Thứ Ba, 11 tháng 6, 2024

VAI TRÒ CỦA C.MÁC VÀ PH.ĂNGGHEN ĐỐI VỚI SỰ RA ĐỜI CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN NHƯ THẾ NÀO?

 

C.Mác và Ph.Ăngghen có vai trò rất lớn trong việc chuẩn bị các điều kiện về tư tưởng - lý luận và tổ chức nhằm đưa phong trào cộng sản và công nhân quốc tế đi đến thắng lợi. Đặc biệt là đối với sự ra đời của “Đồng minh những người cộng sản”, được thể hiện trên các nội dung như sau:

C.Mác và Ph.Ăngghen thông qua hàng loạt các tác phẩm, đặt cơ sở lý luận cho sự hình thành học thuyết Mác. Từ năm 1844 đến năm 1847, các tác phẩm viết chung và riêng của hai ông như: “Lời nói đầu góp phần phê phán triết học pháp quyền Hêghen, “Gia đình thần thánh”, “Tình cảnh giai cấp công nhân Anh”; “Hệ tư tưởng Đức”, “Luận cương về Phoiơbắc”… đã trình bày những vấn đề cơ bản về triết học đứng trên thế giới quan, lập trường của giai cấp vô sản, lập trường cộng sản.

C.Mác và Ph.Ănghen là người sáng lập và đề ra mục đích hoạt động “Đồng minh những người cộng sản”. Hai ông đã đồng ý tham gia “Liên đoàn những người chính nghĩa” với điều kiện “Liên đoàn” phải được cải tổ. Việc cải tổ “Đồng minh những người chính nghĩa” được thực hiện tại Đại hội I vào tháng 6 năm 1847. Đại hội đã quyết định thành lập cơ quan xuất bản, báo chí; khai trừ những người theo Vaitơlinh ra khỏi “Liên đoàn”. 

C.Mác và Ph.Ăngghen là người soạn thảo Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản - văn kiện có tính chất cương lĩnh đầu tiên của chủ nghĩa xã hội khoa học, bước đầu kết hợp chủ nghĩa xã hội với phong trào công nhân. Tháng 2 năm 1848, Cương lĩnh của “Đồng minh những người cộng sản” được công bố ở Luân Đôn dưới hình thức một bản tuyên ngôn - Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản. Từ đây, giai cấp công nhân đã có lý luận cách mạng soi đường để thực hiện mục tiêu cuối cùng của những người cộng sản là xây dựng chủ nghĩa cộng sản trên toàn thế giới.

QUÁ TRÌNH RA ĐỜI CỦA “ĐỒNG MINH NHỮNG NGƯỜI CỘNG SẢN” NHƯ THẾ NÀO?

 

Năm 1836 tổ chức “Liên đoàn những người chính nghĩa” được thành lập ở Pari, do những người thợ thủ công lưu vong của Đức sáng lập. Tổ chức này do Baue, Vaitơlinh, Gimôn và Sáppe lãnh đạo. Đứng trước sự phát triển mạnh mẽ của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, lúc này “Liên đoàn” bộc lộ không còn phù hợp cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức, do đó đòi hỏi phải có một tổ chức mới phù hợp hơn, đáp ứng yêu cầu mới của phong trào công nhân.

Năm 1847, C.Mác và Ph.Ăngghen tham gia “Liên đoàn những người chính nghĩa” và được mời tham gia tiến hành cải tổ “Liên đoàn”. Việc cải tổ được thực hiện tại Đại hội I vào tháng 6 năm 1847 ở Luân Đôn, thủ đô nước Anh. Đại hội đã quyết định đổi tên “Liên đoàn những người chính nghĩa”  thành “Đồng minh những người cộng sản”; thành lập cơ quan xuất bản, báo chí; khai trừ những người theo Vaitơlinh ra khỏi “Đồng minh”. Đại hội đã tiến hành thảo luận dự thảo điều lệ mới, sau đó phân phát cho các chi bộ, lấy ý kiến và sẽ thông qua ở đại hội tới. Đại hội quy định cơ quan cao nhất của Đồng minh là đại hội được triệu tập thường kỳ, Ban Chấp hành Trung ương thực hiện quyền chấp hành.

Đại hội II của “Đồng minh những người cộng sản” được tổ chức ở Luân Đôn vào đầu tháng 12 năm 1847. Thông qua “Đồng minh”, C.Mác, Ph.Ăngghen và các cộng sự kiên quyết bảo vệ những nguyên lý của chủ nghĩa cộng sản và đấu tranh bảo vệ các quan điểm của mình; đồng thời, thông qua Điều lệ quy định nguyên tắc tổ chức của “Đồng minh những người cộng sản” là nguyên tắc tập trung dân chủ. Qua đó, “Đồng minh những người cộng sản” chính thức trở thành một đảng cách mạng của giai cấp vô sản, có điều lệ, tiêu chí, mục đích rõ ràng. “Đồng minh những người cộng sản” đã giao cho C.Mác và Ph.Ăngghen trực tiếp viết Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, văn kiện chính trị quan trọng của những người cộng sản.

CÁC CUỘC ĐẤU TRANH ĐỘC LẬP ĐẦU TIÊN CỦA GIAI CẤP VÔ SẢN CÓ Ý NGHĨA GÌ?

 

Các cuộc đấu tranh độc lập đầu tiên của giai cấp vô sản tuy thất bại, nhưng đã để lại nhiều giá trị lịch sử, ý nghĩa thời đại sâu sắc:

Đã chứng tỏ chủ nghĩa tư bản ngay từ khi mới ra đời, khi còn tiến bộ đã chứa đầy mâu thuẫn và chỉ có giai cấp công nhân mới có thể giải quyết được mâu thuẫn đó bằng đấu tranh cách mạng. Giai cấp công nhân quốc tế đã trở thành lực lượng chính trị độc lập, triệt để cách mạng. Từ đây giai cấp vô sản trên toàn thế giới bắt đầu đứng trên vũ đài chính trị, với tư cách là giai cấp đối kháng trực tiếp về lợi ích với giai cấp tư sản.

Đã phản ánh mâu thuẫn đối kháng trong xã hội tư bản được bộc lộ. Ngay từ khi ra đời, giai cấp vô sản đã là lực lượng đối lập với giai cấp tư sản. Từ đây đánh dấu giai cấp vô sản sẽ là lực lượng tiên phong đi đầu trực tiếp đấu tranh chống lại giai cấp tư sản, là lực lượng đối kháng trực tiếp về mọi mặt đối với giai cấp tư sản.

Khẳng định cùng với sự phát triển của nền đại công nghiệp, giai cấp vô sản ngày càng lớn mạnh, thực sự là giai cấp tiên tiến, đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến, được tôi luyện có tinh thần cách mạng triệt để, tinh thần kỷ luật nhất và tính quốc tế vô sản cao cả.

Chính từ sự phát triển của phong trào công nhân lúc này cho phép và đòi hỏi phải có lý luận tiên phong soi đường mới có thể giành thắng lợi triệt để. Đây là tiền đề cơ sở cho sự ra đời của học thuyết Mác - học thuyết cách mạng và khoa học của giai cấp vô sản toàn thế giới. Học thuyết Mác sẽ thâm nhập vào phong trào vô sản với tư cách là vũ khí lý luận tiên phong dẫn đường cho phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân về sau này.

NGUYÊN NHÂN THẤT BẠI CỦA CÁC CUỘC ĐẤU TRANH ĐỘC LẬP ĐẦU TIÊN CỦA GIAI CẤP VÔ SẢN Ở CHÂU ÂU NHỮNG NĂM 30 - 40 THẾ KỶ XIX LÀ GÌ?

 

Các cuộc đấu tranh độc lập đầu tiên của giai cấp công nhân các nước châu Âu diễn ra, mà tiêu biểu là các cuộc đấu tranh của công nhân dệt Pháp, ở Đức và Phong trào Hiến chương ở Anh song cuối cùng đều thất bại do các nguyên nhân chủ yếu sau:

Giai cấp công nhân mới ra đời, còn non trẻ, chưa phát triển toàn diện về mọi mặt, chưa có một chính đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo. Giai cấp công nhân chưa được tổ chức chặt chẽ, các cuộc khởi nghĩa, đấu tranh còn riêng lẻ, tự phát trong phạm vi hẹp, chưa có mối liên hệ và tập hợp lực lượng một các quy mô có tổ chức với nông dân và công nhân ở các thành phố khác.

Các cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân chưa có hệ tư tưởng tiên tiến dẫn đường, chưa có lý luận tiên phong. Những phong trào đấu tranh, khởi nghĩa diễn ra cơ bản là tự phát, mang tính quần chúng là chủ yếu, chưa có tổ chức chặt chẽ. Trong phong trào chưa có sự thống nhất về tư tưởng và sách lược, phong trào chưa thuần nhất là phong trào vô sản, còn hỗn tạp nhiều thành phần, chưa phản ánh và phát huy tối đa sức mạnh của giai cấp công nhân.

Giai cấp tư sản lúc này đang lên, trở thành giai cấp trung tâm, đóng vai trò là lực lượng tiến bộ xã hội, có tiềm lực mạnh, đang tăng cường sức mạnh để củng cố địa vị thống trị xã hội của mình, do đó bằng mọi cách ra sức trấn áp các phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân. Yếu tố thời đại lúc này cũng chưa cho phép giai cấp vô sản đứng vững trên vũ đài chính trị của mình, cần có thời gian nhất định chuẩn bị “vật chất” và “tinh thần”, nhất là công tác chính trị, tư tưởng và tổ chức.

VAI TRÒ CỦA GIAI CẤP CÔNG NHÂN QUA PHONG TRÀO HIẾN CHƯƠNG Ở ANH (1835-1848) LÀ GÌ?

 

Vào những năm 30 của thế kỷ XIX, chủ nghĩa tư bản ở Anh phát triển tương đối mạnh mẽtạo nên cảnh bần cùng về đời sống vật chất lẫn tinh thần của công nhân. Cho nên, lúc này giai cấp công nhân cần nhu cầu tham gia chính quyền để có tiếng nói, nhằm cải thiện đời sống của mình và góp phần cải tạo chế độ xã hội.

Năm 1835, một nhóm thợ thủ công đã lập ra Hội công nhân Luân Đôn, nhằm đấu tranh cho quyền phổ thông đầu phiếu của mình. Tháng 5 năm 1835 những người lãnh đạo Hội đã soạn thảo bản Hiến chương với nội dung đề xuất việc thi hành quyền phổ thông đầu phiếu, bãi bỏ tiêu chuẩn tài sản để được bầu làm nghị sĩ, bỏ phiếu kín phân đều các khu vực bầu cử… Dần dần phong trào có nhiều lực lượng khác trong xã hội xã hội cùng tham gia hưởng ứng. Từ năm 1837 đến năm 1838, xuất hiện thêm các tổ chức chính trị của công nhân như: Hội dân chủ Luân Đôn và Đại liên minh miền Bắc. Những tổ chức này cũng hoạt động theo các mục tiêu của phong trào Hiến chương. Năm 1839 phong trào có thêm sự ủng hộ đông đảo của công nhân ở Anh và Xcốtlen.

Đại hội Đại biểu lần thứ nhất Phong trào Hiến chương ở Anh khai mạc vào ngày 4 tháng 2 năm 1839 đã thông qua bản kiến nghị về cải cách bầu cử. Kết quả, đến tháng 5 năm 1839 đã thu được 1,28 triệu chữ ký vào bản kiến nghị đòi chính phủ phải thực hiện những yêu sách, nếu không sẽ tổ chức đấu tranh bằng bạo lực. Bản kiến nghị của giai cấp vô sản đưa ra đã bị Quốc hội bác bỏ. Do đó, giai cấp vô sản đã tổ chức phát động đấu tranh bằng bạo lực.

Ngày 17 tháng 7 năm 1839, khởi nghĩa đã chính thức nổ ra ở Bớcminham, nhưng 2 ngày sau đã bị giai cấp tư sản dập tắt, cuối năm ấy phong trào Hiến chương tạm thời lắng xuống. Đến năm 1842, Phong trào Hiến chương lại được tiếp tục dấy lên mạnh mẽ và đã tổ chức lấy được 3,5 triệu chữ ký vào bản kiến nghị, nhưng cũng không đạt được kết quả. Từ năm 1847 đến 1848, một cao trào mới của phong trào Hiến chương lại nổi lên rầm rộ khắp nơi. Lần này bản kiến nghị đòi cải cách quyền bầu cử và thu được nhiều chữ ký nhất, có tới hơn 5 triệu người đã ký vào bản kiến nghị, một lần nữa nghị viện tư sản lại bác bỏ. Những kiến nghị chỉ là những yêu cầu của giai cấp công nhân, trên thực tế các nội dung đó đều không được giai cấp tư sản đáp ứng.

Những thất bại trong việc đưa kiến nghị đã làm cho Phong trào Hiến chương bị suy yếu, nội bộ nảy sinh mâu thuẫn, bất đồng, vì vậy đến đầu những năm 50 của thế kỷ XIX phong trào chính thức tan rã.

CUỘC KHỞI NGHĨA CỦA CÔNG NHÂN DỆT THÀNH PHỐ XILÊDI Ở ĐỨC ( 1844) DIỄN RA NHƯ THẾ NÀO?

 

Vào đầu thế kỷ XIX, trong lúc các nước như Anh, Pháp đã có nền công nghiệp tương đối phát triển thì ở Đức vẫn còn trong tình trạng trật tự phong kiến, nửa phong kiến, sản xuất công nghiệp chưa phát triển mạnh mẽ và rộng khắp. Đến những năm 30 - 40 của thế kỷ XIX, nhờ những thành tựu của nền công nghiệp mà các vùng như Ranh, Vétsphalen, Xácxôni, Xilêdi trở thành những khu công nghiệp mới và xuất hiện giai cấp vô sản hiện đại. Giai cấp công nhân và nhân dân lao động Đức phải sống dưới hai tầng áp bức bóc lột của phong kiến và tư bản, đời sống nhân dân vô cùng cực khổ, những cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản cũng bắt đầu từ đây.

Mở đầu cho phong trào đấu tranh có tính chất quần chúng rộng rãi là cuộc khởi nghĩa của công nhân dệt thành phố Xilêdi năm 1844. Nguyên nhân trực tiếp của cuộc khởi nghĩa là do thợ dệt ở Xilêdi bị bóc lột thậm tệ bởi chủ tư bản, mặt khác họ lại phải đóng thuế cho bọn địa chủ mới được dệt vải. Do đó, đời sống của công nhân lao động vô cùng cực khổ, đã có nhiều người thợ đã chết vì cảnh thiếu đói. Tình cảnh đó được thể hiện qua bài hát “Tòa án đẫm máu” phản ánh nỗi phẫn uất của giai cấp công nhân, bài hát đã được một người công nhân hát lên trước nhà tên chủ xưởng Xôvanh Xighê. Bài hát đã cổ vũ và lôi cuốn được đông đảo công nhân tham gia hưởng ứng.

Ngày 4 tháng 6 năm 1844, công nhân kéo đến đập phá máy móc, nhà xưởng, kho tàng của tên chủ xưởng Xôvanh Xighê. Ngày 5 tháng 6 năm 1844, công nhân dệt Xilêdi tham gia khởi nghĩa đã tuần hành từ Pêtêvan đau đến Langhenbilan và công nhân tiếp tục đập phá máy móc nhà xưởng, cuộc khởi nghĩa nhanh chóng lan ra phạm vi rộng. Trước tình hình đó, chính quyền tư sản đã lập tức điều quân đội và cảnh sát đến đàn áp cuộc khởi nghĩa, công nhân đã đứng lên chống lại lực lượng của giai cấp tư sản, trong cuộc đấu tranh oanh liệt đó có gần 70 công nhân dệt bị bắt, bị tra tấn dã man.

Cuộc khởi nghĩa của công nhân dệt Xilêdi bị chính quyền giai cấp tư sản đàn áp, dập tắt một cách dã man, song có thể khẳng định đây là cuộc đấu tranh có tính chất quần chúng rộng rãi đầu tiên ở Đức.

DIỄN BIẾN CUỘC KHỞI NGHĨA CỦA CÔNG NHÂN DỆT THÀNH PHỐ LIÔNG Ở PHÁP (1831 - 1834) LÀ GÌ?

 

Ở nước Pháp vào những năm 30 của thế kỷ XIX, thành phố Liông là nơi tập trung nhiều mâu thuẫn trong xã hội, điển hình là mâu thuẫn giữa giai cấp công nhân với giai cấp tư sản. Sự bóc lột tàn nhẫn,  thậm tệ của giới chủ làm cho đời sống của giai cấp vô sản ngày càng vất vả, khổ cực, do đó họ đã tìm cách phản kháng, đứng dậy đấu tranh chống lại giai cấp tư sản.

Cuộc khởi nghĩa của công nhân dệt thành phố Liông nổ ra ngày 21 tháng 11 năm 1831 được sự ủng hộ nhiệt tình của công nhân các ngành khác. Mục đích cuộc khởi nghĩa, thông qua biểu tình đòi giới chủ ở Liông thực hiện bản tính công mới vừa được thông qua tại Ủy ban liên hợp, gồm đại biểu những người thợ dệt và các nhà công nghiệp. Sau 3 ngày giao tranh ác liệt, công nhân đã chiếm được thành phố, lập ra Ủy ban công nhân để theo dõi giám sát hoạt động của Thị trưởng thành phố.

Giai cấp tư sản không những không đáp ứng những đòi hỏi chính đáng của công nhân dệt mà còn cho cảnh sát nã súng vào đoàn người biểu tình, buộc công nhân phải cầm vũ khí chiến đấu. Sau một thời gian ngắn cuộc khởi nghĩa của công nhân bị giai cấp tư sản đàn áp tàn khốc dẫn đến thất bại.

Đến tháng 4 năm 1834, công nhân dệt thành phố Liông lại tiếp tục đứng lên khởi nghĩa. Lần này họ đấu tranh với mục đích chính trị sâu sắc, đòi thiết lập chế độ cộng hòa, họ gương cao khẩu hiệu “Nền cộng hòa hay là chết”. Cuộc đấu tranh lần này diễn ra vô cùng quyết liệt, sau 6 ngày đấu tranh anh dũng trên đường phố, cuộc khởi nghĩa của công nhân bị đàn áp thảm khốc, cuối cùng dẫn đến thất bại. Tuy thất bại, song cuộc khởi nghĩa đã báo hiệu thời kỳ đấu tranh mới, quyết liệt của giai cấp công nhân Pháp đối với giai cấp tư sản.