Thứ Ba, 26 tháng 12, 2023

CHÍNH SÁCH DÂN TỘC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY DỰA TRÊN CƠ SỞ KHOA HỌC NÀO?

Một là, quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về dân tộc và giải quyết vấn đề dân tộc. Đây là cơ sở lý luận quan trọng để Đảng và Nhà nước ta xây dựng chính sách dân tộc. Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh chỉ rõ: Vấn đề dân tộc và giải quyết vấn đề dân tộc có vị trí chiến lược, tạo lực lượng cho cách mạng xã hội chủ nghĩa. Giải quyết vấn đề dân tộc phụ thuộc và phục vụ cho vấn đề giai cấp của giai cấp công nhân, phù hợp với lợi ích cơ bản của nhân dân lao động và của dân tộc, vừa là mục đích trước mắt vừa là nhiệm vụ lâu dài; vừa là mục tiêu, vừa là động lực của cách mạng xã hội chủ nghĩa. Nguyên tắc giải quyết vấn đề dân tộc trong chủ nghĩa xã hội: Các dân tộc hoàn toàn bình đẳng, các dân tộc được quyền tự quyết và liên hiệp công nhân các dân tộc lại; phát huy được khả năng vươn lên của các dân tộc, phù hợp đặc thù từng dân tộc, từng vùng miền; quan tâm đào tạo, bồi dưỡng, phát triển đội ngũ cán bộ các tộc người thiểu số 

Hai là, từ đặc điểm cơ bản của các dân tộc và vị trí chiến lược của địa bàn vùng dân tộc thiểu số và miền núi nước ta trong giai đoạn hiện nay. Các dân tộc ở n­ước ta là một cộng đồng thống nhất trong đa dạng, cư­ trú xen kẽ, phân tán, trình độ phát triển kinh tế - xã hội không đồng đều. Khu vực miền núi, biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số nước ta có vị trí chiến lược, đặc biệt quan trọng về kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, quốc phòng an ninh, đối ngoại và bảo vệ môi trường sinh thái. Đặc điểm này đòi hỏi chính sách dân tộc phải vừa mang tính toàn diện, vừa mang tính đặc thù, vừa mang tính trước mắt, vừa mang tính lâu dài…Đây là cơ sở thực tiễn quan trọng của chính sách nhằm bảo đảm tính phù hợp, hiệu quả của hệ thống chính sách dân tộc.   

 Ba là, từ bài học kinh nghiệm giải quyết vấn đề dân tộc của các quốc gia trên thế giới và của Việt Nam. Đó là những bài học lớn: Lợi ích quốc gia, dân tộc là cao nhất; nhà nước giải quyết tốt, hài hòa lợi ích của các dân tộc thiểu số; cần thể chế hóa và bảo đảm thực thi một cách nghiêm túc, hiệu quả các vấn đề liên quan đến dân tộc; vấn đề căn bản nhất trong xử lý quan hệ giữa dân tộc đa số vi các dân tộc thiểu số; phải lấy phát triển kinh tế các dân tộc thiểu số làm khâu đột phá, làm cơ s để giải quyết các vấn đề khác trong phát triển, như: chính trị, văn hóa trong bối cảnh quốc gia đa dân tộc cùng sinh sông.

Bốn là, xuất phát từ thực tiễn thực hiện chính sách dân tộc ở Việt Nam thời gian qua và yêu cầu phát triển vùng dân tộc thiểu số và miền núi trong những năm tới. Những năm qua, việc thực hiện chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta  có nhiều chuyển biến tích cực, đạt được nhiều thành tựu toàn diện. Tuy nhiên, việc thực hiện chính sách dân tộc còn không ít khuyết điểm, hạn chế. Trong giai đoạn hiện nay, nhiệm vụ phát triển toàn diện, bền vững vùng dân tộc thiểu số và miền núi đã và đang đặt ra những yêu cầu mới. Bởi thế, đây là cơ sở quan trọng để xây dựng, thực hiện hệ thống chính sách dân tộc đồng bộ, hiệu quả nhằm phát triển nhanh và bền vững kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh trên địa bàn vùng dân tộc thiểu số và miền núi, góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. 

PHÂN BIỆT CÔNG TÁC DÂN TỘC VÀ CÔNG TÁC DÂN VẬN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY?

Công tác dân tộc và công tác dân vận là hai khái niệm có mối liên hệ chặt chẽ với nhau nhưng không đồng nhất. Dân vận là khái niệm chỉ công tác vận động nhân dân tham gia làm cách mạng, hay còn gọi là công tác vận động quần chúng. Công tác dân vận là tổng thể các hoạt động có mục đích, tổ chức vận động nhân dân tham gia làm cách mạng, bao gồm cả tuyên truyền, giảng giải, thuyết phục, hướng dẫn, tổ chức; vừa là phong trào xã hội, từ thi đua yêu nước, vận động đoàn kết, vừa là công tác thực tế hằng ngày. Thực chất nhằm làm cho mọi người dân trưởng thành cả ý thức dân chủ và năng lực làm chủ, tích cực tham gia xây dựng Đảng, chính quyền nhà nước, xây dựng các tổ chức, đoàn thể của mình; chấp hành và tham gia thực hiện các chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước. “Công tác dân vận là nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược đối với sự nghiệp cách mạng của đất nước; là điều kiện quan trọng bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng, củng cố và tăng cường mối quan hệ máu thịt giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân.”[1]  

Đối tượng của công tác dân vận là mọi tầng lớp nhân dân, đối tượng chủ yếu của công tác dân tộc đồng bào các dân tộc thiểu số. Như vậy, đồng bào các dân tộc thiểu số là đối tượng chung của công tác dân tộc và công tác dân vận. Mục đích của công tác dân vận nhằm “củng cố vững chắc lòng tin của nhân dân đối với Đảng; tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc và mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với nhân dân; tập hợp, vận động nhân dân thực hiện tốt các chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước; phát huy sức mạnh to lớn của nhân dân, tạo phong trào cách mạng rộng lớn xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.”[2]. Mục đích công tác dân tộc vừa thực hiện mục đích công tác dân vận chung, mà còn nhằm trực tiếp hiện thực hóa các mục tiêu kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại trên địa bàn vùng dân tộc thiểu số và miền núi, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, từng bước thực hiện sự bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ trên tất cả các lĩnh vực giữa các dân tộc trong cộng đồng 54 dân tộc Việt Nam.

Tuy có mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ riêng, nhưng trong quá trình thực hiện, công tác dân tộc và công tác dân vận ở vùng dân tộc thiểu có sự đan xen, hỗ trợ lẫn nhau. Công tác dân vận được xác định là một biện pháp, phương thức cơ bản, chủ yếu của công tác dân tộc, góp phần nâng cao nhận thức cho đồng bào các dân tộc thiểu số, mà còn nhằm hiện thực hóa các mục tiêu kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại trên địa bàn vùng dân tộc thiểu số và miền núi, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, từng bước thực hiện sự bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ trên tất cả các lĩnh vực giữa các dân tộc trong cộng đồng 54 dân tộc Việt Nam. Ngược lại, công tác dân tộc tiến hành có chất lượng, góp phần nâng cao hiệu quả công tác dân vận.



[1] Nghị quyết số 25-NQ/TW, ngày 3/6/2013, Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) về tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân vận trong tình hình mới

[2] Nghị quyết Số 25-NQ/TW, ngày 3/6/2013, Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) về tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân vận trong tình hình mới

  

PHÂN BIỆT CHÍNH SÁCH DÂN TỘC VỚI CHÍNH SÁCH XÃ HỘI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY?

Chính sách xã hội là bộ phận cấu thành chính sách chung của Đảng, Nhà nước trong việc giải quyết và quản lý các vấn đề xã hội bên cạnh các vấn đề chính trị, kinh tế. Chính sách xã hội bao trùm mọi mặt đời sống của con người dưới góc độ xã hội, từ điều kiện lao động dến đời sống sinh hoạt, giáo dục...

Chính sách xã hội luôn thống nhất biện chứng với chính sách kinh tế. Trình độ phát triển kinh tế là tiền đề để phát triển chính sách xã hội và ngược lại. Trong điều kiện của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, chính sách xã hội hướng tới sự công bằng xã hội, phải đảm bảo sự bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ giữa các thành phần kinh tế trước pháp luật.  

Chính sách dân tộc và chính sách xã hội ở nước ta có quan hệ mật thiết với nhau, song có có sự khác nhau nhất định về nội dung, đối tượng thụ hưởng và phạm vi áp dụng. Nội dung chính sách dân tộc toàn diện trên tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội, đối tượng thụ hưởng chủ yếu là đồng bào các dân tộc thiểu số, phạm vi áp dụng là vùng đồng bào các dân tộc thiểu số. Nội dung của chính sách xã hội tập trung chủ yếu giải quyết các vấn đề xã hội.

Đối tượng thụ hưởng và phạm vi áp dụng của chính sách xã hội rộng hơn, bao gồm mọi đối tượng, cả dân tộc đa số và thiểu số, cả khu vực miền núi, thành thị và nông thôn. Trong khi chính sách dân tộc chủ yếu dành cho đồng bào các dân tộc thiểu số, với phạm vi là vùng dân tộc thiểu số và miền núi. Trong phạm vi từng chính sách cụ thể, sự phân biệt chính sách dân tộc và chính sách xã hội mang tính tương đối. 

VIỆT NAM ĐẠT NHIỀU THÀNH TỰU VỀ THÚC ĐẨY QUYỀN CON NGƯỜI TRÊN THẾ GIỚI

Không những đạt được nhiều thành tựu về bảo đảm quyền con người, trong nhiều năm qua, Việt Nam còn tích cực, chủ động và có nhiều đóng góp trong lĩnh vực thúc đẩy và bảo vệ quyền con người trong khu vực và thế giới. Điều này thể hiện rõ thông qua mức độ tín nhiệm với tỷ lệ phiếu đồng ‎thuận rất cao những lần Việt Nam gia nhập Hội đồng nhân quyền Liên hợp quốc và ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc.


Trong giai đoạn 2014-2016, Việt Nam đã đảm nhiệm thành công vai trò thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc, góp phần bảo vệ lợi ích quốc gia, nâng cao vị thế, uy tín của đất nước. Việt Nam không chỉ tham gia đồng tác giả, đồng bảo trợ hàng chục nghị quyết của Hội đồng Nhân quyền, tập trung vào các lĩnh vực quyền kinh tế, xã hội, văn hóa, bảo vệ các nhóm dễ bị tổn thương, bình đẳng giới, chống phân biệt đối xử, xóa bỏ các biện pháp cấm vận đơn phương ảnh hưởng đến thụ hưởng quyền con người, quyền của nông dân, vấn đề dân chủ hóa đời sống quốc tế và tăng cường đoàn kết quốc tế, mà còn có nhiều đóng góp, làm cầu nối thúc đẩy hợp tác và đối thoại giữa các nước, các nhóm nước nhằm thúc đẩy cách tiếp cận cân bằng, tiến bộ, hướng tới con người của Hội đồng Nhân quyền trên những vấn đề còn khác biệt (ví dụ như về quyền sức khỏe sinh sản, chống bạo hành với phụ nữ, xóa bỏ phân biệt đối xử và bạo lực dựa trên cơ sở bình đẳng giới và xu hướng tình dục…) Vừa qua, với số phiếu cao, Việt Nam đã trúng cử làm thành viên Hội đồng Nhân quyền, nhiệm kỳ 2023-2025. 


Tại khu vực, uy tín của Việt Nam được thể hiện qua vai trò Chủ tịch Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) 2020, đồng thời là Chủ tịch Ủy ban liên chính phủ ASEAN về nhân quyền (AICHR). Trong cuộc họp đặc biệt lần hai của AICHR theo hình thức trực tuyến với sự tham dự của đại diện AICHR, các nước thành viên ASEAN và Ban Thư ký ASEAN, diễn ra cuối tháng 11/2020, các nước đánh giá rất cao vai trò của Việt Nam trên cương vị Chủ tịch AICHR 2020, đã dẫn dắt hoạt động của AICHR trong giai đoạn đặc biệt khó khăn do tác động của đại dịch COVID-19, không chỉ giúp duy trì đà hợp tác của AICHR và ứng phó hiệu quả trước các tác động của đại dịch, mà còn thúc đẩy soạn thảo và thông qua một loạt các văn kiện quan trọng định hướng hợp tác AICHR trong thời gian tới.quyền  

HỆ THỐNG PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN CON NGƯỜI Ở NƯỚC TA NGÀY CÀNG HOÀN THIỆN

Thời gian qua, các thế lực thù địch có nhiều luận điệu xuyên tạc, bóp méo thành tựu thực hiện quyền con người của Đảng, Nhà nước ta. Trong đó, có luận điệu cho rằng, hệ thống pháp luật về quyền con người không có, chỉ làm hình thức. Đây là luận điệu sai trái, xuyên tạc, phản ánh không đúng thực tế.

 Ngay từ rất sớm, Nhà nước Việt Nam đã xây dựng và ban hành nhiều văn bản pháp luật về quyền con người. Trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên năm 1930, Đảng ta xác định, mục tiêu của cách mạng Việt Nam là “làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”. Theo đó, nhiệm vụ của Đảng là tập hợp lực lượng toàn dân, tiến hành đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người. Sau khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, Đảng, Nhà nước Việt Nam tiếp tục tập trung quan tâm sâu sắc đến vấn đề bảo đảm quyền con người.

Quyền con người đã được ghi nhận trong Hiến pháp năm 1946 và Hiến pháp năm 1959. Trong thời gian này, nhà nước Việt Nam cũng bước đầu tham gia vào hệ thống pháp luật quốc tế về quyền con người. Năm 1957, Việt Nam tham gia 4 Công ước Giơ-ne-vơ của Luật Nhân đạo quốc tế. Sau khi là thành viên của Liên hợp quốc (LHQ), Việt Nam đã tích cực, chủ động tham gia vào các công ước quốc tế về quyền con người của LHQ.

Trong công cuộc đổi mới, tính đến năm 2022, Việt Nam đã phê chuẩn, gia nhập 7/9 công ước cơ bản của LHQ về quyền con người; phê chuẩn, gia nhập 25 công ước của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), trong đó có 7/8 công ước cơ bản.Cùng với việc tích cực tham gia các điều ước quốc tế về quyền con người, Nhà nước Việt Nam đã nỗ lực xây dựng hệ thống pháp luật, trong đó tích cực nội luật hóa các nguyên tắc, tiêu chuẩn quốc tế về quyền con người; bảo đảm sự hài hòa giữa pháp luật quốc gia với pháp luật quốc tế.

Đặc biệt, Hiến pháp năm 2013 được xem là đỉnh cao trong hoạt động lập hiến về bảo vệ quyền con người ở Việt Nam, khẳng định sự nhất quán về nội dung quyền con người, quyền công dân trong các Hiến pháp năm 1946, 1959, 1980, 1992; đồng thời, bổ sung nhận thức mới, đầy đủ, sâu sắc và toàn diện hơn trong việc thể chế hóa quan điểm của Đảng về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, phù hợp với thực tiễn Việt Nam và chuẩn mực quốc tế về quyền con người mà Việt Nam đã tham gia.

Hiến pháp năm 2013 quy định bản chất quyền lực của Nhà nước Việt Nam là: Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân… Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân… Nhà nước bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân; công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân… (Điều 1, Điều 2, Điều 3, Hiến pháp năm 2013).

Hiến pháp năm 2013 có 120 điều, thì đã dành trọn 36 điều quy định về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Ngoài ra, các nội dung liên quan đến quyền con người còn được đưa vào nhiều chương khác của Hiến pháp nhằm tạo cơ sở pháp lý cao nhất để mọi công dân đều được thụ hưởng, thực hiện và bảo vệ quyền con người của mình. Đồng thời, đặt ra nghĩa vụ, trách nhiệm cho các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức nhà nước... phải nâng cao tinh thần trách nhiệm xã hội, trách nhiệm pháp lý tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm quyền con người đã được Hiến pháp quy định. 

CHỦ ĐỘNG NGĂN CHẶN “KẼ HỞ”, KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC, NÂNG CAO HIỆU QUẢ PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG, TIÊU CỰC Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

Nghiên cứu những hạn chế dẫn đến “kẽ hở” trong cơ chế kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở nước ta, cho thấy, chúng ta vẫn còn nhiều hạn chế trong kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ, nhất là cán bộ của các cơ quan chức năng có nhiệm vụ phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, các hoạt động vốn mang tính nhạy cảm, đòi hỏi tính liêm chính cao như: thanh tra, kiểm toán, kiểm tra, giám sát, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án. Điều này biểu hiện rõ qua hàng loạt vụ án, vụ việc tham nhũng, tiêu cực đã và đang bị phanh phui với không ít cán bộ thoái hóa, biến chất khiến dư luận không khỏi bức xúc.dư luận cho rằng có nhiều nguyên nhân. Nổi lên là tình trạng một bộ phận cán bộ, đảng viên đã suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, sự phai nhạt lý tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, cơ hội, thực dụng, tham nhũng, lãng phí. Nguyên tắc “tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách” đâu đó còn nặng tính hình thức, không xác định rõ cơ chế trách nhiệm, mối quan hệ giữa tập thể và cá nhân; khi sai sót, khuyết điểm thì không ai chịu trách nhiệm…

Để khắc phục những “kẽ hở này”, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Quốc hội, Chính phủ đã ban hành nhiều chủ trương, giải pháp, quy định nhằm xây dựng, hoàn thiện thể chế, cơ chế, biện pháp, cách thức để kiểm soát quyền lực và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực thực sự hiệu quả. Các quy định, nghị quyết được quán triệt, thực hiện nghiêm túc, đi vào cuộc sống, sẽ "nhốt quyền lực trong lồng cơ chế", dần khắc phục được những sơ hở, bất cập trước đây làm phát sinh tiêu cực, tham nhũng… Gần đây, tháng 10/2023, Bộ Chính trị ban hành Quy định 131-QĐ/TW về kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng và trong hoạt động thanh tra, kiểm toán. Tiếp đó, Bộ Chính trị ban hành Quy định số 132-QĐ/TW về kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án.

Việc ban hành hai quy định này cho thấy, Đảng không chỉ quyết tâm làm trong sạch đội ngũ cán bộ trong các lĩnh vực dễ xảy ra tiêu cực, đòi hỏi tính liêm chính rất cao, Đảng còn quyết liệt bảo vệ sự lành mạnh trong quan hệ xã hội, sự minh bạch của hệ thống công quyền và củng cố niềm tin, sự ủng hộ, góp phần thúc đẩy kinh tế - xã hội trên nhiều mặt trong quá trình đổi mới toàn diện đất nước. Đồng thời, hướng tới mục tiêu xây dựng bộ máy tố tụng trong sạch, minh bạch; quyền lực luôn đi kèm nghĩa vụ và trách nhiệm.

Công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam đã trở thành phong trào, xu thế không thể đảo ngược, được cán bộ, đảng viên và nhân dân đồng tình, ủng hộ, đánh giá cao, được bạn bè quốc tế ghi nhận. Quyết tâm “chống giặc nội xâm”, khắc phục những bất cập bằng “lồng cơ chế” đó, như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: Phải phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, thực hành liêm chính ngay trong các cơ quan phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. 

Thứ Hai, 25 tháng 12, 2023

NHỮNG NÉT MỚI TRONG ÂM MƯU, THỦ ĐOẠN “DIỄN BIẾN HÒA BÌNH” CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH TRÊN LĨNH VỰC TƯ TƯỞNG

Thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” ở Việt Nam, các thế lực thù địch xác định phá hoại tư tưởng là mũi nhọn, là con đường gần nhất dẫn tới sự xói mòn về niềm tin, gây rối loạn về tư tưởng ở đủ mọi đối tượng, từ cán bộ cấp cao cho đến những người dân thường. Thủ đoạn mới chống phá chủ yếu của các thế lực thù địch được biểu hiện ở những nét cơ bản sau:

Thứ nhất: chúng thúc đẩy nhanh quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Chính là tìm cách tác động vào tư duy của con người, về những luận điệu lập lờ, lẫn lộn giữa hai mặt tích cực và tiêu cực; giữa tư tưởng xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa đến cán bộ, đảng viên. Chúng đánh vào tư tưởng bằng những việc đơn giản, mang tính thực tế với người dân như các chế độ, chính sách, việc làm cụ thể liên quan đến đời sống của nhân dân ta để “so sánh” với các nước phương Tây; vấn đề tự do, dân chủ làm cho người dân thấy “xã hội Việt Nam đang có vấn đề”, dẫn đến hoài nghi, mơ tưởng một “xã hội khác tốt đẹp hơn”. Từ đó, nếu cán bộ, đảng viên không vững vàng về tư tưởng dễ rơi vào bẫy “trò chơi dân chủ” của các thế lực thù địch dẫn đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong từng cán bộ, đảng viên. Tình trạng đó, nếu không kịp thời phát hiện, khắc phục sẽ nhanh chóng biến đổi về chất, dẫn đến thay đổi quan điểm, tư tưởng, đạo đức, lối sống chuyển hóa sang lập trường tư tưởng phương Tây.

Thứ hai: chuyển hướng từ công kích trực diện, cứng nhắc sang tác động phân hóa từ nội bộ. Trong thời gian qua, các thế lực thù địch thường cứng nhắc công kích trực diện vào nền tảng tư tưởng, trắng trợn xuyên tạc đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước; đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, đòi bỏ điều 4 hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam… Kết quả chúng không thực hiện được là bao; từ đó, buộc các thế lực thù địch phải điều chỉnh thủ đoạn chống phá cho phù hợp. Vì lẽ đó, một mặt chúng công nhận thể chế chính trị, tăng cường mối quan hệ với Đảng và Nhà nước ta, mặt khác chúng tiếp tục kích động làm mâu thuẫn, phân hóa nội bộ đảng, tác động làm tha hóa từng người cán bộ, đảng viên, từng bộ phận người dân, thúc đẩy nhanh quá trình “tự diễn biến” “tự chuyển hóa”, nhằm thực hiện mưu đồ phá hoại từ bên trong của chúng.

Thứ ba: cách thức tác động vào các đối tượng rất tinh vi, xảo quyệt, rất nguy hiểm.

Đối với cán bộ, đảng viên, thường là thổi phồng khuyết điểm, yếu kém của một số cán bộ, đảng viên; chúng khai thác có hiệu quả những phần tử cơ hội, quan liêu, tham nhũng nhằm mục đích đánh đồng với cán bộ, đảng viên tốt làm cho có sự lẫn lộn, không phân biệt được giữa người tốt và người xấu.

Đối với sinh viên và đội ngũ trí thức, chúng móc nối, lôi kéo số sinh viên học tập, công tác ở nước ngoài để tập trung tuyên truyền, đào tạo, bồi dưỡng một lớp người có tư tưởng phủ định với Chủ nghĩa Mác-Lênin; biện pháp của chúng là đẩy mạnh việc tăng học bổng, liên kết đào tạo nhằm nuôi dưỡng đội ngũ này sẽ làm thay đổi chế độ ở Việt Nam trong thời gian không xa.

Đối với nhà văn, nhà báo, thủ đoạn chủ yếu của chúng là làm thay đổi nhận thức, quan điểm thông qua các hình thức hợp tác, đào tạo, hội thảo khoa học, triển lãm, tham quan tiếp cận lôi kéo những nhà báo, nhà văn trẻ có tư tưởng tự do, phóng khoáng, dễ giao lưu. Lợi dụng luật quốc tế tự do báo chí, xúc tiến thành lập cái gọi là “Hội nhà báo tự do”, kích động văn nghệ sỹ đòi tự do sáng tác, tự do công bố các tác phẩm văn hóa nghệ thuật, phản đối sự kiểm duyệt của các cơ quan quản lý Nhà nước; mua giấy phép xuất bản, mua các công trình phát sóng, hợp tác sản xuất các chương trình, ban đầu chỉ là về kỹ thuật chuyên ngành … nhằm thay đổi nhận thức, cơ sở hóa quan điểm theo tiêu chí tự do dân chủ kiểu phương Tây.

Đối với các tầng lớp nhân dân, lợi dụng khả năng nhận thức của người dân có hạn, điều kiện cập nhật, tiếp cận những thông tin hạn chế chúng tác động về tư tưởng theo kiểu “Mưa dầm thấm lâu”. Tạo ra “khoảng trống” trong tư tưởng người dân, dẫn tới hoài nghi về chế độ với Đảng, Nhà nước; kích động, gây rối, biểu tình nhất là vào các thời điểm như đất nước gặp khó khăn, thiên tai, lũ lụt, tham nhũng, tranh chấp chủ quyền biên giới, biển đảo của Tổ quốc. Chúng tăng cường xuyên tạc, thổi phồng, cường điệu hóa, bóp méo sự thật, đưa ra những lời bình luận chỉ trích chính sách của Đảng và Nhà nước, đổi lỗi cho chính quyền, tập trung vào cán bộ, đảng viên tạo bức xúc, gây mất đoàn kết nội bộ, đoàn kết quân - dân, gây bè phái, cục bộ.

Trước những thủ đoạn mới của các thế lực thù địch chống phá nước ta trên lĩnh vực tư tưởng, ngày càng diễn biến phức tạp, khó lường sẽ còn tác động đến tư tưởng của một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân ta, song về thực lực của chúng chưa đủ khả năng làm chuyển hóa hệ tư tưởng của ta theo ý đồ của chúng. Nhưng, nếu chúng ta mất cảnh giác, không thấu hiểu hết sự việc, xem nhẹ cuộc đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng thì sẽ dẫn đến hậu quả không thể nào lường trước được.

  

TÀI NGUYÊN ĐẶC SẮC VIỆT NAM

Những gì đang diễn ra tại Ucraina cho chúng ta thấy rõ nhiều điều, trong đó, có những điều phải khẳng định, lý do mà Việt Nam sáng suốt lựa chọn:

1. Không tham gia các liên minh quân sự.

2. Không là đồng minh quân sự của bất kỳ nước nào

3. Không cho bất cứ nước nào đặt căn cứ quân sự ở Việt Nam

4. Không dựa vào nước này để chống nước kia.

Việt Nam kiên định mục tiêu, nguyên tắc chiến lược, vận dụng sách lược mềm dẻo, linh hoạt; chủ động ứng phó với âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, sự biến động phức tạp của tình hình.

Những ai tôn trọng độc lập, chủ quyền, thiết lập và mở rộng quan hệ hữu nghị, hợp tác bình đẳng, cùng có lợi với Việt Nam đều là đối tác; bất kỳ thế lực nào có âm mưu và hành động chống phá mục tiêu của nước Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa, xâm phạm độc lập, chủ quyền, lợi ích quốc gia - dân tộc Việt Nam đều là đối tượng của Việt Nam.

Lịch sử thế giới hiện đại có lẽ sẽ cần viết lại, việc giải thích từ ngữ có lẽ cũng rất khó khăn - Người dân có lẽ không quan tâm khái niệm đầu hàng, cái họ cần cũng giống chúng ta, đó là sự bình yên! Trong cuộc chiến cho dù kết quả thế nào thì nhân dân cũng là người chịu thiệt thòi.

Việt Nam có tài nguyên mà nhiều nước ước áo đó là ổn định, không đơn giản mặc dù nằm ở vị trí địa chiến lược quan trọng và luôn bị các nước, các phe lôi kéo. 

“MỘT DÂN TỘC, MỘT ĐẢNG VÀ MỖI CON NGƯỜI, NGÀY HÔM QUA LÀ VĨ ĐẠI, CÓ SỨC HẤP DẪN LỚN, KHÔNG NHẤT ĐỊNH HÔM NAY VÀ NGÀY MAI VẪN ĐƯỢC MỌI NGƯỜI YÊU MẾN VÀ CA NGỢI, NẾU LÒNG DẠ KHÔNG TRONG SÁNG NỮA, NẾU SA VÀO CHỦ NGHĨA CÁ NHÂN”

Là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại buổi làm việc với một số cán bộ Ban Tuyên huấn Trung ương, ngày 18 tháng 6 năm 1968, để bàn về cách thực hiện điều mà Bác đã đề nghị với Ban Bí thư Trung ương Đảng làm và xuất bản loại sách “Người tốt, việc tốt”. Đây là thời điểm mà công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta ở miền Nam thu được nhiều thắng lợi quan trọng, nhưng cũng đặt ra những khó khăn thách thức mới.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đánh giá cao truyền thống hào hùng của dân tộc, thành tích vẻ vang của Đảng và mỗi con người trong sự nghiệp kiến quốc và đấu tranh giải phóng dân tộc; mà còn nhắc nhở các cấp uỷ, tổ chức đảng, các cơ quan của Nhà nước, Chính phủ phải triệt để đấu tranh khắc phục tư tưởng sống thỏa mãn trong hào quang, chiến thắng của ngày hôm qua, phải luôn tiến về phía trước, đấu tranh loại trừ ra khỏi hàng ngũ của Đảng, bộ máy nhà nước những người “sa vào chủ nghĩa cá nhân” không còn đủ tư cách, tha hóa, biến chất về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, quan liêu, tham nhũng, sách nhiễu nhân dân. Thực hiện lời dạy của Bác, toàn Đảng toàn dân, toàn quân ta đã đem hết tài năng và sức lực cống hiến cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Ngày nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nhất là thành tựu hơn 35 năm đổi mới, lời dạy của Bác năm xưa vẫn vẹn nguyên giá trị, là tư tưởng chỉ đạo, bài học thực tiễn sâu sắc để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta tiếp tục đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, vững bước tiến lên chủ nghĩa xã hội.

Dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh, Quân đội nhân dân Việt Nam đã trưởng thành về mọi mặt, có bản lĩnh chính trị vững vàng, thực sự là lực lượng chính trị, lượng chiến đấu trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân trong hai cuộc kháng chiến trước đây. Tư tưởng của Bác tiếp tục là ánh sáng soi đường xây dựng quân đội ta vững mạnh toàn diện, lấy xây dựng về chính trị làm cơ sở nền tảng, bảo đảm cho quân đội luôn tuyệt đối trung thành với sự nghiệp cách mạng của Đảng; không mơ hồ, mất cảnh giác trước âm mưu thủ đoạn “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch. Đồng thời, mỗi cán bộ, chiến sĩ kiên quyết đấu tranh trên mặt trận lý luận tư tưởng, loại trừ chủ nghĩa cá nhân; khơi dậy tinh thần thi đua sáng tạo, phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, kiên quyết đấu tranh làm thất bại âm mưu thủ đoạn của các thế lực thù địch, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ, xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ” trong thời kỳ mới. 

PHÒNG, CHỐNG SỰ XUYÊN TẠC, PHỦ NHẬN VAI TRÒ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG ĐỐI VỚI QUÂN ĐỘI

Nhận thấy không xóa được chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở nước ta, nếu không xóa được vai trò lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, các thế lực thù địch ra sức xuyên tạc, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với quân đội. Họ cho rằng, “quân đội do nhà nước nuôi dưỡng nên chỉ phục tùng nhà nước, không phục tùng đảng phái nào”. Họ viện dẫn thực tiễn ở các thể chế chính trị tư sản với chế độ đa đảng, quân đội không do đảng nào lãnh đạo. Dựa vào đó, họ phủ nhận nguyên tắc “Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với Quân đội nhân dân Việt Nam”; đòi bỏ quy định “Lực lượng vũ trang nhân dân tuyệt đối trung thành với Đảng” ở Điều 65, Hiến pháp 2013...

Mục tiêu nhất quán của những thủ đoạn trên là thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, làm cho quân đội xa rời mục tiêu, lý tưởng cách mạng và sự lãnh đạo của Đảng; biến chất về chính trị, tiến tới vô hiệu hóa vai trò Quân đội ta là chỗ dựa vững chắc của Đảng, Nhà nước và nhân dân trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc.

Những thủ đoạn trên dù rất tinh vi, nhưng sai cả về lý luận và thực tiễn. Trên phương diện lý luận, nhà nước và quân đội là sản phẩm của xã hội có giai cấp và đấu tranh giai cấp. Vì vậy, quân đội mang bản chất giai cấp của nhà nước tổ chức và nuôi dưỡng nó. Không có nhà nước “phi giai cấp”, nên không có quân đội “phi chính trị”. Ở các nền chính trị có cấu trúc đa đảng đối lập, đảng nào thắng thế sẽ đứng ra lập chính phủ, nên quân đội bao giờ cũng phụ thuộc vào đường lối chính trị của đảng cầm quyền; đồng thời, bất cứ đảng cầm quyền nào cũng tìm cách nắm quân đội. Tuy vậy, khi mà sự tranh giành quyền lực giữa các đảng diễn ra gay gắt, dẫn đến khủng hoảng chính trị, thường xuất hiện lời kêu gọi “quân đội không đứng về đảng phái nào”; nhưng trong thực tế, các đảng đều tìm sự hậu thuẫn từ quân đội.

Để phòng, chống sự xuyên tạc, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với quân đội trong tình hình hiện nay, cần thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp, trong đó cần tập trung vào những vấn đề chủ yếu sau:

Trong mọi hoàn cảnh phải luôn giữ vững nguyên tắc “Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với quân đội”.

Sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng gắn liền với sự quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước đối với quân đội.

Đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng; tập trung xây dựng Đảng bộ Quân đội trong sạch, vững mạnh.

Vấn đề then chốt là tập trung xây dựng Đảng bộ Quân đội trong sạch vững mạnh, mẫu mực, tiêu biểu, có năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu cao.

Tăng cường giáo dục chính trị, tư tưởng, làm cho mọi người hiểu rõ sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định bản chất cách mạng, sức mạnh chiến đấu của quân đội nhân dân

Chủ động đấu tranh, phản bác các thủ đoạn xuyên tạc, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với quân đội.

Phòng, chống sự xuyên tạc, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với quân đội là góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Đó nhiệm vụ thường xuyên, lâu dài của cả hệ thống chính trị, của mọi cán bộ, đảng viên, trong đó Quân đội nhân dân Việt Nam giữ vai trò nòng cốt. Kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”; giữa phản bác các quan điểm sai trái, thù địch với xây dựng nội bộ vững mạnh là phương thức hữu hiệu để làm thất bại mọi mưu đồ chống phá của các thế lực thù địch./. 

Thứ Ba, 19 tháng 12, 2023

CHÍNH SÁCH DÂN TỘC, CÔNG TÁC DÂN TỘC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY CÓ VAI TRÒ NHƯ THẾ NÀO?

Chính sách dân tộc, công tác dân tộc ở Việt Nam có vai trò cơ bản sau:

Một là, cụ thể hóa , hiện thực hóa đường lối, quan điểm của Đảng, Nhà nước đối với các dân tộc thiểu số, vùng dân tộc thiểu số. Chính sách dân tộc, công tác dân tộc là một bộ phận quan trọng của đường lối cách mạng Việt Nam, là một bộ phận hữu cơ trong chính sách phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước ta. Thực hiện có hiệu quả chính sách  dân tộc, công tác dân tộc vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; đồng thời, thể hiện sự quan tâm đặc biệt của Đảng, Nhà nước ta đối với đồng bào các dân tộc thiểu số. 

Hai là, trực tiếp góp phần phát triển và nâng cao đời sống của đồng bào các dân tộc thiểu số, vùng dân tộc thiểu số, từng bước thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các dân tộc và các vùng miền của đất nước. Đồng thời, góp phần động viên, khuyến khích, phát huy tinh thần yêu nước, ý chí tự lực, tự cường của đồng bào các dân tộc trong phát triển kinh tế - xã hội.  

Ba là, trực tiếp góp phần củng cố, nâng cao chất lượng hệ thống chính trị, tăng cường an ninh, quốc phòng vùng dân tộc thiểu số và miền núi. Vai trò này, thể hiện ở: Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng; hiệu lực, hiệu quả quản lý điều hành của chính quyền, hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể ở địa phương; đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ và phát triển đảng viên trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu và hiệu quả hoạt động của tổ chức đảng, đoàn thể vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Chính sách  dân tộc, công tác dân tộc còn góp phần xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số vững chắc, nhất là các vùng biên giới của đất nước.

Bốn là, trực tiếp góp phần giữ gìn và phát huy giá trị, bản sắc văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số; từng bước loại bỏ các hủ tục lạc hậu trong cộng đồng các dân tộc. Đồng thời, tuyên truyền nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cấp ủy, chính quyền và đồng bào các dân tộc thiểu số về giữ gìn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống các dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc cũng như trong hội nhập quốc tế.

Năm là, trực tiếp góp phần đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc để phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc và chống phá sự nghiệp cách mạng đất nước.   

CÔNG TÁC DÂN TỘC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY ĐƯỢC THỰC HIỆN THÔNG QUA NHỮNG PHƯƠNG THỨC CƠ BẢN NÀO?

Một là, tuyên truyền, giáo dục, vận động nhân dân. Theo đó, việc tuyên truyền, giáo dục, vận động nhân dân thông qua hệ thống báo chí, phát thanh, truyền hình của Trung ương và địa phương, lực lượng  vũ trang trên địa bàn; tổ chức lực lượng tuyên truyền viên, báo cáo viên, các tổ đội công tác các cấp; thông qua hoạt động tuyên truyền và phổ biến pháp luật, kế hoạch hóa gia đình…

  Hai là, thông qua thực hiện chủ trương, chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước, các chương trình, đề án, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi làm chuyển biến mạnh mẽ cả về nhận thức và cách thức tổ chức thực hiện công tác dân tộc trên từng địa bàn, góp phần phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào các dân tộc.

Ba là, phối hợp và phát huy vai trò, trách nhiệm của các tổ chức, lực lượng trên địa bàn vùng dân tộc thiểu số và miền núi. Nội dung phối hợp là toàn diện trên tất cả các mặt hoạt động của công tác dân tộc. Tuỳ theo tình hình, đặc điểm, yêu cầu nhiệm vụ từng địa phương mà xây dựng cơ chế phối hợp cụ thể, biện pháp phát huy vai trò, trách nhiệm từng tổ chức, lực lượng tham gia, đảm bảo thiết thực, tính khả thi cao. Chú trọng phát huy vai trò lãnh đạo, quản lý, chỉ đạo của tổ chức đảng, chính quyền góp phần nâng cao đời sống về mọi mặt cho đồng bào các dân tộc.

 Bốn, thực hiện công tác kiểm tra, giám sát của cấp ủy và chính quyền địa phương các cấp. Mọi hoạt động của công tác dân tộc đều thông qua việc thực hiện vai trò, chức năng, nhiệm vụ của hệ thống chính trị các cấp, nhất là hệ thống chính trị cơ sở. Do đó, làm tốt công tác kiểm tra, giám sát hoạt động của lãnh đạo, người đứng đầu các cấp, của Hội đồng nhân dân…sẽ góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác dân tộc. 

NGUYÊN TẮC CƠ BẢN CỦA CÔNG TÁC DÂN TỘC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY?

Hiện nay, công tác dân tộc phải tuân thủ các nguyên tắc cơ bản sau:

Một là, công tác dân tộc phải tuân theo nguyên tắc “Bảo đảm các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển”[1]. Bình đẳng giữa các dân tộc là quyền ngang nhau của các dân tộc, không phân biệt dân tộc đó là đa số hay thiểu số, trình độ văn hóa, dân trí cao hay thấp, là bình đẳng trên mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và được bảo đảm bằng pháp luật. Bình đẳng không có nghĩa là cào bằng, dàn đều, mà thể hiện ở khâu phân phối tư liệu sản xuất và phân phối kết quả sản xuất, ở việc tạo điều kiện cho mọi người, mọi cộng đồng, dân tộc có cơ hội phát triển và sử dụng tốt năng lực, tiềm năng, thế mạnh của mình. Bình đẳng là cơ sở, tiền đề để các dân tộc trong cộng đồng 54 dân tộc Việt Nam thực hiện đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển; đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển là động lực thúc đẩy quá trình hiện thực hóa sự bình đẳng giữa các dân tộc ở nước ta.

Hai là, đảm bảo và thực hiện chính sách phát triển toàn diện, từng bước nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu số. “Các chính sách phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh vùng dân tộc miền núi phải toàn diện, hướng đến mục tiêu phát triển bền vững và phát huy lợi thế, tiềm năng của vùng và tinh thần tự lực của đồng bào dân tộc thiểu số.”[2] Theo đó, phải phát triển toàn diện chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội và an ninh - quốc phòng trên địa bàn vùng dân tộc và miền núi; gắn tăng trưởng kinh tế với giải quyết các vấn đề xã hội, thực hiện tốt chính sách dân tộc; quan tâm phát triển, bồi dưỡng nguồn nhân lực; chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số; giữ gìn và phát huy những giá trị, bản sắc văn hoá truyền thống các dân tộc thiểu số trong sự nghiệp phát triển chung của cộng đồng dân tộc Việt Nam thống nhất.

Ba là, đảm bảo việc giữ gìn tiếng nói, chữ viết, bản sắc dân tộc, phát huy những phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mỗi dân tộc. Quá trình thực hiện công tác dân tộc đòi hỏi các chủ thể phải giữ gìn và phát huy những giá trị này, coi đây vừa là mục tiêu vừa là động lực phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng, bảo đảm toàn vẹn chủ quyền lãnh thổ quốc gia. Bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số phù hợp với tình hình thực tế, đặc biệt chú trọng địa bàn các dân tộc có nguy cơ bị biến dạng văn hóa cao. Phát huy vai trò của các chủ thể văn hóa trong phát triển văn hóa truyền thống của các dân tộc; tôn vinh các giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của các dân tộc thiểu số; khích lệ sáng tạo các giá trị văn hóa mới; góp phần giảm dần sự chênh lệch về mức sống và hưởng thụ văn hóa giữa các vùng, các dân tộc, gắn kết giữa phát triển kinh tế với bảo tồn và phát triển văn hóa các dân tộc.  

Bốn là, các dân tộc có trách nhiệm tôn trọng phong tục, tập quán của nhau, góp phần xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Việt Nam là quốc gia đa dân tộc, có nền văn hóa thống nhất trong đa dạng, mỗi dân tộc có phong tục, tập quán riêng, đòi hỏi các dân tộc trong quá trình thực hiện công tác dân tộc, phải có trách nhiệm tôn trọng phong tục, tập quán của nhau, góp phần xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Thực hiện nguyên tắc này, dưới góc độ quản lý nhà nước, các chủ thể cần có chủ trương, biện pháp hiệu quả trong đẩy mạnh công tác tuyên truyền ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; tăng cường đồng thuận xã hội; củng cố lòng tin của đồng bào với Đảng và Nhà nước, phát huy nội lực, vượt qua khó khăn, thách thức, hoà nhập phát triển cùng với đất nước.[3]



[1] Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb CTQG-ST, Hà Nội, tr.170-171.

[2] Kết luận Số 65-KL/TW ngày 30 tháng 10 năm 2019 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX về công tác dân tộc trong tình hình mới

[3] Xin xem Nghị định Số 05/2011/NĐ-CP của Chính phủ ngày 14/01/2011 về công tác dân tộc