Lịch sử ở cấp THPT thu hút sự quan tâm đặc biệt của dư luận.

Phải chăng người đời rỗi việc mà lại bận tâm nhiều đến việc con trẻ nên được học lịch sử theo cách nào, học nhiều hay ít? Xin thưa, hoàn toàn không phải như vậy. Bởi, kiến thức về lịch sử dân tộc không chỉ góp phần hình thành nhân cách mà còn tạo nên nền móng vững chắc xây đắp tình yêu Tổ quốc trong mỗi người con đất Việt. Không hiểu lịch sử, không biết lịch sử của dân tộc, sao có thể đòi hỏi thế hệ tiếp sau yêu được đất nước mình, yêu được quê hương của mình. Giá trị của lịch sử làm nên giá trị của dân tộc.

Nhìn lại, hẳn không phải ngẫu nhiên, ngay từ năm 1942, lãnh tụ Hồ Chí Minh đã viết bài diễn ca "Lịch sử nước ta" gồm 210 câu về lịch sử hào hùng của dân tộc với hai câu thơ mở đầu: "Dân ta phải biết sử ta/ Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam". Bài diễn ca của Người không chỉ khái quát những trang lịch sử vẻ vang của dân tộc mà chính là một cách dạy lịch sử phù hợp trong điều kiện phần lớn người Việt Nam lúc bấy giờ đều không biết đọc, biết viết. Chính từ những vần thơ ấy, chính hiểu rõ được lịch sử của dân tộc mà lớp lớp người Việt Nam tự nguyện hiến dâng thân xác của mình đi theo cách mạng, đi theo Bác Hồ làm nên những thắng lợi mang ý nghĩa thời đại sâu sắc.

Vậy, việc học lịch sử hiện nay của các em học sinh cấp THPT ra sao? Thật khó có thể nói hết thực trạng về vấn đề này, chỉ xin dẫn ra một vài số liệu để bạn đọc suy ngẫm. Theo số liệu được công bố trên Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam qua đánh giá của nhiều cán bộ trực tiếp chấm thi, phổ điểm môn Lịch sử năm 2021 của thí sinh chỉ từ 0 đến 3 điểm. Nhiều trường đại học có trên 98% bài thi môn Lịch sử dưới điểm trung bình, thậm chí có trường chỉ một thí sinh đạt điểm trung bình môn này. Số lượng bài đạt điểm trên trung bình chỉ hơn 25%, còn lại gần 75% là điểm dưới trung bình. Trong đó, số lượng học sinh bị điểm 0 tương đối nhiều. Số học sinh đạt 7, 8 điểm chiếm chưa đến 5%. Trong số 10.000 bài thi môn Lịch sử thì may ra mới có một bài đạt điểm 9.

Vị trí, vai trò, tầm quan trọng của môn học Lịch sử chắc hẳn ai cũng hiểu rõ. Thực trạng chất lượng học tập môn Lịch sử cũng chẳng cần phải mất nhiều công nghiên cứu, khảo sát cũng đủ để minh chứng về kết quả và niềm đam mê của học sinh đối với môn học này. Kết quả đó là khi Lịch sử còn được nhiều địa phương chọn là môn thi tốt nghiệp THPT bắt buộc thì liệu tới đây, tự chọn sẽ ra sao? Câu trả lời này chắc phải dành cho ngành giáo dục.

Dân tộc Việt Nam có bề dày lịch sử hào hùng và những giá trị văn hóa hết sức đặc sắc. Lịch sử và giá trị văn hóa dân tộc tạo nên cốt cách, hình hài của người Việt. Nhờ vào lịch sử, dựa chính vào lịch sử, tôn trọng lịch sử mà dân tộc ta đứng vững không bị đồng hóa và thôn tính. Bởi vậy, là người Việt Nam, không học lịch sử Việt Nam, không biết lịch sử nước nhà thì sao có thể xây đắp được tình yêu quê hương, đất nước. Vậy nên xin hãy, đừng để môn Lịch sử trở thành “kép phụ” trong việc trang bị kiến thức và bồi dưỡng nhân cách cho một thế hệ tương lai.

MỤC TIÊU CỦA BẢO ĐẢM AN SINH XÃ HỘI Ở VIỆT NAM

Bảo đảm an sinh xã hội là hoạt động của Nhà nước và toàn xã hội bằng các biện pháp về kinh tế - xã hội nhằm nâng cao đời sống vất chất, tinh thần cho người dân, để thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội trong phát triển kinh tế, thông qua phân phối lại thu nhập quốc dân.

Mục tiêu của bảo đảm an sinh xã hội là góp phần thực hiện công bằng xã hội trong phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Bởi vì, quá trình phát triển kinh tế thị trường đã và đang đặt ra những thách thức cho nước ta trong việc giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng, phát triển kinh tế với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, hạn chế những tác động của mặt trái cơ chế kinh tế thị trường, đặc biệt là sự phân hóa giàu nghèo ngày càng gia tăng. Trước thách thức đó, Đảng và Nhà nước ta đã luôn quan tâm đến vấn đề bảo đảm an sinh xã hội để thực hiện công bằng xã hội.

VIỆT NAM THAM GIA VÀ NGHIÊM TÚC THỰC HIỆN CÁC NGHĨA VỤ, CAM KẾT QUỐC TẾ VỀ QUYỀN CON NGƯỜI

Hiện nay, Việt Nam là một trong những nước tích cực, chủ động tham gia vào hầu hết các công ước quốc tế về quyền con người do Liên hợp quốc và các tổ chức quốc tế khác ban hành. Tính đến năm 2021, Việt Nam đã phê chuẩn, gia nhập 7/9 công ước cơ bản của Liên hợp quốc về quyền con người; phê chuẩn, gia nhập 25 công ước của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), trong đó có 7/8 công ước cơ bản.

Việt Nam có những đóng góp tích cực trong việc thành lập Ủy ban liên chính phủ ASEAN về nhân quyền, Ủy ban ASEAN về bảo vệ và thúc đẩy các quyền của phụ nữ và trẻ em, thông qua tuyên bố Nhân quyền ASEAN.
Việt Nam đã đảm nhiệm thành công vai trò thành viên của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2014-2016. Nhiều lãnh đạo các nước thời điểm đó ca ngợi tinh thần trách nhiệm, sự năng động của Việt Nam. Việt Nam đã đóng góp nhiều giá trị vào sự tiến bộ của nhân loại trong bảo đảm quyền con người.

Với mong muốn đóng góp hiệu quả hơn nữa vào các nỗ lực chung của thế giới nhằm thúc đẩy và bảo vệ quyền con người, Việt Nam đã ứng cử làm thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023-2025. Việt Nam là ứng cử viên duy nhất được ASEAN đề cử.

Gần 10 năm sau nhiệm kỳ đầu tiên tại Hội đồng Nhân quyền, Việt Nam đã có nhiều tiến bộ vượt bậc trên mọi mặt đời sống xã hội và việc tham gia ứng cử Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023-2025 thể hiện quyết tâm, sự chủ động, tích cực và trách nhiệm của Việt Nam trong thúc đẩy quyền con người ở khu vực và trên thế giới.

BÀI HỌC ĐẮT GIÁ NẾU KHÔNG THỰC HIỆN CÁC NGUYÊN TẮC CỦA ĐẢNG

Vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách là một trong các biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân được Nghị quyết số 847-NQ/QUTW ngày 28-12-2021 của Quân ủy Trung ương về phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới chỉ ra rất rõ.

Đây là một trong những nguyên nhân cơ bản của nhiều vụ việc vi phạm ở một số tổ chức, cá nhân trong quân đội thời gian qua, ảnh hưởng không nhỏ đến những giá trị cao quý của Bộ đội Cụ Hồ.

Trong nhiều vụ việc vi phạm pháp luật, kỷ luật, điều lệnh, điều lệ quân đội thì tình trạng vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách khá phổ biến. Biểu hiện cụ thể đó là tổ chức đảng mất sức chiến đấu. Người lãnh đạo, chỉ huy tập trung quyền lực vào mình và trở nên độc đoán, gia trưởng, nội bộ mất đoàn kết, chia bè, kết phái. Trong khi hoạt động lãnh đạo của tổ chức đảng gần như bị tê liệt thì đảng viên cũng không thể hiện được sức chiến đấu, đơn vị mất dân chủ. Tổ chức chỉ còn là bình phong cho một số cá nhân tự tung tự tác. Hậu quả tất yếu là các sai phạm đã hoặc sẽ xảy ra.

Chỉ tính riêng từ đầu nhiệm kỳ khóa XIII đến nay, trải qua các kỳ họp của Ủy ban Kiểm tra Trung ương trong xem xét vi phạm ở các tổ chức đảng, một số tổ chức đảng trong quân đội bị kết luận “Vi phạm nguyên tắc, quy chế làm việc, thiếu trách nhiệm, buông lỏng lãnh đạo, chỉ đạo, thiếu kiểm tra, giám sát...”. Kết luận này được chỉ ra ở các đơn vị, như: Ban Thường vụ Đảng ủy Cảnh sát biển Việt Nam nhiệm kỳ 2015-2020; Ban Thường vụ Đảng ủy Bộ đội Biên phòng tỉnh Trà Vinh; Ban Thường vụ Đảng ủy Bộ đội Biên phòng tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu; Ban Thường vụ Đảng ủy Học viện Quân y các nhiệm kỳ 2015-2020, 2020-2025... Ủy ban Kiểm tra Quân ủy Trung ương qua các kỳ họp cũng đã kết luận sai phạm trong thực hiện nguyên tắc ở một số tổ chức đảng trong các cơ quan, đơn vị. Biểu hiện sai phạm trong thực hiện nguyên tắc Đảng có ở nhiều cấp ủy, tổ chức đảng các cấp.

Nguyên lý cơ bản trong tổ chức Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam, quân đội cách mạng, mang bản chất giai cấp công nhân đó là Đảng phải thực hiện lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với quân đội. Điều này là không phải bàn cãi. Trong các nguyên tắc lãnh đạo của Đảng thì tập trung dân chủ và tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách là hai nguyên tắc xương sống, đặc biệt quan trọng để quân đội luôn vững mạnh về mọi mặt, đủ sức hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao.

Trong suốt gần 80 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội ta, chưa có khi nào Đảng ta xem nhẹ các nguyên tắc lãnh đạo này. Thực hiện các nguyên tắc đó góp phần rất quan trọng để xây dựng quân đội vững mạnh, đồng thời cũng chính là yếu tố cốt lõi làm nên phẩm chất cao quý Bộ đội Cụ Hồ, là thành công của Đảng Cộng sản Việt Nam trong việc xây dựng QĐND Việt Nam vững mạnh về chính trị. Bộ đội Cụ Hồ là một giá trị văn hóa, được hun đúc kết tinh từ những giá trị phẩm chất cao quý nhất, đẹp đẽ nhất của lịch sử truyền thống Quân đội ta, trở thành bản chất, truyền thống tốt đẹp của quân đội cách mạng.

Thực tế cũng đã chứng minh, bất cứ tổ chức, cơ quan, đơn vị nào xa rời hoặc thực hiện không đúng hai nguyên tắc tập trung dân chủ và tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách thì đều dẫn đến vi phạm, sai phạm ở các cấp độ./.

BBC TIẾNG VIỆT MUỐN VIỆT NAM RA SAO?

BBC Tiếng Việt tiếp tục luận điệu kích động lòng dân Việt Nam, muốn Việt Nam phải chọn phe, chọn liên minh quân sự với Mỹ và NATO ư? Câu trả lời là "KHÔNG BAO GIỜ", đừng mơ nhé BBC.

  Lịch sử chống giặc ngoại xâm của dân tộc Việt Nam luôn tự lực cánh sinh, dựa vào sức mình là chính. Kháng chiến chống thực dân Pháp và chống đế quốc Mỹ xâm lược, chiến đấu bảo vệ biên giới Tây Nam và biên giới phía Bắc chúng tôi đã chiến thắng bằng sức mạnh tổng hợp, ý chí của cả một dân tộc anh hùng. Việt Nam yêu chuộng hòa bình, muốn làm bạn với tất cả các nước trên thế giới, không gây thù hằn, không là mối đe dọa của nước nào... Vậy chẳng lẽ lại có nước nào muốn xâm lược Việt Nam?

  Trong bối cảnh quốc tế ngày nay, nhất là việc tranh giành địa chính trị của các nước lớn thì Việt Nam chủ trương là nước trung lập, ngoại giao cây tre, chính sách quốc phòng "4 không" là hoàn toàn phù hợp, sáng suốt, đúng đắn. Bài học nhãn tiền Ukraine khi chọn nghiêng hẳn về phe Mỹ, NATO và hậu quả đang ra sao chả lẽ BBC không hiểu hay cố tình không hiểu, bày trò kích động nhằm mục đích xấu!

“CHÚNG TÔI KHÔNG CHỌN BÊN, CHÚNG TÔI CHỌN CHÍNH NGHĨA”

Trước thông tin Việt Nam cùng 33 nước bỏ phiếu trắng (trung lập) đối với Nghị quyết kêu gọi Nga rút khỏi Ukraine của Liên Hợp quốc, nhiều bạn nói rằng Việt Nam “theo kiểu ba phải, không dám lên án chủ nghĩa bá quyền, đế quốc”. Thực tế, nếu nghe toàn văn bài phát biểu của Đại sứ Đặng Hoàng Giang, Trưởng Phái đoàn thường trực Việt Nam tại LHQ, chúng ta sẽ hiểu rất rõ quan điểm của Việt Nam trong vấn đề này.

Cách đây hơn 1 năm, khi được hỏi về việc Việt Nam làm thế nào để "không đứng về phía bên này chống lại bên kia" trước sự lôi kéo của các nước lớn, Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh, lúc đó trên cương vị Thứ trưởng Bộ Quốc phòng đã trả lời "Chúng tôi chọn chính chúng tôi. Không ai và không nước nào có thể bắt Việt Nam phải chọn bên vì chúng tôi độc lập, tự chủ, giành và giữ độc lập bằng sức của mình".

Câu trả lời của Thượng tướng Nguyễn Chí Vinh thể hiện rõ quan điểm của Việt Nam trong quan hệ đối ngoại, nhất là trong bối cảnh tình hình thế giới đang có nhiều căng thẳng, bất ổn. Việt Nam luôn tôn trọng chủ quyền của quốc gia khác, chủ trương thực hiện 4 không: không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế.

Và trước Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, khi cả thế giới dõi theo bài phát biểu về quan điểm liên quan đến xung đột giữa Nga và Ucraina, Việt Nam lại một lần nữa khẳng định quan điểm nhất quán đó. “Lịch sử của chính dân tộc chúng tôi hứng chịu các cuộc chiến tranh đã nhiều lần chỉ ra rằng, các cuộc chiến tranh và xung đột đến tận ngày nay thường bắt nguồn từ các học thuyết lỗi thời đề cao chính trị cường quyền, tham vọng thống trị, áp đặt và sử dụng vũ lực để giải quyết các tranh chấp quốc tế. Với trải nghiệm của chính mình, Việt Nam thấu hiểu rằng chiến tranh và xung đột khi nổ ra chỉ gây ra đau khổ sâu sắc cho người dân và hậu quả nghiêm trọng đối với nhiều khía cạnh trong đời sống của các quốc gia có liên quan trực tiếp cũng như của các quốc gia khác. Mọi tranh chấp quốc tế cần được giải quyết bằng các biện pháp hòa bình, dựa trên các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế và Hiến chương LHQ".

Có thể thấy, với những bài học xương máu trong quan hệ đối ngoại, nhất là với các cường quốc, quan điểm của Việt Nam ngày hôm nay chính là hình mẫu để các quốc gia nghiên cứu, học hỏi và cùng ngồi lại để giải quyết những xung đột, bất ổn cho chính quốc gia mình và nhân loại./.

Thứ Tư, 20 tháng 4, 2022

VIỆT NAM THAM GIA VÀ NGHIÊM TÚC THỰC HIỆN CÁC NGHĨA VỤ, CAM KẾT QUỐC TẾ VỀ QUYỀN CON NGƯỜI

Hiện nay, Việt Nam là một trong những nước tích cực, chủ động tham gia vào hầu hết các công ước quốc tế về quyền con người do Liên hợp quốc và các tổ chức quốc tế khác ban hành. Tính đến năm 2021, Việt Nam đã phê chuẩn, gia nhập 7/9 công ước cơ bản của Liên hợp quốc về quyền con người; phê chuẩn, gia nhập 25 công ước của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), trong đó có 7/8 công ước cơ bản.

Việt Nam có những đóng góp tích cực trong việc thành lập Ủy ban liên chính phủ ASEAN về nhân quyền, Ủy ban ASEAN về bảo vệ và thúc đẩy các quyền của phụ nữ và trẻ em, thông qua tuyên bố Nhân quyền ASEAN.
Việt Nam đã đảm nhiệm thành công vai trò thành viên của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2014-2016. Nhiều lãnh đạo các nước thời điểm đó ca ngợi tinh thần trách nhiệm, sự năng động của Việt Nam. Việt Nam đã đóng góp nhiều giá trị vào sự tiến bộ của nhân loại trong bảo đảm quyền con người.

Với mong muốn đóng góp hiệu quả hơn nữa vào các nỗ lực chung của thế giới nhằm thúc đẩy và bảo vệ quyền con người, Việt Nam đã ứng cử làm thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023-2025. Việt Nam là ứng cử viên duy nhất được ASEAN đề cử.

Gần 10 năm sau nhiệm kỳ đầu tiên tại Hội đồng Nhân quyền, Việt Nam đã có nhiều tiến bộ vượt bậc trên mọi mặt đời sống xã hội và việc tham gia ứng cử Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023-2025 thể hiện quyết tâm, sự chủ động, tích cực và trách nhiệm của Việt Nam trong thúc đẩy quyền con người ở khu vực và trên thế giới.

NHẬN DIỆN MỘT SỐ THỦ ĐOẠN LỢI DỤNG QUAN HỆ DÂN TỘC XUYÊN BIÊN GIỚI ĐỂ CHỐNG PHÁ CÁCH MẠNG VIỆT NAM CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH HIỆN NAY

Âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng quan hệ dân tộc xuyên biên giới nói riêng nhằm chống phá cách mạng Việt Nam hiện nay vô cùng đa dạng, với tính chất vô cùng nguy hiểm, vừa công khai, vừa bí mật, với những thủ đoạn chủ yếu sau:

Một là, lợi dụng chính sách thông thoáng đối với việc đi lại, thăm thân; lợi dụng tình trạng kết hôn không giá thú, hoạt động tội phạm xuyên biên giới, để tuyên truyền, kích động đồng bào dân tộc thiểu số khu vực biên giới di cư tự do, vượt biên, xâm nhập trái phép, gây bất ổn về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, tạo cớ để can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam. 

Hai là, lợi dụng những vấn đề phức tạp trong lịch sử quan hệ tộc người, nhất là các tộc người cư trú ở khu vực biên giới, tuyên truyền, kích động đòi “ly khai”, “tự trị” và tìm cách “luật pháp hóa”, “quốc tế hóa” vấn đề dân tộc để can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam, khơi dậy những tồn tại trong quá khứ để kích động tư tưởng “ly khai”, “tự trị” của các dân tộc thiểu số trên một số địa bàn chiến lược của nước ta.

Ba là, núp dưới chiêu bài hoạt động “nhân đạo”, “từ thiện” của các tổ chức phi chính phủ để lôi kéo đồng bào là người dân tộc thiểu số, đồng bào theo tôn giáo chống phá chính quyền Việt Nam. Qua đó thu thập tình hình, báo cáo xuyên tạc chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng và Nhà nước Việt Nam; tiếp cận, chỉ đạo lực lượng phản động, cực đoan tiến hành những hoạt động tuyên truyền, kích động tư tưởng dân tộc hẹp hòi, đòi “ly khai”, “tự trị” nhằm gây mất ổn định chính trị - xã hội và tạo cớ can thiệp.

Bốn là, lợi dụng địa bàn biên giới của các nước láng giềng để hỗ trợ, chỉ đạo các lực lượng phản động là người dân tộc thiểu số sống lưu vong ở nước ngoài lôi kéo một bộ phận người dân tộc thiểu số từ Việt Nam tham gia thực tập vũ trang cướp chính quyền, xâm nhập, phá hoại các địa bàn chiến lược.

Để làm thất bại âm mưu, thủ đoạn xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị, hơn lúc nào hết, mỗi cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân cần hết sức tỉnh táo, đề cao cảnh giác để phát hiện, phòng chống, ngăn chặn kịp thời, hiệu quả và làm rõ, đầy lùi, đập tan thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch.

CÁC HIỆP ĐỊNH TRÊN TUYẾN BIÊN GIỚI, TRÊN BIỂN MÀ VIỆT NAM ĐÃ KÝ VỚI CÁC NƯỚC LÁNG GIỀNG

1. Hiệp định về vùng nước lịch sử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Vương quốc Campuchia, ký kết ngày 07 tháng 7 năm 1982.

2. Thỏa thuận về hợp tác thăm dò khai thác chung vùng chồng lấn Việt Nam - Malaixia, ký kết ngày 05 tháng 6 năm 1992.

3. Thỏa thuận về những nguyên tắc ứng xử ở khu vực quần đảo Trường Sa giữa Việt Nam và Philíppin, ký kết tháng 11 năm 1995.

4. Hiệp định giữa Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ Vương quốc Thái Lan về phân định ranh giới trên biển giữa hai nước trong vịnh Thái Lan, ký kết ngày 09 tháng 8 năm 1997.

5. Thỏa thuận thăm dò địa chấn giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa và nước Cộng hòa Philíppin tại khu vực quần đảo Trường Sa, ký kết ngày 14 tháng 3 năm 2005.

6. Bản ghi nhớ giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Malaixia về xây dựng Báo cáo chung theo Điều 76 Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982 và khảo sát chung, ký kết ngày 27 tháng 02 năm 2009.

7. Hiệp định phân định lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa trong Vịnh Bắc Bộ giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, ký kết ngày 25 tháng 12 năm 2000.

8. Hiệp định hợp tác nghề cá ở Vịnh Bắc Bộ giữa Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, ký kết ngày 25 tháng 12 năm 2000.

9. Thỏa thuận những nguyên tắc cơ b ản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, ký kết ngày 11 tháng 10 năm 2011.

10. Hiệp định phân định ranh giới thềm lục địa giữa Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước Cộng hòa Inđônêxia, ký kết ngày 26 tháng 6 năm 2003.

CHÍNH SÁCH “BỐN KHÔNG” VÀ CHỦ TRƯƠNG “BỐN TRÁNH” TRONG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH QUỐC PHÒNG Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

Sách trắng Quốc phòng Việt Nam 2019 khẳng định, chúng ta xây dựng sức mạnh quốc phòng dựa trên sức mạnh tổng hợp của cả nước, của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự quản lý, điều hành thống nhất của Nhà nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa; củng cố, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Chính sách Quốc phòng của Việt Nam mang tính chất hòa bình và tự vệ; kiên quyết, kiên trì đấu tranh giải quyết mọi tranh chấp, bất đồng bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế; tích cực, chủ động ngăn ngừa, đẩy lùi nguy cơ chiến tranh, thực hiện phương châm bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, sẵn sàng chống chiến tranh xâm lược. 

Chính sách quốc phòng của nước ta khẳng định: Việt Nam chủ trương không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế.

Chúng ta khẳng định chủ trương “bốn tránh”: (1) Tránh xung đột về quân sự; (2) Tránh bị cô lập về kinh tế; (3) Tránh bị cô lập về ngoại giao; (4) Tránh bị lệ thuộc về chính trị. 

Chính sách “bốn không”, chủ trương “bốn tránh”, là một dụng quan trọng trong hệ thống đồng bộ các quan điểm chiến lược của Việt Nam về chính sách quốc phòng và đối ngoại nhằm tạo lập và gìn giữ môi trường hòa bình, ổn định, góp phần huy động các nguồn lực bên ngoài để phát triển đất nước và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

KẾT QUẢ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM THỜI GIAN QUA

Cơ sở pháp lý ngày càng hoàn thiện. Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam được ghi nhận tại Điều 24 Hiến pháp năm 2013: “Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tôn giáo để vi phạm pháp luật”. Nội dung hiến định này của Việt Nam hoàn toàn tương thích với luật pháp quốc tế.

Một số nguyên tắc, chuẩn mực cơ bản về bảo vệ, đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và tự do không tín ngưỡng, tôn giáo đã được ghi nhận trong các luật và bộ luật quan trọng của Việt Nam như: Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 (Điều 9); Bộ luật Hình sự năm 2015 (Điều 116), Luật Giáo dục năm 2019 (Điều 13, 20); Luật Tổ chức Chính phủ năm 2015 (Điều 17); Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, v.v..

Theo đó, luật pháp Việt Nam có quy định rất rõ ràng về quyền và đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và tự do không tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người dân. Luật Tín ngưỡng, tôn giáo quy định rõ quyền tự do tin hoặc không tin theo tôn giáo, tự do bày tỏ niềm tin, thực hành nghi lễ tín ngưỡng, tôn giáo, tham gia lễ hội, học tập và thực hành giáo lý, giáo luật tôn giáo của mọi người; quyền của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc; quyền tự do tôn giáo của người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam. 

Đã từ lâu, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn quan tâm đến các hoạt động tôn giáo và ban hành những chủ trương, chính sách nhằm tạo điều kiện cho các tôn giáo hoạt động đúng tôn chỉ mục đích và Hiến pháp, pháp luật. Quan điểm nhất quán của Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Việt Nam là tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, quyền theo hoặc không theo tôn giáo của người dân, bảo đảm sự bình đẳng, không phân biệt đối xử vì lý do tôn giáo, tín ngưỡng, bảo hộ hoạt động của các tổ chức tôn giáo bằng pháp luật. . Tín đồ các tôn giáo ở Việt Nam hiện nay đều được thực hiện các sinh hoạt tôn giáo bình thường tại gia đình và các cơ sở tôn giáo hoặc các địa điểm hợp pháp khác theo nghi lễ truyền thống của tôn giáo mình. Các cá nhân và tổ chức tôn giáo được Nhà nước tạo thuận lợi và đảm bảo điều kiện sinh hoạt tôn giáo bình thường theo quy định của pháp luật như: tạo điều kiện cho các tôn giáo hoàn thiện cơ cấu tổ chức giáo hội; tạo điều kiện về cơ sở thờ tự và sinh hoạt tôn giáo, về kinh sách phục vụ cho việc tu học và hành đạo, về đào tạo, bồi dưỡng chức sắc, người hướng dẫn việc đạo, về mở rộng các mối quan hệ quốc tế, .v.v..

Đến năm 2018, Nhà nước Việt Nam đã công nhận và cấp đăng ký hoạt động cho 41 tổ chức thuộc 16 tôn giáo với 26.689.748 tín đồ, trong đó có 57.716 chức sắc, 130.167 chức việc; các tôn giáo ở Việt Nam có 29.854 cơ sở thờ tự và hơn 60 cơ sở đào tạo, trong đó có 17 trường đào tạo trình độ đại học. 

Mỗi năm, ở Việt Nam có hàng trăm đầu sách và các ấn phẩm tôn giáo, với hàng triệu bản in được xuất bản phục vụ nhu cầu học tập và tìm hiểu của người dân. Chỉ riêng hai tôn giáo là Công giáo và đạo Tin lành, trong năm 2020 đã xuất bản hơn 1 triệu bản Kinh Thánh. Hiện nay, các tổ chức tôn giáo ở Việt Nam có 15 tờ báo và tạp chí; hầu hết các tổ chức tôn giáo đều có các trang thông tin điện tử. 

Từ năm 2003 đến năm 2017, có 9.343 cơ sở thờ tự của tôn giáo ở Việt Nam được phục hồi và xây mới đến năm 2020, hầu hết cơ sở thờ tự của các tôn giáo đã được trùng tu, sửa chữa, trong đó có khoảng 1/3 cơ sở được tu sửa ở quy mô lớn. 

Thời gian gần đây, Nhà nước đã tạo điều kiện cho các tổ chức tôn giáo ở Việt Nam đăng cai tổ chức nhiều hoạt động tôn giáo quy mô lớn, mang tầm khu vực và quốc tế, diễn ra trong thời gian dài, như: Công giáo với Lễ Năm thánh 2010 và Hội nghị Liên Hội đồng Giám mục Á châu năm 2012; Phật giáo với Đại lễ Phật đản Vesak các năm 2008, 2014, 2019; đạo Tin lành với Lễ kỷ niệm 500 năm Tin lành cải chính năm 2017...

THỦ ĐOẠN CỦA NHỮNG KẺ GIẢ DANH VÌ DÂN, VÌ NƯỚC

Trên các diễn đàn, hội nhóm thời gian qua, chúng ta chứng kiến không ít luận điệu rêu rao rằng học thuyết Mác-Lênin là "lạc hậu", là "sai lầm". Họ tỏ ra tiếc nuối, hối hận vì đi theo “con đường CNXH” của Mác và phát đi những tiếng kêu lạc lõng kêu gọi xóa bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng ta là Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, đi theo con đường tư bản chủ nghĩa.

Khi đất nước diễn ra các sự kiện quan trọng như đại hội đảng, bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND các cấp, chúng ta lại thấy “một đội quân bàn phím” tán phát nhiều tài liệu với những luận điệu xuyên tạc, giả danh vì dân, vì nước để đòi: Xóa bỏ Điều 4 Hiến pháp năm 2013; đòi “đa nguyên chính trị”, “đa đảng đối lập”; đòi “phi chính trị hóa quân đội và công an”... Hay xuyên tạc rằng: “Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội nước ta là không chính danh, chỉ là hội nghị Đảng Cộng sản mở rộng”; “cuộc bầu cử chỉ do Đảng độc diễn, người dân không có vai trò gì”... Thực chất, đây là những thủ đoạn đòi xây dựng một thiết chế bầu cử theo kiểu phương Tây... Ngoài ra, chúng lợi dụng một số sai phạm của cán bộ, đảng viên, đặc biệt là cán bộ cấp cao, rồi hồ đồ lớn tiếng vu khống, dựng chuyện. Khi có những sự kiện ở khu vực, thế giới ảnh hưởng đến Việt Nam, chúng lại lên mạng xã hội, tập hợp những phần tử cơ hội, bất đồng chính kiến kêu gọi tuần hành phản đối, gây sức ép đối với hệ thống chính trị các cấp, làm rối loạn trật tự, an toàn xã hội...

Những việc làm, thủ đoạn trên của các thế lực thù địch trước hết nhằm tìm mọi cách xóa bỏ Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh-nền tảng tư tưởng của Đảng ta để thay thế bằng tư tưởng tư sản. Chúng xác định rõ, chính trị, tư tưởng là mặt trận hàng đầu, là khâu đột phá của chiến lược “diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng Việt Nam trong tình hình hiện nay. Do vậy, đây là mục tiêu nhất quán của chiến lược “diễn biến hòa bình” chống CNXH mà các thế lực thù địch hướng tới.

Thứ hai, chúng muốn xóa bỏ vị trí, sứ mệnh lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhằm thực hiện “đa nguyên chính trị”, “đa đảng đối lập”. Về thực chất, chúng mưu đồ hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; nhen nhóm lực lượng phản động chống đối để giành quyền thống trị xã hội cho giai cấp tư sản.

Ba là, chúng muốn gây mất ổn định về chính trị ở nước ta. Chúng tác động vào những cán bộ, đảng viên thiếu rèn luyện, tu dưỡng, từng bước làm tha hóa họ, dùng “cộng sản diệt cộng sản”, “cộng sản con diệt cộng sản cha”. Chúng không tiếc công sức và tiền bạc để thực hiện những hành vi lén lút, lôi kéo những người có chính kiến bất đồng, chống CNXH, chống sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, dùng họ như một “con rối chính trị” trong tay để thực hiện mưu đồ về chính trị.

Với quần chúng nhân dân, chúng kích động những vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền”, “dân tộc”, “tôn giáo”, tạo tâm lý hoài nghi, giảm dần niềm tin vào Đảng và hệ thống chính trị ở nước ta, gây mâu thuẫn nội bộ, làm mất sự đồng thuận xã hội.

Bốn là, bằng nhiều thủ đoạn bao vây, cấm vận kinh tế, lợi dụng các tổ chức quốc tế, tác động từng bước, làm suy yếu tiềm lực kinh tế, xâm nhập, chi phối, lũng đoạn kinh tế-tài chính, chuyển hóa nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta chệch hướng theo con đường tư bản chủ nghĩa.

Năm là, xóa bỏ nền văn hóa, đạo đức, lối sống của chế độ XHCN, nhường chỗ để văn hóa, đạo đức, lối sống tư sản xâm nhập vào. Từ đó làm tha hóa phẩm chất, đạo đức con người, làm băng hoại nhiều giá trị truyền thống của dân tộc ta, dẫn đến rối loạn an ninh chính trị, trận tự an toàn xã hội.

Sáu là, phi chính trị hóa lực lượng vũ trang, mục tiêu là loại bỏ sự lãnh đạo của Đảng ta đối với quân đội và công an, hòng tạo ra sự bất ổn chính trị trong nước và cao hơn là sụp đổ chế độ...

Sách “Phòng, chống “diễn biến hòa bình” trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” do Thiếu tướng, PGS, TS Nguyễn Bá Dương (chủ biên) nhận định: Thực chất của “diễn biến hòa bình” và chống “diễn biến hòa bình” là cuộc đấu tranh gay go, quyết liệt giữa giai cấp vô sản và tư sản, được biểu hiện ở sự đối kháng giữa hai hệ thống chính trị thế giới: XHCN và tư bản chủ nghĩa. Chừng nào còn tồn tại hai hình thái kinh tế-xã hội đối lập nhau, còn đấu tranh giai cấp giữa giai cấp vô sản và tư sản thì nhân loại tiến bộ phải phòng, chống chiến lược “diễn biến hòa bình".

NHẬN DIỆN, ỨNG XỬ VỚI “NGỰA NON”

Tính hãnh tiến, hiếu thắng thường xảy ra ở một bộ phận người trẻ, cán bộ trẻ. Nguyên nhân chính là do quá trình tu dưỡng, rèn luyện chưa đủ, non kém nhận thức, yếu bản lĩnh, cá nhân chủ nghĩa. Biểu hiện của những người này là thích thể hiện, thích được chú ý, muốn thành công bằng mọi giá, bất chấp thủ đoạn. Câu chuyện về anh thanh niên giả danh “thạc sĩ”, “bác sĩ” vào khu cách ly điều trị F0 ở TP Hồ Chí Minh đang gây xôn xao dư luận, cũng là một dạng biểu hiện của thói hãnh tiến, “ngựa non háu đá”...

Trẻ hóa đội ngũ cán bộ, trọng dụng cán bộ trẻ là chủ trương lớn của Đảng. Đó vừa là mục tiêu, vừa là giải pháp về xây dựng Đảng và hệ thống chính trị, nhằm không ngừng nâng cao năng lực, hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo của Đảng, xây dựng đất nước hùng cường. Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng xác định: “Phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao; ưu tiên phát triển nguồn nhân lực cho công tác lãnh đạo, quản lý và các lĩnh vực then chốt trên cơ sở nâng cao, tạo bước chuyển biến mạnh mẽ, toàn diện, cơ bản về chất lượng giáo dục, đào tạo gắn với cơ chế tuyển dụng, sử dụng, đãi ngộ nhân tài...”.

Để thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng về công tác cán bộ, công tác xây dựng Đảng, cần phải làm thật tốt công tác phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng, quy hoạch, bổ nhiệm, bố trí cán bộ. Đảng ta tin tưởng, kỳ vọng vào cán bộ trẻ, nhưng đó phải là những nhân tố hội tụ đủ cả đức lẫn tài. Chính đội ngũ cán bộ trẻ, nguồn nhân lực trẻ của Đảng trong cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư là lực lượng chủ lực tạo bước phát triển mới của Đảng về trí tuệ, bản lĩnh chính trị. Để Đảng ta thực sự là đạo đức, là văn minh, gắn bó mật thiết với nhân dân, đủ uy tín và năng lực lãnh đạo toàn dân thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đòi hỏi đội ngũ cán bộ trẻ phải thực sự là đạo đức, là văn minh từ tư duy, lời nói, việc làm. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nói: “Cán bộ dù ở vị trí nào cũng phải luôn luôn có ý thức đầy đủ về trách nhiệm của mình, làm "đúng vai, thuộc bài", thật sự có chất lượng, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao; gắn bó mật thiết với nhân dân, được nhân dân tin yêu, quý trọng”.

Đến Đại hội lần thứ XIII, hệ thống các quy định, hướng dẫn, nghị quyết... của Đảng về công tác cán bộ, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng không ngừng được bổ sung, hoàn thiện, bảo đảm chặt chẽ, khoa học. Thực hiện nghiêm các quy định, Điều lệ Đảng, sẽ không có chuyện bố trí sai người, sai việc. Tuy nhiên, mầm mống chủ nghĩa cá nhân, các biểu hiện “lợi ích nhóm”, chạy chức, chạy quyền... trong hệ thống chính trị vẫn luôn là nguy cơ gây tổn hại đến uy tín, danh dự của Đảng. Bởi vậy, từng tổ chức đảng, mỗi cán bộ, đảng viên phải tiếp tục đẩy mạnh công tác giáo dục, quán triệt, học tập nghị quyết của Đảng. Chỉ khi việc học tập trở thành nhu cầu tự thân, việc làm tự giác của mỗi cán bộ, đảng viên thì chủ trương, chính sách, đặc biệt là trong công tác cán bộ, mới thực sự có hiệu lực, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.

Đảng khuyến khích và có chủ trương bảo vệ những cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám nói, dám làm, luôn nỗ lực hành động vì lợi ích chung. Đây là những đặc trưng, thế mạnh của cán bộ trẻ. Sự năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám đột phá... hoàn toàn đối lập với thói hãnh tiến, hiếu thắng, làm liều. Phân biệt những thuộc tính này đối với cán bộ trên thực tế không khó. Những cán bộ hội tụ đủ cả đức và tài, sự năng động, sáng tạo, đột phá của họ luôn hướng đến lợi ích chung, làm lợi cho tập thể, đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên trên hết. Ngược lại, thói “ngựa non háu đá” của một bộ phận cán bộ hãnh tiến, hiếu thắng, thực chất là biểu hiện, hệ quả của tư tưởng cá nhân chủ nghĩa. “Ngựa non háu đá” thì lực của những cú đá chỉ đủ lắc rung nhành cây, ngọn cỏ. Vấn đề là, khi đã biết đó là “ngựa non” thì tuyệt đối đừng để nó “sổng” vào khu hoa màu, tác hại khôn lường.

NHỮNG “KHÚC CUA” LỊCH SỬ VÀ ĐẢNG KHÔNG GIẤU KHUYẾT ĐIỂM

Thực tiễn phong phú, sinh động của cách mạng Việt Nam trong 92 năm qua đã chứng minh sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi, lập nên nhiều kỳ tích trong các thời kỳ cách mạng.

Thế nhưng, trong quá trình lãnh đạo cách mạng, trước những “khúc cua” lịch sử ở từng giai đoạn, hoàn cảnh cụ thể, Đảng ta cũng từng mắc phải những sai lầm, khuyết điểm, thậm chí là nghiêm trọng. Trong cuộc cải cách ruộng đất và chỉnh đốn Đảng ở miền Bắc (1953-1956), khi nhận ra những sai lầm, Trung ương Đảng đã họp tự kiểm điểm suốt một tháng (từ ngày 25-8 đến 24-9-1956). Trung ương Đảng thẳng thắn thừa nhận: “Đó là những sai lầm nghiêm trọng, phổ biến, kéo dài về nhiều mặt, những sai lầm về những vấn đề nguyên tắc, trái với chính sách của Đảng, trái với nguyên tắc và điều lệ của một đảng theo Chủ nghĩa Mác-Lênin, trái với chế độ pháp luật của nhà nước dân chủ nhân dân”(*). Các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị phụ trách công tác này đều tự phê bình một cách sâu sắc và tự nhận hình thức kỷ luật rất nghiêm khắc. Tổng Bí thư Trường Chinh xin từ chức. Các đồng chí Lê Văn Lương, Hoàng Quốc Việt xin rút khỏi Bộ Chính trị. Sau khi hội nghị kết thúc, Đảng tổ chức cuộc mít tinh lớn tại Nhà hát Lớn Hà Nội, công khai thừa nhận sai lầm trước nhân dân.

Sau hơn 10 năm đất nước thống nhất, cả nước đi lên xây dựng CNXH nhưng rơi vào khủng hoảng kinh tế-xã hội, Đảng ta một lần nữa tiến hành đợt tự phê bình và phê bình nghiêm túc và sâu sắc. Với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật, Đại hội VI của Đảng (năm 1986) dũng cảm nhận thấy “những sai lầm nghiêm trọng và kéo dài về chủ trương, chính sách lớn, sai lầm về chỉ đạo chiến lược và tổ chức thực hiện”. Đảng tự thấy mình mắc “bệnh chủ quan, duy ý chí, lối suy nghĩ và hành động giản đơn, nóng vội chạy theo nguyện vọng chủ quan, là khuynh hướng buông lỏng trong quản lý kinh tế-xã hội, không chấp hành nghiêm chỉnh đường lối và nguyên tắc của Đảng”.  Những năm đầu của thời kỳ đổi mới, một số cán bộ, đảng viên muốn rập khuôn kinh nghiệm cải tổ, cải cách của nước ngoài, nhất là trong đổi mới chính trị, đổi mới kinh tế và hoạt động báo chí, văn hóa, văn nghệ. Đã chớm nở khuynh hướng đòi “dân chủ, công khai" một cách cực đoan; khuynh hướng phủ nhận quá khứ, bôi đen hiện thực; khuynh hướng muốn chuyển nhanh nhất loạt sang cơ chế thị trường tự do, muốn tư nhân hóa hoàn toàn, "thương mại hóa" báo chí, xuất bản... Những khuynh hướng này đã được ngăn chặn, uốn nắn kịp thời. Các nghị quyết, chỉ thị của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã định hướng tư tưởng trong toàn Đảng và xã hội. Thực sự có cuộc đấu tranh tư tưởng sâu rộng để đổi mới và giữ vững định hướng XHCN.

Thực tế Đảng ta cũng đã phạm những khuyết điểm, sai lầm. Điều quan trọng là Đảng ta không che giấu khuyết điểm, sai lầm, mà công khai thừa nhận, thành tâm lắng nghe ý kiến nhân dân. Và một khi phát hiện và nhận ra sai lầm thì quyết tâm sửa chữa để phấn đấu đi lên, từ đó Đảng ngày càng trưởng thành, lớn mạnh.

Có thể khẳng định, có được đường lối chính trị đúng trong hoàn cảnh phát triển bình thường đã là việc khó; ở những bước ngoặt của lịch sử, trong bối cảnh đất nước và quốc tế có những diễn biến nhanh chóng, phức tạp, thì việc Đảng ta xác định được một đường lối chính trị đúng và bảo đảm cho đường lối đó thành hiện thực càng khó khăn hơn. Nó là kết quả của trí tuệ, tài năng, phẩm chất, khí phách. Nó trải qua một quá trình suy tư gian khổ, tìm tòi, đổi mới tư duy lý luận, tổng kết thực tiễn, có khi phải làm đi làm lại nhiều lần, thậm chí có lúc đã không tránh khỏi sai lầm và tạm thời thất bại.

KHẮC PHỤC “NHẠT ĐẢNG, KHÔ ĐOÀN, XA RỜI CHÍNH TRỊ”

Phát biểu tại Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ XI, nhiệm kỳ 2017-2022, bên cạnh khẳng định thành tích của tuổi trẻ Việt Nam và Đoàn là rất to lớn và đáng tự hào, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chỉ rõ trách nhiệm của Đoàn trong định hướng giáo dục thanh niên là “tránh nhạt Đảng, khô Đoàn, xa rời chính trị”. Sự chỉ đạo, lời căn dặn của người lãnh đạo cao nhất Đảng ta rất súc tích, vừa mang tính khái quát cao, vừa cụ thể.

Tình trạng “nhạt Đảng, khô Đoàn, xa rời chính trị” xuất phát từ thực tế công tác Đoàn và phong trào thanh niên còn nhiều hạn chế, chậm đổi mới. Một số hoạt động của Đoàn còn nặng về bề nổi, dàn trải, hình thức, kết quả thiếu bền vững. Một bộ phận thanh niên giảm sút niềm tin, phai nhạt lý tưởng cách mạng, sống thực dụng, xa rời truyền thống tốt đẹp của dân tộc...

Sau 5 năm nhìn lại, với tinh thần khách quan, thẳng thắn, nghiêm túc, chúng ta thấy rằng, nhiều mặt hạn chế, bất cập trong công tác Đoàn và phong trào thanh niên vẫn chậm được khắc phục. Tại các hội nghị góp ý xây dựng Văn kiện Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ XII do Trung ương Đoàn tổ chức, nhiều đại biểu đã kiến nghị các giải pháp nhằm khắc phục tình trạng “nhạt Đảng, khô Đoàn, xa rời chính trị” trong một bộ phận thanh niên hiện nay.

Đại hội đoàn các cấp tiến tới Đại hội Đoàn toàn quốc nhiệm kỳ 2022-2027 là đợt sinh hoạt chính trị, văn hóa sâu rộng, có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với thanh niên cả nước. Đây cũng là giai đoạn thanh niên Việt Nam thể hiện sứ mệnh là lực lượng chủ lực của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, trọng tâm là công cuộc chuyển đổi số, thúc đẩy quá trình hội nhập quốc tế của đất nước ngày càng sâu rộng. Với phương châm “lấy xây để chống”, việc củng cố trận địa tư tưởng của Đảng trong thanh niên phải được coi trọng, đặt lên hàng đầu. Nghiên cứu, tìm kiếm các mô hình tập hợp, giáo dục thanh, thiếu niên phù hợp với nguyện vọng, mục tiêu phấn đấu của tuổi trẻ, tích cực, mạnh dạn, quyết liệt đổi mới để công tác Đoàn và phong trào thanh niên thực sự hấp dẫn, thu hút thanh niên, là những vấn đề đã và đang được Trung ương Đoàn lấy ý kiến rộng rãi.

Với tư cách là “Đội dự bị tin cậy của Ðảng, thường xuyên bổ sung lực lượng trẻ cho Ðảng, kế tục sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Ðảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh”, thanh niên Việt Nam phải luôn là lực lượng nòng cốt, đi đầu trong nhiệm vụ đấu tranh chống các quan điểm, khuynh hướng chính trị sai trái, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng. Để mỗi ĐVTN thực sự là một chiến sĩ trên mặt trận đấu tranh phức tạp, nhiều thách thức này, tổ chức đoàn các cấp phải khắc phục tình trạng hình thức, hời hợt, thiếu bền vững trong các phong trào, chương trình hành động.

Biến quy trình giáo dục thành tự giáo dục để ĐVTN có ý thức tự giác, tự chủ trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, nâng cao ý thức, thái độ, kỹ năng đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thông tin xấu độc của các thế lực thù địch trên không gian mạng là những mục tiêu, giải pháp tổ chức đoàn các cấp dưới sự chỉ đạo của Trung ương Đoàn cần có các mô hình thực hiện một cách bài bản, kiên trì, hiệu quả.

Thanh niên vừa là chủ thể, vừa là đối tượng của không gian mạng. Khi ĐVTN được giáo dục, trang bị đầy đủ lý luận chính trị, được tập hợp, thống nhất dưới ngọn cờ Đoàn, sẽ tạo nên sức đề kháng mạnh mẽ, là bức tường thành vững chắc của trận địa tư tưởng, ngăn chặn, đẩy lùi các khuynh hướng lệch lạc, giữ vững rường cột nước nhà. Giáo dục, vận động ĐVTN về thái độ sử dụng mạng xã hội, về văn hóa ứng xử trên không gian mạng để ngày hội lớn của tuổi trẻ cả nước trở thành sắc màu, nội dung chủ đạo trên các tài khoản cá nhân và các trang, nhóm trên mạng xã hội là điều cần làm của tổ chức đoàn các cấp trong giai đoạn hiện nay. Đó cũng là cách lấy xây để chống, ngăn chặn sự xâm nhập của các thông tin độc hại, phản động mà các thế lực thù địch đang hướng vào thanh niên.

NGỤY BIỆN THÔNG TIN, LÈO LÁI DƯ LUẬN

Giới trẻ nói chung, đoàn viên thanh niên (ĐVTN) nói riêng vừa là mục tiêu, đối tượng, vừa là công cụ được các thế lực thù địch triệt để khai thác, lợi dụng, tập trung chống phá. Các chiến dịch tuyên truyền, chống phá của các thế lực thù địch từ trước đến nay đều đặt giới trẻ ở vị trí trung tâm, trọng tâm. Mục tiêu của chúng là hủy hoại “cánh tay đắc lực của Đảng”, làm tan rã “đội dự bị tin cậy”, phá vỡ “rường cột” đất nước. Chúng muốn thanh niên Việt Nam bị mất phương hướng, bị kích động, quay lưng, phai nhạt lý tưởng của Đảng, đi theo con đường phản nước, hại dân... 

Trong chiến lược “diễn biến hòa bình” xuyên suốt ấy, chúng thường bám vào các sự kiện chính trị quan trọng của đất nước và diễn biến đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội theo dòng thời sự chủ lưu để tạo cớ đào rộng, khoét sâu, ngụy tạo chứng cứ gây nhiễu thông tin, nội công ngoại kích, lèo lái dư luận theo ý đồ, kịch bản đã được vạch sẵn. Bám vào đại hội đoàn các cấp, tiến tới Đại hội đại biểu Đoàn TNCS Hồ Chí Minh lần thứ XII và kỷ niệm 91 năm truyền thống của Đoàn để đẩy mạnh chiến dịch công kích, xuyên tạc, chống phá là hoạt động nằm trong chuỗi chiến lược ấy. Bình tĩnh, sáng suốt nhận diện rõ âm mưu, thủ đoạn để có phương án đấu tranh, ngăn chặn, làm thất bại âm mưu của các thế lực thù địch là trách nhiệm, bổn phận trước hết của mỗi tổ chức đoàn, mỗi ĐVTN yêu nước.  Theo dõi tình hình, chúng ta thấy rõ, sau những chiến dịch truyền thông dồn dập trên không gian mạng chống phá Đại hội XIII của Đảng, cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp, xuyên tạc công tác phòng, chống dịch Covid-19... chiến dịch công kích, chống phá của các thế lực thù địch hiện nay đang chĩa mũi nhọn vào tuổi trẻ Việt Nam, vào tổ chức Đoàn TNCS Hồ Chí Minh.

Cụ thể những ngày gần đây, bám vào tình hình thời sự nóng bỏng từ cuộc xung đột vũ trang Nga-Ukraine, tình hình phức tạp trên Biển Đông và những vụ án, vụ việc tiêu cực trong nước... chúng lồng ghép thông tin, bình luận, ngụy biện, lèo lái dư luận xã hội nhằm phủ nhận vai trò của Đoàn đối với tuổi trẻ đất nước, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng. Bằng các hình thức “tọa đàm”, phỏng vấn, lấy ý kiến thế hệ trẻ Việt Nam, chúng sắp xếp sẵn những đối tượng thanh niên là người Việt Nam ở nước ngoài có tư tưởng chống đối Đảng, Nhà nước để gieo rắc, truyền tải tư tưởng phản động. Từ ý kiến cá nhân trên một số diễn đàn, chúng đòi xóa bỏ Huy hiệu Đoàn, kêu gọi tuổi trẻ tẩy chay tổ chức đoàn và các phong trào thanh niên.

Từ việc ngụy biện cho rằng, Đoàn chỉ còn là “cái vỏ hình thức”, không còn phù hợp với tuổi trẻ thời hội nhập quốc tế, chúng kêu gọi thanh niên, trí thức trẻ đi theo trào lưu “cấp tiến”, tư tưởng “tự do”, “dân chủ”, tung hô những bạn trẻ lầm đường lạc lối là những “anh hùng”. Nhiều phương tiện truyền thông hải ngoại phát tiếng Việt gọi những đối tượng này bằng những danh xưng lộng ngôn, ngoa ngôn, kiểu như: “Nhà hoạt động dân chủ”, “nhà đấu tranh nhân quyền”, “nhà hoạt động xã hội”, “nhà bất đồng chính kiến”, “nhà phản biện xã hội” v.v.., cổ xúy trào lưu lợi dụng tự do ngôn luận để “phản biện”, lôi kéo thanh niên rời xa Đảng. Thời gian qua, có không ít đối tượng núp bóng một số tổ chức phi chính phủ, lợi dụng các hoạt động từ thiện, bảo vệ môi trường để tập hợp, lôi kéo thanh niên tham gia các khóa đào tạo ở nước ngoài nhằm “tẩy não”, gieo rắc tư tưởng cực đoan, chống đối Đảng, Nhà nước, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng.

Trên thực tế, không ít bạn trẻ non kém bản lĩnh, nhẹ dạ cả tin, ăn phải thứ “bánh vẽ” ảo tưởng, đã tha hóa về nhân cách, trở thành công cụ đắc lực cho các thế lực thù địch lợi dụng. Có thể thấy, chiến lược, thủ đoạn của các  thế lực thù địch nhằm “tẩy não” giới trẻ Việt Nam đã và đang được điều chỉnh, thay đổi ngày càng tinh vi nhằm chuyển hóa tư tưởng, thúc đẩy quá trình “tự diễn biến” ở thế hệ rường cột nước nhà. Thực tế đó đòi hỏi chúng ta phải luôn tỉnh táo, chú trọng các hình thức, giải pháp củng cố trận địa tư tưởng trong thanh niên, nhất là thanh niên giới trí thức và công nhân, người lao động trong các khu công nghiệp, khu chế xuất, giữ vững lực lượng rường cột nước nhà.

BÁC HỒ - CẢ MỘT ĐỜI VÌ NƯỚC, VÌ NON

Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói:

Người không có gia đình riêng. Gia đình của Người là Tổ quốc và Nhân dân! Cho nên, Hồ Chí Minh mãi mãi là tấm gương về nhân cách một con người thời đại cho mọi thế hệ tiếp sau.

Giáp tết âm lịch 1951, Bác đến thăm Văn phòng phủ Thủ tướng đang ở bản Vèn (Bắc Cạn). Trong lúc mọi người đang quây quần nói chuyện, bỗng một đồng chí đứng dậy xin phép phát biểu: "Thưa Bác, tại sao Bác không lập gia đình?", Bác trả lời: "Bác cũng là người như các chú, Bác cũng muốn có đời sống gia đình đầm ấm. Nhưng các chú xem hoàn cảnh của Bác không cho phép Bác lập được gia đình, đó là điều thiệt thòi cho Bác mà Bác đâu có muốn thế!", rồi Bác cười: "Bây giờ thì muộn rồi. Bây giờ gia đình Bác là tất cả các cô, các chú, là tất cả bà con đồng bào. Không có gia đình riêng thì Bác lấy gia đình chung làm cái vui của Bác..."

Nữ sử gia người Mỹ J. Stension đã tự bỏ tiền túi ra đi vòng quanh thế giới, theo dấu chân Nguyễn Ái Quốc và tìm được khá nhiều tư liệu gốc về những năm tháng Người bôn ba ở nước ngoài. Đặc biệt bà cũng rất chú ý thu thập thông tin về người yêu của anh Nguyễn Ái Quốc- Hồ Chí Minh? Và cuối cùng bà kết luận: "Người ta thấy Bác Hồ là một người cũng như mọi người: Cũng có khát vọng tình yêu, cũng mong muốn có mái ấm gia đình. Nếu ai đó cho rằng những điều nhỏ bé này làm Bác Hồ kém vĩ đại đi là không đúng, vì chính những cái đó làm cho Bác càng thêm vĩ đại, nhất là trong thời buổi hiện nay, một số đông người đã tha hoá do chạy theo cuộc sống hưởng thụ vật chất, bất chấp cả nhân phẩm đạo đức, coi sự hưởng thụ là mục đích của cuộc sống... Cho nên, Hồ Chí Minh mãi mãi là tấm gương về nhân cách một con người thời đại cho mọi thế hệ tiếp sau”.