Thứ Năm, 18 tháng 5, 2023

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VÊ ĐỐI NGOẠI

Hướng tới kỷ niệm 133 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2023) là dịp để chúng ta tưởng nhớ, biết ơn những tư tưởng tiến bộ, những đóng góp vĩ đại của Người đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Trong đó, tư tưởng đối ngoại Hồ Chí Minh không chỉ có giá trị to lớn trong lịch sử, mà còn là kim chỉ nam soi sáng con đường bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hôm nay và mai sau.

Trước hết, theo Hồ Chí Minh, mục tiêu đối ngoại phải bảo đảm lợi ích quốc gia; độc lập dân tộc, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, thống nhất đất nước, hạnh phúc, tự do của nhân dân. Người nhấn mạnh, “muốn làm gì cũng cần vì lợi ích của dân tộc mà làm”. Qua hoạt động đối ngoại, Người muốn gửi đến các nước trên thế giới thông điệp khẳng định: Việt Nam là một nước độc lập; Việt Nam thực hành đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình và hữu nghị với các nước “tôn trọng toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền của nhau, không xâm phạm, không can thiệp vào các công việc nội bộ, bình đẳng và hai bên cùng có lợi, chung sống hòa bình” . Trong tư tưởng đối ngoại Hồ Chí Minh, nguyên tắc bất biến là: “tôn trọng sự hoàn chỉnh về chủ quyền và lãnh thổ của nhau, không xâm phạm lẫn nhau, không can thiệp nội trị của nhau, bình đẳng cùng có lợi và chung sống hòa bình”.

Đồng thời, Người yêu cầu mọi người “phải nhìn cho rộng, suy cho kỹ”, tránh những hành động nóng vội; tránh ảo tưởng, trông chờ vào sự giúp đỡ của bên ngoài; phải luôn tỉnh táo để có những đối sách khôn khéo bảo đảm lợi ích của dân tộc cả trước mắt và lâu dài; vận dụng sáng tạo nghệ thuật ngoại giao tâm công của Hồ Chí Minh, “thuyết phục người, chinh phục người, tranh thủ người” bằng lẽ phải và đạo lý.

Thứ hai, tư tưởng đối ngoại Hồ Chí Minh thể hiện qua phương châm “Dĩ bất biến, ứng vạn biến”. Trong đó, cần thấm nhuần quan điểm có tính nguyên tắc: chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ là thiêng liêng, bất khả xâm phạm, là cái “bất biến”. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh, “nhân dân chúng tôi thành thật mong muốn hòa bình. Nhưng nhân dân chúng tôi cũng kiên quyết chiến đấu đến cùng để bảo vệ những quyền thiêng liêng nhất: toàn vẹn lãnh thổ cho Tổ quốc và độc lập cho đất nước”. Thực hiện “dĩ bất biến ứng vạn biến” trong hoạt động đối ngoại của Chủ tịch Hồ Chí Minh là nắm vững mục tiêu, bản lĩnh vững vàng, quyết đoán khôn khéo, mau lẹ và kịp thời để ứng phó trước hoàn cảnh, tình thế trong từng trường hợp cụ thể. "Dĩ bất biến, ứng vạn biến" đối với hoạt động đối ngoại là sự kết hợp hài hòa giữa mềm dẻo và kiên quyết, giữa chiến lược và sách lược, giữa chủ động và sáng tạo trong nhận biết, tạo dựng và nắm bắt cơ hội để bảo vệ và thực hiện tốt nhất lợi ích quốc gia, dân tộc. Cái “vạn biến” là sự linh hoạt, mềm dẻo, sáng tạo, khôn khéo trong đấu tranh bảo vệ chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ.

Vận dụng sáng tạo tư tưởng đối ngoại Hồ Chí Minh, Đảng ta nêu rõ: “Nỗ lực phấn đấu để ngăn ngừa xung đột, chiến tranh và giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp hòa bình phù hợp với luật pháp quốc tế. Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, vùng trời, vùng biển; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển”.

Thứ ba, xây dựng mối đoàn kết quốc tế thống nhất; đối ngoại rộng mở.Theo Người, để tập hợp và lôi kéo lực lượng quốc tế đoàn kết ủng hộ Việt Nam, trước hết, phải làm cho nhân dân thế giới hiểu rõ về Việt Nam, về truyền thống yêu chuộng hòa bình, về cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân ta. Bác cho rằng, “nước ta là một bộ phận của thế giới. Tình hình của nước ta có ảnh hưởng đến thế giới, mà tình hình thế giới cũng có quan hệ đến nước ta”. Do vậy, những hoạt động của nước ta luôn liên hệ với cuộc đấu tranh chung của lực lượng tiến bộ trên thế giới; nhưng phải độc lập, tự chủ, khôn khéo, bằng những biện pháp của riêng mình để tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ lớn nhất của nhân dân tiến bộ. Song, “muốn người ta giúp cho, thì trước mình phải tự giúp lấy mình đã”. Phải thực hành chính sách đối ngoại rộng mở, chính sách mở cửa và hợp tác, chính sách hoà bình và quan hệ tốt; tránh đối đầu và không gây thù oán. Trong quan hệ với các nước, các tổ chức quốc tế, cần tìm ra những điểm tương đồng, khai thác mọi khả năng có thể, nhằm tập hợp lực lượng đoàn kết ủng hộ Việt Nam theo nhiều cấp độ. Trong hoạt động đối ngoại phải phối hợp chặt chẽ giữa ngoại giao chính trị với ngoại giao kinh tế, ngoại giao văn hóa... Văn kiện Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh: “Phát huy cao nhất sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị kết hợp với sức mạnh thời đại, tranh thủ tối đa sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế”

Thứ tư, phát huy nội lực bên trong làm cơ sở tạo thắng lợi trên mặt trận ngoại giao. Hồ Chí Minh khẳng định, hoạt động đối ngoại phải dựa trên cơ sở sức mạnh bên trong, gồm sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc, sức mạnh về kinh tế, chính trị, quân sự và văn hóa của đất nước, đó là sức mạnh tổng hợp quốc gia (là thực lực). Muốn thắng lợi trên mặt trận ngoại giao phải có thực lực: “Phải trông ở thực lực. Thực lực mạnh, ngoại giao sẽ thắng lợi. Thực lực là cái chiêng mà ngoại giao là cái tiếng. Chiêng có to tiếng mới lớn”. Ngoại giao phối hợp với chính trị, kinh tế, quân sự để bồi đắp thực lực, về phía ngoài nước, ngoại giao phải tạo điều kiện để gắn dân tộc với thời đại, tạo ra thế và lực mới nhằm đưa đến cải thiện so sánh lực lượng toàn cục giữa ta và các thế lực thù địch theo hướng ngày càng có lợi cho cách mạng nước ta. Ngoại giao góp phần quyết định làm thay đổi cục diện quốc tế của cuộc đấu tranh và góp phần tích cực vào thay đổi tương quan lực lượng ở chiến trường. Đó là nhiệm vụ, đồng thời là mục tiêu mà Người đặt ra và kiên trì phấn đấu từ khi khai sinh ra nền ngoại giao hiện đại Việt Nam. Mặt khác, thực lực ở đây không phải chỉ là sức mạnh quân sự hay sức mạnh của bản thân mỗi dân tộc. Đảng luôn coi trọng quy tụ “ý Đảng, lòng dân”, “xây dựng và phát huy mạnh mẽ “thế trận lòng dân” trong nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân; xây dựng và củng cố vững chắc thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân” .

Tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh là một bộ phận quan trọng của tư tưởng Hồ Chí Minh, là di sản tinh thần vô giá, là nền tảng sức mạnh và là “cẩm nang” để thực hiện thắng lợi, hiệu quả đường lối, chiến lược và chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta. Hiện nay, đất nước đang trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế khi tình hình trong nước và quốc tế diễn biến hết sức phức tạp, việc nghiên cứu, vận dụng sáng tạo tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh là vấn đề có ý nghĩa cấp thiết để mở rộng quan hệ đối ngoại, tăng cường tiềm lực phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Đồng thời, phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, các cấp, các ngành và toàn dân để đối ngoại đóng góp xứng đáng vào thực hiện thắng lợi tầm nhìn, mục tiêu phát triển đất nước mà Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã đề ra./

 


ĐẤU TRANH VỚI ÂM MƯU, THỦ ĐOẠN LỢI DỤNG QUYỀN CON NGƯỜI ĐỂ CHỐNG PHÁ VIỆT NAM

Trong gần 4 thập niên đổi mới, Việt Nam đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong bảo vệ quyền con người. Tuy vậy, các thế lực thù địch, phản động luôn tìm mọi cách xuyên tạc thành tựu bảo đảm quyền con người ở Việt Nam, hòng chống phá sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta. Do đó, việc nhận diện, phản bác các luận điệu sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động là nhiệm vụ có ý nghĩa quan trọng, góp phần bảo đảm ổn định và sự phát triển bền vững của đất nước. Nhằm góp phần nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác âm mưu, thủ đoạn lợi dụng quyền con người của các thế lực thù địch, phản động, cần tập trung thực hiện một số nhiệm vụ sau:

Một là, tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức cho đội ngũ cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân. Nhằm bảo vệ và thúc đẩy quyền con người hiệu quả trên thực tế, điều kiện đầu tiên là cán bộ, đảng viên và nhân dân phải nắm vững chủ trương, quan điểm của Đảng và Nhà nước về quyền con người. Cần tạo sự chuyển biến trong nhận thức về quyền con người qua các kênh tuyên truyền và giáo dục, qua đó, những âm mưu, thủ đoạn và hoạt động lợi dụng, xuyên tạc của các thế lực thù địch về thành tựu bảo đảm quyền con người, xâm phạm đến quyền con người, đến lợi ích của nhân dân Việt Nam dễ được nhận diện và có căn cứ để đấu tranh, phản bác hiệu quả. Thông qua công tác tuyên truyền, giáo dục, không ngừng củng cố nhận thức chính trị cho đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhân dân, tự giác, tích cực tham gia phòng ngừa, đấu tranh, giữ vững “thế trận lòng dân”, có khả năng nhận diện và “tự miễn dịch” trước các thông tin xấu, độc. Tăng cường và nâng cao hiệu quả phong trào toàn dân tham gia bảo vệ an ninh Tổ quốc, thực hiện mỗi cán bộ, đảng viên một là chiến sĩ trên mặt trận bảo vệ nền tảng tư tưởng; thực hành phát huy dân chủ và quyền con người.

Hai là, đẩy mạnh phát triển kinh tế, xã hội, xóa đói, giảm nghèo, coi trọng và thúc đẩy các quyền con người, coi con người là mục tiêu và động lực của mọi chính sách phát triển kinh tế - xã hội, “đưa lực lượng sản xuất phát triển ngày càng nhanh chóng và tiến lên hiện đại là yêu cầu cơ bản và cấp bách để thực hiện có hiệu quả chiến lược con người”. Làm cho nhân dân có cuộc sống ấm no, hạnh phúc là một trong những minh chứng sinh động, thuyết phục nhất để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bác bỏ những luận điệu xuyên tạc, vô căn cứ của các thế lực thù địch về thành tựu bảo đảm quyền con người ở Việt Nam. Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện các chương trình kinh tế - xã hội nhằm hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng kinh tế, bảo đảm ngày càng tốt hơn đời sống vật chất và tinh thần của người dân. Đồng thời, thực hiện tốt chính sách an sinh xã hội, chính sách đối với người có công với cách mạng; quan tâm đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho người lao động vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Các chính sách cần chú trọng đúng mức đến các quan điểm và nguyện vọng của các nhóm xã hội.

Ba là, tiếp tục hoàn thiện chính sách xã hội, pháp luật về quyền con người, trong đó, con người là trung tâm, là chủ thể, là động lực và là mục tiêu của sự phát triển và tiến bộ xã hội. Mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ cuộc sống, phù hợp với nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của người dân, phấn đấu vì hạnh phúc, ấm no của nhân dân. Tiếp tục củng cố hệ thống các quyền con người, quyền công dân đã được hiến định, để mọi người dân đều được hưởng thụ các thành quả phát triển kinh tế, xã hội của đất nước một cách công bằng thông qua việc được tiếp cận các cơ hội bình đẳng và phù hợp, bảo đảm sự tương thích với các nguyên tắc, tiêu chuẩn pháp luật quốc tế về quyền con người. Việc hoàn thiện pháp luật đó cũng là kiến tạo cơ sở pháp lý và chính trị cho mọi hoạt động khác vì sự phát triển của con người Việt Nam. Bên cạnh đó, Nhà nước cần hoàn thiện cơ chế pháp lý thực hiện, giám sát thực hiện và xử lý các vi phạm quyền con người để bảo đảm tất cả quyền con người đều được tôn trọng, bảo đảm trong thực tế.

Bốn là, mở rộng quan hệ quốc tế trong nghiên cứu và thực thi quyền con người. Việc bảo vệ quyền con người ở các quốc gia được coi như một điều kiện quan trọng trong quá trình hợp tác quốc tế hiện nay. Do đó, trong nhận thức và giải quyết vấn đề quyền con người, cần quán triệt nguyên tắc thống nhất tính phổ biến và tính đặc thù của quyền con người khi xem xét những vấn đề thực tiễn về quyền con người.

Việc thực hiện dân chủ và quyền con người còn tùy thuộc vào nhiều điều kiện, trước hết là trình độ phát triển kinh tế và điều kiện cụ thể của mỗi nước, mỗi dân tộc trên tất cả các phương diện của đời sống. Các nước có chế độ chính trị khác nhau, trình độ phát triển khác nhau, không thể lấy quan niệm, thực tiễn của nước này, của dân tộc này về dân chủ và quyền con người áp đặt cho dân tộc khác, nước khác. Do đó, xây dựng và thúc đẩy đối thoại trên lĩnh vực dân chủ, quyền con người có ý nghĩa tích cực, góp phần nâng cao sự hiểu biết lẫn nhau, từng bước thu hẹp bất đồng với các đối tác quốc tế trong vấn đề quyền con người. Qua đối thoại cũng nhằm bác bỏ những thông tin sai lệch, luận điệu xuyên tạc, bịa đặt của các nhóm, cá nhân cực đoan trong và ngoài nước về tình hình quyền con người ở Việt Nam. Bên cạnh việc thực hiện cơ chế đối thoại chính thức với các nước, cần chủ động và tích cực đăng cai tổ chức các hội thảo quốc tế để các nhà chính trị và các nhà khoa học tham dự và thảo luận về các vấn đề liên quan đến quyền con người.

“Nước ta là nước dân chủ, bao nhiêu lợi ích là vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân”, tôn trọng và bảo đảm quyền con người là quan điểm nhất quán và xuyên suốt của Đảng và Nhà nước ta. Quyền con người luôn là quyền cơ bản và quan trọng nhất, thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Do đó, nhận diện, vạch trần và kiên quyết đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái, thù địch về thành tựu bảo đảm quyền con người có ý nghĩa quan trọng, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo đảm ổn định và sự phát triển bền vững của Việt Nam hiện nay.


NHẬN DIỆN ÂM MƯU, THỦ ĐOẠN CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH XUYÊN TẠC, PHỦ NHẬN THÀNH TỰU BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI Ở VIỆT NAM

Nhìn chung, các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị lợi dụng, xuyên tạc quyền con người, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc ở Việt Nam, hiện nay chủ yếu bao gồm: những người theo đường lối chính trị trái ngược với giá trị của chủ nghĩa xã hội; những người cơ hội chủ nghĩa, suy thoái về tư tưởng, chính trị tại Việt Nam; các nhóm, hội, tổ chức phản động người Việt Nam ở nước ngoài; một số tổ chức phi chính phủ “khoác áo quyền con người”,... Những chiêu trò xuyên tạc của chúng thường được biểu hiện như sau:

Thứ nhất, cổ xúy cho những giá trị quyền con người phương Tây, nhân danh cái gọi là “quyền con người phổ quát”, coi phương Tây là trung tâm, chi phối quyền con người toàn thế giới, đồng thời các thế lực thù địch, phản động ra sức tuyên truyền, cổ vũ cho luận điệu “nhân quyền cao hơn chủ quyền”, “lợi ích cá nhân cao hơn lợi ích cộng đồng, quốc gia”. Chúng cũng tìm cách khoét sâu những hạn chế, yếu kém trong công tác quản lý xã hội, những sơ hở, thiếu sót trong thực hiện chính sách, pháp luật về bình đẳng và công bằng xã hội nhằm cường điệu hóa các giá trị tư sản, coi quyền con người là sản phẩm của riêng giai cấp tư sản và chủ nghĩa tư bản phương Tây. Chúng lợi dụng những vụ việc phức tạp nảy sinh trong việc giải quyết các vấn đề dân tộc, tôn giáo hòng thổi phồng, bóp méo tình hình thực tế để xuyên tạc chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, vu cáo Nhà nước ta vi phạm dân chủ, quyền con người, đàn áp dân tộc, tôn giáo nhằm kích động các hoạt động chống phá Nhà nước Việt Nam, tạo cớ mở đường để bên ngoài can thiệp; phê phán, xuyên tạc rằng Nhà nước Việt Nam ngăn cản tự do ngôn luận, tự do bày tỏ chính kiến, tự do hội họp.

Bên cạnh đó, chúng còn triệt để khai thác các vấn đề nhạy cảm, phức tạp, như tham nhũng, khiếu kiện, tội phạm, tệ nạn xã hội, tình hình dịch bệnh COVID-19, việc bắt, xử lý các đối tượng chống phá Nhà nước Việt Nam,... hòng vu khống Việt Nam vi phạm quyền con người.

Thứ hai, dựa trên thủ đoạn tuyệt đối hóa các quyền tự do cá nhân và coi đây là thước đo về dân chủ, quyền con người của một quốc gia, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị tự cho mình quyền “can thiệp nhân đạo”, áp đặt những “chuẩn mực” quyền con người, nhân danh “tinh thần thời đại” và “giá trị phổ biến” đối với Việt Nam; tìm cách gắn “điều kiện”, “tiêu chuẩn” phi pháp về quyền con người trên nhiều lĩnh vực, như quan hệ ngoại giao, hợp tác kinh tế, thương mại, an ninh, quốc phòng, văn hóa, giáo dục,... hòng gây sức ép yêu cầu Việt Nam cải cách thể chế kinh tế, chính trị, pháp lý theo cái gọi là chuẩn mực, giá trị dân chủ, quyền con người kiểu phương Tây. Các thế lực bên ngoài còn thông qua các tổ chức phi chính phủ nước ngoài triển khai các dự án hỗ trợ cải cách tư pháp để tìm cách can thiệp vào quá trình xây dựng, sửa đổi pháp luật Việt Nam và gây sức ép đòi mở rộng các quyền và tự do cơ bản của công dân theo tiêu chí của họ, tạo hành lang cho các tổ chức và phần tử chống đối trong nước hoạt động.

Thứ ba, các thế lực thù địch tìm cách tài trợ, hậu thuẫn về vật chất lẫn tinh thần cho các phần tử, tổ chức chống Đảng, Nhà nước Việt Nam với chiêu bài “bảo vệ quyền con người” ở cả trong và ngoài nước, hình thành lực lượng, tổ chức chính trị đối lập với Đảng và Nhà nước Việt Nam; phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng trong tiến trình phát triển của lịch sử dân tộc; từng bước làm mất lòng tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng. Ở bên trong, chúng tìm cách móc nối các phần tử bất mãn; mua chuộc, ép buộc những người nhẹ dạ tham gia để làm bình phong, lá chắn; tập hợp những đối tượng cơ hội chính trị, thoái hóa, biến chất, cái gọi là những “nhà dân chủ” tự xưng, để hình thành các tổ chức dưới danh nghĩa quyền con người, như “Nhóm tuổi trẻ yêu nước”, “Nhóm công dân tự do”, “Hội phụ nữ nhân quyền”,... Ở bên ngoài, các tổ chức phản động lưu vong ra sức thúc đẩy các hoạt động phi pháp, như kích động, chống đối, vận động các tổ chức quốc tế trao cái gọi là “giải thưởng nhân quyền” cho các đối tượng vi phạm pháp luật bị bắt ở trong nước... nhằm làm cho các đối tượng trong nước hoạt động quyết liệt hơn. Các thế lực thù địch thực hiện chiến lược “trong đánh ra, ngoài tiến công vào” để lôi kéo lực lượng, tạo dựng “ngọn cờ” và thành lập các tổ chức chính trị phản động, chống phá Đảng và Nhà nước, thường được che giấu tinh vi dưới danh nghĩa “cứu tinh ngoại quốc”, “bảo vệ dân chủ” và “đấu tranh vì nhân quyền”... Tuy nhiên, thực chất là gây rối, phá hoại, tạo mâu thuẫn trong nội bộ và can thiệp vào Việt Nam.

Thứ tư, xâm nhập, kích động, tuyên truyền hòng thúc đẩy quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ nước ta sang tư tưởng quyền con người tư sản là cách thức các thế lực thù địch, phản động ưu tiên nhằm làm “chệch hướng” nền tảng tư tưởng của Đảng ngay từ trong nội bộ. Chúng xác định rằng, lực lượng bên ngoài là tác nhân quan trọng; lực lượng “ngầm” bên trong nội bộ Đảng, Nhà nước Việt Nam đóng vai trò quyết định, nòng cốt, chúng ““móc nối và tìm cách mua chuộc bằng tiền, hiện vật có giá trị để làm thay đổi tư tưởng, dẫn đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong một số cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ cấp chiến lược và cơ quan trọng yếu nhằm thay đổi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước theo hướng phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, làm chệch hướng XHCN trong bảo đảm dân chủ, nhân quyền và quá trình đổi mới đất nước nói chung””. Bên cạnh đó, chúng cũng ráo riết lợi dụng những sơ hở, thiếu sót của Đảng, Nhà nước ta trong quá trình chống tham nhũng, tiêu cực hòng kích động, gây chia rẽ, tạo nghi ngờ trong các tầng lớp nhân dân; gây mâu thuẫn trong nội bộ Đảng, Nhà nước. Nhằm can thiệp sâu hơn vào nội bộ Việt Nam, chúng thành lập một số nhóm tư vấn ở nước ngoài, qua đó để tác động và thúc đẩy Việt Nam cải cách quyền con người theo hướng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ Đảng và Nhà nước. Ngoài ra, các thế lực thù địch tích cực lôi kéo, thu hút và tiếp cận các bộ, ngành, viện nghiên cứu để móc nối và tác động vào nội bộ Việt Nam, mưu toan hòng “chuyển hóa” một số chuyên gia đầu ngành và nhà khoa học thông qua con đường “tự diễn biến” và “tự chuyển hóa” để đưa cái gọi là các giá trị quyền con người phương Tây vào Việt Nam. Chúng sử dụng nhiều hình thức trá hình, như con đường “ngoại giao thân thiện”, “hỗ trợ nhân đạo”,... để đưa người vào Việt Nam với các danh nghĩa khác nhau, với mục đích tìm hiểu tình hình, thu thập thông tin, móc nối và lôi kéo các lực lượng “ngầm” gây rối ở một số địa phương, phản ánh bóp méo sự thật, gây hoang mang, nghi ngờ và gây mâu thuẫn dân tộc, tạo điều kiện thúc đẩy “tự diễn biến” và “tự chuyển hóa” hòng can thiệp vào nội bộ của Việt Nam.


LÀM SÂU SẮC HƠN QUAN HỆ HỮU NGHỊ ĐẶC BIỆT CUBA – VIỆT NAM

Chiều 17-5, tại Trụ sở Trung ương Đảng, đồng chí Trương Thị Mai, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư, đã tiếp thân mật Đoàn đại biểu cấp cao Ủy ban Bảo vệ Cách mạng Cuba do đồng chí Gerardo Hernandez Nordelo, Ủy viên Trung ương Đảng Cộng sản Cuba, Ủy viên Hội đồng Nhà nước Cộng hòa Cuba, Chủ tịch Ủy ban Bảo vệ Cách mạng Cuba làm Trưởng đoàn, sang thăm, làm việc tại Việt Nam. Đồng chí Trương Thị Mai nhiệt liệt hoan nghênh chuyến thăm làm việc tại Việt Nam của Đoàn đại biểu Ủy ban Bảo vệ Cách mạng Cuba; bày tỏ vui mừng về mối quan hệ đoàn kết, hữu nghị đặc biệt giữa hai Đảng, hai Nhà nước và nhân dân hai nước tiếp tục phát triển tốt đẹp; nhấn mạnh quan hệ hữu nghị đặc biệt, mẫu mực, vô tư, thủy chung, trong sáng giữa hai Đảng, hai Nhà nước và nhân dân hai nước Việt Nam - Cuba do Chủ tịch Hồ Chí Minh và Lãnh tụ Fidel Castro gây dựng, được các thế hệ lãnh đạo và nhân dân hai nước dày công vun đắp trong hơn 60 năm qua là tài sản chung vô giá, cần được gìn giữ và không ngừng phát triển.

Đồng chí Trương Thị Mai khẳng định Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam luôn sát cánh và mong muốn thắt chặt hơn nữa mối quan hệ đoàn kết, hữu nghị đặc biệt với Đảng, Nhà nước và nhân dân Cuba anh em, đưa quan hệ giữa hai nước không ngừng phát triển, ngày càng tốt đẹp trong giai đoạn mới.

Đồng chí Trương Thị Mai cũng bày tỏ vui mừng trước những kết quả tích cực mà Cuba đã giành được trong thời gian gần đây và khẳng định sự ủng hộ của Đảng và Nhà nước Việt Nam đối với công cuộc cập nhật hóa phát triển kinh tế - xã hội của Cuba theo các nghị quyết Đại hội lần thứ VIII Đảng Cộng sản Cuba và bày tỏ tin tưởng nhân dân Cuba anh em, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Cuba, sẽ tiếp tục nỗ lực vượt qua các khó khăn, thách thức, bảo vệ thành quả cách mạng và mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội tại Cuba.

Đồng chí Trương Thị Mai đánh giá cao mối quan hệ hữu nghị truyền thống tốt đẹp giữa Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Ủy ban Bảo vệ Cách mạng Cuba; đề nghị hai bên phối hợp chặt chẽ để triển khai hiệu quả Thỏa thuận hợp tác giai đoạn 2023 - 2028, góp phần thắt chặt và làm sâu sắc hơn nữa quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa hai tổ chức và quan hệ hữu nghị đặc biệt Cuba - Việt Nam.

Đồng chí Gerardo Hernandez Nordelo bày tỏ xúc động và cảm ơn đồng chí Trương Thị Mai đã dành thời gian tiếp Đoàn đại biểu Ủy ban Bảo vệ Cách mạng Cuba, thông báo với đồng chí Trương Thị Mai về tình hình Cuba hiện nay và trọng tâm công tác của Ủy ban Bảo vệ Cách mạng Cuba; khẳng định tình cảm đoàn kết, gắn bó và sự ngưỡng mộ của nhân dân Cuba đối với tấm gương kiên cường của nhân dân Việt Nam trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc trước đây và công cuộc phát triển hiện nay.

Đồng chí Gerardo Hernandez Nordelo bày tỏ tin tưởng sâu sắc rằng, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam, đứng đầu là Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, nhân dân Việt Nam sẽ tiếp tục đạt được nhiều thành tựu to lớn hơn nữa, đưa đất nước Việt Nam ngày càng phát triển vững mạnh.


VỀ VAI TRÒ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM TRONG CUỐN SÁCH “MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI VÀ CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM”

Bằng nhiều cách diễn đạt khác nhau, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng luôn khẳng định: “sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam”. Từ khi ra đời đến nay, Đảng ta đã lãnh đạo toàn dân tộc vượt qua mọi thử thách của lịch sử, chiến đấu và chiến thắng trước những kẻ thù xâm lược. Trong thời kỳ đổi mới gắn với quá trình xây dựng nền KTTT định hướng XHCN, quá trình CNH, HĐH, hội nhập quốc tế... bên cạnh những thuận lợi, đất nước ta cũng đứng trước muôn vàn khó khăn, thử thách, các thế lực thù địch chống phá quyết liệt. Đảng ta vẫn kiên định, vững vàng chèo lái con thuyền cách mạng Việt Nam tiến lên.

Với sứ mệnh là lực lượng duy nhất lãnh đạo, Đảng ta luôn chăm lo đến đời sống nhân dân, thực hiện dân chủ rộng rãi, đem lại những quyền cơ bản nhất cho quốc gia, dân tộc và toàn thể nhân dân, giữ vững khối đại đoàn kết, thống nhất toàn dân tộc. Tổng Bí thư khẳng định: “Suốt hơn 90 năm qua, Đảng ta đã xác lập, củng cố và ngày càng nâng cao vai trò lãnh đạo, sức mạnh và uy tín của Đảng bằng chính bản lĩnh, nghị lực, trí tuệ, lý luận tiên phong; bằng đường lối đúng đắn mang lại lợi ích thiết thân cho nhân dân, cho đất nước; bằng sự nêu gương, hy sinh quên mình, phấn đấu không mệt mỏi của đội ngũ cán bộ, đảng viên; bằng một tổ chức đoàn kết, thống nhất chặt chẽ, vững chắc; bằng mối liên hệ máu thịt với nhân dân, được nhân dân hết lòng tin yêu, ủng hộ và bảo vệ”.

Thực tế từ ngày có Đảng, với sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt, với những chủ trương, đường lối, chiến lược, sách lược đúng đắn, sát hợp, cách mạng Việt Nam đã giành từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, lập nên những kỳ tích. Trong thời kỳ đổi mới, Đảng ta đã lãnh đạo nhân dân vượt qua mọi khó khăn, thách thức và đạt được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử. “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Chúng ta hoàn toàn có quyền tự hào về bản chất tốt đẹp, truyền thống anh hùng và lịch sử vẻ vang của Đảng ta - Đảng do Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại sáng lập và rèn luyện, đại biểu của dân tộc Việt Nam anh hùng”.


NHỮNG THÀNH TỰU NỔI BẬT TRONG CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI DƯỚI SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

Qua 35 năm đổi mới đất nước, chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn trên tất cả các lĩnh vực: chính trị ổn định; kinh tế không ngừng tăng trưởng, đời sống vật chất, tinh thần của người dân ngày càng được cải thiện; tình trạng nghèo đói giảm nhanh, liên tục, các tệ nạn xã hội từng bước được đẩy lùi; quốc phòng, an ninh được bảo đảm; đối ngoại và hội nhập quốc tế ngày càng được mở rộng; thế và lực của quốc gia được tăng cường; tham nhũng, tiêu cực giảm, niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng được củng cố. Tổng Bí thư khẳng định: “xét trên nhiều phương diện, người dân Việt Nam ngày nay đang có các điều kiện sống tốt hơn so với bất cứ thời kỳ nào trước đây... Những thành tựu đổi mới tại Việt Nam đã chứng minh rằng, phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa không những có hiệu quả tích cực về kinh tế mà còn giải quyết được các vấn đề xã hội tốt hơn nhiều so với các nước tư bản chủ nghĩa có cùng mức phát triển kinh tế”(13). Đây là minh chứng để giải thích vì sao công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo được toàn dân đồng tình, ủng hộ, chung sức, đồng lòng cùng thực hiện. Đó là lý do giải thích vì sao khi cả thế giới chìm trong đại dịch Covid-19 thì Việt Nam vẫn cơ bản ổn định và phát triển. Tất cả những điều này “thể hiện tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta”.

Trong cuốn sách, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhắc lại những đánh giá của Đảng ta tại Đại hội XIII khẳng định mạnh mẽ những giá trị của CNXH mang lại: “Qua 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, lý luận về đường lối đổi mới, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta ngày càng được hoàn thiện và từng bước được hiện thực hóa. Chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện hơn so với những năm trước đổi mới. Với tất cả sự khiêm tốn, chúng ta vẫn có thể nói rằng: Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”.


QUAN NIỆM VỀ NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XHCN TRONG CUỐN SÁCH “MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI VÀ CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM”

Những luận điểm của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng về KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam được thể hiện một cách toàn diện và sâu sắc trên các mặt, các khía cạnh, thể hiện bản chất ưu việt của nền KTTT định hướng XHCN. Qua đó, khẳng định một cách thuyết phục Việt Nam lựa chọn mô hình KTTT định hướng XHCN là đúng đắn, phù hợp với mục tiêu, con đường phát triển của đất nước, là sự sáng tạo mang tính đột phá về lý luận của Đảng ta.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: Đưa ra quan niệm phát triển KTTT định hướng XHCN là “một đột phá lý luận rất cơ bản và sáng tạo của Đảng ta, là thành quả lý luận quan trọng qua hơn 35 năm thực hiện đường lối đổi mới, xuất phát từ thực tiễn Việt Nam và tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của thế giới”.

Theo Tổng Bí thư, KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam là nền KTTT hiện đại, hội nhập quốc tế, vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của KTTT, có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền XHCN, do ĐCSVN lãnh đạo; bảo đảm định hướng XHCN, nhằm thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Tổng Bí thư nhấn mạnh, đó là kiểu kinh tế thị trường mới trong lịch sử quá trình phát triển của KTTT; một kiểu tổ chức kinh tế vừa tuân theo những quy luật của KTTT, vừa dựa trên cơ sở và được dẫn dắt, chi phối bởi các nguyên tắc và bản chất của CNXH ở ba phương diện: sở hữu, tổ chức quản lý và phân phối. Trong nền KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam còn nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế đan xen tồn tại trong một thể thống nhất, cùng hợp tác và phát triển. Các thành phần kinh tế là những bộ phận hữu cơ của nền kinh tế và hoạt động bình đẳng trước pháp luật.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng luận giải các đặc trưng cơ bản, thể hiện tính ưu việt của nền KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam, đó là gắn phát triển kinh tế với phát triển xã hội, “gắn kinh tế với xã hội, thống nhất chính sách kinh tế với chính sách xã hội, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước, từng chính sách và trong suốt quá trình phát triển”. Đó là xây dựng một nền kinh tế mà trong chính sách phát triển kinh tế đều hướng tới phát triển các mặt của đời sống xã hội và ngược lại trong chính sách phát triển xã hội đều nhằm tạo ra động lực phát triển kinh tế. Khuyến khích làm giàu chính đáng, hợp pháp gắn với xóa đói, giảm nghèo bền vững, thực hiện tốt các chính sách xã hội, chăm sóc người có công với cách mạng. Điều đó có nghĩa, không chờ đến khi kinh tế phát triển cao rồi mới thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, càng không phát triển kinh tế bằng mọi giá, không “hy sinh” tiến bộ và công bằng xã hội để chạy theo tăng trưởng kinh tế. Đây là một yêu cầu có tính nguyên tắc để bảo đảm sự phát triển lành mạnh, bền vững, theo định hướng XHCN.