Thứ Hai, 6 tháng 12, 2021

AN YÊN... RỜI NHIỆM SỞ

Một câu chuyện ý nghĩa vừa diễn vào ngày 27-11, tại trụ sở Trung ương Đảng. Hôm ấy, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và nhiều đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước cùng dự buổi trao quyết định nghỉ chế độ đối với 6 đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa XII, không tái cử khóa XIII.

Đáng nói là không khí “chia tay” diễn ra hết sức thân tình, gần gũi, chân thành. Các đại biểu cùng nhau hàn huyên chuyện cũ, gửi trao tâm huyết về những chặng đường đã qua và kỳ vọng vào tương lai tươi sáng.

Càng thú vị hơn khi giây phút bịn rịn, quyến luyến, lại được sưởi ấm và trở nên vui nhộn bởi những tiết mục văn nghệ do chính những người trong cuộc thể hiện. Điệu múa, lời hát, nụ cười, tiếng vỗ tay... như xua đi sự trầm lắng vốn dĩ của một buổi “chia tay”.

Và cũng với bầu không khí ấy, chiều 29-11, Bộ Chính trị, Ban Bí thư tiếp tục tổ chức trao quyết định nghỉ chế độ đối với 28 đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng khóa XII, không tham gia tái cử khóa XIII. Buổi “chia tay” thực sự làm ấm lòng những người rời nhiệm sở; minh chứng cho sự luyến lưu, sẻ chia cùng nhau trong dấu ấn cuộc đời của những đồng chí từng nhiều năm tháng gắn bó, cùng thực hiện bổn phận “công bộc” của dân.

Dưới góc độ tâm lý học, bất kỳ ai khi nhận quyết định nghỉ hưu, nghỉ chế độ cũng đều sẽ thoáng qua ít nhiều nỗi niềm tâm tư, trăn trở. Thế nhưng, khi được những đồng chí đương chức trao tặng tình cảm, trao gửi niềm tin và cùng cam kết, hứa với nhau những lời tâm huyết và trách nhiệm phụng sự dân tộc thì thật đáng quý biết bao!

Người “ở lại” bày tỏ mong muốn, những đồng chí khi đã hoàn thành nhiệm vụ chung, trở về đời thường sẽ tiếp tục phát huy phẩm chất cách mạng, cùng đồng hành, cống hiến xây dựng quê hương, đất nước theo cách của công dân Việt Nam ưu tú, chân chính. Những người rời nhiệm sở lại trao gửi niềm tin, mong muốn anh em đương chức không ngừng nỗ lực, làm tròn nghĩa vụ với Đảng, với dân. Đó là những lời hứa từ sâu thẳm tâm can, gửi đến Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư; cũng đồng thời là lời hứa với dân được trao gửi qua báo chí, truyền thông đến với đông đảo đồng chí, đồng bào.

Thực hiện những lời hứa trên, chắc hẳn mỗi cán bộ sẽ tự dặn lòng không ngừng nỗ lực, phấn đấu bằng danh dự, phẩm giá. Phải làm bằng được điều đó, vì trước đây từng có người lúc làm cán bộ thì nghiêm cẩn, chuẩn mực, nhưng khi trở về cuộc sống đời thường lại có những biểu hiện chưa thật chuẩn mực trong phát ngôn và thực hành đạo đức xã hội. Thậm chí, không ít cán bộ hưu trí bị rơi vào vòng xoáy dư luận và cuộc sống, sinh ra bệnh này, tật nọ... khiến đồng chí, đồng nghiệp và nhân dân phải phiền lòng.

Qua câu chuyện dung dị kể trên, chúng ta có thêm một ánh nhìn đầy đủ, giàu tính nhân văn trong tiến hành công tác cán bộ. Thực tế cho thấy, ở nhiều cơ quan, đơn vị, địa phương vẫn chưa thật sự coi trọng việc tổ chức các hoạt động ghi nhận, “chia tay” và chúc mừng những cán bộ đã hoàn thành nhiệm vụ trên cương vị, chức trách. Thậm chí, có nơi chỉ tổ chức theo kiểu chiếu lệ, hình thức, nặng nghi thức lễ tân cho... xong chuyện.

Từ thực tế đó, sắp tới, rất mong và rất cần sự vào cuộc có trách nhiệm nhiều hơn của cấp ủy, chỉ huy, nhất là người đứng đầu cơ quan, đơn vị trong “ứng xử”, đối đãi, đãi ngộ đối với những cán bộ lúc về hưu, nghỉ chế độ. Dù cán bộ có chức sắc, hay một nhân viên bình thường, dù đóng góp của họ là lớn lao hay khiêm tốn, dù quá trình công tác có mặt mạnh hay yếu khuyết phải phê bình... thì sau tất cả vẫn đọng lại là tình đồng chí, đồng nghiệp và những giá trị văn hóa, đạo đức công vụ. Do đó, phần việc này cần được quan tâm thích đáng như một lẽ đương nhiên trong công tác cán bộ. Hãy trao đi tình cảm, sự ghi nhận và lòng biết ơn của tập thể để mỗi cá nhân khi rời nhiệm sở càng thêm tự tin, an yên và nhận rõ trách nhiệm tiếp tục cống hiến, sống đẹp, sống có ích đối với đất nước và dân tộc.

NGUYỄN TẤN TUÂN

KHÁT VỌNG PHỒN VINH, HẠNH PHÚC VÀ SỨC MẠNH TIỀM TIN CỦA NHÂN DÂN TRƯỚC YÊU CẦU MỚI CỦA ĐẤT NƯỚC

Năm 2021, đánh dấu chặng đường 35 năm đổi mới của đất nước. Những thành quả đạt được từ trong quá trình xây dựng, phát triển đất nước đã cho phép Đảng, Nhà nước và toàn thể dân tộc Việt Nam hướng đến khát vọng lớn hơn là phồn vinh, hạnh phúc. Khát vọng phồn vinh, hạnh phúc chính là sự kết tinh bản lĩnh, trí tuệ của Đảng dựa trên sự đúc kết những kinh nghiệm từ quá trình lãnh đạo xây dựng, phát triển đất nước. Đó không phải là khát vọng giản đơn, xuôi chiều, mà được bồi đắp trên cơ sở phân tích, dự báo, lường đoán kỹ lưỡng những thời cơ, thuận lợi có thể nắm bắt, phát huy; đồng thời tỉnh táo cân nhắc, tính toán những khó khăn, thách thức bên ngoài, những yếu kém, trở ngại bên trong cần phải kiên quyết khắc phục, thích ứng, vượt qua. Đó cũng là sự vận dụng phương châm dĩ bất biến ứng vạn biến, nhạy bén chớp thời cơ, chủ động ứng phó với nguy cơ, chuyển hóa nguy cơ thành vận hội phát triển.

Khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc mang sức sống hiện thực được hình thành, bồi đắp trên một cơ tầng khoa học về lộ trình hướng đích, bước đi được dự liệu rõ ràng và là sự kế thừa, hoàn thiện những mục tiêu đã được xác định từ những giai đoạn trước. Khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúcgắn liền với quá trình xây dựng và phát huy hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa và giá trị chuẩn mực, cùng sức mạnh con người Việt Nam trong thời kỳ mới gắn liền với phát huy đồng bộ hệ động lực phát triển: Dân chủ xã hội chủ nghĩa; đại đoàn kết toàn dân tộc; sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị; nguồn nhân lực chất lượng cao, nhân tài; khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Thành công của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII và cuộc bầu cử đại biểu quốc hội và đại biểu hội đồng nhân dân các cấp cho thấy, quần chúng nhân dân đã sẵn sàng hành trang, tâm thế để cùng Đảng, Nhà nước bước vào vận hội mới. Do vậy, để phát huy được tối đa sức mạnh niềm tin của nhân dân vào quá trình hiện thực hoá khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, thiết nghĩ cần phải chú trọng đến các định hướng cụ thể sau:

Thứ nhất, cần nâng tầm và đặt đúng vai trò, vị trí của niềm tin nhân dân trong chiến lược phát triển. Phải xem sức mạnh niềm tin nhân dân là động lực của sự phát triển quốc gia. Động lực này không chỉ là kết quả từ sự kiến tạo niềm tin của nhân dân, của mỗi người lao động, của các doanh nghiệp đối với sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lí, quản trị hiệu lực, hiệu quả của Nhà nước; mà còn là sự kiến tạo niềm tin và trách nhiệm cao cả của Nhà nước đối với nhân dân với tư cách là chủ nhân, chủ thể phát triển của xã hội, của đất nước. Đó còn là sự kiến tạo niềm tin dựa trên các mối quan hệ tốt đẹp giữa con người với con người, giữa các chủ thể với nhau trong cộng đồng quốc gia, dân tộc, kết tụ ở việc luôn đặt lợi ích quốc gia – dân tộc lên trên hết.

Động lực này sẽ được xác lập dựa trên những nền tảng đường lối, chủ trương, định hướng phát triển đúng đắn của của Đảng, Nhà nước vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”; trên nền tảng một Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thực sự của dân, do dân, vì dân, một hệ thống luật pháp và cơ chế, chính sách quản lí, quản trị phát triển hiệu lực, hiệu quả, công khai, minh bạch; một nền hành chính liêm chính, tinh thần trách nhiệm cao trước dân; trên nền tảng một đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức “thực đức, thực tài”, thực sự công bộc, đặt lợi ích của nhân dân, lợi ích phát triển của đất nước lên trên hết. Động lực này sẽ phát huy cao độ khi thực hành dân chủ xã hội rộng rãi gắn liền với thực thi kỉ cương phép nước, “sống, làm việc theo Hiến pháp và pháp luật”; tôn trọng, bảo vệ quyền lợi ích chính đáng của của mỗi con người, của nhân dân và của tất cả các chủ thể trong xã hội. Có được động lực niềm tin thì tất cả mọi người dân trong xã hội mới vững tâm mang tất cả tâm huyết, nguồn lực, trí tuệ, tài năng của mình ra để cống hiến cho sự phát triển chung của đất nước và dân tộc. Động lực này cũng là sự kết tinh, kết tụ lòng yêu nước, tinh thần dân tộc, trách nhiệm công dân, trách nhiệm xã hội khát vọng chấn hưng đất nước của mỗi con người, của toàn dân tộc với sự lãnh đạo của Đảng và quản lí của Nhà nước. Có thể nói, niềm tin của quần chúng nhân dân chính là thước đo quý giá nhất đối với năng lực lãnh đạo của Đảng, khả năng quản lí đất nước của Chính phủ và là một động lực to lớn nhất, chính yếu nhất cho sự phát triển nhanh, bền vững đất nước.

Thứ hai, cần chú trọng xây dựng cơ sở để nhân dân kí thác niềm tin và thể hiện tình yêu đối với đất nước. Xưa nay, niềm tin và tình yêu Tổ quốc luôn sẵn có nơi mỗi người dân Việt và nó được duy trì, phát triển dựa trên tư duy của nhà quản lí. Tuy nhiên nếu niềm tin và lòng yêu nước không được định hình dựa trên nền tảng, quan điểm và cả những định hướng cụ thể thì sẽ rất dễ bị tổn thương và lợi dụng. Trường hợp nêu trên đã từng xảy ra trong lịch sử Việt Nam và rõ nhất là qua âm mưu của các nhà truyền giáo ở thời kì cận đại… Và ngày nay trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước, niềm tin và tình yêu quê hương, đất nước cũng cần phải được định hình dựa trên những cơ sở thật sự cụ thể nếu ko sẽ bị lợi dụng để phục vụ cho các toan tính cá nhân hoặc các tổ chức đối lập, chống đối. Điều này sẽ tạo nên những hệ lụy và hậu quả vô cùng to lớn đối với sự an nguy của đất nước.

Để xây dựng môi trường cho niềm tin hình thành và phát triển, thì trước hết phải được bắt nguồn từ việc Đảng, Nhà nước cần có những cơ chế, chính sách thực sự đúng đắn và phù hợp. Chúng ta cần quan tâm hơn nữa lợi ích, nguyện vọng của nhân dân; lấy lợi ích của quốc gia, dân tộc và quyền lợi căn bản của công dân làm mẫu số chung cho quá trình phát triển; phải xem trọng nhân dân với tư cách là chủ thể của việc tạo lập niềm tin trong xã hội… Phải chăm lo xây dựng con người phát triển toàn diện theo hướng trọng tâm là bồi dưỡng tinh thần yêu nước, ý chí, lòng tự hào dân tộc, đạo đức, lối sống và nhân cách. Phải tạo nên được những sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, ý thức tôn trọng pháp luật, niềm tin sâu sắc vào truyền thống lịch sử, vào văn hóa dân tộc. Phải gắn việc xây dựng, rèn luyện đạo đức với thực hiện quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Phải nâng cao trí lực, bồi dưỡng tri thức, khát vọng con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và chủ động, tích cực hội nhập quốc tế…

Thứ ba, cần gắn chặt vấn đề xây dựng, phát huy sức mạnh niềm tin với việc củng cố và tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân. Có niềm tin mới có đoàn kết dân tộc. Sự phát triển hay suy giảm niềm tin luôn kéo theo tỉ lệ thuận tương ứng của tinh thần đoàn kết dân tộc. Do đó cần đặt mục tiêu xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc với việc củng cố và phát huy niềm tin trong quần chúng nhân dân. Việc gắn chặt niềm tin với tinh thần đoàn kết không chỉ cho phép tăng thêm sức mạnh nội lực trong quá trình phát triển, hội nhập sâu rộng với thế giới mà còn làm gia tăng thêm sức đề kháng cho quốc gia trong việc đập tan các hành động xâm lấn của kẻ thù và cả những âm mưu chống đối, chống phá nhà nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết, thành công, thành công, đại thành công”, chỉ có sức mạnh của tinh thần đoàn kết mới mang lại cho dân tộc một sự phát triển ổn định và thịnh vượng, mới giúp dân tộc thành công trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội. Và niềm tin chính là mẫu số chung có giá trị cao nhất để thúc đẩy các thành viên trong xã hội xích lại gần nhau, đoàn kết, gắn bó keo sơn với nhau trong một chỉnh thể nhà nước, quốc gia thống nhất./.

KHÁT VỌNG DÂN TỘC VÀ SỨC MẠNH CỦA NIỀM TIN NHÂN DÂN NHÌN TỪ CHIỀU DÀI LỊCH SỬ

Khát vọng dân tộc có vai trò rất quan trọng, nó là động lực trung tâm tạo nên sức mạnh vô song cho dân tộc. Khát vọng dân tộc, nếu được định hướng và hình thành dựa trên những đường lối, chủ trương đúng đắn sẽ trở thành nguồn năng lượng nội sinh tiềm tàng và sống động cho toàn bộ quá trình phát triển. Khát vọng dân tộc thể hiện nhu cầu, ước vọng của đại đa số cộng đồng cư dân trong một quốc gia và nó chịu sự tác động bởi các điều kiện và hoàn cảnh lịch sử cụ thể.

Trong mỗi thời kì, mỗi giai đoạn, khát vọng dân tộc sẽ được cụ thể hóa dựa theo những tiêu chí của nhà quản lí. Như dưới thời kì phong kiến, sau khi đã dành được độc lập, tự chủ thì khát vọng xây dựng xã tắc thái bình, thịnh trị là đích đến của các triều đại phong kiến. Hay như ở thời điểm năm sau 1930, khi Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập thì lý tưởng của toàn thể dân tộc là xây dựng đất nước tiến theo con đường xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, khát vọng dân tộc giữ vai trò chủ đạo trong giai đoạn này chính là độc lập và tự do. Sau khi thống nhất đất nước, để thực hiện lý tưởng xây dựng chủ nghĩa xã hội, khát vọng dân tộc lại được Đảng, Nhà nước cụ thể hóa dựa theo từng giai đoạn, từng lộ trình khác nhau. Đại hội VI, năm 1986 của Đảng khẳng định “đổi mới là yêu cầu bức thiết của sự nghiệp cách mạng, là vấn đề có ý nghĩa sống còn”; Đại hội VII (1991) đề ra Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội; Đại hội VIII (1996) đề ra chủ trương đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phấn đấu đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp; Đại hội IX (2001) xác định kinh tế thị trường định hướng xã hội là mô hình kinh tế tổng quát trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, trong đó phát triển kinh tế, công nghiệp hóa, hiện đại hóa là nhiệm vụ trung tâm; Đại hội X (2006) xác định mục tiêu sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển; Đại hội XI (2011) bổ sung phát triển Cương lĩnh 1991, quyết định đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, đẩy mạnh hội nhập quốc tế; Đại hội XII (2016) nhấn mạnh nâng cao chất lượng phát triển, sức cạnh tranh của nền kinh tế, đặc biệt chú trọng công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng toàn diện về chính trị, tư tưởng, tổ chức, đạo đức, xây dựng hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; Đại hội XIII, Đảng Cộng sản Việt Nam chủ trương khơi dậy ở một tầm cao mới khát vọng phát triển đất nước Việt Nam “phồn vinh, hạnh phúc”. Vậy, trong mối quan hệ với khát vọng dân tộc, sức mạnh niềm tin của nhân dân sẽ được thể hiện như thế nào?

Niềm tin nhân dân có thể được hiểu là sự tin tưởng, kỳ vọng của cộng đồng cư dân trong một quốc gia đối với các chủ trương, chính sách xây dựng, phát triển đất nước của nhà quản lý. Niềm tin nhân dân có vai trò rất quan trọng. Nó là nhân tố trung tâm quyết định tinh thần đoàn kết của dân tộc; là động lực khai phóng các tiềm năng, các nguồn lực của đất nước và là tiền đề vững chắc để hiện thực hóa khát vọng của dân tộc. Lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam sẽ là thực tế sinh động nhất để minh chứng cho luận điểm này.

Trong suốt 1000 nghìn năm Bắc thuộc, các thế lực phong kiến Trung Hoa luôn tìm cách Hán hóa dân tộc Việt Nam. Song với sức mạnh của niềm tin về nòi giống “con rồng cháu tiên”, cộng đồng cư dân Việt Nam đã kiên trì, bền bỉ đấu tranh để giữ vững lấy “hồn quốc”. Hình ảnh người phụ nữ Việt Nam – Triệu Thị Trinh với câu nói đầy hào khí: “Tôi chỉ muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp luồng sóng dữ, chém cá kình ở biển Đông, đánh đuổi quân Ngô, giành lại giang sơn, cởi ách nô lệ, chứ không chịu khom lưng làm tì thiếp cho người”, như là một sự minh chứng cho tinh thần đấu tranh bất khuất và khát vọng độc lập dân tộc trong giai đoạn này. Đầu thế kỉ X, nhà Đường suy yếu, Khúc Thừa Dụ nhân cơ hội đem quân chiếm đóng thành Đại La (Tống Bình cũ – Hà Nội), xưng Tiết Độ sứ. Ngày 7/2/906, vua Đường buộc phải chấp thuận vai trò của Tĩnh Hải quân Tiết Độ sứ, đồng thời, phong thêm cho Ông tước “Đồng bình chương sự”. Lịch sử dân tộc ghi nhận công lao của Ông như là người đầu tiên đặt cơ sở cho nền độc lập, khai mở niềm tin cho quần chúng nhân dân về một tương lai tươi sáng của nước Việt. Để rồi, năm 938, với sức mạnh của niềm tin và tinh thần đoàn kết một lòng, nhân dân Việt Nam lại tiếp tục làm nên một trận Bạch Đằng giang vang dội, mở ra thời kì độc lập, tự chủ cho đất nước.

Hội nghị Diên Hồng thời Trần cũng chính là một minh chứng về sức mạnh của niềm tin và tinh thần vua – tôi đoàn kết một lòng để 3 lần đánh bại quân xâm lược Nguyên – Mông, một trong những đế chế hùng mạnh bậc nhất ở châu Á lúc bấy giờ. Hai chữ “Diên Hồng” đã trở thành biểu trưng cho ý chí thống nhất của dân tộc, thể hiện sự đồng lòng nhất trí và niềm tin son sắc giữa nước với dân. Dưới thời Lê, Lê Lợi và Nguyễn Trãi được quân dân một lòng tin tưởng, thương mến, bởi tinh thần cai trị đất nước: “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân” và ý chí kiên định “Đem đại nghĩa để thắng hung tàn/Lấy chí nhân để thay cường bạo”. Do vậy mà “Nhân dân bốn cõi một nhà dựng cần trúc ngọn cờ phấp phới”, “Tướng sĩ một lòng phụ tử” để làm nên “cỗ nhung y chiến thắng” trước quân Minh.

Từ nửa sau thế kỉ XVIII, trước sự tranh chấp quyền lực của các tập đoàn phong kiến và những bất ổn của đời sống xã hội, người anh hùng áo vải Nguyễn Huệ phất cờ khởi nghĩa. Với khí thế và quyết tâm: “Đánh cho để dài tóc/Đánh cho để đen răng/Đánh cho nó chích luân bất phản/Đánh cho nó phiến giáp bất hoàn/Đánh cho sử tri, Nam quốc anh hùng chi hữu chủ”, Nguyễn Huệ đã huy động được sức mạnh niềm tin của quần chúng nhân dân để làm nên những chiến công vang dội tại Rạch Gầm – Xoài Mút, hay cuộc hành quân thần tốc ra kinh đô Thăng Long để đập tan ý đồ xâm lược của quân Thanh, giữ vững bờ cõi cho dân tộc, xóa bỏ tình trạng phân chia đất nước kéo dài trên hai thế kỉ, lập lại nền thống nhất quốc gia.

Dưới thời Nguyễn, dù triều đình khuất phục trước gót dày xâm lăng của chủ nghĩa thực dân phương Tây, nhưng quần chúng nhân dân Việt Nam với niềm tin và ý thức bảo vệ chủ quyền quốc gia, dân tộc đã không ngần ngại đứng lên phản kháng sự cai trị, chiếm đóng của thực dân Pháp. Với tinh thần “Bao giờ người Tây nhổ hết cỏ nước Nam thì người Nam mới hết đánh Tây” (Nguyễn Trung Trực), dù thất bại, nhưng các cuộc khởi nghĩa đã cho thấy tinh thần, ý chí tự cường của nhân dân và đặc biệt là niềm tin vào sức mạnh nội tại của dân tộc.

Cũng chính niềm tin vào sự nghiệp độc lập, tự do của đất nước mà Nguyễn Ái Quốc đã bôn ba khắp “bốn bể, năm châu” tìm kiếm con đường cứu nước, cứu dân. Trước vòng vây của chủ nghĩa thực dân, phong kiến, Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập (1930) và trở thành ngọn cờ tiên phong trong các phong trào đấu tranh cách mạng. Trong những ngày đầu vô cùng khó khăn ấy, niềm tin của nhân dân lại được khơi dậy để nuôi nấng, bao bọc, chở che cho Đảng, cho lí tưởng mà toàn thể dân tộc hướng đến. Dù có không ít người bị bắt bớ, giam cầm nhưng vẫn kiên quyết giữ vững lời thề sắt son theo Đảng. Bởi với họ, một khi đã tìm được lí tưởng, niềm tin, tức là đã tìm thấy được sức mạnh, tìm được điểm tựa tinh thần và động lực cho cuộc sống. Lý tưởng ấy đã soi sáng niềm tin cho nhân dân, mà nòng cốt là giai cấp công nhân và nông dân hăng hái bước vào cuộc đấu tranh, làm nên các cao trào cách mạng (1930 – 1931; 1936 – 1939).

Sức mạnh niềm tin của nhân dân tiếp tục được phát huy mạnh mẽ hơn trong các phong trào đấu tranh giành chính quyền những năm 1939 – 1945. Với niềm tin vào sự thắng lợi trọn vẹn và ý chí quyết tâm “Đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”, “Dù phải hi sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập”, toàn thể dân tộc Việt Nam đã làm nên Cách mạng Tháng Tám năm 1945, xóa bỏ xích xiềng phong kiến, thực dân.

Sau cách mạng tháng Tám, đất nước đứng trước vô vàn những khó khăn thử thách “ngàn cân treo đầu sợi tóc”, nhưng dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và Hồ Chủ tịch, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã có những chủ trương, đường lối đối nội, đối ngoại thiết thực để củng cố tình hình đất nước, phát huy sức mạnh niềm tin của nhân dân. Đáp lời hiệu triệu của cách mạng, hơn 20 triệu đồng bào đã đoàn kết một lòng cùng nhau thắt lưng, buộc bụng để “thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”, hăng hái tham gia “tuần lễ vàng”, “quỹ độc lập”, thực hiện phong trào “tăng gia sản xuất”, “bình dân học vụ” và đoàn kết thống nhất để chống thù trong giặc ngoài. Chiến dịch Điện Biên Phủ thắng lợi (1954) đã chính thức khép lại giai đoạn kháng chiến chống thực dân Pháp hào hùng của dân tộc. Đồng thời, thắng lợi này cũng đã minh chứng một chân lý mà các dân tộc bị áp bức trên thế giới đều có thể tin tưởng rằng: Một nước nhỏ, kinh tế chậm phát triển, nếu có một đảng mác xít chân chính lãnh đạo với đường lối chính trị, quân sự đúng đắn, phát huy được sức mạnh toàn dân tộc, được nhân dân thế giới đồng tình ủng hộ thì nhất định đánh bại được các cuộc chiến tranh xâm lược của mọi kẻ thù.

Sau năm 1954, miền Bắc quá độ đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, miền Nam bước vào cuộc kháng chiến chống Mĩ. Khát vọng độc lập dân tộc, sức mạnh niềm tin nhân dân tiếp tục được Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một” và “Sông có thể cạn, núi có thể mòn song chân lý đó không bao giờ thay đổi”. Với tinh thần: “Không có gì quý hơn độc lập tự do”, và “dù khó khăn, gian khổ đến mấy, nhân dân ta nhất định sẽ hoàn toàn thắng lợi. Đế quốc Mỹ nhất định phải cút khỏi nước ta. Tổ quốc ta nhất định sẽ thống nhất”… cả nước, triệu người như một đều nhất loạt đứng lên đấu tranh để bảo vệ quê hương, xóm làng. Từ phong trào Đồng Khởi (1960), Điện Biên Phủ trên không (1972), đến Đại thắng Mùa xuân năm 1975,… tất cả những thắng lợi vang dội ấy đều được tạo nên bởi sức mạnh của niềm tin, bởi truyền thống của một dân tộc vốn đất không rộng, người không đông, vũ khí trang bị chưa hiện đại nhưng với ý chí quyết tâm, tinh thần đoàn kết, đồng sức, đồng lòng đã đánh thắng một đế quốc to, quân đông, vũ khí trang bị hiện đại.

Sau khi thống nhất đất nước, cả nước quá độ đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội. Sức mạnh niềm tin của nhân dân tiếp tục được huy động cho công cuộc đổi mới. Sau 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới, từ một đất nước nghèo nàn, có cơ sở vật chất, kỹ thuật, kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội lạc hậu, trình độ thấp, đến nay, Việt Nam đã vươn lên trở thành nước đang phát triển, có thu nhập trung bình. Văn hoá, xã hội tiếp tục phát triển, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện. Khối đại đoàn kết toàn dân tộc không ngừng được củng cố. Tình hình chính trị, xã hội ổn định, quốc phòng – an ninh, độc lập, chủ quyền được giữ vững. Vị thế và uy tín của đất nước ngày càng được nâng cao trên trường quốc tế. Đặc biệt, trong năm 2020, dù gặp phải rất nhiều khó khăn do tình hình COVID-19, nhưng Việt Nam vẫn thực hiện thành công nhiệm vụ “kép” đầy ấn tượng trong phòng chống đại dịch và phát triển kinh tế. Việt Nam là một trong ít quốc gia duy trì tăng trưởng dương trên thế giới với tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2020 đạt 2,91%.

KHÔNG THỂ XUYÊN TẠC GIÁ TRỊ CUỐN SÁCH VỀ BÀI VIẾT CỦA TỔNG BÍ THƯ NGUYỄN PHÚ TRỌNG

Ngày 16/11/2021, Ban Tuyên giáo Trung ương và Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật tổ chức Lễ ra mắt cuốn sách “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam – Dư luận trong nước và quốc tế về bài viết của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng” (cuốn sách về bài viết của Tổng Bí thư). Ngay sau đó, mạng xã hội xuất hiện những thông tin xuyên tạc, bôi nhọ cuốn sách về bài viết của Tổng Bí thư; mà một trong số đó là bài viết “Nguyễn Phú Trọng rút cả tỉ đồng từ ngân sách quốc gia ra tập sách mới để làm gì?” của Âu Dương Thệ đăng trên Danlambao ngày 22/11/2021.

Một là, trong bài viết này, Âu Dương Thệ đã không chỉ bịa đặt, xuyên tạc nội dung, ý nghĩa bài viết “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” (bài viết), ngày 16/5/2021, bẻ cong sự thật cuốn sách về bài viết của Tổng Bí thư ngày 16/11/2021, mà còn bôi nhọ người đứng đầu Đảng Cộng sản Việt Nam khi cho rằng trong khi ngân sách nhà nước “đang cạn kiệt, phải hủy bỏ tăng lương cho công nhân viên” thì việc trích hàng tỷ đồng trong ngân sách để in, phát hành và tuyên truyền cổ động cuốn sách này là “lấy tiền của dân mua thuốc độc và bắt dân uống”; là “để thần thánh hóa Nguyễn Phú Trọng”.

Thực tế là, không chỉ với bài viết này và cuốn sách này, mà mỗi khi các phần tử phản động, cơ hội đu theo trend của các thế lực thù địch kêu gào chống phá Đảng Cộng sản Việt Nam, chế độ xã hội chủ nghĩa đang xây dựng ở Việt Nam thì những luận điệu phản động thường thấy chính là phê phán chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh- nền tảng tư tưởng của Đảng; phê phán sự lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhân dân Việt Nam; bôi nhọ vai trò cầm quyền/độc quyền lãnh đạo sự nghiệp cách mạng của Đảng là “độc tài”, là “toàn trị”…

Cho nên, bài viết này của Âu Dương Thệ cũng không ngoài những tiếng kêu rên ỉ ôi đã cũ như: Dù chủ nghĩa cộng sản “đã bị phá sản ở ngay Liên xô và các nước đông Âu từ trên 30 năm, nhưng Nguyễn Phú Trọng vẫn ca ngợi học thuyết sai lầm và vô nhân đạo Marx- Lenin” và Tổng Bí thư “gồng mình ca ngợi chế độ độc tài toàn trị ở VN trong khuôn mẫu Xã hội chủ nghĩa do chính ông cầm đầu hiện nay; trong đó trước sau ĐCS vẫn độc quyền, đàn áp những người khác chính kiến” là để cố minh chứng rằng, “các lãnh vực nhân quyền, dân chủ, tự do và đời sống vật chất cao của đại đa số nhân dân các xã hội DÂN CHỦ ĐA NGUYÊN” trong các nước tư bản chủ nghĩa hơn hẳn các nước xã hội chủ nghĩa nói chung, ở Việt Nam nói riêng.

Không dừng ở đó, Âu Dương Thệ còn kích động lòng dân khi cho rằng việc Tổng Bí thư khẳng định: “Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử” trong bài viết là “tiếp tục muốn cho nhân dân ăn bánh vẽ!”; là “cứ nhắm mắt đi tìm thiên đàng XHCN, nhưng không biết nó ở đâu, như thế nào và bao giờ tới!”. Theo Âu Dương Thệ, thì chủ nghĩa xã hội đã bị phá sản từ thế kỷ XX, nên con đường mà nhân dân Việt Nam đang đi, cái đích mà dân tộc Việt Nam hướng đến là “mù tịt”; trong khi đó, nhân dân Việt Nam lại “không biết Thiên đàng nằm ở đâu và người chỉ đường lại không biết coi bản đồ!”.

Kiểu nói lấy được theo quan điểm của những người “cuồng” chủ nghĩa tư bản này chả có gì lạ! Bởi với những phần tử này, với những người ăn theo “bả” dân chủ phương Tây này thì dường như họ chưa bao giờ thừa nhận sự ưu việt của chủ nghĩa xã hội và xu thế phát triển tất yếu của nhân loại chính là chủ nghĩa cộng sản (mà chủ nghĩa xã hội là giai đoạn đầu). Vì thế, trong họ chỉ có và nhất định phải là đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập; phải thực thi xã hội dân sự thì mới có tự do và dân chủ thực sự; đồng thời, chỉ có tự do ứng cử và bầu cử không theo quy định của Hiến pháp và pháp luật Việt Nam/không theo đúng Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015 của Việt Nam mới là dân chủ. Và cũng vì thế, Âu Dương Thệ đã bẻ cong sự thật khi cho rằng bầu cử Quốc hội khóa XV ở Việt Nam không dân chủ, bởi đó là “đảng cử dân bầu, dân chủ cuội, chỉ tốn tiền bạc của nhân dân. Nó chỉ phản ảnh cách độc diễn của chế độ độc đảng từ ngay trong các Đại hội Đảng, chỉ những người có quyền lực muốn độc quyền tiếp”.

Hai là, cuốn sách về bài viết của Tổng Bí thư xuất bản sau bài viết “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” đúng nửa năm. Trong cuốn sách này, ngoài bài viết của Tổng Bí thư còn có 162 bài viết, trả lời phỏng vấn của nhiều nhà khoa học, chính khách… ở trong và ngoài nước. Lần theo 824 trang của cuốn sách đó, người công tâm và khách quan nhất đều thấy, dù tiếp cận ở chiều cạnh nào thì đó cũng đều là những ý kiến đánh giá đúng đắn, xác thực về những vấn đề mà Tổng Bí thư đã trình bày như lý luận về chủ nghĩa xã hội, giá trị và tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội so với chủ nghĩa tư bản; thực hiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa để vừa phát triển kinh tế thị trường vừa thực hiện công bằng xã hội, lấy con người là trung tâm; con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam; mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam…

Hơn nữa, 162 bài viết đó được chọn lọc từ các bài viết, các ý kiến, bình luận của cán bộ, đảng viên, đồng bào dân tộc thiểu số, tôn giáo, các nhà nghiên cứu, nhà ngoại giao, trí thức, văn nghệ sĩ, kiều bào và các nhà hoạt động chính trị ở nước ngoài về bài viết của Tổng Bí thư đã được đăng tải trên các phương tiện truyền thông tin đại chúng… Những ý kiến đó cho thấy giá trị khoa học và khách quan trong từng vấn đề mà Tổng Bí thư đã trình bày, cho nên đó không phải là “bệnh cuồng tín” chủ nghĩa xã hội. Đồng thời, càng không phải rằng, những bài viết trong cuốn sách “đều do những thuộc hạ trong nước đội danh khoa bảng và một số đảng viên các đảng Cộng sản và cảm tình ở nước ngoài” tung hô; và “tinh thần cầu thị và khoa học đã bị người cầm đầu và kẻ dưới quyền dập nát để thay thế cho đạo đức giả, bệnh cao ngạo và xu nịnh!” như Âu Dương Thệ quy chụp và xúc phạm Tổng Bí thư.

Thực tế, cuốn sách về bài viết của Tổng Bí thư không chỉ cung cấp cho những người quan tâm nghiên cứu về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam; làm sâu sắc hơn Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng mà còn là định hướng quan trọng giúp cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân hiểu rõ để quán triệt và tiếp tục kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội mà Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhân dân ta đã chọn từ thập niên 1930. Việc công bố bài viết ngày 16/5/2021 của Tổng Bí thư là minh chứng cho thấy con đường phát triển của Việt Nam và sự kiên định con đường đã chọn là quyết định đúng đắn. Việc xuất bản cuốn sách về bài viết của Tổng Bí thư ngày 16/11/2021 là sự khẳng định giá trị lý luận và khoa học về bài viết của Tổng Bí thư; đồng thời cũng cho thấy sự kiên định và sáng tạo của Việt Nam trên con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Cho nên, khi Âu Dương Thệ cho rằng Tổng Bí thư “thích nghe nịnh hót, tự tâng bốc” và “lợi dụng quyền hành” để “bắt các nhà khoa bảng trong các viện gọi là “khoa học” và các nhà báo dưới quyền phải giày xéo lương tâm, phải uốn cong ngòi bút viết bài ca ngợi” bài viết của mình thì đó chính là sự quy chụp vô lương tri và xúc phạm nhân cách người đứng đầu Đảng Cộng sản Việt Nam.

Ba là, cần phải khẳng định với Âu Dương Thệ rằng: Việt Nam lựa chọn đi lên chủ nghĩa xã hội được khẳng định từ Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam (2/1930). Kiên định sự lựa chọn đó, nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng và các Tổng Bí thư của Đảng đã giành được những thắng lợi có ý nghĩa lịch sử; đã đưa dân tộc Việt Nam từ một đất nước bị đắm chìm trong đêm trường nô lệ trở thành một quốc gia xã hội chủ nghĩa hòa bình, độc lập, tự do, ngày một phát triển bền vững. Sự lựa chọn đúng đắn này không chỉ phù hợp yêu cầu, nguyện vọng của nhân dân Việt Nam, khẳng định ý nghĩa lịch sử, vai trò của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với việc tìm ra con đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc mà còn cho thấy giá trị có ý nghĩa thời đại của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, của hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và chống Mỹ, cứu nước, của sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tiến trình phát triển.

Đồng thời, vẫn phải nhắc lại với Âu Dương Thệ rằng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và cả Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chưa bao giờ “tự đề cao mình” bằng cách viết sách và “bắt người khác” viết về mình. Vì thế, những luận điệu Âu Dương Thệ bôi đen sự thật, xuyên tạc bài viết và cuốn sách về bài viết của Tổng Bí thư chỉ khiến nhân dân Việt Nam thêm một lần hiểu rõ bản chất phản động của người viết, để càng tin tưởng hơn và kiên định hơn trên con đường đi lên chủ nghĩa xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam!

MUỐN THAM GIA NGHĨA VỤ QUÂN SỰ VÀ PHỤC VỤ LÂU DÀI TRONG QUÂN ĐỘI CẦN LÀM GÌ?

I. Thứ nhất về việc muốn tham gia nghĩa vụ quân sự?

Theo quy định tại Điều 4 Thông tư 148/2018/TT-BQP ngày 04-10-2018 quy định về tiêu chuẩn tuyển quân như sau:

Điều 4. Tiêu chuẩn tuyển quân

1. Tuổi đời:

a) Công dân từ đủ 18 tuổi đến hết 25 tuổi.

b) Công dân nam được đào tạo trình độ cao đẳng, đại học đã được tạm hoãn gọi nhập ngũ trong thời gian một khóa đào tạo của một trình độ đào tạo thì tuyển chọn và gọi nhập ngũ đến hết 27 tuổi.

2. Tiêu chuẩn chính trị:

a) Thực hiện theo Thông tư liên tịch số 50/2016/TTLT-BQP-BCA ngày 15-4-2016 của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng - Bộ trưởng Bộ Công an quy định tiêu chuẩn chính trị tuyển chọn công dân vào phục vụ trong Quân đội nhân dân Việt Nam.

b) Đối với các cơ quan, đơn vị và vị trí trọng yếu cơ mật trong Quân đội; lực lượng Tiêu binh, Nghi lễ; lực lượng Vệ binh và Kiểm soát quân sự chuyên nghiệp thực hiện tuyển chọn theo quy định của Bộ Quốc phòng.

3. Tiêu chuẩn sức khỏe:

a) Tuyển chọn những công dân có sức khỏe loại 1, 2, 3 theo quy định tại Thông tư liên tịch số 16/2016/TTLT-BYT-BQP ngày 30-6-2016 của Bộ trưởng Bộ Y tế - Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quy định việc khám sức khỏe thực hiện nghĩa vụ quân sự.

b) Đối với các cơ quan, đơn vị, vị trí quy định tại Điểm b, Khoản 2 Điều này, thực hiện tuyển chọn bảo đảm tiêu chuẩn riêng theo quy định của Bộ Quốc phòng.

c) Không gọi nhập ngũ vào Quân đội những công dân có sức khỏe loại 3 tật khúc xạ về mắt (cận thị 1,5 diop trở lên, viễn thị các mức độ); nghiện ma túy, nhiễm HlV, AIDS.

4. Tiêu chuẩn văn hóa:

a) Tuyển chọn và gọi nhập ngũ những công dân có trình độ văn hóa lớp 8 trở lên, lấy từ cao xuống thấp. Những địa phương có khó khăn không đảm bảo đủ chỉ tiêu giao quân thì báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định được tuyển chọn số công dân có trình độ văn hóa lớp 7.

b) Các xã thuộc vùng sâu, vùng xa, vùng điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định của pháp luật; đồng bào dân tộc thiểu số dưới 10.000 người thì được tuyển không quá 25% công dân có trình độ văn hóa cấp tiểu học, còn lại là trung học cơ sở trở lên.

II. Thứ hai về vấn đề thanh niên có nguyện vọng phục vụ lâu dài trong quân đội, thì điều kiện như thế nào?

* Trường hợp thứ nhất, thanh niên cần đăng ký thi tuyển vào các trường Quân đội. Đối với thí sinh là thanh niên ngoài Quân đội đăng ký sơ tuyển và mua hồ sơ sơ tuyển tại Ban tuyển sinh quân sự cấp huyện (quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh thành phố trực thuộc trung ương), nơi thí sinh đăng ký hộ khẩu thường trú (gọi chung là Ban tuyển sinh quân sự cấp huyện); đối với thí sinh là quân nhân đang tại ngũ đăng ký sơ tuyển và mua hồ sơ sơ tuyển tại đơn vị cấp trung đoàn hoặc tương đương (gọi chung là Ban tuyển sinh quân sự cấp trung đoàn). Khi đăng ký sơ tuyển, thí sinh phải đăng ký xét tuyển nguyện vọng 1 (nguyện vọng cao nhất) vào trường nộp hồ sơ sơ tuyển. Các trường Quân đội và trường Công an đều chỉ xét tuyển đối với thí sinh đăng ký nguyện vọng 1 (nguyện vọng cao nhất). Hàng năm, Bộ Quốc phòng có văn bản hướng dẫn công tác tuyển sinh quân sự. Công tác tuyển sinh quân sự năm 2021 được Báo Quân đội nhân dân Điện tử đăng tải chi tiết tại đây, bạn có thể tham khảo thêm.

* Trường hợp thứ hai, sau khi quân nhân hoàn thành nghĩa vụ quân sự và muốn chuyển sang phục vụ theo chế độ quân nhân chuyên nghiệp thì căn cứ theo quy định tại Điều 14 Luật quân nhân chuyên nghiệp, công nhân, viên chức quốc phòng số 98/2015/QH13 ngày 26-11-2015, cụ thể như sau:

1. Đối tượng tuyển chọn:

a) Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam trong trường hợp thay đổi tổ chức, biên chế mà chức vụ đang đảm nhiệm không còn nhu cầu bố trí sĩ quan;

b) Hạ sĩ quan, binh sĩ hết thời hạn phục vụ tại ngũ, đang phục vụ trong ngạch dự bị của quân đội;

c) Công nhân và viên chức quốc phòng.

2. Đối tượng tuyển dụng:

Công dân Việt Nam không thuộc đối tượng quy định tại khoản 1 Điều này, thường trú trên lãnh thổ Việt Nam, đủ 18 tuổi trở lên.

3. Điều kiện, tiêu chuẩn tuyển chọn, tuyển dụng gồm:

a) Có phẩm chất chính trị, đạo đức, sức khỏe, lý lịch rõ ràng và tự nguyện phục vụ quân đội;

b) Có văn bằng, chứng chỉ chuyên môn kỹ thuật, nghiệp vụ phù hợp với chức danh của quân nhân chuyên nghiệp.

4. Hình thức tuyển chọn, tuyển dụng là xét tuyển hoặc thi tuyển. Trường hợp tốt nghiệp đại học hệ chính quy loại giỏi, xuất sắc hoặc có trình độ kỹ thuật nghiệp vụ bậc cao thì được tuyển chọn, tuyển dụng thông qua xét tuyển.

Như vậy bạn căn cứ vào điều kiện nêu trên để xác định nguyện vọng chuyển sang phục vụ theo chế độ quân nhân chuyên nghiệp.

CHỮA BỆNH KHOE MẼ CỦA CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN

Từ xa xưa trong xã hội đã xuất hiện những kẻ khoe mẽ, khoác lác, có một nói mười, có mười nói trăm, thậm chí không có nói cho thành có.

Nếu là những thường dân nói khoác, kể những câu chuyện có tính chất phóng đại cho vui thì có thể vô hại mà lại có ích là giải tỏa những căng thẳng trong cuộc sống như kiểu chuyện “bác Ba Phi”, chuyện “Trạng Quỳnh”... Thế nhưng sự khoe mẽ, khoác lác của những người làm quan xưa kia, những cán bộ ngày nay thì lại có hại vô cùng. Bởi sự khoác lác ấy sẽ đánh lừa quần chúng, làm cho họ lẫn lộn thật giả, dẫn đến nhận thức lệch lạc, tiêu cực. Tính khoe mẽ, khoác lác giống như một mầm bệnh, lâu ngày sẽ biến các cán bộ thành kẻ ảo tưởng, huyễn hoặc về bản thân, nói nhiều, làm ít, nói hay, làm dở, hoặc chỉ nói mà không làm, tệ hơn là làm thoái hóa, biến chất cán bộ, đảng viên...

TỰ DỰA HƠI NÓI KHOÁC…

Tật khoe mẽ, khoác lác của cán bộ không phải bỗng nhiên mà có. Nó được hình thành từ trong quá trình công tác, từ quá trình tiếp xúc, quan hệ với các cá nhân, cơ quan, tổ chức. Do yêu cầu thực hiện nhiệm vụ, các cán bộ có thể nắm được một số thông tin. Nếu với những người được rèn luyện nghiêm túc, có bản lĩnh vững vàng, nhận thức đúng đắn thì họ sẽ biết cách xử lý, phổ biến các thông tin ấy một cách phù hợp với từng đối tượng nên sẽ có tác dụng định hướng tư tưởng, bồi dưỡng, nâng cao nhận thức cho người tiếp nhận thông tin và làm cho nhiệm vụ, công việc được hoàn thành đúng ý định. Còn đối với những người nhận thức non nớt, tính cách huênh hoang, bồng bột thì lại coi những thông tin mình nắm được như một phương tiện để tự tâng bốc mình, đưa mình trở thành nhân vật quan trọng trước những người được truyền đạt thông tin.

Tôi từng chứng kiến có anh cán bộ chỉ là một thư ký giúp việc cho một cán bộ cao cấp, nhưng lúc nào anh cũng tỏ ra mình là người quan trọng, mình mới là người có thể... quyết định việc này, việc kia. Khi có cơ quan đến đề xuất nội dung công việc với thủ trưởng thì anh bẻ hành, bẻ tỏi, yêu cầu phải làm thế này, làm thế kia và thay đổi, đảo lộn gần như hoàn toàn nội dung, kế hoạch của cơ quan đề xuất. Anh không biết, hoặc cố tình không biết rằng chính những phần việc ấy đã được các chuyên gia và cơ quan tham mưu xem xét, bàn thảo, cân nhắc kỹ càng trước khi đề xuất. Hành vi ấy biểu hiện rằng, anh đã tự cho mình cái quyền đứng trên cơ quan tham mưu, vượt qua giới hạn trách nhiệm và bổn phận của một thư ký giúp việc.

Lại cũng có người, do yêu cầu công việc nên được tiếp xúc với thủ trưởng cấp trên thường xuyên. Lẽ ra anh nên lấy đó làm cơ hội để học hỏi, tích lũy thêm kiến thức, nâng cao trình độ, phương pháp, tác phong công tác. Nhưng tiếc thay, anh lại coi những cuộc tiếp xúc đó là thế mạnh, là “năng lực” của mình trước đồng nghiệp. Anh hay kể rằng, mình quen thủ trưởng này, biết thủ trưởng kia, có thể đến chỗ này, vào chỗ khác, có thể giải quyết được nhiều công việc, thậm chí cả những việc đặc biệt quan trọng như sắp xếp, điều động, bổ nhiệm cán bộ... Những người biết anh thì chỉ cười mỉm, họ biết rằng đó chỉ là sự ảo tưởng, bởi thực chất, anh cũng chỉ là một trợ lý bình thường như bao trợ lý khác trong cơ quan. Có chăng những người khác họ không khoe mẽ, không ra vẻ như anh, mà họ biết trách nhiệm và biết giữ đúng bổn phận của người cán bộ, không bao giờ vượt quá giới hạn đã được tổ chức xác định. Nhưng có người không biết, lần đầu tiếp xúc với anh thì lại tưởng anh có quyền năng thật, nên lân la nhờ vả, đề nghị hỗ trợ, giúp đỡ, thậm chí có cả phần “chè nước” để đưa đẩy, nhằm bảo đảm cho sự việc hanh thông. Nhưng cuối cùng, vì không có quyền năng thực sự nên sự việc không được tổ chức thông qua, không được thủ trưởng chấp thuận. Khỏi phải nói sau sự việc như thế hình ảnh của anh trong mắt đồng nghiệp như thế nào.

Có một điều rất đáng suy ngẫm là hiện tượng khoe mẽ, huênh hoang của cán bộ, lúc sinh thời đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc nhiều lần trong các bài nói, bài viết. Điển hình là trong tác phẩm "Sửa đổi lối làm việc". Trong tác phẩm này, Bác chỉ rõ bệnh kiêu ngạo của người cán bộ, đảng viên, đó là: “Tự cao, tự đại, ham địa vị, hay lên mặt. Ưa người ta tâng bốc mình, khen ngợi mình. Ưa sai khiến người khác. Hễ làm được việc gì hơi thành công thì khoe khoang vênh váo, cho ai cũng không bằng mình... Việc gì cũng muốn làm thầy người khác” . Đến tháng 11-1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết hẳn một bài báo tựa đề “Bệnh tự ái, tự kiêu” đăng trên Báo Sự thật số 102, ra ngày 15-11-1948. Trong bài báo, Bác chỉ rõ: “Tự kiêu tức là cho mình việc gì cũng thạo, cũng làm được. Việc gì mình cũng giỏi hơn mọi người. Mình là thần thánh, không cần học ai, hỏi ai” . Những năm gần đây, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng thường nhắc đến hành vi khoe mẽ, tự kiêu, tự đại, nịnh trên, nạt dưới của một số cán bộ. Thế nhưng những cảnh báo đó dường như chưa thấm, chưa ngấm vào một bộ phận cán bộ, đảng viên. Vì thế trong thực tế vẫn còn nhiều cán bộ, đảng viên mắc phải thói hư này. Đây là căn nguyên sinh ra bệnh cá nhân chủ nghĩa có hại cho Đảng và có hại cho chính bản thân cán bộ, đảng viên.

ĐẾN Ỷ THẾ LÀM LIỀU

Từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã chỉ đạo xử lý nhiều vụ án quan trọng có liên quan đến các cán bộ, đảng viên. Đã cách chức, giáng chức, giáng cấp, khai trừ, kỷ luật hàng nghìn cán bộ, đảng viên có vi phạm. Nhiều cán bộ, đảng viên, trong đó có cả cán bộ cao cấp của Đảng, sĩ quan cao cấp trong LLVT đã bị truy tố do vi phạm pháp luật. Trong số các vụ án nói trên có không ít vụ là do các đối tượng đã lợi dụng danh nghĩa, danh tiếng của cá nhân, tổ chức để làm liều. Điển hình là các vụ án như vụ Phan Văn Sào Nam, lợi dụng, cấu kết với một số cán bộ để tổ chức đánh bạc và rửa tiền; vụ Phan Văn Anh Vũ lợi dụng chức vụ, quyền hạn, núp bóng cấp trên, lôi kéo, tha hóa cán bộ và đã phạm nhiều tội nghiêm trọng như: Lợi dụng chức vụ, quyền hạn khi thi hành công vụ; Cố ý làm lộ bí mật Nhà nước; Lạm dụng chức vụ chiếm đoạt tài sản. Hoặc như phạm nhân Trịnh Xuân Thanh (bị tòa án xét xử năm 2018), trước khi bị khởi tố đã có một quá trình vi phạm pháp luật, tham nhũng, nhưng lợi dụng các mối quen biết, tiếp tục “luồn lách” “chui sâu, leo cao” và được bổ nhiệm giữ chức Phó chủ tịch UBND tỉnh Hậu Giang. Sở dĩ Thanh tham nhũng, vi phạm pháp luật trong thời gian dài có một nguyên nhân rất quan trọng đó là dựa bóng cấp trên, dựa vào sự bao che của cấp trên để phóng tay làm liều, biết sai mà vẫn làm. Việc Thanh bị báo chí phanh phui từ hành vi sử dụng chiếc xe ô tô tư nhân đắt tiền, nhưng lại gắn biển xe công vụ thực chất chỉ là giọt nước tràn ly và cũng là xuất phát từ thói huênh hoang, khoe mẽ, "coi trời bằng vung" của một cán bộ đã nhiễm thói hư, tật xấu từ lâu...

Trên đây chỉ là một số vụ án lớn, điển hình về sự tha hóa của cán bộ có nguyên nhân khởi nguồn từ thói dựa hơi, dựa tiếng cấp trên, thậm chí tha hóa cán bộ cấp trên để tạo tấm bình phong cho mình làm liều, làm bậy, vi phạm pháp luật nghiêm trọng. Trong thực tế cuộc sống, cũng còn nhiều cán bộ, đảng viên mới có một chút chức quyền trong tay nhưng đã bộc lộ thói huênh hoang, làm liều, như: Dọa nạt, hành hung cán bộ, nhân viên khi họ đang thi hành công vụ; mạt sát, coi thường, sách nhiễu nhân dân khi người dân có việc cần đến cơ quan công quyền; nịnh trên, nạt dưới, vi phạm dân chủ ở cơ quan, đơn vị... Thậm chí có cả những người có học hàm, học vị, giữ chức vụ quan trọng ở một nhà trường, nhưng lại nói năng lỗ mãng, hống hách, ứng xử thiếu văn hóa với khách đến tìm hiểu về cơ quan, đơn vị mình. Những hiện tượng này đang xảy ra khá phổ biến và đã được các cơ quan báo chí đăng tải, phê phán, nhưng xem ra việc khắc phục, sửa chữa chuyển biến tiến bộ còn rất chậm. Mới đây, phát biểu trong Hội nghị Văn hóa toàn quốc, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chỉ ra một số thói hư, tật xấu, thiếu văn hóa... của một số cán bộ, đảng viên và thói học đòi, tiếp thu thiếu chọn lọc văn hóa nước ngoài. Sự ý nhị của Tổng Bí thư khi đọc bài thơ "Chân quê" của Nguyễn Bính, trong đó nhấn mạnh mấy câu cuối của bài thơ này: “Hoa chanh nở giữa vườn chanh/ Thầy u mình với chúng mình chân quê/ Hôm qua em đi tỉnh về/ Hương đồng gió nội bay đi ít nhiều” là lời nhắc nhở sâu sắc cho đội ngũ cán bộ, đảng viên trong việc rèn luyện, tu dưỡng phẩm chất đạo đức, xây dựng và duy trì lối sống trong sáng, lành mạnh, có văn hóa...

Sửa những thói hư, tật xấu, thói khoe mẽ, huênh hoang của cán bộ, đảng viên là việc cấp thiết và phải tiến hành thường xuyên, liên tục. Bởi trong một đảng cầm quyền thì mỗi đảng viên phải là một hạt nhân đoàn kết, phải có phẩm chất đạo đức tốt, có liêm sỉ, có cách ứng xử văn hóa trước quần chúng nhân dân, như thế mới tập hợp, thu hút được quần chúng, mới giúp Đảng hoàn thành trọng trách lãnh đạo xã hội. Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII vừa ban hành Quy định số 37-QĐ/TW quy định về những điều đảng viên không được làm, mục đích cũng là để làm cho đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng ngày càng thấm nhuần đạo đức cách mạng, tự rèn luyện, tu dưỡng để xứng đáng với vai trò tiền phong. Vì vậy tinh thần, nội dung của Quy định 37-QĐ/TW cần phải nhanh chóng được lan tỏa tới các chi bộ và từng đảng viên. Đảng viên và tổ chức đảng các cấp trong sinh hoạt cần nêu cao tính tự phê bình và phê bình, nghiêm túc quán triệt, học tập thực hiện các điều trong quy định và phải kiên quyết xử lý các đảng viên vi phạm quy định. Phải tăng cường công tác kiểm tra Đảng, kịp thời phát hiện, chấn chỉnh các đảng viên khi có biểu hiện, dấu hiệu vi phạm. Thời gian qua, chính vì chưa chú trọng nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ, hoặc khi đấu tranh, phê bình còn e dè, nể nang, nên thói chuyên quyền, độc đoán, huênh hoang có cơ hội tồn tại và phát tác trong một số cán bộ, đảng viên. Còn đối với mỗi cán bộ, đảng viên muốn chữa được bệnh huênh hoang, khoe mẽ thì cần luôn ghi nhớ và học cách khiêm tốn, cần biết nói những gì, nói ở đâu và nói vào lúc nào, cần phải biết lắng nghe phê bình, tiếp thu phê bình một cách thành thật, rồi tích cực sửa chữa sai lầm theo đúng tinh thần của người cộng sản. Người xưa đã nói đại ý: Khiêm tốn bao nhiêu cũng chưa đủ, tự kiêu một chút hóa ra thừa. Câu nói này có lẽ đến nay vẫn đúng và vẫn còn giá trị.

TRẦN VŨ

KHÔNG THỂ LỢI DỤNG DỊCH COVID-19 ĐỂ XUYÊN TẠC VẤN ĐỀ NHÂN QUYỀN Ở VIỆT NAM

Thời gian qua, trước diễn biến phức tạp và tác động tiêu cực của đại dịch Covid-19 đối với nền kinh tế và đời sống xã hội, Đảng, Nhà nước, Chính phủ, các lực lượng và toàn dân đã sẻ chia, chung sức, đồng lòng, huy động mọi nguồn lực phòng, chống dịch bệnh, ổn định cuộc sống nhân dân. Thế nhưng, dưới vỏ bọc “dân chủ”, “nhân quyền”, các thế lực thù địch tìm mọi cách xuyên tạc, bôi nhọ nhằm phủ nhận những thành quả phòng, chống dịch của đất nước. Đó là điều không thể chấp nhận được.

Vừa qua, lợi dụng tình hình dịch Covid-19 diễn biến phức tạp trên phạm vi cả nước, tạo nhiều phát sinh mới, chưa có tiền lệ, gây nhiều khó khăn, xáo trộn nền kinh tế và đời sống nhân dân, các nhà “dân chủ” vin cớ “bảo vệ nhân quyền” đẩy mạnh dàn dựng các “kịch bản” tuyên truyền, xuyên tạc một cách công phu, tỉ mỉ, với nhiều thủ đoạn hết sức tinh vi, xảo quyệt, nhằm đánh lạc hướng dư luận, nói xấu Đảng, Nhà nước, tạo tâm lý bi quan, hoài nghi, gây chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Họ rêu rao: “Việt Nam đối diện khủng hoảng kinh tế, xã hội toàn diện, chỉ biết phong tỏa mặc dân sống chết ra sao”; “không hỗ trợ cứu đói cho dân mà còn tận thu vơ vét tiền của dân”; thâm hiểm hơn, họ còn tung ra những video phỏng vấn ý kiến của những người lao động nghèo chưa được nhận hỗ trợ từ chính quyền để vu khống rằng “người nghèo không được hỗ trợ”, “chỉ có dân giúp dân, không thấy chính quyền đâu”, v.v. Từ đó, họ quy chụp là “Việt Nam đang lợi dụng Covid-19 để vi phạm nhân quyền”.

Vậy sự thật ở đây là gì?

Đằng sau sự xuyên tạc ấy nhắm vào ai; mưu đồ của họ ra sao,… thực tiễn sẽ là minh chứng xác thực nhất. Như mọi người thấy rõ, đại dịch Covid-19 đã không chừa một quốc gia nào, nó không chỉ gây ra nhiều hệ lụy tiêu cực về kinh tế - xã hội trên khắp thế giới, mà còn khiến cho sự nỗ lực đảm bảo cuộc sống cũng như quyền con người ở các quốc gia, dù ở mức độ phát triển nào, đều bị ảnh hưởng nghiêm trọng, đặc biệt là ba quyền cơ bản: quyền sống, quyền lao động và quyền tự do. Ở Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, với chủ trương sát đúng cùng các giải pháp phù hợp, với tinh thần đoàn kết của dân tộc, chúng ta đã cơ bản kiểm soát được tình hình dịch bệnh, đưa đất nước vào trạng thái bình thường mới; qua đó, đẩy mạnh thực hiện “mục tiêu kép” vừa phòng, chống dịch có hiệu quả, vừa phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm an sinh xã hội. Nhờ đó, các quyền cơ bản của con người luôn được coi trọng và đảm bảo.

Về quyền sống, trong khi nhiều quốc gia trên thế giới còn đang lúng túng trong việc lựa chọn chiến lược để đối phó với Covid-19 thì Việt Nam xác định: Bảo vệ sức khỏe, tính mạng nhân dân là trên hết, trước hết. Với quan điểm vì nhân dân phục vụ, “không để ai bị bỏ lại phía sau”, Đảng và Nhà nước ta đã có những biện pháp mạnh mẽ, toàn diện, trước mắt có thể chịu thiệt hại về kinh tế, song bằng mọi giá phải bảo vệ tính mạng nhân dân. Thực hiện nhất quán quan điểm đó, Đảng và Nhà nước không để cho các nhóm người yếu thế bị thiệt thòi, chúng ta đã phát huy sức mạnh tổng hợp của mọi tổ chức, mọi lực lượng, huy động mọi nguồn lực trong xã hội với phương châm “3 trước”, “4 tại chỗ”1. Một mặt, các gói an sinh xã hội, phúc lợi xã hội được nhanh chóng quyết định và triển khai một cách đồng bộ, thiết thực. Mặt khác, hưởng ứng sự chỉ đạo, lãnh đạo đúng đắn của Đảng và Nhà nước, phong trào tương thân tương ái, sẻ chia, đùm bọc đã lan tỏa rộng khắp cả nước. Những thuật ngữ mới, mang tính nhân văn đã xuất hiện và đi thẳng vào truyền thông quốc tế, như: “ATM gạo”, “ATM ô xy”, “Cửa hàng 0 đồng”,… đã làm cho cả thế giới thán phục với tinh thần và tấm lòng người Việt Nam.

Chính phủ luôn bám sát thực tiễn, nắm chắc diễn biến, bất kể ngày đêm và trong nhiều tình huống khẩn cấp, kịp thời ban hành chỉ thị, nghị quyết, công điện, “thực hiện quyết liệt, đồng bộ, linh hoạt các nhiệm vụ, giải pháp phòng, chống phù hợp với tình hình diễn biến dịch Covid-19. Đồng thời, huy động sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị và sự tham gia tích cực của các tổ chức, cộng đồng doanh nghiệp, nhân dân cả nước,... từng bước kiểm soát tình hình dịch bệnh Covid-19, sớm đưa cuộc sống trở lại trạng thái “bình thường mới”. Ban Chỉ đạo phòng, chống các cấp luôn tận tâm, tận lực, túc trực chỉ đạo, hướng dẫn, tổ chức thực hiện liên tục 24/24 giờ cho đến khi mọi việc được kiểm soát an toàn. Tất cả các cấp, ngành, địa phương, các tổ chức chính trị - xã hội đã vào cuộc đồng bộ, quyết tâm cao nhất, đoàn kết, đồng lòng và hành động quyết liệt vì mục tiêu tối thượng là bảo vệ tính mạng, sự bình yên và hạnh phúc của nhân dân. Bất chấp mọi gian nguy, vất vả, hàng vạn y, bác sĩ, tình nguyện viên, cán bộ, chiến sĩ Quân đội, Công an, Dân quân tự vệ luôn xung kích, có mặt trên tuyến đầu chống dịch, ở tâm điểm của những nơi khó khăn nhất cùng chính quyền cơ sở, trực tiếp tiến hành và hướng dẫn, động viên nhân dân phòng, chống dịch bệnh Covid-19, trở thành điểm tựa niềm tin, gắn kết chặt chẽ tình cảm quân - dân, khắc sâu hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ”, người chiến sĩ Công an nhân dân, từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, vì nhân dân phục vụ. Trong bất kỳ tình huống nào, Đảng, Nhà nước luôn hành động vì lợi ích quốc gia - dân tộc và hạnh phúc của nhân dân. Vì vậy, mọi luận điệu xuyên tạc, bịa đặt dẫu có tinh vi đến đâu cũng đều bị chính những kết quả thực tiễn sinh động bác bỏ.

Về quyền lao động, trước những diễn biến vô cùng phức tạp của dịch bệnh Covid-19 với số lượng ca nhiễm, ca tử vong cao, Đảng, Chính phủ thực hiện nhất quán quan điểm “lấy tính mạng, sức khỏe của người dân là trên hết, trước hết”2, bằng mọi biện pháp không để đứt gãy chuỗi cung ứng lao động, lưu thông, vận chuyển hàng hóa, bảo đảm phân phối lương thực, thực phẩm, nhu yếu phẩm, ổn định đời sống của người dân, nhất là người dân ở những khu vực phong tỏa, cách ly, giãn cách. Thực hiện tốt các chính sách hỗ trợ, bảo đảm an sinh xã hội; thường xuyên rà soát, cập nhật, không bỏ sót đối tượng cần cứu trợ, không để ai bị thiếu đói, rơi vào cảnh “màn trời chiếu đất” hoặc tính mạng bị đe dọa. Đặc biệt, luôn coi trọng chăm lo cho các đối tượng chính sách, hộ nghèo, phụ nữ, trẻ em, người cao tuổi, người khuyết tật, người yếu thế, người có hoàn cảnh khó khăn, người mất việc làm do dịch bệnh Covid-19 và lực lượng trên tuyến đầu chống dịch.

Ngày 01/7/2021, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 68/NĐ-CP, “về một số chính sách hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động gặp khó khăn do đại dịch Covid-19” với tổng số tiền hỗ trợ lên đến 26.000 tỉ đồng. Các gói hỗ trợ này đã nhanh chóng đến tận tay người lao động, người yếu thế trong xã hội, giúp họ vượt qua khó khăn trong dịch bệnh. Dưới sự chỉ đạo của Chính phủ, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, hàng trăm nghìn túi hàng an sinh, gói thực phẩm cứu trợ được trao trực tiếp đến từng hộ gia đình; hàng chục nghìn tỉ đồng mà doanh nghiệp, người dân cả nước quyên góp đã được chuyển đến đúng người, đúng nơi. Sát cánh, đồng hành cùng chính quyền và cả hệ thống chính trị, đồng bào, chiến sĩ cả nước, kiều bào ta ở nước ngoài luôn hướng về các địa phương nơi tâm dịch với tất cả tình cảm chân thành, tinh thần tương thân, tương ái và sự góp sức, sẻ chia sâu sắc nhất để cùng chiến thắng dịch bệnh. Mục tiêu “không ai bị bỏ lại phía sau” là xuyên suốt, nhất quán, được Đảng, Nhà nước, hệ thống chính trị thực hiện triệt để, hiệu quả ngay từ khi đại dịch Covid-19 xuất hiện. Hơn thế, Đảng, Nhà nước ta luôn xác định con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, “lấy người dân là trung tâm phục vụ, là chủ thể phòng, chống dịch”, “chiến thắng dịch bệnh là chiến thắng của Nhân dân”. Không chỉ trong thiên tai, thảm họa, dịch bệnh mà bất luận trong hoàn cảnh nào, người dân luôn được cấp ủy, chính quyền và các lực lượng chức năng bảo vệ, bảo đảm cả về tính mạng, tài sản và điều kiện sống.

Về quyền tự do, đại dịch Covid-19 đã gây ra sự rối loạn, hạn chế, và thậm chí là tê liệt các quyền: đi lại, học tập, hội họp, tín ngưỡng,… của người dân ở các quốc gia mà nó lan tới. Hầu hết các quốc gia, kể cả các quốc gia có độ mở cao, thậm chí ban đầu có sự lựa chọn thiên về miễn dịch cộng đồng, rút cuộc đều phải tạm đóng cửa biên giới. Ở các mức độ khác nhau và ở các thời điểm khác nhau, các nước buộc phải ban bố lệnh phong tỏa, hạn chế đi lại, yêu cầu giãn cách xã hội. Đây là thực trạng chưa từng có tiền lệ, nó tác động sâu sắc, tiêu cực đến tâm lý xã hội, con người trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế sâu rộng đã là xu thế lớn trong nhiều thập kỷ qua. Trong điều kiện như vậy nhưng đối với công dân Việt Nam ở nước ngoài, Chính phủ đã chủ động liên hệ, sắp xếp và tổ chức hàng trăm chuyến bay trợ giúp kiều bào rời khỏi vùng dịch về nước an toàn. Ở trong nước các phương án giãn cách, cách ly, thể hiện sự quyết đoán, quyết tâm của nhà nước để dập dịch, đảm bảo an ninh xã hội và sức khỏe người dân. Tuy nhiên, có thời điểm, do dịch diễn biến nhanh, với nhiều biến thể phức tạp, đe dọa trực tiếp đến sức khỏe và tính mạng của cả cộng đồng và kèm theo nhiều vấn đề mới phát sinh, chưa có tiền lệ, v.v. Trước tình hình đó, Chính phủ chủ trương mạnh dạn áp dụng nhiều biện pháp phòng, chống dịch theo phương châm: không cầu toàn, làm đến đâu rút kinh nghiệm đến đó, lấy việc kịp thời cứu chữa, bảo vệ an toàn sức khỏe cho nhân dân là trên hết, trước hết. Đặc biệt, thời gian gần đây, để phù hợp với trạng thái bình thường mới, các phương án phòng, chống dịch đã thể hiện tính linh hoạt, vừa thực hiện phong tỏa, cách ly “diện hẹp” những nơi có yếu tố dịch tễ, vừa bảo đảm đi lại, sinh hoạt và sinh kế của doanh nghiệp, người dân, v.v. Song những nhà “dân chủ” lại xuyên tạc rằng: việc thực hiện siết chặt giãn cách ở một số địa phương là “biện pháp sai lầm, phi khoa học”, cho rằng quyết định này sẽ là thảm họa; không thể coi “chống dịch như chống giặc” để nhốt dân, “tra tấn dân”,… từ đó vu cáo cách làm này “chỉ làm dịch lan rộng, dân chưa chết vì dịch bệnh thì đã chết vì đói”. Đó còn là nạn tin giả, kẻ “nối giáo cho giặc” - với những đánh giá thiếu khách quan, đi ngược lại các tiêu chí bảo đảm quyền con người. Thực chất, việc áp dụng giãn cách xã hội là một trong những giải pháp hữu hiệu để ngăn chặn sự lây lan của dịch bệnh được hầu hết các nước trên thế giới áp dụng. Thực tế các đợt dịch trước ở Việt Nam đã chứng minh, thực hiện thông điệp 5K, áp dụng giãn cách xã hội vẫn là giải pháp chủ đạo để ngăn chặn sự lây lan bệnh, cùng với nỗ lực tiêm phòng vắc xin. Đây là cách thức khoa học, đúng đắn đã được các cấp chính quyền quyết liệt thực hiện, được nhân dân đồng tình ủng hộ, qua đó đã hạn chế sự lây lan của dịch bệnh. Nhiều nước trên thế giới cũng áp dụng quyết liệt phương pháp này và đã thành công ở từng mức độ cụ thể, cùng với việc tăng cường tiêm phòng vắc xin. Tại Việt Nam, với kết quả phòng, chống dịch hiệu quả, người dân Việt Nam vẫn được hưởng mọi quyền tự do một cách bình thường, đặc biệt là việc tự do đi lại và tự do thông tin. Người dân Việt Nam được tiếp nhận đầy đủ thông tin cập nhật từng ngày, từng giờ, thậm chí là từng phút về tình hình thế giới, nhất là tình hình dịch bệnh; Chính phủ luôn công khai, minh bạch mọi thông tin, mọi biện pháp phòng chống dịch để dân biết, dân hiểu và hưởng ứng, làm theo. Do đó, việc Việt Nam xử phạt các cá nhân, tổ chức phát tán thông tin sai lệch gây hoang mang cho nhân dân làm ảnh hưởng xấu đến công tác phòng, chống dịch Covid-19 là nhằm ngăn chặn, làm cho nạn tin giả không còn “đất dụng võ”, bảo đảm cho người dân hiểu và tin vào các giải pháp phòng, chống dịch của Chính phủ, chính quyền các cấp. Đó không phải là Việt Nam vi phạm quyền tự do ngôn luận, tự do biểu đạt, vi phạm nhân quyền như luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch.

Trong bức tranh chung toàn cầu, Việt Nam, một quốc gia ở mức phát triển trung bình thấp đã phòng, chống dịch Covid-19 hiệu quả và hơn thế nữa, đảm bảo tốt quyền con người cho nhân dân. Là người Việt Nam chân chính, không ai là không hiểu được sự thâm hiểm và ý đồ phá hoại của những nhà “dân chủ” và các thế lực thù địch phản động. Cho dù cuộc chiến phòng, chống đại dịch Covid-19 còn nhiều khó khăn, phức tạp, nhưng với quyết tâm của toàn Đảng, các cấp, ngành, cả hệ thống chính trị và toàn dân chúng ta nhất định thắng lợi, như niềm tin mà Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đưa ra trong Lời kêu gọi phòng, chống đại dịch Covid-19: “Tôi tin tưởng sâu sắc rằng, cả nước góp sức, toàn Đảng, toàn dân đồng lòng, thống nhất ý chí và hành động, cùng với sự giúp đỡ chí tình của đồng bào ta ở nước ngoài và bạn bè quốc tế, nhất định chúng ta sẽ chiến thắng đại dịch Covid-19 và phải chiến thắng cho bằng được, góp phần xứng đáng vào sự nỗ lực chung của toàn nhân loại vì một thế giới an toàn, lành mạnh, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và thịnh vượng, xứng đáng với truyền thống anh hùng vẻ vang của Đất nước ta, Dân tộc ta!”.

PHIẾM ĐÌNH