Hiển thị các bài đăng có nhãn đối ngoại. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn đối ngoại. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 1 tháng 8, 2023

KHÔNG THỂ XUYÊN TẠC ĐƯỜNG LỐI, CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI ĐỘC LẬP, TỰ CHỦ CỦA VIỆT NAM LÀ LỖI THỜI, LÀ “TRUNG DUNG” TRONG QUAN HỆ VỚI CÁC NƯỚC LỚN

Lợi dụng một số hoạt động đối ngoại của Việt Nam trong thời gian qua, nhất là khi Việt Nam đẩy mạnh quan hệ với Mỹ. Các thế lực thù địch đẩy mạnh các hoạt động chống phá. Họ xuyên tạc rằng, Đảng và Nhà nước Việt Nam trên thực tế đã từ bỏ chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ và đang ngấm ngầm “theo chân” nước này để chống nước kia; thâm độc hơn, chúng còn cho rằng đó là “đường lối trung dung”, là “đi dây” trong quan hệ với các nước lớn, như thế là “tự cô lập” mình, “tước đi cơ hội hợp tác với các nước lớn để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Sự thật không phải như vậy, như chúng ta đã biết, hiện nay, Hòa bình, hợp tác và phát triển là xu thế lớn của thời đại, dù đang gặp những trở ngại, thách thức. Mỗi nước trên thế giới đều có quan hệ với các nước khác, nhất là chú trọng quan hệ với các nước lớn với những nội dung, hình thức và mức độ khác nhau. Đó vừa là xu thế, vừa là phương thức cơ bản bảo đảm an ninh và phát triển của mỗi nước. Phù hợp với xu thế đó, gần 35 năm qua, từ khi tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, Việt Nam luôn thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa, chủ động, tích cực hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế trên nhiều lĩnh vực.

Do vậy, cần khẳng định rằng, chỉ có nhất quán và thực hiện tốt đường lối, chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại, không phụ thuộc vào bất cứ nước lớn hay nhóm nước nào thì chúng ta mới có thể tận dụng tốt nhất các cơ hội, điều kiện thuận lợi phục vụ cho sự phát triển đất nước. Điều đó tuyệt đối không thể gọi là “lạc hậu, lỗi thời”, là “trung dung”, “đi dây” trong quan hệ với các nước lớn.

Trên thực tế, chúng ta đã và đang thúc đẩy quan hệ với các nước lớn cũng như với các nhóm nước, tổ chức trên thế giới. Chúng ta chủ động tham gia các cơ chế, các diễn đàn khu vực và toàn cầu để vừa thích ứng với các trào lưu, xu thế chung của thế giới, vừa phục vụ một cách tốt nhất các lợi ích quốc gia - dân tộc.

Hiện nay, chúng ta vừa tăng cường quan hệ với Trung Quốc, vừa làm sâu sắc hơn quan hệ với Mỹ trên cơ sở mối quan hệ hợp tác giữa Việt Nam và các nước này ngày càng trở nên tốt đẹp, thực chất và hiệu quả hơn. Đó là quan điểm, lập trường và chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước Việt Nam, tuyệt nhiên không phải là chúng ta đang “nghiêng về bên này để chống bên kia” như sự xuyên tạc của các thế lực thù địch.


Thứ Năm, 18 tháng 5, 2023

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VÊ ĐỐI NGOẠI

Hướng tới kỷ niệm 133 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2023) là dịp để chúng ta tưởng nhớ, biết ơn những tư tưởng tiến bộ, những đóng góp vĩ đại của Người đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Trong đó, tư tưởng đối ngoại Hồ Chí Minh không chỉ có giá trị to lớn trong lịch sử, mà còn là kim chỉ nam soi sáng con đường bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hôm nay và mai sau.

Trước hết, theo Hồ Chí Minh, mục tiêu đối ngoại phải bảo đảm lợi ích quốc gia; độc lập dân tộc, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, thống nhất đất nước, hạnh phúc, tự do của nhân dân. Người nhấn mạnh, “muốn làm gì cũng cần vì lợi ích của dân tộc mà làm”. Qua hoạt động đối ngoại, Người muốn gửi đến các nước trên thế giới thông điệp khẳng định: Việt Nam là một nước độc lập; Việt Nam thực hành đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình và hữu nghị với các nước “tôn trọng toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền của nhau, không xâm phạm, không can thiệp vào các công việc nội bộ, bình đẳng và hai bên cùng có lợi, chung sống hòa bình” . Trong tư tưởng đối ngoại Hồ Chí Minh, nguyên tắc bất biến là: “tôn trọng sự hoàn chỉnh về chủ quyền và lãnh thổ của nhau, không xâm phạm lẫn nhau, không can thiệp nội trị của nhau, bình đẳng cùng có lợi và chung sống hòa bình”.

Đồng thời, Người yêu cầu mọi người “phải nhìn cho rộng, suy cho kỹ”, tránh những hành động nóng vội; tránh ảo tưởng, trông chờ vào sự giúp đỡ của bên ngoài; phải luôn tỉnh táo để có những đối sách khôn khéo bảo đảm lợi ích của dân tộc cả trước mắt và lâu dài; vận dụng sáng tạo nghệ thuật ngoại giao tâm công của Hồ Chí Minh, “thuyết phục người, chinh phục người, tranh thủ người” bằng lẽ phải và đạo lý.

Thứ hai, tư tưởng đối ngoại Hồ Chí Minh thể hiện qua phương châm “Dĩ bất biến, ứng vạn biến”. Trong đó, cần thấm nhuần quan điểm có tính nguyên tắc: chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ là thiêng liêng, bất khả xâm phạm, là cái “bất biến”. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh, “nhân dân chúng tôi thành thật mong muốn hòa bình. Nhưng nhân dân chúng tôi cũng kiên quyết chiến đấu đến cùng để bảo vệ những quyền thiêng liêng nhất: toàn vẹn lãnh thổ cho Tổ quốc và độc lập cho đất nước”. Thực hiện “dĩ bất biến ứng vạn biến” trong hoạt động đối ngoại của Chủ tịch Hồ Chí Minh là nắm vững mục tiêu, bản lĩnh vững vàng, quyết đoán khôn khéo, mau lẹ và kịp thời để ứng phó trước hoàn cảnh, tình thế trong từng trường hợp cụ thể. "Dĩ bất biến, ứng vạn biến" đối với hoạt động đối ngoại là sự kết hợp hài hòa giữa mềm dẻo và kiên quyết, giữa chiến lược và sách lược, giữa chủ động và sáng tạo trong nhận biết, tạo dựng và nắm bắt cơ hội để bảo vệ và thực hiện tốt nhất lợi ích quốc gia, dân tộc. Cái “vạn biến” là sự linh hoạt, mềm dẻo, sáng tạo, khôn khéo trong đấu tranh bảo vệ chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ.

Vận dụng sáng tạo tư tưởng đối ngoại Hồ Chí Minh, Đảng ta nêu rõ: “Nỗ lực phấn đấu để ngăn ngừa xung đột, chiến tranh và giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp hòa bình phù hợp với luật pháp quốc tế. Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, vùng trời, vùng biển; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển”.

Thứ ba, xây dựng mối đoàn kết quốc tế thống nhất; đối ngoại rộng mở.Theo Người, để tập hợp và lôi kéo lực lượng quốc tế đoàn kết ủng hộ Việt Nam, trước hết, phải làm cho nhân dân thế giới hiểu rõ về Việt Nam, về truyền thống yêu chuộng hòa bình, về cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân ta. Bác cho rằng, “nước ta là một bộ phận của thế giới. Tình hình của nước ta có ảnh hưởng đến thế giới, mà tình hình thế giới cũng có quan hệ đến nước ta”. Do vậy, những hoạt động của nước ta luôn liên hệ với cuộc đấu tranh chung của lực lượng tiến bộ trên thế giới; nhưng phải độc lập, tự chủ, khôn khéo, bằng những biện pháp của riêng mình để tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ lớn nhất của nhân dân tiến bộ. Song, “muốn người ta giúp cho, thì trước mình phải tự giúp lấy mình đã”. Phải thực hành chính sách đối ngoại rộng mở, chính sách mở cửa và hợp tác, chính sách hoà bình và quan hệ tốt; tránh đối đầu và không gây thù oán. Trong quan hệ với các nước, các tổ chức quốc tế, cần tìm ra những điểm tương đồng, khai thác mọi khả năng có thể, nhằm tập hợp lực lượng đoàn kết ủng hộ Việt Nam theo nhiều cấp độ. Trong hoạt động đối ngoại phải phối hợp chặt chẽ giữa ngoại giao chính trị với ngoại giao kinh tế, ngoại giao văn hóa... Văn kiện Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh: “Phát huy cao nhất sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị kết hợp với sức mạnh thời đại, tranh thủ tối đa sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế”

Thứ tư, phát huy nội lực bên trong làm cơ sở tạo thắng lợi trên mặt trận ngoại giao. Hồ Chí Minh khẳng định, hoạt động đối ngoại phải dựa trên cơ sở sức mạnh bên trong, gồm sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc, sức mạnh về kinh tế, chính trị, quân sự và văn hóa của đất nước, đó là sức mạnh tổng hợp quốc gia (là thực lực). Muốn thắng lợi trên mặt trận ngoại giao phải có thực lực: “Phải trông ở thực lực. Thực lực mạnh, ngoại giao sẽ thắng lợi. Thực lực là cái chiêng mà ngoại giao là cái tiếng. Chiêng có to tiếng mới lớn”. Ngoại giao phối hợp với chính trị, kinh tế, quân sự để bồi đắp thực lực, về phía ngoài nước, ngoại giao phải tạo điều kiện để gắn dân tộc với thời đại, tạo ra thế và lực mới nhằm đưa đến cải thiện so sánh lực lượng toàn cục giữa ta và các thế lực thù địch theo hướng ngày càng có lợi cho cách mạng nước ta. Ngoại giao góp phần quyết định làm thay đổi cục diện quốc tế của cuộc đấu tranh và góp phần tích cực vào thay đổi tương quan lực lượng ở chiến trường. Đó là nhiệm vụ, đồng thời là mục tiêu mà Người đặt ra và kiên trì phấn đấu từ khi khai sinh ra nền ngoại giao hiện đại Việt Nam. Mặt khác, thực lực ở đây không phải chỉ là sức mạnh quân sự hay sức mạnh của bản thân mỗi dân tộc. Đảng luôn coi trọng quy tụ “ý Đảng, lòng dân”, “xây dựng và phát huy mạnh mẽ “thế trận lòng dân” trong nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân; xây dựng và củng cố vững chắc thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân” .

Tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh là một bộ phận quan trọng của tư tưởng Hồ Chí Minh, là di sản tinh thần vô giá, là nền tảng sức mạnh và là “cẩm nang” để thực hiện thắng lợi, hiệu quả đường lối, chiến lược và chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta. Hiện nay, đất nước đang trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế khi tình hình trong nước và quốc tế diễn biến hết sức phức tạp, việc nghiên cứu, vận dụng sáng tạo tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh là vấn đề có ý nghĩa cấp thiết để mở rộng quan hệ đối ngoại, tăng cường tiềm lực phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Đồng thời, phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, các cấp, các ngành và toàn dân để đối ngoại đóng góp xứng đáng vào thực hiện thắng lợi tầm nhìn, mục tiêu phát triển đất nước mà Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã đề ra./

 


Thứ Hai, 20 tháng 2, 2023

VIỆT NAM KIÊN ĐỊNH ĐƯỜNG LỐI ĐỐI NGOẠI ĐỘC LẬP, TỰ CHỦ VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ

Độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế là mối quan hệ biện chứng, tất yếu, khách quan, tác động qua lại lẫn nhau, thúc đẩy và hỗ trợ lẫn nhau. Trong cương lĩnh và văn kiện của Đảng ta, mối quan hệ biện chứng giữa độc lập tự chủ và hội nhập quốc tế được thể hiện rất rõ. Một trong các bài học được rút ra trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) đã chỉ rõ mối quan hệ này, cụ thể là: "Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, sức mạnh trong nước với sức mạnh quốc tế, trong bất cứ hoàn cảnh nào cần kiên định ý chí độc lập, tự chủ và nêu cao tinh thần hợp tác quốc tế, phát huy cao độ nội lực, đồng thời tranh thủ ngoại lực"(1). Văn kiện đại hội Đại hội XI của Đảng cũng nêu rõ đường lối đối ngoại của Việt Nam thể hiện mối quan hệ biện chứng giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế, nội dung cần thực hiện: Thực hiện đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, hoà bình hợp tác và phát triển, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế… Đặc biệt, chú trọng xử lý và giải quyết tốt các mối quan hệ lớn: quan hệ giữa đổi mới, ổn định và phát triển… giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế. Các văn kiện Đại hội XII, XIII đều tiếp tục khẳng định những nội dung nêu trên, cụ thể hoá mối quan hệ độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế cho từng thời kỳ phát triển của đất nước. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh: Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hoà bình hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ đối ngoại. Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác cùng có lợi. Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng; Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế. Đồng thời, văn kiện cũng nhấn mạnh bảo đảm sự lãnh đạo, chỉ đạo thống nhất của Đảng và sự quản lý tập trung của nhà nước với các hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế. Đẩy mạnh đối ngoại song phương với nâng tầm đối ngoại đa phương. Chủ động tham gia và phát huy vai trò của Việt Nam tại các cơ chế đa phương, đặc biệt là ASEAN, Liên hợp quốc, APEC, hợp tác tiểu vùng Mê Công và các khuôn khổ hợp tác khu vực và quốc tế, trong những vấn đề và các cơ chế quan trọng có tầm chiến lược, phù hợp với yêu cầu, khả năng và điều kiện cụ thể. Đẩy mạnh và làm sâu sắc hơn quan hệ hợp tác song phương với các đối tác, đặc biệt là với các đối tác chiến lược, đối tác toàn diện và các đối tác quan trọng khác, tạo thế đan xen lợi ích và gia tăng độ tin cậy. Chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, giải quyết tốt mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế; hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, linh hoạt, hiệu quả vì lợi ích quốc gia - dân tộc, bảo đảm độc lập, tự chủ, chủ quyền quốc gia.

Đường lối, chính sách đối ngoại xuyên suốt của Đảng ta đều được khẳng định trong các văn kiện, Nghị quyết của Đảng, là mối quan hệ biện chứng giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế. Mối quan hệ này được cụ thể hoá qua từng giai đoạn phát triển của đất nước, phù hợp điều kiện, bối cảnh phát triển cụ thể trên cơ sở của nguyên tắc lấy lợi ích quốc gia dân tộc là trên hết, bảo đảm hội nhập quốc tế luôn dựa trên nguyên tắc giữ vững độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, hội nhập vì lợi ích đất nước, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ và văn minh. Quá trình này cũng thể hiện sự phát triển của cả nhận thực và thực tiễn từ chú trọng hội nhập kinh tế đến hội nhập toàn diện trên tất cả các lĩnh vực, trong đó hội nhập kinh tế là trọng tâm, hội nhập trên các lĩnh vực khác là điều kiện và hỗ trợ cho hội nhập kinh tế. Từ hội nhập đơn tuyến sang đa tuyến trên tất cả các cấp độ song phương, khu vực và toàn cầu. Đối ngoại độc lập, tự chủ trong hội nhập quốc tế là chính sách nhất quán trong đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta.


Thứ Năm, 1 tháng 12, 2022

PHẢI CHĂNG VIỆT NAM CẦN LIÊN MINH QUÂN SỰ ĐỂ GIỮ VỮNG ĐỘC LẬP, CHỦ QUYỀN VÀ TOÀN VẸN LÃNH THỔ”

Quan điểm “Việt Nam cần liên minh quân sự để giữ vững độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ” là rất sai lầm, thiếu cơ sở, “lợi bất cập hại”, đi ngược lại đường lối đối ngoại đúng đắn của Đảng. Vì vậy, cần phải được phê phán, bác bỏ.

Những năm gần đây, đặc biệt từ khi Sách trắng quốc phòng Việt Nam công khai với giới truyền thông trong nước và quốc tế rằng sẽ không tiến hành liên minh quân sự với bất cứ một quốc gia nào thì các thế lực thù địch tuyên truyền đó là một chính sách “bảo thủ”, “lạc hậu”, đi ngược lại xu thế tăng cường hợp tác và toàn cầu hoá (?!).

Lợi dụng những diễn biến phức tạp về tranh chấp chủ quyền ở khu vực Biển Đông, đặc biệt là những hành vi ngày càng mạnh bạo của Trung Quốc, các thế lực thù địch lập luận rằng: Một quốc gia nhỏ yếu như Việt Nam sẽ không thể đứng vững nếu không tiến hành liên minh quân sự với một cường quốc bên ngoài, nhất là với Mỹ, một quốc gia có lợi ích đối lập với Trung Quốc, đang xem Trung Quốc là đối thủ số một, thậm chí như kẻ thù (?!).

Khi cuộc xung đột quân sự Nga - Ukraine nổ ra, chúng càng cổ xuý cho quan điểm trên. Chúng lập luận rằng vì Ukraine không phải là thành viên của liên minh quân sự Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) nên NATO không có nghĩa vụ cùng Ukraine chống lại Nga. Bên cạnh đó, chúng còn tuyên truyền Phần Lan và Thuỵ Điển sớm “thức tỉnh” nên đã từ bỏ đường lối trung lập, chủ động viết đơn xin gia nhập khối quân sự này, và được NATO chính thức khởi động tiến trình kết nạp từ ngày 5/7/2022.

Các phần tử đóng vai người “tư vấn”, “kiến nghị”, “hiến kế”, thúc giục Việt Nam tiến hành liên minh quân sự nhằm mục đích làm giảm niềm tin của nhân dân vào đường lối đối ngoại đúng đắn, sáng suốt của Đảng, tạo ra sự chia rẽ nội bộ, đồng thời gây chia rẽ Việt Nam - Trung Quốc, tạo cơ sở cho những kẻ cơ hội can thiệp vào nội bộ của Việt Nam.

Đối với Việt Nam thì việc tiến hành liên minh quân sự để giữ vững độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ là hết sức sai lầm, thiếu cơ sở, “lợi bất cập hại”, đi ngược lại đường lối đối ngoại đúng đắn của Đảng.

Chủ Nhật, 20 tháng 11, 2022

VIỆT NAM KHÔNG THAM GIA LIÊN MINH QUÂN SỰ, KHÔNG LIÊN KẾT VỚI NƯỚC NÀY ĐỂ CHỐNG NƯỚC KIA, KHÔNG CHO NƯỚC NGOÀI ĐẶT CĂN CỨ QUÂN SỰ HOẶC SỬ DỤNG LÃNH THỔ VIỆT NAM ĐỂ CHỐNG LẠI NƯỚC KHÁC

Như chúng ta cần xác định rõ, tất cả các liên minh quân sự đều bắt nguồn từ việc chia sẻ lợi ích. Không một quốc gia nào sẵn sàng hy sinh vì quốc gia khác mà không có lợi ích của mình. Mục đích sâu xa khi các đối tượng kêu gọi nhằm lái Việt Nam tham gia các liên minh quân sự, đặc biệt là liên minh với các quốc gia phương Tây, đưa Việt Nam vào quỹ đạo lệ thuộc để tiến hành thay đổi chế độ chính trị và bản chất xã hội của chúng ta. Nếu không thực hiện đường lối quốc phòng độc lập, tự chủ, chính bản thân chúng ta sẽ bị chuyển hóa, lệ thuộc. Các luồng thông tin sai lệch được các đối tượng đưa ra nhằm kêu gọi, hướng lái Việt Nam tham gia các liên minh quân sự; đặc biệt, là liên minh với các quốc gia khác và từng bước làm lệch lạc ý nghĩa trong chính sách quốc phòng hòa bình và tự vệ của Việt Nam. Để tránh việc lệ thuộc, tăng cường tiềm lực, thế trận và lực lượng thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Đại hội XIII đã khảng định: “Tăng cưòng tiềm lực quốc phòng và an ninh; xây dựng và phát huy mạnh mẽ “thế trận lòng dân” trong nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân; xây dựng và củng cố vững chắc thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân. Kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa kinh tế, ván hóa, xã hội, đối ngoại với quốc phòng, an ninh và giữa quốc phòng, an ninh vối kinh tế, văn hóa, xã hội và đốì ngoại”.

Hiện nay, trật tự thế giới đa cực, các mối quan hệ quốc tế trở nên phức tạp hơn bao giờ hết; ranh giới giữa đối tượng và đối tác luôn luôn tồn tại và đan xen lẫn nhau. Trong cùng một chủ thể có những khía cạnh là đối tác để chúng ta tranh thủ hợp tác cùng phát triển, nhưng cũng có khía cạnh là đối tượng để đấu tranh. Việc nghiêng vào bất cứ phe nào, phụ thuộc vào bất cứ quốc gia nào cũng không phải là lựa chọn thích hợp. Đại hội XIII đã khảng định: “Đẩy mạnh và làm sâu sắc hơn quan hệ hợp tác song phương với các đối tác, đặc biệt là các đối tác chiến lược, đối tác toàn diện và các đối tác quan trọng khác tạo thế đan xen lợi ích và thái độ tin cậy. Kiên quyết đấu tranh, lầm thất bại mọi âm mưu, hành động can thiệp của các thế lực thù địch vào công việc nội bộ, xâm phạm độc lập chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, an ninh quốc gia và ổn định chính trị của đất nước”. Như vậy, chỉ có phát huy sức mạnh độc lập, tự chủ mới là cách thức tối ưu nhất để bảo vệ Tổ quốc.

Thứ Tư, 12 tháng 10, 2022

KHÔNG THỂ XUYÊN TẠC ĐƯỜNG LỐI, CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA VIỆT NAM

Lợi dụng một số hoạt động đối ngoại của Việt Nam trong thời gian qua, nhất là khi Việt Nam đẩy mạnh quan hệ với Mỹ. Các thế lực thù địch đẩy mạnh các hoạt động chống phá. Họ xuyên tạc rằng, Đảng và Nhà nước Việt Nam trên thực tế đã từ bỏ chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ và đang ngấm ngầm “theo chân” nước này để chống nước kia; thâm độc hơn, chúng còn cho rằng đó là “đường lối trung dung”, là “đi dây” trong quan hệ với các nước lớn, như thế là “tự cô lập” mình, “tước đi cơ hội hợp tác với các nước lớn để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Sự thật không phải như vậy, như chúng ta đã biết, hiện nay, Hòa bình, hợp tác và phát triển là xu thế lớn của thời đại, dù đang gặp những trở ngại, thách thức. Mỗi nước trên thế giới đều có quan hệ với các nước khác, nhất là chú trọng quan hệ với các nước lớn với những nội dung, hình thức và mức độ khác nhau. Đó vừa là xu thế, vừa là phương thức cơ bản bảo đảm an ninh và phát triển của mỗi nước. Phù hợp với xu thế đó, gần 35 năm qua, từ khi tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, Việt Nam luôn thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa, chủ động, tích cực hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế trên nhiều lĩnh vực. Do vậy, cần khẳng định rằng, chỉ có nhất quán và thực hiện tốt đường lối, chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại, không phụ thuộc vào bất cứ nước lớn hay nhóm nước nào thì chúng ta mới có thể tận dụng tốt nhất các cơ hội, điều kiện thuận lợi phục vụ cho sự phát triển đất nước. Điều đó tuyệt đối không thể gọi là “lạc hậu, lỗi thời”, là “trung dung”, “đi dây” trong quan hệ với các nước lớn.

Trên thực tế, chúng ta đã và đang thúc đẩy quan hệ với các nước lớn cũng như với các nhóm nước, tổ chức trên thế giới. Chúng ta chủ động tham gia các cơ chế, các diễn đàn khu vực và toàn cầu để vừa thích ứng với các trào lưu, xu thế chung của thế giới, vừa phục vụ một cách tốt nhất các lợi ích quốc gia - dân tộc.

Hiện nay, chúng ta vừa tăng cường quan hệ với Trung Quốc, vừa làm sâu sắc hơn quan hệ với Mỹ trên cơ sở mối quan hệ hợp tác giữa Việt Nam và các nước này ngày càng trở nên tốt đẹp, thực chất và hiệu quả hơn. Đó là quan điểm, lập trường và chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước Việt Nam, tuyệt nhiên không phải là chúng ta đang “nghiêng về bên này để chống bên kia” như sự xuyên tạc của các thế lực thù địch.

Thứ Năm, 3 tháng 3, 2022

ĐẤU TRANH VỚI LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC HỘI NGHỊ NGOẠI GIAO TOÀN QUỐC

Thời gian qua, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị gia tăng tấn công xuyên tạc, chống phá đường lối đối ngoại của Việt Nam. Đặc biệt, sau Hội nghị Đối ngoại toàn quốc do Ban Bí thư Trung ương Đảng tổ chức để triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII, các đối tượng chống đối đã lợi dụng để xuyên tạc, tạo cớ chống phá chính sách đối ngoại của Việt Nam.

 Mới đây, trên blog Tiếng Dân New đã đăng tải bài viết của Trân Văn “Đối ngoại như thế là…vì thế”. Bài viết là tập hợp hàng loạt luận điệu sai trái, không chính xác, hướng lái tiêu cực công tác đối ngoại của Việt Nam. Họ rêu rao “những nhân vật lãnh đạo hệ thống chính trị, hệ thống công quyền Việt Nam cùng xem đối ngoại là tập hợp những chiêu, trò vốn dĩ người tử tế không ai nghĩ tới và tất nhiên không ai làm”, “các viên chức ngoại giao và cơ quan ngoại giao Việt Nam chỉ nghe ra, nhìn thấy và rà trúng những yếu tố liên quan lợi ích cá nhân, lợi ích nhóm”… Đồng thời, xuyên tạc chỉ đạo của Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc: “Sau Hội nghị Đối ngọai toàn quốc, khi trao quyết định phong hàm đại sứ cho 26 viên chức ngoại giao, ông Phúc dặn những viên chức này nói riêng và ngành ngoại giao nói chung phải phát huy vai trò... “tai, mắt”, “ăng ten””.  

Như chúng ta đã biết, bất kỳ quốc gia, dân tộc nào trong quá trình hình thành và phát triển của mình cũng đều phải xử lý hai vấn đề cơ bản là đối nội và đối ngoại. Hai vấn đề này có mối quan hệ hữu cơ, biện chứng, tác động qua lại, hỗ trợ lẫn nhau như hai cái cánh của một con chim, tạo thế và lực cho nhau, gắn kết và đan xen ngày càng chặt chẽ với nhau, nhất là trong điều kiện toàn cầu hóa phát triển mạnh mẽ và sâu rộng. Đối ngoại ngày nay không chỉ là sự nối tiếp của chính sách đối nội, mà còn là một động lực mạnh mẽ cho sự phát triển của các quốc gia, dân tộc.

  Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng đã đề ra phương hướng, quyết tâm “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại. Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi. Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng; Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế”.

  Hơn 90 năm qua, công tác đối ngoại của Việt Nam được đẩy mạnh, các mối quan hệ song phương và đa phương được thiết lập và củng cố. Chính sách đối ngoại của Việt Nam là đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa và đa phương hóa các mối quan hệ. Việt Nam đã thực sự là bạn, là đối tác tin cậy,có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế. Trong các mối quan hệ, Việt Nam đều thể hiện sự chân thành, bảo đảm sự hài hòa trong lợi ích của các bên. Tại Hội nghị Đối ngoại toàn quốc lần này, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhắc lại quan điểm xây dựng trường phái đối ngoại và ngoại giao rất đặc sắc và độc đáo, mang đậm bản sắc “cây tre Việt Nam”, “gốc vững, thân chắc, cành uyển chuyển”, thấm đượm tâm hồn, cốt cách và khí phách của dân tộc Việt Nam. Đó là  “mềm mại, khôn khéo, nhưng rất kiên cường, quyết liệt; linh hoạt, sáng tạo nhưng rất bản lĩnh, kiên định, can trường trước mọi thử thách, khó khăn vì độc lập dân tộc, vì tự do, hạnh phúc của Nhân dân”. 

  Đặc biệt, 5 năm qua, trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực diễn biến rất phức tạp, khó lường, Việt Nam vẫn tận dụng được thời cơ, hóa giải được thách thức, tiếp tục tạo những kết quả toàn diện, với nhiều dấu ấn nổi bật trên nhiều lĩnh vực. Đúng như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định với tất cả sự khiêm tốn “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín như ngày nay”.  Đến nay, Việt Nam đã mở rộng và nâng tầm quan hệ ngoại giao với tất cả các nước láng giềng, các nước lớn, các đối tác quan trọng và bạn bè truyền thống, từ đó tranh thủ được sự đồng tình, ủng hộ rộng rãi của quốc tế đối với công cuộc đổi mới của Nhân dân ta. Tính ra, nước ta đã có quan hệ ngoại giao với 189 nước trong tổng số 193 quốc gia thành viên Liên hợp quốc; trong đó, 3 nước có “quan hệ đặc biệt”, 17 nước “đối tác chiến lược” và 13 nước “đối tác toàn diện”. Trên bình diện đa phương, Việt Nam là thành viên tích cực và có trách nhiệm của hơn 70 tổ chức, diễn đàn quốc tế quan trọng, như Liên hợp quốc, ASEAN, APEC, ASEM, WTO... Đảng Cộng sản Việt Nam đã có quan hệ với 247 chính đảng ở 111 quốc gia, bao gồm khoảng 90 đảng cộng sản và công nhân quốc tế, các đảng cầm quyền và tham chính có vai trò quan trọng. Quốc hội có quan hệ với quốc hội, nghị viện của hơn 140 quốc gia và tham gia tích cực tại nhiều diễn đàn nghị viện quốc tế quan trọng. 

Những con số trên cho thấy chính sách đối ngoại của Việt Nam hoàn toàn đúng đắn và chính xác. Việt Nam luôn thẳng thắn, chân thành trong quan hệ quốc tế; xử lý hài hòa mối quan hệ giữa lợi ích quốc gia - dân tộc và nghĩa vụ, trách nhiệm quốc tế. Đồng thời, đây cũng là bằng chứng sinh động, thuyết phục đập tan những luận điệu xuyên tạc, sai trái, thù địch về đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta. Vì vậy, mỗi người cần nâng cao cảnh giác, nhận diện và đấu tranh với những luận điệu sai lệch, xuyên tạc về Việt Nam của các thế lực thù địch, phản động hiện nay.

CẢNH GIÁC VỚI NHỮNG LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC ĐƯỜNG LỐI ĐỐI NGOẠI CỦA ĐẢNG

Thời gian qua trên mạng xã hội xuất hiện những bài viết mang quan điểm sai trái của các đối tượng thù địch, cơ hội chính trị xuyên tạc đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta, chúng tìm mọi cách phủ nhận những thành tựu của công tác đối ngoại, xuyên tạc quan điểm, chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước và quan hệ của Việt Nam với các nước đối tác; xuyên tạc đường lối, phương châm đối ngoại, hòng gây nghi kỵ trong quan hệ giữa Việt Nam với các nước trong khu vực và thế giới, hạ thấp vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế. Tuy nhiên, thành tựu 35 năm đổi mới đã khẳng định đường lối đối ngoại của đảng ta là hoàn toàn đúng đắn và khoa học

Phát biểu tại Hội nghị Đối ngoại toàn quốc triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Bình Minh khẳng định: Trong tổng thể các thành tựu của đất nước có sự đóng góp không nhỏ của đối ngoại và hội nhập quốc tế. Công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế được Đảng, Nhà nước và cả hệ thống chính trị đặc biệt quan tâm, chủ động triển khai và đạt nhiều kết quả quan trọng, tích cực, toàn diện nổi bật trên các mặt công tác là: Tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ, nâng tầm quan hệ với các đối tác; đồng thời đưa các mối quan hệ này ngày càng phát triển đi vào chiều sâu trên cơ sở tăng cường tin cậy chính trị, nâng cao hiệu quả các cơ chế hợp tác.

“Nhìn tổng thể, đối ngoại đã phối hợp chặt chẽ với các ngành, lĩnh vực dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp, tuyệt đối, toàn diện của Đảng và quản lý thống nhất của Nhà nước, phát huy được sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc và hệ thống chính trị, đã hoàn thành tốt các nhiệm vụ phát huy vai trò tiên phong trong giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, bảo vệ vững chắc chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và lợi ích quốc gia, dân tộc, bảo vệ Đảng, chế độ xã hội chủ nghĩa. Chủ động, tích cực đẩy mạnh hội nhập quốc tế toàn diện và sâu rộng. Huy động nguồn lực to lớn từ bên ngoài phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Nâng cao vị thế và uy tín của Việt Nam trên thế giới.

  Như vậy, chúng ta có thể khẳng định rằng, mọi luận xuyên tạc quan điểm, chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước trên các trang mạng xã hội là hoàn toàn không có cơ sở, đó chỉ là những thông tin bịa đặt, sai lệch, nhằm phủ nhận những thành tựu của công tác đốiÂY ngoại và chống phá đảng và nhà nước ta. Vì thế, cần cảnh gián trước những luận điệu xuyên tạc đó.

PHẢN BÁC NHỮNG LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC VỀ ĐƯỜNG LỐI ĐỐI NGOẠI VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC TA TRONG TÌNH HÌNH HIỆN NAY

Trong những năm gần đây, Việt Nam đã tổ chức thành công nhiều sự kiện đối ngoại song phương và đa phương quan trọng. Việc hoàn thành xuất sắc vai trò chủ nhà của các sự kiện đối ngoại tổ chức tại Việt Nam có ý nghĩa to lớn trong việc cụ thể hóa và thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại, không chỉ góp phần nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế, mà còn là những bằng chứng sinh động, thuyết phục, phản bác đanh thép những luận điệu xuyên tạc, sai trái, thù địch về đường lối đối ngoại, hội nhập quốc tế của Đảng, Nhà nước ta.

Do vị trí, tầm quan trọng và những thành tựu to lớn của đường lối đối ngoại và hội nhập quốc tế của Đảng và Nhà nước ta, thời gian gần đây, trước những diễn biến phức tạp của tình hình khu vực và thế giới, các thế lực thù địch gia tăng mũi nhọn tấn công xuyên tạc, chống phá đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa dạng hóa, đa phương hóa của Việt Nam. Thủ đoạn của các thế lực là gia tăng cường độ, tần suất và diện bao phủ của các thông tin xuyên tạc về đối ngoại, tập trung vào những nội dung:

Thứ nhất, thông tin sai lệch việc triển khai đồng bộ, sáng tạo, hiệu quả hoạt động đối ngoại, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng của Đảng, Nhà nước ta. Thứ hai, Các thế lực thù địch tìm cách cản trở Việt Nam mở rộng quan hệ quốc tế, mặt khác, tác động, lôi kéo, mua chuộc các đối tác từ bên ngoài để gây sức ép, tác động vào bên trong đất nước; quốc tế hóa những vấn đề nội bộ của Việt Nam. Thứ ba, lợi dụng các vấn đề đối ngoại để xuyên tạc các lĩnh vực có liên quan, âm mưu “một mũi tên trúng nhiều đích”, nhất là xuyên tạc các vấn đề nhạy cảm về chủ quyền, kinh tế, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo. Thứ tư, chống phá trước, trong và sau các hội nghị ngoại giao lớn do Việt Nam tổ chức. Trước khi các hội nghị ngoại giao lớn diễn ra, các thế lực thù địch tung các thông tin sai lệch về tình hình đất nước, về công tác chuẩn bị, về đường lối ngoại giao của ta… gây nhiễu, rối thông tin, làm bất lợi việc tổ chức, kêu gọi “tẩy chay” sự kiện; trong hội nghị tiếp tục gửi các “thư ngỏ”, “kiến nghị” đến các đoàn, cơ quan ngoại giao nước ngoài yêu cầu can thiệp các vấn đề nhân quyền, dân tộc, tôn giáo…; sau hội nghị đưa ra các đánh giá hạ thấp, bôi đen, phủ định thành công của sự kiện, hạ thấp vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế.

Trước những sự chống phá trên, công tác đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc, sai trái, thù địch về đường lối đối ngoại và hội nhập quốc tế là yêu cầu cấp thiết, thực hiện bằng nhiều biện pháp, trong đó có việc đăng cai và tổ chức thành công những sự kiện, diễn đàn, hội nghị ngoại giao lớn. Thực tiễn cho thấy, thời gian qua, việc tổ chức thành công những sự kiện ngoại giao lớn đã góp phần quan trọng nâng cao vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế; nắm vững và xử lý tốt mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế; tranh thủ các nguồn lực từ bên ngoài để củng cố, bồi đắp, gia tăng sức mạnh nội lực, tiềm lực đất nước…, qua đó tự nó là minh chứng sinh động, bằng chứng thuyết phục để bẻ gãy những luận điệu xuyên tạc, sai trái, thù địch về đường lối đối ngoại và hội nhập quốc tế của Đảng, Nhà nước ta.

Thứ Hai, 28 tháng 2, 2022

NÂNG CAO VỊ THẾ VÀ UY TÍN CỦA ĐẤT NƯỚC

Định hướng công tác đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước, đối ngoại nhân dân và công tác đối ngoại của hệ thống chính trị là một nội dung quan trọng được đề cập trong cuốn sách của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng Với cách gợi mở dung dị nhưng rất sâu sắc, đồng chí đã chỉ rõ quan điểm và quyết tâm tiếp tục xây dựng nên một trường phái đối ngoại và ngoại giao rất đặc sắc và độc đáo của thời đại Hồ Chí Minh, mang đậm bản sắc dân tộc “cây tre Việt Nam”, “gốc vững, thân chắc, cành uyển chuyển”, thấm đượm tâm hồn, cốt cách và khí phách của dân tộc Việt Nam.

Đó là tư duy ngoại giao: Mềm mại, khôn khéo nhưng rất kiên cường, quyết liệt; linh hoạt, sáng tạo nhưng rất bản lĩnh, kiên định, can trường trước mọi thử thách, khó khăn vì độc lập dân tộc, vì tự do, hạnh phúc của nhân dân. Đoàn kết, nhân ái nhưng kiên quyết, kiên trì bảo vệ lợi ích quốc gia-dân tộc. Biết nhu, biết cương; biết thời, biết thế; biết mình, biết người; biết tiến, biết thoái, “tùy cơ ứng biến”, “lạt mềm buộc chặt”. 

 Cũng với cách tiếp cận rất gần gũi, dễ hiểu, Tổng Bí thư chỉ ra mối quan hệ giữa “trong ấm, ngoài êm”, có nghĩa là phải xây dựng đoàn kết nội bộ, xây dựng đất nước "ấm" về kinh tế, về đời sống tinh thần, nội bộ thật sự đoàn kết, ổn định... thì mới có thể thực hiện các mục tiêu góp phần giữ vững môi trường hòa bình, hữu nghị trong khu vực và trên thế giới. Thực tế cho thấy, nhiều năm qua, Quân đội ta đã thực hiện tốt quan điểm này, nâng cao chất lượng công tác đối ngoại quốc phòng, vừa góp phần xây dựng nền hòa bình nhân loại, thực hiện tốt nghĩa vụ quốc tế, đồng thời nhất quán tư duy bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa.

Những tinh thần trong cuốn sách của Tổng Bí thư cần được các cấp ủy, chỉ huy nghiên cứu, phát huy vai trò của từng cá nhân, từng tổ chức trong góp phần nâng cao vị thế và uy tín của đất nước. Những người làm công tác nghiên cứu, giảng dạy cần sớm cụ thể hóa những quan điểm, nội dung trong cuốn sách vào công tác giảng dạy ở các nhà trường trong và ngoài quân đội, góp phần tạo nên một thế hệ con người mới, có tâm thế về trình độ ngang tầm yêu cầu, nhiệm vụ, chủ động hòa nhập, bắt nhịp với xu thế hội nhập quốc tế trong điều kiện hiện nay.

Thứ Hai, 21 tháng 2, 2022

BẢO VỆ QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG VỀ PHƯƠNG THỨC “KẾT HỢP ĐỐI NGOẠI VỚI BẢO VỆ TỔ QUỐC”

Kết hợp chặt chẽ giữa phương thức đấu tranh phi vũ trang với đấu tranh vũ trang khi cần thiết để “không bị động bất ngờ”; kết hợp xây dựng với bảo vệ, lấy xây dựng để bảo vệ; nhấn mạnh phương thức “phi vũ trang”, bảo vệ Tổ quốc từ xa, đấu tranh chống “Diễn biến hòa bình” và phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; cụ thể hóa quan điểm chủ động bảo vệ Tổ quốc từ thời bình, giữ nước từ lúc nước chưa nguy; phát triển, hoàn thiện quan điểm “tự bảo vệ” trong điều kiện mới. Vì vậy, cần phải nhận thức rõ và đấu tranh kiên quyết với những luận điệu sai trái, bảo vệ vững chắc quan điểm của đảng. Để thực hiện điều nêu trên, cần tập trung vào những nội dung chủ yếu sau đây:

Một là, quốc phòng, an ninh và đối ngoại phải phối hợp chặt chẽ trong việc nghiên cứu đánh giá tình hình thế giới, khu vực và trong nước, tham mưu cho Đảng, Nhà nước hoạch định các chiến lược, sách lược bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa.

Hai là, kết hợp chặt chẽ trong đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ Đảng, Nhà nước và chế độ. Trong tình hình phức tạp hiện nay, công tác quốc phòng, an ninh và đối ngoại cần phải phối hợp chủ động đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch; ngăn chặn, phản bác các luận điệu sai trái, thù địch, bảo vệ Đảng, Nhà nước và chế độ.

Ba là, kết hợp quốc phòng, an ninh và đối ngoại, bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Quan điểm của Đảng là kiên quyết đấu tranh, làm thất bại mọi âm mưu, hành động can thiệp vào công việc nội bộ, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, an ninh quốc gia và ổn định chính trị của đất nước.

Bốn là, kết hợp quốc phòng, an ninh, đối ngoại, xây dựng thế trận tổng hợp, liên hoàn, vững chắc để bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa. Sức mạnh bảo vệ Tổ quốc là sức mạnh tổng hợp của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, sức mạnh của lực lượng và thế trận quốc phòng toàn dân với sức mạnh của lực lượng và thế trận an ninh nhân dân. Đó là lực lượng và thế trận tổng hợp bảo vệ Tổ quốc.

Thứ Năm, 11 tháng 11, 2021

UY TÍN VÀ VỊ THẾ CỦA VIỆT NAM

Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Tô Anh Dũng chia sẻ với báo chí nhiều kết quả ấn tượng từ chuyến công tác tại Anh và Pháp của Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính.

Mở ra nhiều cơ hội tăng cường hợp tác với các nước

* Hội nghị COP 26 là một trong những nội dung quan trọng trong chuyến công du lần này của Thủ tướng. Vậy Thứ trưởng có thể khái quát lại kết quả cũng như ý nghĩa dự Hội nghị COP 26 của đoàn Việt Nam do Thủ tướng Phạm Minh Chính dẫn đầu?

- Hội nghị đã thu hút sự tham gia của gần 200 quốc gia thành viên trong đó có 120 Nguyên thủ và Thủ tướng các nước cùng khoảng 36 ngàn đại biểu. Chính vì vậy, việc Thủ tướng Phạm Minh Chính và đoàn Việt Nam tham gia hội nghị mang nhiều ý nghĩa quan trọng và đạt được nhiều kết quả thiết thực.

Đây là bước triển khai cụ thể ở cấp cao chủ trương, đường lối đối ngoại của Đại hội Đảng lần thứ XIII về “tiếp tục đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế” và Chỉ thị 25 của Ban Bí thư về “đẩy mạnh và nâng tầm đối ngoại đa phương đến năm 2030”.

Với việc tham gia đóng góp tại hội nghị, chúng ta đã tái khẳng định thông điệp mạnh mẽ tới tất cả bạn bè quốc tế về một Việt Nam trách nhiệm, chủ động, tích cực trong tham gia xử lý một trong những thách thức chung toàn cầu lớn nhất và được quan tâm cao nhất hiện nay là biến đổi khí hậu. Qua đó thể hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa, là thành viên tích cực và có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế.

Thông qua sự tham gia chủ động, tích cực với những thông điệp sâu sắc thể hiện trong các phát biểu của Thủ tướng Phạm Minh Chính tại hội nghị, đặc biệt là cam kết liên quan đến việc đạt phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050, tham gia cam kết giảm phát thải metan toàn cầu và Tuyên bố Glasgow các nhà lãnh đạo về rừng và sử dụng đất, cộng đồng quốc tế thấy rõ hơn chủ trương, quyết tâm, nỗ lực và cam kết chính trị của Việt Nam trong ứng phó với biến đổi khí hậu.

Trong tiếp xúc song phương nhân dịp hội nghị, lãnh đạo các nước chia sẻ những tác động nghiêm trọng của biến đổi khí hậu cũng như những khó khăn, thách thức chúng ta đang gặp phải. Lãnh đạo các nước cũng coi Việt Nam là hình mẫu về một nước đang phát triển còn nhiều khó khăn nhưng đã có những đóng góp đi đầu về ứng phó biến đổi khí hậu.

Các đề xuất của Thủ tướng được các nước hoan nghênh, ủng hộ. Điều này mở ra nhiều cơ hội để chúng ta tăng cường hợp tác với các nước, các đối tác về tài chính, chuyển giao công nghệ và nâng cao năng lực để hỗ trợ các nỗ lực của ta nhằm ứng phó với biến đổi khí hậu.

Nhân dịp tham dự COP26, Thủ tướng và đoàn Việt Nam đã có hơn 20 cuộc gặp, tiếp xúc song phương với lãnh đạo cấp cao các nước ở tất cả các châu lục, trong đó có các đối tác chiến lược, đối tác lớn và lãnh đạo các tổ chức tài chính quốc tế, năng lượng mới, môi trường...

Qua đó thúc đẩy hợp tác giữa Việt Nam với các đối tác, đưa quan hệ hợp tác đi vào chiều sâu, hiệu quả, góp phần tích cực củng cố cục diện đối ngoại vững chắc và thuận lợi để giữ vững hòa bình, ổn định và phát triển đất nước.

Đây cũng là dịp chúng ta triển khai ngoại giao vắc xin, ngoại giao y tế, vận động thu hút nguồn lực bao gồm cả tài chính, công nghệ, góp phần tích cực phục vụ phòng chống dịch Covid-19 và phục hồi, phát triển kinh tế - xã hội.

* Vậy kết quả ngoại giao vắc xin và hợp tác y tế qua chuyến đi lần này đạt được là gì, thưa ông?

- Các nước chia sẻ khó khăn của Việt Nam và đáp ứng tích cực đề nghị của ta. Cụ thể, Pháp công bố viện trợ thêm gần 1,4 triệu liều vắc xin chống Covid-19 qua kênh song phương và cơ chế COVAX, nâng tổng số liều vắc xin Pháp hỗ trợ cho Việt Nam lên hơn 2 triệu liều.

Anh khẳng định sẽ giúp Việt Nam nâng cao năng lực y tế, chuyển giao công nghệ sản xuất vắc xin Covid-19.

Công ty trong nước và Công ty AstraZeneca ký hợp đồng mua 25 triệu liều, nâng tổng số thoả thuận lên hơn 55 triệu liều và cam kết trong tháng 11 và tháng 12/2021 toàn bộ số vắc xin sẽ được đưa về Việt Nam, kịp thời thực hiện nhanh chóng mục tiêu tiêm vắc xin toàn dân của Chính phủ.

Các nước coi trọng vai trò, vị thế của Việt Nam

* Còn hoạt động song phương tại Anh và chuyến thăm chính thức tại Pháp của Thủ tướng đạt những kết quả nổi bật nào, thưa Thứ trưởng?

- Anh và Pháp đều là hai nước lớn trên thế giới, là Ủy viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, thành viên Nhóm G-7 và là đối tác chiến lược của Việt Nam. Pháp sẽ đảm nhiệm vai trò Chủ tịch luân phiên EU trong nửa đầu năm 2022. Cả hai nước đang điều chỉnh chính sách hướng đến khu vực châu Á – Thái Bình Dương, trong đó coi trọng ASEAN và Việt Nam. Trong bối cảnh đó, chuyến thăm làm việc tại Anh và thăm chính thức Pháp đạt được nhiều mục tiêu quan trọng, kết quả thực chất và có ý nghĩa chiến lược.

Cả hai nước dành cho Thủ tướng và đoàn sự đón tiếp hết sức trọng thị và nồng hậu. Mặc dù phải tập trung cao cho Hội nghị COP26, tiếp đón hàng trăm nguyên thủ nhưng cả Hoàng gia và Chính phủ Anh đều coi trọng sự tham dự của Việt Nam.

Thủ tướng Boris Johnson, Thái tử Charles, Thủ hiến ba vùng Scotland, Wales và Bắc Ireland" đều dành thời gian, kể cả ngày nghỉ để hội kiến và tiếp xúc riêng với Thủ tướng. Pháp dành cho Thủ tướng Phạm Minh Chính và đoàn Việt Nam các nghi lễ hơn cả thông lệ, trọng thị và rất thân tình: cả Tổng thống, Thủ tướng hội đàm và chiêu đãi trọng thể, Chủ tịch Quốc hội và Chủ tịch Thượng viện đều hội kiến với Thủ tướng Việt Nam.

Trong các cuộc hội đàm, hội kiến, lãnh đạo các nước bày tỏ coi trọng vai trò, vị thế của Việt Nam, thống nhất những định hướng lớn, giao cho các Bộ, ngành triển khai các biện pháp hợp tác cụ thể nhằm tăng cường lòng tin chiến lược, quyết tâm đưa các khuôn khổ hợp tác với Việt Nam trên tất cả các lĩnh vực tiếp tục đi vào chiều sâu, thực chất và hiệu quả hơn nữa.

Bàn về các vấn đề đa phương, Lãnh đạo Anh, Pháp chia sẻ và ủng hộ Việt Nam trong các vấn đề quốc tế như ứng phó biến đổi khí hậu, an ninh an toàn, tự do hàng hải, hàng không trên cơ sở tôn trọng luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước Liên Hợp quốc về Luật biển năm 1982 (UNCLOS).

* Ông có thể nêu một vài con số cụ thể đạt được từ chuyến công tác của Thủ tướng?

- Kết quả ấn tượng của các hoạt động xúc tiến thương mại, đầu tư trong chuyến đi là với sự chứng kiến của Thủ tướng, gần 60 bản ghi nhớ hợp tác đã được doanh nghiệp Việt Nam và các nước thỏa thuận, tổng giá trị đầu tư cam kết lên đến hơn 30 tỷ USD, tập trung trong các lĩnh vực năng lượng tái tạo, kinh tế số, chuyển đổi số, môi trường, phát triển cơ sở hạ tầng, quy hoạch, công nghiệp hàng không vũ trụ, y tế và phòng chống dịch, giáo dục, nông nghiệp, du lịch… là những định hướng ưu tiên thu hút đầu tư của Việt Nam.

Gần 450 doanh nghiệp hàng đầu của Anh, Pháp và châu Âu tham dự trực tiếp và trực tuyến 2 diễn đàn doanh nghiệp ở Anh và Pháp bày tỏ được khích lệ bởi thông điệp của Thủ tướng là Việt Nam đã chuyển sang giai đoạn thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch bệnh, đồng hành và tạo mọi điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp yên tâm đầu tư, kinh doanh dài hạn ở Việt Nam.

Ngoài ra, Thủ tướng đã có gần 40 cuộc tiếp xúc, trao đổi với hơn 60 lãnh đạo các tập đoàn, ngân hàng, trường đại học hàng đầu của Anh, Pháp và Châu Âu. Lãnh đạo các Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Công Thương, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Thông tin và Truyền thông, Tài nguyên và Môi trường, Y tế cũng đã làm việc riêng với khoảng gần 50 tập đoàn, doanh nghiệp lớn để trao đổi về các dự án đầu tư cụ thể và phương hướng hợp tác trong thời gian tới.

Thứ Tư, 6 tháng 10, 2021

KHÔNG THỂ XUYÊN TẠC ĐƯỜNG LỐI, CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI ĐỘC LẬP, TỰ CHỦ CỦA VIỆT NAM LÀ TRUNG DUNG, ĐI DÂY TRONG QUAN HỆ VỚI CÁC NƯỚC LỚN

Lợi dụng một số hoạt động đối ngoại của Việt Nam trong thời gian qua, nhất là khi Việt Nam đẩy mạnh quan hệ với Mỹ. Các thế lực thù địch đẩy mạnh các hoạt động chống phá. Họ xuyên tạc rằng, Đảng và Nhà nước Việt Nam trên thực tế đã từ bỏ chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ và đang ngấm ngầm “theo chân” nước này để chống nước kia; thâm độc hơn, chúng còn cho rằng đó là “đường lối trung dung”, là “đi dây” trong quan hệ với các nước lớn, như thế là “tự cô lập” mình, “tước đi cơ hội hợp tác với các nước lớn để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Sự thật không phải như vậy, như chúng ta đã biết, hiện nay, Hòa bình, hợp tác và phát triển là xu thế lớn của thời đại, dù đang gặp những trở ngại, thách thức. Mỗi nước trên thế giới đều có quan hệ với các nước khác, nhất là chú trọng quan hệ với các nước lớn với những nội dung, hình thức và mức độ khác nhau. Đó vừa là xu thế, vừa là phương thức cơ bản bảo đảm an ninh và phát triển của mỗi nước. Phù hợp với xu thế đó, gần 35 năm qua, từ khi tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, Việt Nam luôn thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa, chủ động, tích cực hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế trên nhiều lĩnh vực. Do vậy, cần khẳng định rằng, chỉ có nhất quán và thực hiện tốt đường lối, chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại, không phụ thuộc vào bất cứ nước lớn hay nhóm nước nào thì chúng ta mới có thể tận dụng tốt nhất các cơ hội, điều kiện thuận lợi phục vụ cho sự phát triển đất nước. Điều đó tuyệt đối không thể gọi là “lạc hậu, lỗi thời”, là “trung dung”, “đi dây” trong quan hệ với các nước lớn.

Trên thực tế, chúng ta đã và đang thúc đẩy quan hệ với các nước lớn cũng như với các nhóm nước, tổ chức trên thế giới. Chúng ta chủ động tham gia các cơ chế, các diễn đàn khu vực và toàn cầu để vừa thích ứng với các trào lưu, xu thế chung của thế giới, vừa phục vụ một cách tốt nhất các lợi ích quốc gia - dân tộc.

Hiện nay, chúng ta vừa tăng cường quan hệ với Trung Quốc, vừa làm sâu sắc hơn quan hệ với Mỹ trên cơ sở mối quan hệ hợp tác giữa Việt Nam và các nước này ngày càng trở nên tốt đẹp, thực chất và hiệu quả hơn. Đó là quan điểm, lập trường và chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước Việt Nam, tuyệt nhiên không phải là chúng ta đang “nghiêng về bên này để chống bên kia” như sự xuyên tạc của các thế lực thù địch.

Chủ Nhật, 3 tháng 10, 2021

ĐẬP TAN NHỮNG LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC CHUYẾN THĂM CUBA VÀ THAM DỰ PHIÊN THẢO LUẬN CHUNG CẤP CAO ĐẠI HỘI ĐỒNG LIÊN HỢP QUỐC KHÓA 76 CỦA CHỦ TỊCH NƯỚC NGUYỄN XUÂN PHÚC

Từ ngày 18-20/9 Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc thăm chính thức Cuba và ngay sau đó, từ ngày 21-24/9, Chủ tịch nước đã tham dự Phiên thảo luận chung cấp cao Đại hội đồng Liên hợp quốc Khóa 76 và thực hiện một số hoạt động song phương tại Hoa Kỳ. Ngày 19/9/2021, trên trang blog Tiếng Dân, đối tượng Trần Đông A đã tán phát bài "Ngoại giao Việt Nam liệu có mất đà", yêu cầu Việt Nam "nâng cấp quan hệ" với Mỹ và cho đó là "cách thoát Trung"; kích động người dân xuống đường đấu tranh xóa bỏ Đảng, xóa bỏ chế độ... Thực chất đây là những luận điệu xuyên tạc đường lối đối ngoại của Đảng, Nhà nước ta, hạ thấp vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.

Những luận điệu đó hoàn toàn không có cơ sở, bởi trên thực tế, các hoạt động trong chuyến công tác của Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc đã góp phần tăng cường mối quan hệ hợp tác giữa nước ta với các đối tác, nâng cao vị thế, uy tín của ngoại giao Việt Nam trên trường quốc tế. Thực tế là, các hoạt động của Chủ tịch nước và Đoàn cấp cao của Việt Nam trong chuyến thăm Cuba đã khẳng định tình đoàn kết, sự ủng hộ mạnh mẽ đối với Cuba trong giai đoạn nhiều thách thức; thể hiện rõ bản sắc ngoại giao chân tình, thủy chung của Việt Nam với các nước bạn bè, anh em. Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc tham gia phiên thảo luận chung cấp cao của Đại hội đồng Liên hợp quốc Khóa 76 và trao đổi với các lãnh đạo cao nhất của Liên hợp quốc, đã gửi đi thông điệp mạnh mẽ với cộng đồng quốc tế về nước Việt Nam tự cường, có khát vọng và tầm nhìn phát triển, có đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ và rộng mở, đã, đang và tiếp tục đóng góp tích cực, có trách nhiệm vào công việc chung của cộng đồng quốc tế.

Trong hơn ba ngày ở New York, Chủ tịch nước đã gặp hơn 30 nguyên thủ, lãnh đạo các nước và tổ chức quốc tế lớn như Liên Hợp Quốc, Ngân hàng Thế giới (WB), Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) cùng khoảng 20 cuộc gặp, thảo luận với gần 50 tập đoàn hàng đầu thế giới nhằm đưa các mối quan hệ này đi vào chiều sâu, hiệu quả. Trong đó, Chủ tịch nước đã trao đổi với đại diện của đoàn Trung Quốc, nhấn mạnh việc tăng cường quan hệ hợp tác giữa Việt Nam và Trung Quốc ngày càng ổn định, lành mạnh là nhân tố quan trọng đối với sự phát triển của mỗi nước, cũng như đóng góp vào hòa bình, hợp tác và phát triển của khu vực và trên thế giới. Đồng thời, Chủ tịch nước đã tiến hành các hoạt động song phương tại Hoa Kỳ, góp phần thúc đẩy quan hệ Đối tác toàn diện đang phát triển tốt đẹp; phù hợp với mục tiêu, lợi ích chung của hai nước.

Chuyến công tác cũng đã tranh thủ được ủng hộ từ cộng đồng quốc tế dành cho Việt Nam, đặc biệt là trong nỗ lực phòng chống dịch Covid-19 và phục hồi, phát triển sau dịch.Bên cạnh một triệu liều vaccine Abdala Cuba chuyển về theo chuyên cơ của Chủ tịch nước, nhiều đối tác đã cam kết viện trợ và bán vaccine cho Việt Nam như Hàn Quốc, Hungary. Ngoài vaccine, đoàn Việt Nam đã thúc đẩy nhiều đối tác hỗ trợ vật phẩm y tế như tập đoàn Northwestern Medicine cung cấp thiết bị y tế trị giá 3,8 triệu USD, công ty Thermo Fisher cung cấp 270.000 bộ test trị giá hai triệu USD, ông David Duong là Việt kiều tại Mỹ hỗ trợ 1.000 máy trợ thở.

Rõ ràng, những hoạt động của Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc và Đoàn cấp cao Việt Nam trong chuyến công tác này đã trực tiếp góp phần nâng cao vị thế ngoại giao của Việt Nam chứ không làm "Ngoại giao Việt Nam mất đà". Đồng thời, đây cũng là chuyến công tác có những thành công đặc biệt về ngoại giao vaccine, kịp thời phục vụ cho công tác phòng, chống Covid-19. Những thành công đó là thực tiễn sinh động đập tan luận điệu xuyên tạc của đối tượng Trần Đông A, đồng thời, tiếp tục khẳng định đường lối đối ngoại đúng đắn, nhất quán của Đảng, Nhà nước Việt Nam.

Thứ Ba, 17 tháng 8, 2021

VIỆT NAM KIÊN ĐỊNH ĐƯỜNG LỐI ĐỐI NGOẠI ĐỘC LẬP, TỰ CHỦ VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ

Độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế là mối quan hệ biện chứng, tất yếu, khách quan, tác động qua lại lẫn nhau, thúc đẩy và hỗ trợ lẫn nhau. Trong cương lĩnh và văn kiện của Đảng ta, mối quan hệ biện chứng giữa độc lập tự chủ và hội nhập quốc tế được thể hiện rất rõ. Một trong các bài học được rút ra trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) đã chỉ rõ mối quan hệ này, cụ thể là: "Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, sức mạnh trong nước với sức mạnh quốc tế, trong bất cứ hoàn cảnh nào cần kiên định ý chí độc lập, tự chủ và nêu cao tinh thần hợp tác quốc tế, phát huy cao độ nội lực, đồng thời tranh thủ ngoại lực". Văn kiện đại hội Đại hội XI của Đảng cũng nêu rõ đường lối đối ngoại của Việt Nam thể hiện mối quan hệ biện chứng giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế, nội dung cần thực hiện: Thực hiện đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, hoà bình hợp tác và phát triển, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế… Đặc biệt, chú trọng xử lý và giải quyết tốt các mối quan hệ lớn: quan hệ giữa đổi mới, ổn định và phát triển… giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế. Các văn kiện Đại hội XII, XIII đều tiếp tục khẳng định những nội dung nêu trên, cụ thể hoá mối quan hệ độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế cho từng thời kỳ phát triển của đất nước. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh: Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hoà bình hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ đối ngoại. Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác cùng có lợi. Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng; Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế. Đồng thời, văn kiện cũng nhấn mạnh bảo đảm sự lãnh đạo, chỉ đạo thống nhất của Đảng và sự quản lý tập trung của nhà nước với các hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế. Đẩy mạnh đối ngoại song phương với nâng tầm đối ngoại đa phương. Chủ động tham gia và phát huy vai trò của Việt Nam tại các cơ chế đa phương, đặc biệt là ASEAN, Liên hợp quốc, APEC, hợp tác tiểu vùng Mê Công và các khuôn khổ hợp tác khu vực và quốc tế, trong những vấn đề và các cơ chế quan trọng có tầm chiến lược, phù hợp với yêu cầu, khả năng và điều kiện cụ thể. Đẩy mạnh và làm sâu sắc hơn quan hệ hợp tác song phương với các đối tác, đặc biệt là với các đối tác chiến lược, đối tác toàn diện và các đối tác quan trọng khác, tạo thế đan xen lợi ích và gia tăng độ tin cậy. Chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, giải quyết tốt mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế; hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, linh hoạt, hiệu quả vì lợi ích quốc gia - dân tộc, bảo đảm độc lập, tự chủ, chủ quyền quốc gia.

Đường lối, chính sách đối ngoại xuyên suốt của Đảng ta đều được khẳng định trong các văn kiện, Nghị quyết của Đảng, là mối quan hệ biện chứng giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế. Mối quan hệ này được cụ thể hoá qua từng giai đoạn phát triển của đất nước, phù hợp điều kiện, bối cảnh phát triển cụ thể trên cơ sở của nguyên tắc lấy lợi ích quốc gia dân tộc là trên hết, bảo đảm hội nhập quốc tế luôn dựa trên nguyên tắc giữ vững độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, hội nhập vì lợi ích đất nước, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ và văn minh. Quá trình này cũng thể hiện sự phát triển của cả nhận thực và thực tiễn từ chú trọng hội nhập kinh tế đến hội nhập toàn diện trên tất cả các lĩnh vực, trong đó hội nhập kinh tế là trọng tâm, hội nhập trên các lĩnh vực khác là điều kiện và hỗ trợ cho hội nhập kinh tế. Từ hội nhập đơn tuyến sang đa tuyến trên tất cả các cấp độ song phương, khu vực và toàn cầu. Đối ngoại độc lập, tự chủ trong hội nhập quốc tế là chính sách nhất quán trong đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta.

Chủ Nhật, 11 tháng 4, 2021

THỰC TIỄN VÀ KẾT QUẢ CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI ĐỘC LẬP TỰ CHỦ

Từ khi tiến hành công cuộc đổi mới đến nay, Việt Nam đã hội nhập ngày càng sâu rộng vào khu vực và thế giới. Quá trình này đã thu được những kết quả hết sức to lớn, góp phần quan trọng vào những thành tựu to lớn trong công cuộc đổi mới. Điều đó cho thấy chủ trương đúng đắn, chủ động tích cực hội nhập quốc tế của Đảng và nhà nước ta. Trong quá trình triển khai, chính sách đối ngoại với mục tiêu bảo đảm lợi ích tối cao của quốc gia dân tộc, trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, bình đẳng và cùng có lợi. Mối quan hệ giữa độc lập tự chủ và hội nhập quốc tế được quán triệt xuyên suốt trong mọi chính sách và hành động. Kết quả là ta đã từng bước hội nhập một cách sâu rộng vào khu vực và thế giới.

Năm 1990, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với Liên minh châu Âu, năm 1995 chúng ta đã bình thường hoá quan hệ với Mỹ, gia nhập ASEAN, ký Hiệp định khung hợp tác với Liên minh châu Âu và làm đơn gia nhập tổ chức thương mại thế giới. Năm 2000, Việt Nam ký Hiệp định thương mại song phương với Hoa Kỳ. Việc ký Hiệp định này có ý nghĩa hết sức quan trọng, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển đầu tư, thương mại và tang trưởng của nền kinh tế nước ta. Đến năm 2007, Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên của tổ chức thương mại thế giới.

Cùng với quá trình hội nhập khu vực và toàn cầu, Việt Nam cũng đã tăng cường hợp tác song phương, triển khai mạnh mẽ quan hệ hợp tác với các đối tác quan trọng, nhất là xây dựng khuôn khổ đối tác chiến lược và đối tác toàn diện. Nhìn chung, các đối tác chiến lược và đối tác toàn diện mà Việt Nam ký kết đều là những đối tác quan trọng với lợi ích cả về kinh tế, chính trị và đối ngoại nói chung. Việt Nam là nước duy nhất trong ASEAN đã thiết lập khuôn khổ đối tác chiến lược và đối tác chiến lược toàn diện với toàn bộ 5 nước thành viên Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, toàn bộ nhóm nước G7 và 13/20 nước G20 và 8/9 nước trong ASEAN. Các đối tác này chiếm 8/10 thị trường xuất khẩu chính, với 60,7% tổng giá trị xuất khẩu; 9/10 thị trường nhập khẩu chính với 74,7% tổng giá trị nhập khẩu, 76,7% tổng lượng khách du lịch; đóng góp 74% tổng vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Cơ sở quan hệ đối tác chiến lược và đối tác toàn diện đã ký kết đã góp phần củng cố môi trường hoà bình, hữu nghị hợp tác với các đối tác quan trọng, đặc biệt là với các nước lớn, với các nước láng giềng chung biên giới. Đồng thời, việc thiết lập quan hệ đối tác với các nước lớn, có vai trò quan trọng góp phần giúp Việt Nam xử lý tốt quan hệ với các nước lớn, đưa hợp tác trở thành chủ đạo, đồng thời tạo cơ chế và kênh trao đổi giảm thiểu sự khác biệt trong quan hệ với các nước này, tạo điều kiện để tăng cường lòng tin. Thông qua các quan hệ song phương đã được thiết lập đã tạo ra sự đan xen lợi ích, giúp Việt Nam tranh thủ được nguồn lực quốc tế để phát triển đất nước. Ngoài ra, thông qua các đối tác quan trọng này, đã góp phần nâng cao vị thế của đất nước trên trường quốc tế, thể hiện thông qua vị trí của ta trong chính sách đối ngoại của các nước cũng như trong các khuôn khổ hợp tác đa phương.

Thứ Bảy, 26 tháng 12, 2020

TRONG NHỮNG GIỜ KHẮC KHÓ KHĂN NHẤT, VIỆT NAM VẪN KHÔNG BỎ AI Ở LẠI PHÍA SAU!

Chỉ riêng trong năm 2020, Việt Nam đã triển khai trên 260 chuyến bay chở 73.000 công dân từ 59 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới trở về nước an toàn.

Năm 2020 là một năm hết sức đặc biệt, tình hình thế giới, khu vực biến động hết sức nhanh chóng. Đặc biệt, dịch bệnh Covid -19 xảy ra trên thế giới cũng như ở khu vực và trong nước đã tác động, ảnh hưởng rất nhiều đến mọi mặt của đời sống xã hội, đến chính trị, kinh tế và đặc biệt là đến sức khỏe của người dân. Trong tình hình như vậy, Việt Nam đã làm rất tốt nhiệm vụ kép, đó là vừa kiềm chế được đại dịch Covid -19, đồng thời vẫn giữ được môi trường ổn định để phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh trả lời báo chí ngày 24/12 nhấn mạnh: “Đó là những thành tích hết sức lớn lao của đất nước trong năm 2020 và đó cũng là cơ sở hết sức thuận lợi cho các hoạt động đối ngoại của Đảng và Nhà nước. Dịch bệnh Covid -19 xảy ra, các hoạt động đối ngoại chung trên thế giới của các nước đều bị ảnh hưởng rất lớn. Chúng ta cũng không phải ngoại lệ. Tuy nhiên, trong năm 2020 Việt Nam vẫn triển khai được các hoạt động hết sức quan trọng, cả về đối ngoại song phương lẫn đối ngoại đa phương”.

Theo Phó Thủ tướng Phạm Bình Minh, trong năm qua, Việt Nam vẫn duy trì được quan hệ với các đối tác, không phải thông qua các chuyến thăm của lãnh đạo cấp cao các nước đến Việt Nam như thông thường. Năm 2020, Việt Nam đã chuyển đổi hình thức, tăng cường trao đổi bằng điện đàm, qua trực tuyến với lãnh đạo cấp cao của các nước. Cụ thể, có 33 cuộc điện đàm của lãnh đạo cấp cao Việt Nam với với lãnh đạo của hầu hết các nước quan trọng trên thế giới cũng như các nước trong khu vực.

Trong các cuộc điện đàm, những nội dung về tăng cường quan hệ giữa Việt Nam với các nước vẫn được triển khai. Đây là điểm hết sức đặc biệt vì thông thường hàng năm, các chuyến thăm của lãnh đạo các nước đến Việt Nam cũng như Việt Nam ra các nước trung bình trong khoảng trên 10-20 cuộc, nhưng riêng năm 2020 vẫn triển khai được 33 cuộc điện đàm của các lãnh đạo cấp cao, từ Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Thủ tướng đến Chủ tịch Quốc hội và các cấp khác.

Năm 2020, Việt Nam đảm nhận vai trò là Chủ tịch ASEAN, Chủ tịch Liên minh Nghị viện Đông Nam Á (AIPA) và đồng thời là Ủy viên không thường trực của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc. Cho đến thời điểm này, có thể nói là Việt Nam đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, vai trò Chủ tịch của ASEAN, của AIPA. Trong năm đầu tiên đảm nhận vai trò Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc, Việt Nam cũng thu được những kết quả hết sức cụ thể, đó là tiếp tục đưa được vai trò gắn kết, vai trò trung tâm của ASEAN trong các vấn đề thích ứng với những biến động trên thế giới cũng như với khu vực và với từng nước.

Đồng thời, Việt Nam đã đóng góp vào giải quyết các vấn đề trong Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc với tâm thế một nước có tiếng nói, với vai trò là đại diện của các nước đang phát triển cũng như các nước trung bình và nhỏ trong Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc.

Về hội nhập kinh tế, trong năm 2020, Việt Nam thúc đẩy và thông qua phê chuẩn Hiệp định thương mại tự do với Liên minh châu Âu và thúc đẩy cùng các nước để ký kết được Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP).

Trong năm 2020, một nhiệm vụ cũng hết sức quan trọng mà đối ngoại đã phải thực hiện, đó là bảo hộ công dân trong tình hình mới khi Covid-19 xảy ra. Năm nay ghi nhận nhu cầu bảo hộ công dân Việt Nam ở nước ngoài lớn chưa từng có. Số lượng các cuộc gọi của công dân Việt Nam cần tư vấn về các vấn đề liên quan đến bảo hộ công dân ở nước ngoài thông qua tổng đài điện thoại về bảo hộ công dân đã tăng gần 200% trong năm 2020. Điều đó nói lên là nhu cầu bảo hộ công dân bên ngoài rất lớn, nhưng điểm lớn nhất đó là việc trong đại dịch Covid-19, Việt Nam là một trong số ít các nước đã có các chuyến bay đưa công dân bị mắc kẹt về nước.

Chỉ riêng trong năm 2020, Việt Nam đã triển khai trên 260 chuyến bay chở 73.000 công dân từ 59 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới trở về nước an toàn. Đó là một những nhiệm vụ hết sức quan trọng.

Trong năm 2020, việc quảng bá hình ảnh Việt Nam ra nước ngoài vẫn tiếp tục được thực hiện. Dịch bệnh Covid-19 đã làm ảnh hưởng lớn đến việc phóng viên nước ngoài vào Việt Nam đưa tin, bài quảng bá về hình ảnh đất nước và con người Việt Nam trong năm Chủ tịch ASEAN 2020. Nhưng trong tình hình đó, báo chí của Việt Nam, báo chí đối ngoại đã tiếp tục quảng bá được hình ảnh đất nước, con người Việt Nam thông qua một phương thức mới, đó là nền tảng số. Qua nền tảng số, có thể nói Việt Nam đã vươn xa so với trước đây trên những nền tảng thông thường, nền tảng số đã hỗ trợ cho việc quảng bá Việt Nam tăng lên rất nhiều.

Nhiệm vụ trọng tâm, định hướng của đối ngoại Việt Nam năm 2021

Chia sẻ về nhiệm vụ trọng tâm, định hướng của đối ngoại Việt Nam trong năm 2021, Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Phạm Bình Minh cho biết, dự báo tình hình thế giới và khu vực năm 2021 sẽ tiếp tục biến động, trong đó có dịch bệnh Covid-19. Đó là những thách thức đối với tất cả các nước và đối với Việt Nam. Tuy vậy, đi kèm với thách thức vẫn có rất nhiều cơ hội, đó là xu thế hòa bình, xu thế mong muốn hòa bình tiếp tục phát triển. Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư cũng đang phát triển, trong đó kinh tế số những vấn đề liên quan đến công nghệ cao là cơ hội phát triển không chỉ về kinh tế xã hội mà còn tạo ra những phương thức hoạt động mới.

Phó Thủ tướng Phạm Bình Minh nói: “Với tình hình như vậy, đối ngoại của chúng ta trong năm 2021 sẽ tiếp tục với việc củng cố, làm sâu sắc hơn quan hệ của Việt Nam với các nước, các đối tác, đặc biệt các đối tác chiến lược, các đối tác toàn diện, các nước láng giềng.

Thứ hai, Việt Nam tiếp tục chủ động hội nhập quốc tế thông qua các hoạt động của chúng ta ở Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc. Nhưng đồng thời trong ASEAN, chúng ta phải làm sao phát huy được những kết quả của năm Chủ tịch vừa qua, tiếp tục duy trì đà phát triển của ASEAN cũng như những sáng kiến, những nội dung của ASEAN trong năm 2020.

Thứ ba, Việt Nam đã tham gia, đã ký kết các hiệp định thương mại tự do và tiếp tục sẽ có các hiệp định thương mại tự do được phê chuẩn. Vì vậy phải làm sao thực thi một cách hiệu quả, tận dụng được cơ hội của các hiệp định thương mại tự do đã mang lại. Đó là nhiệm vụ chung cho tất cả tất cả các bộ, ngành không phải chỉ riêng của ngành đối ngoại.

Thứ tư, nhưng có lẽ là nhiệm vụ quan trọng nhất, đó là duy trì môi trường hòa bình, ổn định, bảo vệ độc lập, chủ quyền biển đảo của đất nước. Đó là mục tiêu hết sức lớn lao, xuyên suốt.

Cuối cùng, trong bối cảnh dịch bệnh còn nhiều diễn biến phức tạp, công tác bảo hộ công dân cũng sẽ là một trọng tâm của ngành ngoại giao trong thời gian tới”./.

Thứ Hai, 7 tháng 12, 2020

VIỆT NAM THAM GIA LỰC LƯỢNG “MŨ NỒI XANH” – NÂNG CAO VAI TRÒ, VỊ THẾ VÀ HÌNH ẢNH VIỆT NAM

Có thể thấy rõ rằng, việc Việt Nam tham gia lực lượng GGHB của LHQ là một hoạt động đối ngoại quan trọng, thực hiện sứ mệnh quốc tế cao cả, thể hiện vai trò, trách nhiệm của Việt Nam đối với một lĩnh vực trọng yếu của cộng đồng quốc tế. Hoạt động này đã góp phần tăng thiện cảm của quốc tế đối với đất nước, con người Việt Nam.

Cùng với việc thực hiện tốt các hoạt động chuyên môn theo nhiệm vụ được giao, các sĩ quan "mũ nồi xanh" Việt Nam còn tích cực làm công tác dân vận như tham gia dạy học, hướng dẫn người dân bản xứ trồng rau xanh, hướng dẫn các bà mẹ chăm sóc trẻ nhỏ đúng cách, may khẩu trang phòng, chống dịch Covid-19 tặng đồng đội và người dân địa phương... đã tạo ấn tượng đẹp về Bộ đội Cụ Hồ, về đất nước và con người Việt Nam.

Các bệnh viện dã chiến của LHQ bình quân mỗi năm chỉ thu dung khoảng 200 bệnh nhân, thì hai bệnh viện dã chiến của Việt Nam mỗi năm đã thu dung gấp hơn 10 lần, với hơn 2.000 bệnh nhân/bệnh viện. Chính vì hiệu quả công việc và thiện cảm tạo ra mà tỷ lệ các sĩ quan "mũ nồi xanh" của Việt Nam được LHQ đánh giá xuất sắc lên tới 33,3% (10/30 đồng chí được đánh giá), gấp nhiều lần so với mức trung bình khoảng 1-2% sĩ quan "mũ nồi xanh" được LHQ đánh giá là xuất sắc hằng năm theo thông lệ. Hai bệnh viện dã chiến cấp 2 của Việt Nam là những đơn vị có tỷ lệ nữ cao hơn tỷ lệ khuyến khích 15% do LHQ đưa ra, được LHQ biểu dương. Chính từ những kết quả trên mà LHQ đã gửi lời cảm ơn, ca ngợi lực lượng GGHB LHQ của Việt Nam.

Thứ Sáu, 23 tháng 10, 2020

NHỮNG ĐỊNH HƯỚNG CƠ BẢN ĐỂ QUÂN ĐỘI THAM GIA HIỆU QUẢ PHÁT TRIỂN KINH TẾ

Trước tình hình thế giới và khu vực có nhiều biến động phức tạp, khó lường, tiềm ẩn nhiều nhân tố bất ổn, Đảng ta chủ trương: “Tiếp tục đổi mới và sáng tạo trong lãnh đạo, quản lý phát triển kinh tế - xã hội”. Trong đó, chú trọng: “Phát triển vững chắc, hiệu quả công nghiệp quốc phòng, an ninh. Phát triển phù hợp doanh nghiệp có khả năng sản xuất sản phẩm lưỡng dụng. Từng bước hình thành tổ hợp công nghiêp quốc phòng với sự tham gia của nhiều loại hình doanh nghiệp”. Cùng với việc tập trung nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu, Quân đội cần tiếp tục đẩy mạnh và thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ tham gia sản xuất, xây dựng KTQP, góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng, phát triển đất nước. Trong đó, tập trung thực hiện tốt những định hướng cơ bản sau:

Trước hết, tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chỉ huy các cấp đối với nhiệm vụ sản xuất phát triển kinh tế quốc phòng. Toàn quân, nhất là cấp ủy, chỉ huy các đơn vị được giao nhiệm vụ xây dựng khu KTQP cần tiếp tục quán triệt sâu sắc chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nghị quyết, chỉ thị của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng về xây dựng khu KTQP. Đồng thời, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục, làm cho cán bộ, chiến sĩ nhận thức rõ vị trí, ý nghĩa, yêu cầu, tầm quan trọng của nhiệm vụ xây dựng, phát triển khu KTQP trong thời kỳ mới, cũng như vai trò của Quân đội trong thực hiện nhiệm vụ này; từ đó, nêu cao trách nhiệm trong lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện.

Cùng với đó, tập trung chấn chỉnh tổ chức biên chế các đoàn KTQP, các doanh nghiệp quân đội phù hợp với chức năng, yêu cầu nhiệm vụ, theo hướng giảm khâu trung gian, giảm tối đa biên chế cơ quan để tăng cường quân số cho các đơn vị, đội sản xuất; thực hiện tốt việc điều chuyển đoàn KTQP về trực thuộc quân khu, nhằm thống nhất trong quản lý, chỉ đạo. Các đoàn KTQP chú trọng xây dựng, củng cố đội ngũ cán bộ lãnh đạo, chỉ huy, cán bộ chuyên môn kỹ thuật ở các cấp; đào tạo, tuyển dụng cán bộ là người dân tộc thiểu số ở địa phương, trí thức trẻ tình nguyện. Tăng cường tập huấn, bồi dưỡng nâng cao trình độ, năng lực về quản lý, phát triển kinh tế, kiến thức, kinh nghiệm về kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh, thực hiện chính sách dân tộc, tôn giáo, công tác vận động quần chúng, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ.

Đối với những đơn vị KTQP hoạt động trên các địa bàn chiến lược phải góp phần tăng nguồn lực cho quốc phòng, đóng góp ngân sách nhà nước và phục vụ cho các hoạt động chính sách xã hội, chính sách hậu phương quân đội... Thông qua các hoạt động đó, các doanh nghiệp quân đội góp phần xóa đói giảm nghèo, chung sức xây dựng nông thôn mới, củng cố “thế trận lòng dân” vững chắc trên các địa bàn chiến lược, biên giới, vùng sâu, vùng xa.

Hai là, nắm vững và vận dụng sáng tạo quan điểm của Đảng về“Kết hợp tốt nhiệm vụ quốc phòng, an ninh với nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội”. Đây vừa là nhiệm vụ vừa là định hướng cơ bản, cần phải được quán triệt sâu sắc và nắm vững tư tưởng chỉ đạo: Lấy phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững ổn định chính trị, tăng cường quốc phòng, an ninh là mục tiêu hàng đầu; phát huy quyền làm chủ của nhân dân, đẩy mạnh phát triển kinh tế, nâng cao đời sống vật chất tinh thần của nhân dân, tạo sự đồng thuận xã hội. Khắc phục triệt để những sơ hở, thiếu sót trong việc kết hợp kinh tế và quốc phòng, an ninh tại các địa bàn, nhất là địa bàn chiến lược. Xây dựng “thế trận lòng dân”, tạo nền tảng vững chắc xây dựng nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân. KTQP góp phần “khắc phục triệt để những sơ hở thiếu sót trong việc kết hợp kinh tế với quốc phòng an ninh tại các địa bàn, nhất là địa bàn chiến lược”.

Ba là,tập trung nguồn lực, đẩy nhanh tiến độ xây dựng và nâng cao hiệu quả hoạt động của các khu KTQP trên các địa bàn chiến lược vừa là giải pháp vừa là định hướng; đồng thời, là sự thể chế hóa quan điểm kết hợp kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế trong thực tiễn.

Bốn là,cơ cấu lại, đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp quân đội, gắn với giữ vững, nâng cao năng lực sản xuất phát triển kinh tế. Thực hiện các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, sự chỉ đạo của Chính phủ, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đã lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt việc đổi mới, sắp xếp, phát triển các doanh nghiệp quân đội và đạt được kết quả bước đầu quan trọng. Qua đó, góp phần giữ vững, nâng cao năng lực sản xuất quốc phòng, ổn định, phát triển kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội. Phát huy kết quả đạt được, trong thời gian tới, các doanh nghiệp quốc phòng cần quán triệt sâu sắc quan điểm, chủ trương của Đảng, Chính phủ về sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp; trên cơ sở đó, tập trung triển khai thực hiện nghiêm túc Nghị quyết số 425-NQ/QUTW, trọng tâm là thực hiện tốt Đề án “Cơ cấu lại, đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp quân đội giai đoạn 2016 - 2020”. Các doanh nghiệp quân đội, các đoàn KTQP tập trung rà soát, xây dựng chiến lược phát triển, chiến lược sản xuất, kinh doanh phù hợp với mô hình hoạt động; tích cực đầu tư đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực cạnh tranh, hiệu quả sản xuất, kinh doanh và năng lực thực hiện nhiệm vụ quốc phòng; chấp hành nghiêm chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước, kỷ luật của quân đội.

Năm là, ưu tiên nguồn lực cho phát triển kinh tế quốc phòng, thực hiện có hiệu quả chiến lược kết hợp kinh tế với quốc phòng trên địa bàn chiến lược. Để khai thác, sử dụng hiệu quả các tiềm năng thành nguồn lực, động lực đẩy mạnh sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước, Đảng, Nhà nước và các địa phương, đơn vị cần tập trung đầu tư nguồn lực thích đáng cho các doanh nghiệp KTQP mũi nhọn, có thế mạnh trên tuyến biên giới và ở các vùng ven biển, trên các đảo và quần đảo... Trong đó, ưu tiên xây dựng các trung tâm dịch vụ, phát triển các khu KTQP mạnh có đủ khả năng kết hợp phát triển kinh tế với tạo lập thế trận phòng thủ trên tuyến biên giới, ven biển; tập trung nguồn lực, khoa học, công nghệ, nguồn lao động để khai thác có hiệu quả các tiềm năng của từng địa phương; ưu tiên phát triển hạ tầng cơ sở kinh tế với quốc phòng trên các địa bàn chiến lược, tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất của nhân dân trên các tuyến biên giới, các vùng biển, đảo.

Quá trình thu hút nguồn lực để phát triển KTQP trên các vùng biển, hải đảo đòi hỏi các ngành chức năng và địa phương phối hợp nghiên cứu, khảo sát tổng thể, xác định rõ tiềm năng, thế mạnh của từng vùng, từng khu vực, đánh giá đúng, đủ các yếu tố tự nhiên cũng như xu thế phát triển. Việc quy hoạch phải tính đến sự kế thừa, phát triển, tính liên kết giữa các vùng, miền; phải kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng, an ninh, tạo lập thế trận phòng thủ vững chắc trên các hướng trọng điểm. 

Từ những đóng góp quan trọng của Quân đội tham gia sản xuất, xây dựng kinh tế, Quân đội cần phải nghiên cứu những thành tựu của công nghiệp quốc phòng mang tính lưỡng dụng, để tận dụng các thành tựu của công nghiệp dân sự sang công nghiệp quốc phòng. Sự kết nối này sẽ tăng sức mạnh cho nền kinh tế đất nước và trực tiếp cho quốc phòng./.