Thứ Tư, 9 tháng 6, 2021

PHÁT TRIỂN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA LÀ CHỦ TRƯƠNG ĐÚNG ĐẮN CỦA ĐẢNG TA TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI

Từ việc khẳng định: “từ sau khi mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và nhiều nước Đông Âu sụp đổ, cách mạng thế giới lâm vào thoái trào thì vấn đề đi lên chủ nghĩa xã hội lại được đặt ra và trở thành tâm điểm thu hút mọi sự bàn thảo, thậm chí tranh luận gay gắt. Các thế lực chống cộng, cơ hội chính trị thì hí hửng, vui mừng, thừa cơ dấn tới để xuyên tạc, chống phá”, đồng chí Tổng Bí thư đã chỉ rõ, các thế lực thù địch đã ra sức công kích con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam. Họ cho rằng chúng ta đã chọn đường sai, cần phải đi con đường khác; đồng thời lên tiếng bài bác chủ nghĩa xã hội, ca ngợi một chiều chủ nghĩa tư bản. Để phản bác lại quan điểm đó, bài viết của đồng chí Tổng Bí thư đã đưa ra những lập luận sắc bén, những dẫn chứng thuyết phục về “những mâu thuẫn vốn có” trong lòng xã hội tư bản, dẫn đến những bất bình đẳng, bất công trong xã hội.

Trên tinh thần khách quan, đồng chí Tổng Bí thư đã khẳng định những thành tựu không thể phủ nhận được của chủ nghĩa tư bản trong giai đoạn hiện nay, “nhất là trong lĩnh vực giải phóng và phát triển sức sản xuất, phát triển khoa học - công nghệ:. Đặc biệt, từ sau khi chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu tan rã, để thích ứng với điều kiện mới, “chủ nghĩa tư bản thế giới đã ra sức tự điều chỉnh, thúc đẩy các chính sách “tự do mới” trên quy mô toàn cầu; và nhờ đó hiện vẫn còn tiềm năng phát triển”. Đó là những điều chỉnh khôn ngoan nhưng không vì thế mà chủ nghĩa tư bản có thể tránh được những cuộc khủng hoảng tài chính, kinh tế trên phạm vi toàn cầu.

Đồng chí Tổng Bí thư đã nhắc đến cuộc khủng hoảng tài chính, suy thoái kinh tế giai đoạn năm 2008 - 2009 bắt đầu từ nước Mỹ rồi nhanh chóng lan rộng ra các trung tâm tư bản chủ nghĩa khác và tác động đến hầu hết các nước trên thế giới. Hiện nay là cuộc khủng hoảng nhiều mặt, cả về y tế, xã hội lẫn chính trị, kinh tế đang diễn ra dưới tác động của đại dịch Covid-19 và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Đây chính là những bằng chứng không gì thuyết phục hơn để khẳng định những mâu thuẫn nội tại, mang tính bản chất của chủ nghĩa tư bản. Chính những mâu thuẫn đó tất yếu đã dẫn đến những bất công, bất bình đẳng trong xã hội đúng như bài viết khẳng định: “Kinh tế suy thoái đã làm phơi bày sự thật của những bất công xã hội trong các xã hội tư bản chủ nghĩa: đời sống của đa số dân cư lao động bị giảm sút nghiêm trọng, thất nghiệp gia tăng; khoảng cách giàu - nghèo ngày càng lớn, làm trầm trọng thêm những mâu thuẫn, xung đột giữa các sắc tộc”. Nhận định này đã phản ánh một cách chân thực, khách quan thực tiễn vận động và phát triển của các nước tư bản trong thời gian qua, đồng thời cho thấy rõ đặc trưng bản chất của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa với phương châm “lấy lợi nhuận làm mục tiêu tối thượng, coi chiếm hữu của cải và tiêu dùng vật chất ngày càng tăng làm thước đo văn minh, lấy lợi ích cá nhân làm trụ cột của xã hội” .

Lời nhận định trên của đồng chí Tổng Bí thư trong bài viết đã phản ánh rất chính xác bản chất không bao giờ thay đổi của chế độ tư bản chủ nghĩa. Bản chất này đã từng được C.Mác chỉ rõ trong tác phẩm “Tư bản” - một pho sách đồ sộ đã phản ánh chân thực bức tranh toàn cảnh của xã hội tư bản và bản chất của chế độ tư bản chủ nghĩa. C.Mác viết: “Sản xuất giá trị thặng dư hay lợi nhuận là quy luật tuyệt đối của phương thức này”. Để minh chứng cho điều này, C.Mác đã dẫn lại tờ Quarterly Rewiewer như sau: “Với một lợi nhuận thích đáng thì tư bản trở nên can đảm. Được đảm bảo 10 phần trăm lợi nhuận thì người ta có thể dùng tư bản vào đâu cũng được; được 20 phần trăm thì nó hoạt bát hẳn lên; được 50 phần trăm thì nó trở nên thật sự táo bạo; được 100 phần trăm thì nó chà đạp lên mọi luật lệ của loài người; được 300 phần trăm thì không còn tội ác nào là nó không dám phạm, dù có nguy cơ bị treo cổ. Nếu sự ồn ào và cãi cọ đem lại lợi nhuận thì tư bản khuyến khích cả hai. Chứng cứ là; buôn lậu và buôn nô lệ”.

Trong bài viết, đồng chí Tổng Bí thư đã đưa ra rất nhiều dẫn chứng thuyết phục cho tình trạng bất công, bất bình đẳng của xã hội tư bản. Từ đó, đồng chí Tổng Bí thư liên tục khẳng định chúng ta cần một xã hội phát triển vì con người, cần một nền kinh tế phát triển gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội, cần một xã hội nhân văn, phát triển hài hòa, bền vững. Những điều này chỉ có thể có được ở chế độ xã hội xã hội chủ nghĩa - “con đường mà Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta và nhân dân ta đã lựa chọn và đang kiên định, kiên trì theo đuổi”.

Từ việc khẳng định tính đúng đắn của con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, đồng chí Tổng Bí thư khẳng định phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là đường lối phát triển đúng đắn về phát triển kinh tế trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Đó không chỉ là bước phát triển đột phá về mặt lý luận mà còn là kết quả của quá trình tổng kết thực tiễn, đồng thời tiếp thu có chọn lọc những kinh nghiệm quý báu trên thế giới. Bài viết chỉ rõ: “Đưa ra quan niệm phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một đột phá lý luận rất cơ bản và sáng tạo của Đảng ta, là thành quả lý luận quan trọng qua 35 năm thực hiện đường lối đổi mới, xuất phát từ thực tiễn Việt Nam và tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của thế giới”.

Từ đây, bài viết đã là rõ nội hàm về nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Đó là nền kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập quốc tế, vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, có sự quản lý của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa, nhằm mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Theo đó, bài viết đã làm rõ đặc trưng bản chất của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam - sự khác biệt về chất so với nền kinh tế thị trường của các nước tư bản chủ nghĩa: “Một đặc trưng cơ bản, một thuộc tính quan trọng của định hướng xã hội chủ nghĩa trong kinh tế thị trường ở Việt Nam là phải gắn kinh tế với xã hội, thống nhất chính sách kinh tế với chính sách xã hội, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước, từng chính sách và trong suốt quá trình phát triển”. Luận điểm này có sự thống nhất tuyệt đối với quan điểm của Đại hội XIII về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; đồng thời là sự phát triển, hoàn thiện thêm một bước về phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội trong điều kiện hội nhập quốc tế hiện nay.

Có thể nhận thấy, chủ trương phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa không phải là nhận thức chủ quan, duy ý chí, tùy tiện, cảm tính mà là kết quả của quá trình tìm tòi, khảo nghiệm, học hỏi kinh nghiệm về các mô hình phát triển kinh tế thị trường trên thế giới. Đó cũng là kết quả của quá trình tổng kết thực tiễn phát triển đất nước qua mỗi thời kỳ lịch sử. Do đó, quan điểm về phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta không ngừng có sự bổ sung, phát triển qua mỗi giai đoạn. Vì thế, những quan điểm sai trái, thù địch về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hoặc là do nhận thức không đúng về bản chất của kinh tế thị trường, hoặc cố tình xuyên tạc, đối lập kinh tế thị trường với chủ nghĩa xã hội.

Như vậy, có thể khẳng định kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là chủ trương đúng đắn của Đảng về phát triển kinh tế trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Trong bối cảnh trình độ phát triển không đồng đều của lực lượng sản xuất, kinh tế thị trường được Đảng và Nhà nước ta coi là công cụ, phương tiện để xây dựng cơ sở vật chất của chủ nghĩa xã hội, thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Mục tiêu đó cho thấy tính hướng đích của Đảng ta, Nhà nước ta trong việc phát triển kinh tế thị trường - phát triển không chỉ vì mục tiêu tăng trưởng kinh tế mà còn vì mục tiêu tiến bộ và công bằng xã hội. Đây là điểm khác biệt căn bản giữa kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với các loại kinh tế thị trường khác trên thế giới.

Nhìn lại 35 năm đổi mới và 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ (1991), 10 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước (bổ sung, phát triển 2011), tuy còn nhiều khó khăn, thử thách nhưng Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Điều này đã được đồng chí Tổng Bí thư nhấn mạnh trong Báo cáo chính trị trình bày tại Đại hội XIII của Đảng: “Nhìn lại 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, đất nước đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện so với những năm trước đổi mới. Đời sống nhân dân cả về vật chất và tinh thần được cải thiện rõ rệt. Đất nước chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín như ngày nay”.

Từ những kết quả đã đạt được, bài viết khẳng định: “Những thành tựu đổi mới tại Việt Nam đã chứng minh rằng, phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa không những có hiệu quả tích cực về kinh tế mà còn giải quyết được các vấn đề xã hội tốt hơn nhiều so với các nước tư bản chủ nghĩa có cùng mức phát triển kinh tế”. Bài viết còn nhấn mạnh thêm những kết quả, thành tích đặc biệt đạt được của Việt Nam trong bối cảnh đại dịch Covid-19 và suy thoái kinh tế toàn cầu bắt đầu từ đầu năm 2020 được nhân dân và bạn bè quốc tế ghi nhận, đánh giá cao, thể hiện tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Những thành tựu to lớn đó chính là bằng chứng không gì thuyết phục hơn để khẳng định đường lối phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là hoàn toàn đúng đắn, vừa phù hợp với điều kiện, thực tiễn của Việt Nam; vừa đáp ứng yêu cầu, nguyện vọng của nhân dân về một đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

Mặc dù việc phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam còn nhiều khó khăn, thách thức nhưng với việc luôn kiên định mục tiêu, linh hoạt và sáng tạo trong các giải pháp, cách thức thực hiện; Việt Nam sẽ tiếp tục đạt được những thành tựu quan trọng trong phát triển kinh tế. Nhận diện và đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái thù địch về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam để thống nhất cả trong nhận thức và hành động, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng về phát triển kinh tế./.

NHẬN DIỆN QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH XUYÊN TẠC CHỦ TRƯƠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM

Trước việc Đảng ta có nhiều thay đổi trong chủ trương phát triển kinh tế tư nhân, từ chỗ coi kinh tế tư nhân là một thành phần không thể thiếu trong nền kinh tế quốc dân đến việc xem kinh tế tư nhân là động lực rồi động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, có ý kiến cho rằng Đảng ta đã “lúng túng”, “không nhất quán” trong việc kiên định mục tiêu phát triển kinh tế. Hơn nữa, có ý kiến cho rằng việc Đảng ta khuyến khích phát triển thành các tổng công ty, tập đoàn kinh tế tư nhân như hiện nay, nền kinh tế của Việt Nam tất yếu sẽ phát triển theo con đường tư bản chủ nghĩa như các nước tư bản khác chứ không phải phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Nói “định hướng xã hội chủ nghĩa chỉ là chủ quan, duy ý chí hay là tự lừa dối chính mình, lừa dối người khác mà thôi” .

Trong thời gian qua, những luận điệu sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch được tung ta khắp nơi nhằm gây nên sự nghi ngờ trong tư tưởng, mơ hồ trong nhận thức của cán bộ, đảng viên và nhân dân về chủ trương phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của Đảng ta. Mục đích sâu xa của các thế lực thù địch là nhằm phủ nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, “bẻ lái” sự phát triển của Việt Nam theo con đường tư bản chủ nghĩa. Đây là âm mưu thâm độc đe dọa trực tiếp đến sự tồn vong của Đảng, của chế độ.

NHẬN DIỆN QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH XUYÊN TẠC, PHỦ NHẬN VAI TRÒ CỦA KINH TẾ NHÀ NƯỚC TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG

Khi đưa ra quan điểm về phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Đảng ta đã phân định các thành phần kinh tế hợp thành. Có ý kiến cho rằng Đảng ta chủ trương phát triển kinh tế thị trường với nền kinh tế nhiều thành phần, đa dạng các hình thức sở hữu; các thành phần kinh tế bình đẳng, hợp tác và cạnh tranh theo pháp luật nhưng Đảng ta lại xác định kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân, như vậy là có sự phân biệt đối xử, không thể bình đẳng. Do đó, không thể có kinh tế thị trường thật sự, “là kiểu kinh tế thị trường tùy tiện do Việt Nam tự nghĩ ra chứ không tuân theo thông lệ quốc tế”.

Gần đây, một số phần tử cơ hội chính trị trong và ngoài nước đã viện lý do về sự yếu kém của một số đơn vị kinh tế nhà nước trong thời gian vừa qua để kêu gọi cần phải loại bỏ vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước. Họ cho rằng sự can thiệp của Đảng và Nhà nước đối với nền kinh tế thị trường làm “lệch lạc” thị trường, làm kinh tế thị trường bị “biến dạng”. Do đó, họ kêu gọi cần phải xóa bỏ định hướng xã hội chủ để nền kinh tế thị trường phát triển đúng theo quy luật vốn có.

NHẬN DIỆN QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH NHẰM ĐỐI LẬP KINH TẾ THỊ TRƯỜNG VỚI ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

Một số quan điểm cho rằng kinh tế thị trường là sản phẩm của chế độ tư bản chủ nghĩa nên “không thể dung hợp với chủ nghĩa xã hội”. Việc phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam chỉ là “sự gán ghép vô nguyên tắc” theo kiểu “râu ông nọ cắm cằm bà kia”, “đầu Ngô mình Sở”. Có ý kiến còn cho rằng: “Chủ trương kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là không thực tế và thiếu khoa học”. Do đó, cần phải bỏ đuôi “định hướng xã hội chủ nghĩa” để kinh tế thị trường ở Việt Nam phát triển theo đúng xu thế thời đại. Có như vậy, nền kinh tế Việt Nam mới nhanh chóng thoát khỏi nghèo nàn và lạc hậu!

Những luận điệu trên được tung ra khắp nơi, từ các trang báo chí phản động ở nước ngoài đến những trang mạng xã hội. Gần đây, một số người tự xưng là “nhà nghiên cứu”, “nhà khoa học”,  “nhà dân chủ” đã phát biểu trên một số tờ báo nước ngoài, trang mạng xã hội rằng kinh tế thị trường và chủ nghĩa xã hội “khác nhau như nước với lửa, như ngày với đêm, hoàn toàn đối lập nhau”;  Nhân dịp Đảng ta đang lấy ý kiến nhân dân góp ý vào dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIII của Đảng, một số người có tư tưởng dân túy, với danh nghĩa lo nghĩa cho tương lai của đất nước đã cho rằng “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là một khái niệm mơ hồ”. Vì thế họ kiến nghị không nên để cụm từ “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng.

KHẲNG ĐỊNH TẦM VÓC, GIÁ TRỊ SỰ KIỆN NGÀY 5/6/1911

Sự thật hành trình ra đi tìm đường cứu nước và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tìm ra con đường cứu nước để lãnh đạo nhân dân Việt Nam giành thắng lợi trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là như vậy. Từng chặng đường Người đã trải qua, những hoạt động của Người từ năm 1890-1969 đều được cập nhật khá đầy đủ trong các bộ sách Hồ Chí Minh toàn tập 15 tập, Hồ Chí Minh biên niên tiểu sử 10 tập, trong các cuốn sách Hồ Chí Minh tiểu sử chi tiết và tóm tắt; trong các công trình nghiên cứu khoa học của các học giả ở trong và ngoài nước… Tuy nhiên, bất chấp các thông tin chính xác đã có, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị không chỉ thường bịa đặt, bẻ cong sự thật, xuyên tạc về động cơ sang phương Tây tìm đường cứu nước của Người mà còn hồ đồ suy diễn để bôi đen nội dung lá đơn xin học ở Trường Thuộc địa của Người.

Đối với sự kiện lá đơn xin học và động cơ ra đi tìm đường cứu nước của Nguyễn Tất Thành, có thể khẳng định rằng:

Một là, không thể xuyên tạc mục đích xin học Trường Thuộc địa của Nguyễn Tất Thành, bởi nơi đây chỉ dạy ngôn ngữ và văn minh Pháp cho những thanh niên Việt Nam do Toàn quyền Đông Dương gửi sang học. Trong đó, học viên của Trường Thuộc địa không nhất thiết phải trở thành quan chức (mà Bùi Kỷ, Lê Văn Miến và nhiều người khác là những ví dụ thực tế). Hơn nữa, từ năm 1896 trở đi, cùng với việc đào tạo học viên trở thành nhà cai trị thuộc địa tương lai thì Trường Thuộc địa còn có những lớp dạy cho những người bản xứ các nghề chuyên môn như điện báo, kế toán, công xưởng…

Đồng thời, cũng không thể suy luận và xuyên tạc mục đích xin học Trường Thuộc địa của Người khi cho rằng: Nguyễn Tất Thành ban đầu học tập là vì theo ý muốn của cha để sau này sẽ làm quan triều đình nhà Nguyễn. Tuy nhiên, vì cha đã bị mất chức, nên việc làm quan triều đình nhà Nguyễn không thành, do đó mới tìm cơ hội sang Pháp, xin học ở Trường Thuộc địa, với “mộng làm quan cho thực dân Pháp". Thực chất, Người chưa bao giờ có ý định làm quan cho triều đình nhà Nguyễn, lại càng không bao giờ muốn trở thành quan cai trị thuộc địa tương lai, vì Người không chỉ thấu hiểu rất rõ tâm tư của người cha: “Quan trường thị nô lệ trung chi nô lệ, hựu nô lệ”/nghĩa là “Quan trường là nô lệ trong những người nô lệ, lại càng nô lệ hơn” mà còn có khát vọng lớn lao là "tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đấy là tất cả những gì tôi muốn, tất cả những điều tôi hiểu!”.

Hơn nữa, luận bàn về lá đơn xin học ở ở Trường Thuộc địa này, nhà sử học Pháp khá nổi tiếng D.Hémery từng nhấn mạnh rằng: "Lá đơn trước hết thể hiện ý muốn tạm thời được học, nhưng đơn xin học còn bao hàm một ý nghĩa khác, tóm tắt trong khẩu hiệu lưu hành lúc đó trong các thanh niên học sinh "xuất dương du học rồi về nhà cứu nước"…, để phổ biến tri thức hiện đại trong các dân tộc thuộc địa". Vì thế, có thể thấy, thực chất của việc xin học ở Trường Thuộc địa là Người muốn được học tập để làm giàu tri thức của mình, với "ý muốn trở thành có ích cho đồng bào tôi, muốn cho họ được hưởng những lợi ích của học thức" như đã trình bày trong lá đơn.

Hai là, sau khi bị Trường Thuộc địa từ chối, với mong muốn tìm ra con đường cứu nước đúng đắn, Người đã quyết định làm thuê cho một hãng tàu biển, tiếp tục hành trình lao động kiếm sống, học hỏi và hoạt động cách mạng ở nhiều quốc gia, nhiều châu lục. Trong những năm tháng đó, Người có thời gian khám phá, chiêm nghiệm để hiểu được thực chất của “Tự do, Bình đẳng, Bác ái”, của pháp quyền, dân chủ và mô hình tổ chức Nhà nước tư sản; của nhân quyền, pháp quyền, dân chủ, mô hình tổ chức Nhà nước Xô viết và con đường đấu tranh giải phóng dân tộc theo tinh thần của V.I.Lênin, để rồi sau khi đã “trưng cất” được những tinh hoa của nền văn minh phương Đông và phương Tây, tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa, Người quyết định trở về "giúp ích cho đồng bào mình", lãnh đạo đồng bào mình tiến hành cuộc cách mạng giải phóng, chứ không phải giống như các luận điệu phản động, bịa đặt là: khi “bị từ chối thì bất đắc phiêu lưu kiếm sống, không có thời giờ suy nghĩ chuyện đất nước” và Nguyễn Ái Quốc “đến Liên Xô học tập là hy vọng có việc làm kiếm lương hằng tháng, chứ không phải vì cách mạng Việt Nam”…

Thực tế là từ những tri thức tích luỹ được; từ sự thấu hiểu được nguồn sức mạnh nội lực “chủ nghĩa dân tộc là động lực lớn của đất nước” và với niềm tin cháy bỏng về một Tổ quốc Việt Nam được độc lập, nhân dân Việt Nam được tự do; với mong muốn đem lại hạnh phúc “cho tất cả mọi người”, Người đã không chỉ tiến hành đào tạo đội ngũ cán bộ cốt cán cho cách mạng Việt Nam, sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam, xây dựng đường lối chính trị đúng đắn phù hợp điều kiện cụ thể của Việt Nam và xu thế của thời đại là gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội, mà còn cùng Đảng xúc tiến xây dựng lực lượng cách mạng, lực lượng vũ trang cách mạng, căn cứ địa cách mạng, xây dựng và củng cố, mở rộng các hình thức Mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi… thiết thực, hiệu quả để chuẩn bị cho cuộc cách mạng giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam.

Trong quá trình đó, Người không chỉ thành công trong việc vận dụng học thuyết Mác - Lênin vốn có cơ sở thực tế từ xã hội phương Tây vào thực tiễn một nước thuộc địa, nửa phong kiến, chưa phát triển như Việt Nam mà còn phát triển học thuyết đó lên một tầm cao mới, phù hợp với phần thế giới còn lại - đó là những nước chưa qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa, mà Việt Nam là một điển hình.

Ba là, thời gian càng lùi xa, càng khẳng định rằng, hoài bão lớn lao của người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành cách đây hơn một thế kỷ đã trở thành sự thật. Từ một sự lựa chọn đúng và khởi đầu một hướng đi đúng, với ý chí, quyết tâm và sự phấn đấu không mệt mỏi cho con đường mình đã chọn, Người ra đi từ bến cảng Sài Gòn năm 1911 đã tìm thấy con đường cách mạng đúng đắn và lãnh đạo nhân dân giành thắng lợi trong cuộc đấu tranh vì một nước Việt Nam độc lập và thống nhất, tự do và hạnh phúc, ngày một phát triển bền vững.

Đồng thời, dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh và kiên định con đường cách mạng do Người cùng Đảng Cộng sản Việt Nam đã lựa chọn, 110 năm sau - một nước Việt Nam "Độc lập - Tự do - Hạnh phúc" trên hành trình đi lên chủ nghĩa xã hội "đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện hơn so với những năm trước đổi mới. Với tất cả sự khiêm tốn, chúng ta vẫn có thể nói rằng: Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay" như Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã khẳng định.

Vì vậy, vượt lên sự chống phá, bôi đen, xuyên tạc, bẻ cong sự thật của các thế lực phản động, thù địch, thì vẫn có thể khẳng định rằng: Ngày 5/6/1911 không chỉ là một sự kiện đặc biệt đánh dấu một sự lựa chọn chính xác của Nguyễn Tất Thành mà còn cho thấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dày công tìm ra con đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc Việt Nam và nhân dân Việt Nam. Đi theo con đường Người đã chọn, đất nước Việt Nam, nhân dân Việt Nam đã hòa mình vào dòng chảy chung của nhân loại; đã vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh; kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại để tạo nên sức mạnh tổng hợp về thế, về lực, về thời để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa ngày càng phát triển vững mạnh và phồn vinh, từng bước khẳng định vị thế của mình trên trường quốc tế, sánh vai cùng bạn bè quốc tế./.

SỰ LỰA CHỌN CHÍNH XÁC CỦA NGUYỄN TẤT THÀNH

Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh sinh ra và lớn lên khi đất nước đã đắm chìm trong đêm trường nô lệ. Những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, dưới ách thống trị tàn bạo của thực dân Pháp, nền độc lập của dân tộc bị xâm phạm, quyền được sống trong độc lập, tự do, hạnh phúc của mỗi người dân ở xứ An Nam thuộc địa đều bị chà đạp, tước bỏ. Không cam chịu làm nô lệ, các phong trào đấu tranh yêu nước của nhân dân Việt Nam liên tiếp nổ ra: Từ phong trào Cần Vương, Văn Thân đến cuộc khởi nghĩa nông dân Yên Thế; từ phong trào Đông Du, Đông Kinh Nghĩa Thục, Duy Tân đến phong trào chống thuế ở Trung Kỳ…, song cuối cùng đều bị dìm trong bể máu.

Cũng trong những năm tháng đó, không chỉ sống ở xứ Nghệ, Nguyễn Tất Thành còn được sống ở kinh thành Huế. Người không chỉ được học chữ Hán, bước đầu làm quen với thời đại qua những sách Tân thư, Tân văn bằng tiếng Hán; được nghe các thầy giảng giải về nền dân chủ và văn minh phương Tây mà khi theo học lớp dự bị (préparatoire) ở Trường tiểu học Pháp - bản xứ ở thành phố Vinh trước đó, lần đầu tiên Nguyễn Tất Thành được tiếp xúc với khẩu hiệu "Tự do, Bình đẳng, Bác ái" nổi tiếng của cách mạng tư sản Pháp 1789. Sau này, Người kể lại với nhà văn Liên Xô Ôxíp Manđenxtam rằng: “Khi tôi độ mười ba tuổi, lần đầu tiên tôi được nghe ba chữ Pháp: Tự do, Bình đẳng, Bác ái. Đối với chúng tôi, người da trắng nào cùng là người Pháp. Người Pháp đã nói thế. Và từ thuở ấy, tôi rất muốn làm quen với nền văn minh Pháp, muốn tìm xem những gì ẩn giấu đằng sau những chữ ấy”.

Truyền thống của quê hương và gia đình, sự tác động về nhiều mặt của thời cuộc đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến Nguyễn Tất Thành. Vì vậy mà, dù rất khâm phục lòng yêu nước của các bậc tiền nhân theo tư tưởng phong kiến hoặc dân chủ tư sản, nhưng khác họ, qua những kiến thức mới mẻ tiếp thu được từ Tân thư, từ những năm tháng học tập, sinh sống ở Huế và bằng nội lực bẩm sinh, Nguyễn Tất Thành hiểu rằng một thời đại mới, đòi hỏi một con đường đi mới, một phương thức đấu tranh mới - Đó chính là làm cách mạng và nó khác hẳn những con đường đấu tranh yêu nước đã từng diễn ra.

Vì thế mà, Nguyễn Tất Thành đã quyết định không sang phương Đông, không nhờ cậy vào những người “anh lớn” Trung Quốc và Nhật Bản, mà muốn làm quen với văn minh Pháp, muốn xem những gì ẩn giấu đằng sau những mỹ từ “Tự do, Bình đẳng, Bác ái” của cách mạng Pháp. Nguyễn Tất Thành đã muốn học hỏi nhiều hơn những gì mình đang có, dân tộc mình đang có, để không chỉ làm giàu tri thức cho mình mà chính là hướng đến mục tiêu giải phóng dân tộc mình. Từ xuất phát điểm này, từ sự vượt lên chính mình này đã quyết định sự lựa chọn, con đường đi sau đó của Người - đó là rời Tổ quốc ra đi tìm đường cứu nước, mở đầu một chặng đường dài xa Tổ quốc.

Với ý chí và quyết tâm của một người dân mất nước, với nhiệt huyết và sức trẻ của tuổi thanh xuân, Nguyễn Tất Thành đã khởi đầu một con đường đúng khi quyết định xin làm thuê trên tàu Đô đốc Latútxơ Trêvilơ (Amiran Latusơ Tơrêvin), rời Tổ quốc ngày 5/6/1911 để “tìm đường đi cho dân tộc theo đi”. Có thể nói, đây là một suy nghĩ đúng đắn, hợp quy luật và thời đại.

Theo hành trình của tàu, Người đã đến Marseille, Le Havre, Dunkerque, Manche của Pháp… Ngày 15/9/1911, Người viết đơn gửi Tổng thống Pháp và Bộ trưởng Thuộc địa Pháp trình bày nguyện vọng muốn được xin vào học tại Trường Thuộc địa. Đơn của Người được gửi từ Marseille; trong đó có đoạn viết: “Tôi vinh hạnh, xin một đặc ân với lòng nhân từ cao cả của ông được thu nhận vào học Trường Thuộc địa như một học sinh nội trú. Hiện tại tôi là nhân viên của Hãng Sácgiơ Rêuyni (Chargeurs Réunis) tàu Amiran Latusơ Tơrêvin”, với mong muốn "trở thành có ích cho đồng bào tôi, muốn cho họ được hưởng những lợi ích của học thức". Tuy nhiên yêu cầu này đã bị từ chối vào tháng 10/1911 và theo hành trình của tàu, Người trở lại Sài Gòn.

Sau đó, Người quay lại Pháp và theo hành trình của hãng tàu Người bắt đầu hành trình lao động kiếm sống, tích luỹ tri thức, khảo nghiệm và tìm hiểu đời sống chính trị, xã hội các quốc gia, dân tộc và các nền văn hoá của nhiều châu lục… Vậy là, trải qua những tháng ngày lao động vất vả, bằng nghề làm phụ bếp trên tàu; thợ chụp ảnh, vẽ đồ giả cổ Trung Hoa ở thủ đô Paris của nước Pháp hoa lệ; làm người cào tuyết cho trường học, bồi bàn trong khách sạn ở nước Anh; học tập, nghiên cứu ở nước Nga; hoạt động ở  Trung Quốc, v.v.. Nguyễn Ái Quốc đã có một hành trình dài với biết bao điều lớn lao:

Thứ nhất, sống, học tập và hoạt động không mệt mỏi, thực sự hòa mình vào dòng chảy của các sự kiện trên thế giới và đi đến lựa chọn đúng, đó là đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, đến với con đường cứu nước theo quỹ đạo cách mạng vô sản khi bỏ phiếu tán thành Quốc tế thứ III của Lênin/Quốc tế Cộng sản - trở thành người cộng sản Việt Nam đầu tiên, một trong những người sáng lập Đảng Cộng sản Pháp vào tháng 12/1920 (tại Đại hội Tua) khi hiểu rõ rằng: "Cách mạng Tháng Mười mở ra con đường giải phóng cho các dân tộc và cả loài người, mở đầu một thời đại mới trong lịch sử, thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi thế giới". Vì thế, “muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”(và “chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ”…

Thứ hai, ham học hỏi, không sợ cường quyền, từng bước vượt qua mọi thử thách, gian truân, luôn phấn đấu cao độ với một nghị lực phi thường và một định hướng chính trị đúng để gom góp và đanh thép đưa ra bản cáo trạng tội ác thực dân - Bản án chế độ thực dân Pháp năm 1925. Đồng thời, được chứng kiến những diễn biến lớn của thời đại, Nguyễn Ái Quốc đã thấy những tồn tại, những khoảng cách và cả những bất công về quyền lợi và hưởng thụ trong lòng xã hội tư bản, tất yếu sẽ dẫn đến những “khủng hoảng” không thể tránh khỏi ở cả các nước chính quốc, như nước Mỹ (với bản Tuyên ngôn độc lập năm 1776) và nước Pháp (với bản Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của cách mạng 1791, để rồi đi tới khẳng định: “Dù màu da có khác nhau, trên đời này chỉ có hai giống người: giống người bóc lột và giống người bị bóc lột. Mà cũng chỉ có một mối tình hữu ái là thật mà thôi: tình hữu ái vô sản”. Vì thế, theo Người, vấn đề giải phóng dân tộc, giải phóng con người không chỉ là nhu cầu của dân tộc và con người Việt Nam mà là của tất cả các dân tộc bị áp bức và nhân dân cần lao trên thế giới.

Thứ ba, đi từ dân tộc đến nhân loại, Người đã nghiên cứu chủ nghĩa Mác - Lênin, tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lênin với thế giới quan khoa học và cách mạng, để phát hiện và nhận thức được quy luật tiến hóa, xu thế phát triển tất yếu của thời đại khi khẳng định: “Chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ”. Với ý nghĩa đó, có thể thấy, Nguyễn Ái Quốc đã không chỉ tìm được con đường cứu nước, cứu dân phù hợp yêu cầu của đất nước và quy luật của thời đại mà còn trang bị cho mình một nhân sinh quan mới để định hình con đường phát triển cho dân tộc Việt Nam khi nhấn mạnh rằng, ở đó “chủ nghĩa dân tộc là một động lực lớn của đất nước…Chiến tranh đã làm thay đổi chủ nghĩa dân tộc”. Đây là quá trình khảo nghiệm, thâu thái tinh hoa, tri thức các nền văn minh nhân loại theo cách "tiếp biến và vượt gộp" của Hồ Chí Minh, để vừa sáng tạo, vừa độc lập vận dụng vào điều kiện cụ thể của Việt Nam khi quyết định trở về Quảng Châu, Trung Quốc (11/11/1924) chuẩn bị cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam sau đó.

Thứ tư, trên cơ sở những nguyên lý của học thuyết Mác - Lênin về xây dựng Đảng, Nhà nước, về phương pháp vận động quần chúng, tập dượt đấu tranh cách mạng được tích luỹ trong những năm tháng hoạt động của tuổi trẻ, bằng những việc làm cụ thể như mở lớp huấn luyện chính trị, thành lập tổ chức Hội Việt Nam cách mạng thanh niên năm 1925, sáng lập báo Thanh niên 6/1925, tuyên truyền về chủ nghĩa cộng sản, về Đảng Cộng sản, về Cách mạng Tháng Mười Nga, xuất bản tác phẩm Đường Kách mệnh đầu năm 1927..., Nguyễn Ái Quốc đã ngày mỗi ngày góp phần đưa tư tưởng của thời đại mới về Việt Nam, thúc đẩy sự chuyển biến về chất trong phong trào công nhân và phong trào yêu nước. Sau đó, khi các tổ chức cộng sản Việt Nam ra đời, Người đã tổ chức thành công Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản, thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (từ 6/1-8/2/1930) tại Hương Cảng. Hội nghị đã thông qua Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng, trong đó khẳng định: "Chủ trương làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản"; "a) Đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn phong kiến. b) Làm cho nước Nam hoàn toàn độc lập".

Thứ năm, dưới sự lãnh đạo của Người và Đảng Cộng sản Việt Nam, với đường lối cách mạng đúng đắn, với sức mạnh đoàn kết muôn người như một của các tầng lớp nhân dân yêu nước, kiên cường, đồng lòng ủng hộ, cuộc cách mạng giải phóng dân tộc đã giành thắng lợi. Ngày 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thay mặt Chính phủ lâm thời đọc Tuyên ngôn độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam châu Á; đồng thời, đưa những thân dân/người dân nô lệ An Nam trở thành chủ nhân của nước Việt Nam độc lập, tự do.

Tiếp đó, kiên định con đường đã lựa chọn, nhân dân Việt Nam kiên trì tiến hành thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và chống Mỹ, cứu nước để giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước cùng đi lên chủ nghĩa xã hội. Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh và một đường lối cách mạng đúng đắn, phù hợp xu thế thời đại của Đảng Cộng sản Việt Nam, thể hiện rõ trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991 và Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), sau hơn 35 năm đổi mới và hội nhập quốc tế, một đất nước Việt Nam đổi mới từng ngày đã khẳng định được vị thế của mình trong cộng đồng các quốc gia, đóng góp vào sự phát triển bền vững, phồn vinh của nhân loại; góp phần vào cuộc đấu tranh chung của nhân loại, thúc đẩy sự phát triển tiến bộ của loài người tiến lên trong một thế giới đầy biến động.

ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM MỞ RA TRANG SỬ MỚI CHO DÂN TỘC VIỆT NAM

Trong thời gian ấy, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời giữa “một rừng” đảng phái chính trị ở Việt Nam. Không ồn ào như các đảng trên ra đời từ sớm, mà trái lại, Đảng lặng lẽ hiện diện, thậm chí phải tạm lánh ở nước ngoài, vì Đảng “là con nòi” của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Việt Nam, được hun đúc bởi truyền thống yêu nước thương nòi Việt Nam, dưới ngọn cờ của Chủ nghĩa Mác-Lênin, nguyện chiến đấu và hy sinh vì mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội (CNXH). Đảng Cộng sản bị kẻ thù vây bủa, đàn áp đẫm máu, bị các đảng khác đương thời chèn ép, tranh đoạt sự ảnh hưởng. Trong 15 năm đầu, bao lần Đảng bị thực dân Pháp vây ráp, khủng bố trắng, hàng nghìn đảng viên của Đảng bị tù đầy, chém giết, hàng vạn đồng bào bảo vệ Đảng bị bắt bớ, lưu đầy, chỉ riêng 31 Ủy viên Trung ương của Đảng đã bị thực dân Pháp “tặng” cho 221 năm tù khổ sai. Nhiều Tổng Bí thư của Đảng bị thực dân Pháp tử hình... Lịch sử của Đảng 15 năm đầu được viết bằng máu đào và xương trắng đảng viên, chiến sĩ, đồng bào cuộc đấu tranh song trùng: Giữa Việt Nam với thực dân Pháp xâm lược và chế độ phong kiến bán nước của chúng và giữa các đảng chính trị Việt Nam trong việc giành vị thế cầm quyền đất nước... Tất cả được thử thách qua sự sàng lọc, lựa chọn và đào thải của lịch sử, của nhân dân. Đó là khí phách Việt Nam. Điều đó ai cũng đều thấy.

Một đảng cộng sản như thế xứng đáng là một đảng gánh vác sứ mệnh lịch sử, đứng mũi chịu sào trước nhân dân, dẫn dắt dân tộc. Vì sự thật Đảng vốn là “đứa con nòi” phải thuộc về dân tộc, phải là của nhân dân và đảm đương sứ mệnh “phải làm cái việc là gieo hạt giống của công cuộc giải phóng nữa thôi”, dẫn dắt đất nước thực thi trọng trách nhân dân giao phó: Độc lập dân tộc và CNXH. Đảng Cộng sản Việt Nam là người kết tinh, chung đúc những tố chất của một đảng vô sản kiểu mới và thực tế đủ bản lĩnh chính trị và năng lực trí tuệ lãnh nhiệm trọng trách ấy của đất nước đặt ra và được nhân dân tin theo và hy sinh vì nó. Và Đảng trở thành một đảng dẫn dắt dân tộc và sau nay trở thành một đảng cầm quyền. Không một lực lượng chính trị nào Việt Nam lúc bấy giờ và bây giờ đủ tầm nhìn chính trị, bản lĩnh chính trị có thể làm nổi, không một ai có đủ chính danh cho tới tận hôm nay để có thể, dù cả gan, dù bất chấp đạo lý và pháp lý, làm vấy bẩn nó.   

Sinh ra trong lòng dân tộc và đồng hành cùng dân tộc bẻ gãy gông xiềng nô lệ quàng lên cổ đất nước, giành lại độc lập cho Tổ quốc, lập nên chính quyền của nhân dân, và Đảng trở thành Đảng cầm quyền. Điều đó làm nên địa vị lịch sử một cách tự nhiên và địa vị pháp lý của Đảng một cách tất yếu. Vấn đề quan trọng hơn hết và quyết định tất thảy là, địa vị cầm quyền đó của Đảng đã được bảo đảm bởi năng lực cầm quyền và uy tín cầm quyền trên thực tiễn lãnh đạo cách mạng Việt Nam suốt hơn 91 năm qua; và, vị thế nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa hơn 76 năm qua, dưới ngọn cờ của Đảng, trên trường quốc tế ngày càng được khẳng định và trọng thị.

Vì không có trọng trách gì nặng nề và vẻ vang hơn, dù trong hoàn cảnh nào, Đảng luôn là đội tiền phong chiến đấu của giai cấp công nhân Việt Nam-giai cấp đại biểu cho yêu cầu phát triển lực lượng sản xuất tiên tiến. Đảng không có lợi ích nào cao hơn rằng, Đảng là đại biểu trung thành cho lợi ích của nhân dân lao động và của cả dân tộc Việt Nam. Vì Đảng ta là Đảng của giai cấp, đồng thời cũng là của dân tộc, không thiên tư, thiên vị. Mục tiêu phấn đấu của Đảng không có gì khác ngoài “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” trong vị thế vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân. Đảng Cộng sản Việt Nam đã trở thành “Đảng ta”, “Đảng của chúng ta”, “Đảng của dân tộc chúng ta”... Đó là đạo lý Việt Nam. 

Và đi trên con đường xã hội chủ nghĩa (XHCN) tới cái đích cao quý ấy được Đảng Cộng sản Việt Nam vạch ra ngay lúc mới ra đời. Qua hơn 76 năm cầm quyền, Đảng cùng toàn dân tộc xây dựng nên một nước Cộng hòa XHCN Việt Nam đã và đang giữ một vị thế mới trên trường quốc tế mà bất cứ ai cũng thấy. Qua 35 năm lãnh đạo công cuộc đổi mới, Đảng ta càng trưởng thành toàn diện. Trước thềm Đại hội XII của Đảng (tháng 1-2016), dư luận quốc tế nhận định: “Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo là chính đảng duy nhất cầm quyền là một mô hình thành công đặc biệt và mô hình này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, nhất là đối với các nước đang phát triển vì rất nhiều mô hình đã được thử nghiệm, nhưng chưa thấy mô hình nào thành công”.

Trọng trách cầm quyền của Đảng, vinh dự được cầm quyền của Đảng trước nhân dân là do lịch sử dân tộc giao phó và được nhân dân Việt Nam thừa nhận, ủy thác và tin theo, chứ tuyệt đối không phải “từ trên trời rơi xuống” hay sự sắp xếp chủ quan của bất cứ ai, sự ngộ nhận của bất cứ giai cấp, tầng lớp nào.

Nhân đây, cần được nói thêm về một số ý kiến lưỡng lự hoặc công kích về chuyện một đảng hay đa đảng và vấn đề dân chủ ở Việt Nam. Rằng, từ những năm 40 tới những năm 90 của thế kỷ 20, cùng với Đảng Cộng sản Việt Nam, ở nước ta, còn có hai đảng là Đảng Dân chủ Việt Nam (ra đời ngày 30-6-1944 và tự giải tán vào ngày 20-10-1988) và Đảng Xã hội Việt Nam (ra đời ngày 22-7-1946 và tự giải tán tròn 42 năm sau đó, ngày 22-7-1988) đều thừa nhận sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, cùng dân tộc Việt Nam tranh đấu vì một nước Việt Nam độc lập, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ và xây dựng CNXH. Nghĩa là, Việt Nam đã từng và có một thời kỳ lịch sử không ngắn, ngót nửa thế kỷ, sau khi dân tộc giành lại nền độc lập và toàn vẹn lãnh thổ, nhân dân được hưởng nền tự do, cùng với Đảng Cộng sản Việt Nam, đã từng có nhiều đảng chính trị khác hoạt động và tự giải tán, chứ đâu phải câu chuyện hão về “đảng toàn trị”, “độc đảng” hoặc đâu cần ai khuyến nghị “muốn có dân chủ, phải đa đảng”(!).

Tới đây, lại nhớ và nhắc lại lời người xưa, rằng nếu như đem dục vọng, tạp niệm của mình lắng xuống, có đạo lý nào mà chúng ta không thể thông suốt? Rằng, nếu đem chí hướng của mình mạnh mẽ khơi dậy, có việc gì mà ta không thể làm? Mấy vị ngày nay ấy, danh chính gì mà luận chính danh hay chính pháp về Đảng, khi các vị chỉ biết ôm trong lòng sự kiêu ngạo vô lối mà quan sát sự tình, mang tinh thần uể oải sa sút, thậm chí đem con mắt hạt đậu mà định luận sự việc, chẳng qua cũng chỉ là hồ đồ sống hết cuộc đời mình. Chỉ thế mà thôi!

Có thể nói gọn lại, lịch sử dân tộc Việt Nam sinh ra Đảng Cộng sản Việt Nam, đến lượt mình, Đảng đáp lại yêu cầu của lịch sử dân tộc, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về quy mô, tốc độ, chiều sâu của công cuộc phát triển đất nước và phù hợp với xu thế tiến bộ của thời đại. Đó là biện chứng phát triển tự nhiên và tất yếu của dân tộc Việt Nam và Đảng Cộng sản Việt Nam. Đó là nhu cầu phát triển tất yếu của đất nước hiện nay, trên con đường độc lập dân tộc và CNXH, dưới ngọn cờ của Đảng. Đó là tính tất yếu cầm quyền của Đảng, tính chính danh, chính pháp, bảo đảm tư cách pháp lý và đạo lý để Đảng cầm quyền.