Hiển thị các bài đăng có nhãn việt nam. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn việt nam. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 2 tháng 5, 2024

TỰ DO BÁO CHÍ Ở VIỆT NAM

Những năm gần đây, các thế lực thù địch, các phần tử chống đối, phá hoại luôn tìm cách vu khống, bịa đặt trắng trợn, rằng “Việt Nam đàn áp tự do ngôn luận”, “Bắt người nói xấu Đảng và tự do ngôn luận”, “Dân oan bị khước từ quyền tự do ngôn luận”, “Việt Nam vẫn là quốc gia toàn trị, không có tự do ngôn luận”.

Điển hình như: Báo cáo nhân quyền thế giới hàng năm của Anh, Úc; Nghị quyết của Nghị viện EU; Báo cáo thường niên, thông cáo báo chí của các tổ chức quốc tế; Báo cáo của tổ chức Phóng viên không biên giới (RSF), của tổ chức Ủy ban bảo vệ nhà báo (CPJ), v.v. Trong báo cáo hàng năm vẫn xuyên tạc tình hình, vu cáo Nhà nước Việt Nam vi phạm “tự do ngôn luận”, “đàn áp, bắt giữ trái phép các blogger”, v.v. Họ cố tình đưa ra những nhận định, đánh giá sai lệch, thiếu khách quan về tình hình tự do ngôn luận để vu cáo Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền hòng hạ thấp uy tín nước ta trên trường quốc tế. 

Những thủ đoạn, mưu đồ chống phá của chúng, trước hết là viện dẫn các quy định của luật pháp quốc tế và luật pháp Việt Nam về tự do ngôn luận, nhưng cố tình lờ đi những quy định và điều khoản nghĩa vụ kèm theo rồi tán phát qua internet, mạng xã hội làm cho nhiều người hiểu lầm rằng “tự do ngôn luận” là một quyền tuyệt đối, không có bất cứ một hạn chế nào; hòng vu cáo trắng về tự do ngôn luận ở Việt Nam.

Sự thật, cùng với việc thể chế hóa quyền tự do ngôn luận vào hệ thống luật pháp, Đảng, Nhà nước ta luôn coi trọng hiện thực hóa quyền đó trong thực tiễn hoạt động của Nhà nước và của Nhân dân. Việt Nam là thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc (nhiệm kỳ 2014 - 2016), Việt Nam chính thức trúng cử Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2020  - 2021. Mỗi người Việt Nam đều có quyền bày tỏ lòng yêu nước của mình, góp ý, phản biện những chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Tính đến năm 2022, cả nước có 127 cơ quan báo, 670 cơ quan tạp chí, 72 cơ quan đài phát thanh, truyền hình, 77 kênh phát thanh trong nước, 194 kênh truyền hình, 57 kênh nước ngoài. Nhân sự hoạt động trong lĩnh vực báo chí có khoảng 41.000 người, trong đó, khối phát thanh, truyền hình xấp xỉ 16.500 người. Số liệu thống kê của Bộ Thông tin và Truyền thông cũng cho thấy, tính tới tháng 9/2022, số lượng người dùng Internet ở Việt Nam là khoảng 70 triệu người, tăng 0,8% trong giai đoạn 2020 - 2021 (chiếm hơn 70% dân số).

Thực tế, Nhà nước Việt Nam chỉ xét xử những ai lấy danh nghĩa tự do ngôn luận để có hành vi cố tình vi phạm pháp luật, lợi dụng “tự do báo chí”, “tự do ngôn luận”, để tuyên truyền, tán phát tài liệu, các bài viết có nội dung xấu độc phá hoại an ninh quốc gia, gây mất an toàn xã hội, kích động bạo lực, ảnh hưởng tiêu cực đến đạo đức, lối sống, truyền thống, văn hóa, lịch sử đất nước, con người Việt Nam.

Những kết quả trên càng minh chứng và định quyền tự do ngôn luận ở Việt Nam luôn được tôn trọng và được bảo đảm.

  

Thứ Ba, 12 tháng 3, 2024

CHÍNH SÁCH DÂN TỘC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY NHƯ THẾ NÀO?

Chính sách dân tộc ở Việt Namtoàn bộ những chủ trương, biện pháp của Đảng, Nhà nước tác động vào tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội của các dân tộc thiểu số, vùng dân tộc thiểu số, đối với từng dân tộc riêng biệt, nhằm bảo đảm bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển giữa các dân tộc; phát huy vai trò của đồng bào các dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước được thể hiện trong một chỉnh thể thống nhất giữa đường lối, quan điểm của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước đối với dân tộc, giải quyết vấn đề dân tộc. Chính sách, pháp luật về dân tộc của Nhà nư­ớc là công cụ, phương tiện quan trọng nhất để thể chế hoá, hiện thực hoá các quan điểm giải quyết vấn đề dân tộc của Đảng trong thực tiễn. Chính sách dân tộc cũng là chính sách phát triển nhằm phát triển về kinh tế - xã hội cho đồng bào dân tộc thiểu số và vùng dân tộc thiểu số, hướng tới mục tiêu phát triển các dân tộc, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân. Đối tượng thụ hưởng chính sách dân tộc không chỉ là đồng bào các dân tộc thiểu số, mà còn là vùng dân tộc thiểu số và miền núi, bao gồm cả dân tộc đa số sinh sống trong vùng.

Nguyên tắc, nội dung cơ bản chỉ đạo việc xây dựng, thực hiện chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước ta hiện nay là: “Thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau giữa các dân tộc, tạo mọi điều kiện để các dân tộc phát triển, gắn bó mật thiết với sự phát triển chung của cộng đồng dân tộc Việt Nam. Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa, ngôn ngữ, truyền thống tốt đẹp của các dân tộc. Chống tư tưởng kỳ thị và chia rẽ dân tộc. Các chính sách kinh tế - xã hội phải phù hợp với đặc thù của các vùng và các dận tộc, nhất là các dân tộc thiểu số”

Chính sách dân tộc  nước ta mang tính tổng hợp, liên ngành, có nội dung toàn diện và đồng bộ trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Chính sách  dân tộc đúng đắn sẽ tạo động lực cách mạng to lớn, khơi dậy và phát huy được sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, giải quyết vấn đề lực lượng cách mạng; góp phần giữ vững ổn định chính trị - xã hội; tạo điều kiện để phát triển kinh tế - xã hội ở các dân tộc, vùng dân tộc, vùng miền núi và cả nước; đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc để chống phá nước ta. Thực hiện chính sách dân tộc ở nước ta là là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, của toàn dân, của đồng bào tất cả các tộc người dưới sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước.



. 

VẤN ĐỀ DÂN TỘC Ở VIỆT NAM CẦN TẬP TRUNG GIẢI QUYẾT

Vấn đề dân tộc ở Việt Nam, một mặt là những nội dung nảy sinh trong quan hệ tộc người ở nước ta diễn ra trên mọi lĩnh vực đời sống xã hội, tác động đến mỗi tộc người và mối quan hệ dân tộc nước ta đòi hỏi  Đảng, Nhà nước phải quan tâm giải quyết nhằm củng cố, tăng cường mối quan hệ tốt đẹp giữa các dân tộc Việt Nam, quan tâm phát triển các dân tộc thiểu số, vùng dân tộc thiểu số. Mặt khác, vấn đề dân tộc ở Việt Nam hiện nay còn là việc củng cố, xây dựng mối quan hệ giữa quốc gia - dân tộc Việt Nam với các quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới nhằm phát huy sức mạnh dân tộc với sức mạnh quốc tế để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Vấn đề dân tộc ở Việt Nam biểu hiện trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, phản ánh tính đa dạng, phong phú, nhiều chiều cạnh của các quan hệ tộc người ở Việt Nam, tác động, ảnh hưởng đến mỗi tộc người và các quan hệ dân tộc nước ta, đòi hỏi Đảng, Nhà nước có chủ trương, chính sách dân tộc cụ thể, phù hợp với đặc điểm các dân tộc nước ta, phù hợp với từng dân tộc, từng vùng, miền nhằm phát triển các dân tộc, nhất là các dân tộc thiểu số, tăng cường đoàn kết dân tộc. Thực chất giải quyết vấn đề dân tộc ở Việt Nam hiện nay là bảo đảm các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp mhau cùng phát triển, góp phần thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, giải quyết những vấn đề nảy sinh trong các mối quan hệ dân tộc, xây dựng mối quan hệ dân tộc tốt đẹp ở nước ta.

Hiện nay, ở Việt Nam cần tập trung vào giải quyết các nội dung của vấn đề dân tộc sau: Phát triển kinh tế, xóa đói, giảm nghèo, nâng cao mức sống đồng bào các dân tộc; nâng cao trình độ dân trí, chăm sóc sức khoẻ, nâng cao mức hưởng thụ văn hóa của đồng bào; xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số tại chỗ có phẩm chất và năng lực đáp ứng được yêu cầu của địa phương; củng cố hệ thống chính trị cơ sở vùng dân tộc thiểu số vững mạnh; tăng cường an ninh, quốc phòng ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi, kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế - xã hội với đảm bảo an ninh, quốc phòng; phòng, chống làm thất bại việc lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo chống phá cách mạng Việt Nam. 

Thứ Hai, 25 tháng 12, 2023

TÀI NGUYÊN ĐẶC SẮC VIỆT NAM

Những gì đang diễn ra tại Ucraina cho chúng ta thấy rõ nhiều điều, trong đó, có những điều phải khẳng định, lý do mà Việt Nam sáng suốt lựa chọn:

1. Không tham gia các liên minh quân sự.

2. Không là đồng minh quân sự của bất kỳ nước nào

3. Không cho bất cứ nước nào đặt căn cứ quân sự ở Việt Nam

4. Không dựa vào nước này để chống nước kia.

Việt Nam kiên định mục tiêu, nguyên tắc chiến lược, vận dụng sách lược mềm dẻo, linh hoạt; chủ động ứng phó với âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, sự biến động phức tạp của tình hình.

Những ai tôn trọng độc lập, chủ quyền, thiết lập và mở rộng quan hệ hữu nghị, hợp tác bình đẳng, cùng có lợi với Việt Nam đều là đối tác; bất kỳ thế lực nào có âm mưu và hành động chống phá mục tiêu của nước Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa, xâm phạm độc lập, chủ quyền, lợi ích quốc gia - dân tộc Việt Nam đều là đối tượng của Việt Nam.

Lịch sử thế giới hiện đại có lẽ sẽ cần viết lại, việc giải thích từ ngữ có lẽ cũng rất khó khăn - Người dân có lẽ không quan tâm khái niệm đầu hàng, cái họ cần cũng giống chúng ta, đó là sự bình yên! Trong cuộc chiến cho dù kết quả thế nào thì nhân dân cũng là người chịu thiệt thòi.

Việt Nam có tài nguyên mà nhiều nước ước áo đó là ổn định, không đơn giản mặc dù nằm ở vị trí địa chiến lược quan trọng và luôn bị các nước, các phe lôi kéo. 

Thứ Sáu, 15 tháng 12, 2023

SỰ THẬT VỀ CÁI GỌI LÀ “TUYÊN CÁO VỀ TÌNH HÌNH VIỆT NAM NĂM 2023”

 

Mới đây, trên trang mạng “Baoquocdan.org”, những kẻ tự xưng Hội đồng liên kết quốc nội hải ngoại Việt Nam đã đăng tải bài: “Tuyên cáo về tình hình Việt Nam năm 2023” với nhiều luận điệu sai trái, xuyên tạc tình hình đất nước, cho rằng Việt Nam hiện nay “văn hóa suy đồi, kinh tế lụn bại, xã hội đầy bất công”. Tuy nhiên, thực tiễn đất nước Việt Nam là minh chứng sinh động bác bỏ những luận điệu sai trái, xuyên tạc mà chúng đã đăng tải.

Thực tế cho thấy, từ khi thành lập đến nay, với đường lối đúng đắn và bản lĩnh của một Đảng cách mạng chân chính, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo nhân dân ta thực hiện thành công cách mạng giải phóng dân tộc, tiến hành công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa ngày càng đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Từ một nước thuộc địa, nửa phong kiến Việt Nam đã giành được độc lập, thống nhất Tổ quốc; có nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, tự quyết định con đường phát triển theo mục tiêu: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân. Mọi quyền lực Nhà nước đều thuộc về nhân dân, thực hành quản lý, điều hành xã hội bằng pháp luật. Khối đại đoàn kết toàn dân tộc không ngừng được củng cố, nhân dân Việt Nam luôn tin tưởng, đoàn kết, bảo vệ chế độ, thực hiện hiệu quả đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật Nhà nước.

Với “xuất phát điểm” là nền kinh tế nghèo nàn, lạc hậu, lại chịu hậu quả nặng nề của chiến tranh, Việt Nam đã vươn lên trở thành nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đang phát triển có thu nhập trung bình. Năm 2022, trong bối cảnh kinh tế thế giới có nhiều biến động nhanh, khó lường làm gia tăng rủi ro đến thị trường tài chính, tiền tệ, an ninh năng lượng, an ninh lương thực toàn cầu, nhưng Việt Nam vẫn đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô, tốc độ tăng trưởng GDP đạt 8,02% so với năm trước, quy mô nền kinh tế ước đạt đạt 409 tỷ USD, đứng thứ 37 thế giới, thứ 5 Đông Nam Á. Thu nhập bình quân đầu người năm 2022 đạt 95,6 triệu đồng/người, tương đương 4.110 USD. Việt Nam được các tổ chức quốc tế lớn, uy tín trên thế giới đánh giá có nền kinh tế năng động, sáng tạo và hội nhập quốc tế sâu rộng, hiệu quả.

 Nền văn hoá Việt Nam tiến tiến, đậm đà bản sắc dân tộc không ngừng được củng cố, phát triển, thực sự là nguồn lực nội sinh để phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ Tổ quốc; hình thành nhân tố mới, giá trị mới của con người Việt Nam, góp phần nâng cao dân trí, dân chủ hóa đời sống xã hội. Đến năm 2022, Chỉ số phát triển con người (HDI) Việt Nam đạt 0,701, thuộc nhóm cao trên thế giới. Nhiều phong trào, cuộc vận động văn hóa được tổ chức có sức lan toả sâu rộng trong đời sống, tạo môi trường văn hóa, bảo vệ, phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Việt Nam với nhiều di sản được UNESCO công nhận và những con người cần cù, thông minh, sáng tạo, hiện đại, thân thiện là điểm đến của bạn bè quốc tế. Văn hoá thực sự “soi đường cho quốc dân” trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Chất lượng cuộc sống của người dân không ngừng được nâng cao. Việt Nam đã tuyên bố hoàn thành Mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ (MDGs) về xóa bỏ tình trạng nghèo đói cùng cực và thiếu đói, về đích trước 10 năm so với thời hạn. Mạng lưới y tế hoàn chỉnh, tổ chức tới tận thôn, bản và đang là mô hình mà nhiều nước trên thế giới quan tâm, học hỏi kinh nghiệm. Việt Nam cũng đã chủ động sản xuất nhiều loại vắc xin phòng bệnh; bào chế và sản xuất được các thuốc thông thường bằng nguyên liệu sẵn có; kiểm soát và ngăn ngừa được nhiều dịch bệnh nguy hiểm. Đảm bảo an sinh xã hội, bảo vệ quyền con người, quyền công dân; thúc đẩy kinh tế phát triển,… được các tổ chức quốc tế, quốc gia trên thế giới đánh giá cao.

Với những thành tựu đạt được nêu trên, Việt Nam trở thành biểu tượng của nhân loại về thực hiện khát vọng độc lập, tự do, thống nhất, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội, trong một thế giới còn nhiều biến động. Đó là những minh chứng hùng hồn bác bỏ mọi luận điệu sai trái, xuyên tạc của Hội đồng liên kết quốc nội hải ngoại Việt Nam .

Thứ Năm, 7 tháng 12, 2023

CÔNG TÁC DÂN TỘC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY CÓ NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN NÀO?

Thứ nhất, đối tượng công tác dân tộc chủ yếu là các dân tộc thiểu số, đồng bào ở vùng dân tộc thiểu số. Các dân tộc thiểu số ở Việt Nam chiếm tỷ lệ 14,7% dân số cả nước, sống rải rác ở 51 tỉnh, thành và tập trung chủ yếu ở 4 khu vực Tây Bắc, Tây Nguyên, Bắc Trung Bộ và Duyên Hải Miền Trung; Tây Nam Bộ. Mỗi dân tộc có nền văn hóa, ngôn ngữ, tôn giáo truyền thống riêng và phát triển không đều nhau; cá biệt, có những dân tộc thiểu số rất ít người, không thể tự phát triển, đòi hỏi phải có chính sách đặc thù để bảo tồn và phát triển. Vấn đề dân tộc và tôn giáo luôn song hành và nhạy cảm trong khi trình độ dân trí, văn hóa của đồng bào còn thấp, dễ bị các thế lực thù địch lợi dụng làm ảnh hưởng đến sự ổn định về an ninh, chính trị, trật tự, an toàn xã hội.  

Thứ hai, công tác dân tộc chủ yếu được thực hiện trên địa bàn vùng dân tộc thiểu số, có vị trí chiến lược quan trọng của Tổ quốc. Đây là vùng rộng lớn, địa hình chia cắt phức tạp, thường xuyên chịu ảnh hưởng của thiên tai, dịch bệnh, cơ sở hạ tầng thấp kém, tỉ lệ đói nghèo cao nhất cả nước; là địa bàn xung yếu, nhạy cảm về an ninh, chính trị. Do vậy, tiến hành công tác dân tộc gặp phải những khó khăn trong nắm bắt tình hình, tìm hiểu tâm tư nguyện vọng của đồng bào để đề xuất xây dựng chủ trương, chính sách, trong tổ chức triển khai thực hiện, công tác thanh tra, kiểm tra việc thực hiện các chương trình, dự án và chính sách đó.

Thứ ba, công tác dân tộc mang tính đa lĩnh vực, có sự tham gia của nhiều ngành, nhiều cấp trong hệ thống chính trị. Quá trình thực hiện công tác dân tộc ở Việt Nam luôn có sự tham gia, phối hợp của nhiều chủ thể, cùng hướng tới thực hiện thắng lợi nội dung, mục tiêu công tác dân tộc.

Thứ tư, đội ngũ cán bộ và hệ thống tổ chức bộ máy cơ quan công tác dân tộc từ Trung ương đến địa phương hiện nay chưa hoàn chỉnh, thiếu đồng bộ và ổn định. Do việc đào tạo, bồi dưỡng chưa được quan tâm đúng mức, nên đội ngũ cán bộ làm công tác dân tộc chưa đáp ứng theo quy chuẩn nghề nghiệp. Để đáp ứng yêu cầu tăng cường đội ngũ cán bộ làm công tác dân tộc, và cán bộ là người dân tộc thiểu số với một tỷ lệ thích hợp từ Trung ương đến địa phương, đòi hỏi phải xây dựng chính sách đào tạo, chính sách đãi ngộ đặc thù.    

NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA CÔNG TÁC DÂN TỘC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY?

Nội dung cơ bản của công tác dân tộc ở Việt Nam hiện nay là:

Một là, tuyên truyền, vận động đồng bào dân tộc thiểu số thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước; chỉ thị, nghị quyết của các cấp ủy đảng, quy định của địa phương.

 Hai là, phát triển giáo dục và đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực dân tộc thiểu số; nâng cao chất lượng hệ thống chính trị cơ sở vùng dân tộc thiểu số và xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số; phát huy vai trò những người tiêu biểu có uy tín trong cộng đồng các dân tộc.

Ba là, phát triển sản xuất, xóa đói, giảm nghèo, phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số. Tập trung đầu tư phát triển địa bàn đặc biệt khó khăn, từng bước thu hẹp khoảng cách về trình độ phát triển và mức sống của đồng bào vùng dân tộc thiểu số và miền núi với vùng đồng bằng, đô thị.

Bốn là, tuyên truyền về truyền thống đoàn kết các dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; tổ chức các phong trào tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau giữa các dân tộc trong cộng đồng. 

 Năm là, bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào các dân tộc thiểu số, nhất là chữ viết của các dân tộc có chữ viết và các phong tục, tập quán, lễ hội truyền thống tốt đẹp của đồng bào các dân tộc. Đồng thời, vận động, hướng dẫn đồng bào khắc phục, tiến tới xóa bỏ các tập tục lạc hậu trong sinh hoạt, trong tiêu dùng và các hủ tục làm cản trở sự phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số và miền núi.

Sáu là, giữ vững an ninh trật tự, củng cố quốc phòng ở vùng dân tộc và miền núi; đấu tranh, ngăn chặn hoạt động của các thể lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo để phá hoại khối đoàn kết các dân tộc, làm mất ổn định chính trị xã hội. 

CÔNG TÁC DÂN TỘC Ở VIỆT NAM ĐƯỢC HIỂU NHƯ THẾ NÀO?

Công tác dân tộc ở nước ta là tổng thể hoạt động theo chức năng và nhiệm vụ của các chủ thể, nhằm tác động và tạo điều kiện để đồng bào các dân tộc thiểu số và vùng dân tộc thiểu số  bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển”, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Đảng ta xác định: “Công tác dân tộc và thực hiện chính sách dân tộc là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của các cấp, các ngành, của toàn bộ hệ thống chính trị.”[1]

Mục đích công tác dân tộctác động và tạo điều kiện để đồng bào các dân tộc thiểu số và vùng dân tộc thiểu số cùng phát triển; đồng thời, phát huy vai trò của đồng bào các dân tộc trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa và tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc để thực hiện thắng lợi các mục tiêu cách mạng của đất nước.  

Chủ thể lãnh đạo công tác dân tộc. Trên phạm vi cả nước, Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương lãnh đạo toàn diện công tác dân tộc. Ở các địa phương, các cơ quan, đơn vị là các cấp ủy, tổ chức đảng.  

Chủ thể quản lý nhà nước về công tác dân tộc. Nhà nước thống nhất quản lý về công tác dân tộc; Chính phủ; các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ thực hiện trách nhiệm quản lý nhà nước về công tác dân tộc theo quy định của pháp luật. Ủy ban Dân tộc là cơ quan thực hiện chức năng tham mưu, quản lý nhà nước về công tác dân tộc trong phạm vi cả nước.   

Chủ thể thực hiện công tác dân tộc: Theo Nghị định số 05/2011/NĐ-CP, ủy ban nhân dân các cấp vừa là cơ quan quản lý nhà nước, vừa có trách nhiệm tổ chức thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về dân tộc và công tác dân tộc; cơ quan dân tộc ở các địa phương vừa có nhiệm vụ tham mưu cho ủy ban nhân dân, vừa chủ trì phối hợp với các ban ngành đoàn thể ở địa phương tiến hành công tác dân tộc.

Các chủ thể tham gia thực hiện công tác dân tộc: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp từ Trung ương đến địa phương, Quân đội nhân dân, Công an nhân dân...tổ chức thực hiện và tham gia thực hiện công tác dân tộc phù hợp với chức năng, nhiệm vụ và điều kiện, hoàn cảnh cụ thể ở từng địa phương.



[1] Ban Chấp hàng Trung ương, Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 12/3/2003, Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá IX) về công tác dân tộc 

Thứ Ba, 5 tháng 12, 2023

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC Ở VIỆT NAM LÀ GÌ?

Thực hiện chính sách dân tộc ở Việt Nam là tổng thể hoạt động của Đảng, Nhà nước, cả hệ thống chính trị và nhân dân các dân tộc để hiện thực hóa chính sách dân tộc vào cuộc sống, vừa nhằm đáp ứng nhu cầu, lợi ích chính đáng của đồng bào các dân tộc, giải quyết các vấn đề dân tộc; vừa phát huy vai trò của đồng bào các dân tộc, góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Thực chất thực hiện chính sách dân tộc sự phân công và phối hợp của các cơ quan quản lý nhà nước, đơn vị có liên quan trong hệ thống chính trị và của đối tượng thụ hưởng chính sách, được tiến hành trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong các quan hệ dân tộc, nhằm làm cho mục tiêu, nội dung chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước trở thành hiện thực trong đời sống.

Thực hiện chính sách dân tộc là một giai đoạn của chu trình chính sách dân tộc, từ khâu hướng dẫn, thông tin, phân công trách nhiệm, chuẩn bị các điều kiện nguồn lực tài chính, nhân lực cần thiết bảo đảm thực hiện đúng mục tiêu, tiến độ yêu cầu quy định trong chính sách dân tộc.

Chủ thể thực hiện chính sách dân tộc ở nước ta là toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, cả hệ thống chính trị các cấp, đồng bào các dân tộc. Chính quyền các cấp, các cơ quan chức năng là chủ thể trực tiếp. Đồng bào các dân tộc vừa là đối tượng thụ hưởng vừa là chủ thể thực hiện chính sách dân tộc.

Nội dung, nhiệm vụ  chủ yếu của thực hiện chính sách dân tộc là: Giáo dục, quán triệt nâng cao nhận thức của hệ thống chính trị và các lực lượng về mục tiêu, yêu cầu, nội dung chính sách dân tộc; tổ chức hoạt động thực tiễn trên các lĩnh vực, dưới dạng các chương trình phát triển kinh tế - xã hội, các dự án hỗ trợ các dân tộc thiểu số, vùng dân tộc thiểu số và miền núi để giải quyết các vấn đề trong thực tiễn ở cơ sở; giám sát, kiểm tra, thanh tra việc thực hiện chính sách; đánh giá, sơ kết, tổng kết việc thực hiện chính sách.  

ĐẶC ĐIỂM CHÍNH SÁCH DÂN TỘC Ở VIỆT NAM?

Chính sách dân tộc ở Việt Nam hiện nay mang những đặc điểm cơ bản sau:

Chính sách dân tộc  nước ta mang tính tổng hợp, liên ngành, có nội dung toàn diện và cụ thể trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Chính sách dân tộc ở nước ta phản ánh các quan hệ dân tộc đa dạng, nhằm để giải quyết vấn đề dân tộc trên tất cả các lĩnh vực, có sự tham gia của toàn Đảng, toàn dân và hệ thống chính trị các cấp, do đó nó có tính tổng hợp, liên ngành, vừa toàn diện vừa cụ thể từ quá trình hoạch định đến tổ chức thực thi trên thực tế.

Chính sách dân tộc ở  nước ta tác động và ảnh hưởng lớn đến mọi mặt đời sống cộng đồng các dân tộc Việt Nam,nhất là đồng bào dân tộc thiểu số, vùng dân tộc thiểu số. Chính sách dân tộc tác động trực tiếp, toàn diện đến cộng đồng các dân tộc Việt Nam bao gồm cả các tộc người thiểu số và tộc người đa số, cả tộc người trong nước và người Việt Nam ở nước ngoài, cả những người mới nhập quốc tịch Việt Nam hoặc mang hai quốc tịch, cả cộng đồng dân tộc-tộc người và cộng đồng dân tộc-quốc gia gồm các giai tầng, tôn giáo, giới, thế hệ khác nhau.

 Chính sách  dân tộc đúng đắn sẽ tạo động lực cách mạng to lớn, khơi dậy và phát huy được sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, giải quyết vấn đề lực lượng cách mạng; góp phần giữ vững ổn định chính trị - xã hội; tạo điều kiện để phát triển kinh tế - xã hội ở các dân tộc, vùng dân tộc, vùng miền núi và cả nước; đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc để chống phá nước ta. Ngược lại, nếu chính sách dân tộc không đúng đắn, không phù hợp gây ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống mọi mặt của các tộc người, quan hệ tộc người, đến sự phát triển đất nước, thậm chí gây ra khủng hoảng chính trị - xã hội, đẩy đất nước vào xung đột, phá vỡ sự thống nhất quốc gia.

Chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước ta quy định, chi phối điều chỉnh hành vi, hoạt động của toàn bộ hệ thống chính trị trong giải quyết vấn đề dân tộc ở nước ta. Thực hiện chính sách dân tộc ở nước ta là là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, của toàn dân, của đồng bào tất cả các tộc người dưới sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước. Chính sách dân tộc là cơ sở để các cấp, các ngành cần quán triệt sâu sắc, vận dụng linh hoạt và sáng tạo trong thực hiện các nhiệm vụ phù hợp với đặc điểm của tộc người, vùng miền.

Chính sách dân tộc gắn với chính sách tôn giáo, chính sách miền núi. Chính sách dân tộc hướng vào giải quyết vấn đề dân tộc, nhưng có nội dung toàn diện, đề cập đến mọi lĩnh vực của đời sống dân tộc gắn với chính sách tôn giáo và thực tiễn của mỗi địa phương, mỗi dân tộc. Chính sách dân tộc không chỉ là chính sách dành riêng cho đồng bào mỗi dân tộc, mà là cả với vùng có nhiều dân tộc sinh sống, trong đó có dân tộc đa số. Chính sách dân tộc được đặt trong mối quan hệ với chiến lược phát triển miền núi của cả quốc gia, đảm bảo tính thống nhất của cả nước với sự phát triển đa dạnh của địa phương, quan hệ giữa miền núi và miền xuôi, giữa thành thị và nông thôn. 

Thứ Sáu, 1 tháng 12, 2023

CHÍNH SÁCH DÂN TỘC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY LÀ GÌ?

Chính sách dân tộc ở Việt Namtoàn bộ những chủ trương, biện pháp của Đảng, Nhà nước tác động vào tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội của các dân tộc thiểu số, vùng dân tộc thiểu số, đối với từng dân tộc riêng biệt, nhằm thay đổi tình trạng lạc hậu, biệt lập, phân biệt, bất bình đẳng, hướng tới sự bình đẳng, tôn trọng, đoàn kết, giúp nhau cùng phát triển giữa các dân tộc; phát huy vai trò của đồng bào các dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước được thể hiện trong một chỉnh thể thống nhất giữa đường lối, quan điểm của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước đối với dân tộc, giải quyết vấn đề dân tộc. Trong đó, đường lối, quan điểm của Đảng là cơ sở, nền tảng, quy định mục tiêu, phư­ơng hư­ớng, nội dung, hình thức của các chính sách, pháp luật về dân tộc của Nhà nư­ớc; đồng thời, chính sách, pháp luật về dân tộc của Nhà nư­ớc là công cụ, phương tiện quan trọng nhất để thể chế hoá, hiện thực hoá các quan điểm giải quyết vấn đề dân tộc của Đảng trong thực tiễn.

Chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước là một bộ phận của chính sách  chung, qui định việc xử lý vấn đề dân tộc và cách thức thực hiện công tác dân tộc. Chính sách dân tộc cũng là chính sách phát triển nhằm phát triển về kinh tế - xã hội cho đồng bào dân tộc và vùng dân tộc, hướng tới mục tiêu các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển.

Đối tượng thụ hưởng chính sách dân tộc không chỉ là đồng bào các dân tộc thiểu số, mà còn là vùng dân tộc thiểu số và miền núi, bao gồm cả dân tộc đa số sinh sống trong vùng. Chính sách dân tộc được đặt trong mối quan hệ với chiến lược phân bổ các nguồn lực của cả quốc gia; thể hiện rất đậm nét mối quan hệ giữa những nhiệm vụ chung của quốc gia với sự phát triển đặc thù của tộc người, giữa những đòi hỏi đảm bảo tính thống nhất của cả nước với sự phát triển đa dạng của địa phương, quan hệ giữa miền núi và miền xuôi, giữa thành thị và nông thôn.

Nguyên tắc, nội dung cơ bản chỉ đạo việc xây dựng, thực hiện chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước ta hiện nay là: “Thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau giữa các dân tộc, tạo mọi điều kiện để các dân tộc phát triển, gắn bó mật thiết với sự phát triển chung của cộng đồng dân tộc Việt Nam. Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa, ngôn ngữ, truyền thống tốt đẹp của các dân tộc. Chống tư tưởng kỳ thị và chia rẽ dân tộc. Các chính sách kinh tế - xã hội phải phù hợp với đặc thù của các vùng và các dận tộc, nhất là các dân tộc thiểu số”[1]



[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.2011, tr .81. 

VẤN ĐỀ DÂN TỘC Ở VIỆT NAM VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ DÂN TỘC HIỆN NAY CẦN TẬP TRUNG GIẢI QUYẾT LÀ GÌ?

Vấn đề dân tộc ở Việt Nam là những nội dung nảy sinh trong các quan hệ tộc người ở nước ta và quan hệ giữa dân tộc Việt Nam với các quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới, diễn ra trên mọi lĩnh vực đời sống xã hội, tác động, ảnh hưởng tiêu cực đến mỗi tộc người và mối quan hệ tộc người, quan hệ quốc gia dân tộc, đòi hỏi  Đảng, Nhà nước phải quan tâm giải quyết.

Vấn đề dân tộc ở Việt Nam biểu hiện trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, phản ánh tính đa dạng, phong phú, nhiều chiều cạnh của các quan hệ tộc người ở Việt Nam, tác động, ảnh hưởng xấu đến mỗi tộc người và các quan hệ dân tộc nước ta, đòi hỏi Đảng, Nhà nước có chủ trương, chính sách dân tộc cụ thể để giải quyết.

Thực chất giải quyết vấn đề dân tộc ở Việt Nam hiện nay là xác định chính sách dân tộc nhằm phát huy sức mạnh toàn dân tộc, giải quyết những vấn đề nảy sinh trong các mối quan hệ dân tộc, xây dựng quan hệ tộc người tốt đẹp: Bình đẳng, đoàn kết, giúp mhau cùng phát triển, góp phần thực hiện mục tiêu  “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Hiện nay, ở Việt Nam cần tập trung vào giải quyết các vấn đề dân tộc sau: Phát triển kinh tế, xóa đói, giảm nghèo, nâng cao mức sống đồng bào các dân tộc; nâng cao trình độ dân trí, chăm sóc sức khoẻ, nâng cao mức hưởng thụ văn hóa của đồng bào; xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số tại chỗ có phẩm chất và năng lực đáp ứng được yêu cầu của địa phương; củng cố hệ thống chính trị cơ sở trong sạch, vững mạnh; giữ vững an ninh, quốc phòng ở vùng dân tộc và miền núi; kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với đảm bảo an ninh, quốc phòng ở các địa bàn xung yếu vùng sâu, biên giới, ngăn chặn việc lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo để phá hoại khối đoàn kết giữa các dân tộc, làm mất ổn định xã hội. 

QUAN HỆ DÂN TỘC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY ĐƯỢC HIỂU NHƯ THẾ NÀO?

Quan hệ dân tộc sự liên hệ, tác động, ràng buộc lẫn nhau giữa các tộc người trong quốc gia đa tộc người và giữa các quốc gia dân tộc với nhau trong quan hệ quốc tế diễn ra trên mọi lĩnh vực đời sống xã hội. Quan hệ dân tộc được đề cập trên hai phạm vi, cấp độ: quan hệ giữa các tộc người trong một quốc gia và quan hệ giữa các quốc gia dân tộc.

Việt Nam, quan hệ dân tộc chủ yếu được hiểu ở cấp độ quan hệ tộc người. Quan hệ dân tộc ở Việt Nam là sự liên hệ, tác động, ràng buộc lẫn nhau trong tộc người, giữa các tộc người trong quốc gia dân tộc Việt Nam và với người Việt Nam ở nước ngoài - quan hệ tộc người xuyên biên giới.

Mục đích quan hệ dân tộc ở Việt Nam hiện nay là nhằm trao đổi, phát triển kinh tế; duy trì sự gắn kết họ hàng, đồng tộc; chia sẻ các giá trị lịch sử, văn hóa tộc người và các sinh hoạt tôn giáo, tín ngưỡng... để phát triển toàn diện tộc người, quan hệ tộc người trong quốc gia dân tộc Việt Nam.

Quan hệ dân tộc ở Việt Nam được xem xét dưới các góc độ cơ bản: xét theo không gian, mối quan hệ dân tộc diễn ra cả trong vùng nội biên và xuyên biên giới; xét theo cấu trúc dân tộc - quốc gia, bao gồm: quan hệ giữa các tộc người với quốc gia dân tộc; quan hệ giữa tộc người đa số (người Kinh) với các tộc người thiểu số; quan hệ giữa các tộc người thiểu số và trong nội bộ từng tộc người thiểu số và quan hệ tộc người xuyên biên giới. Các mối quan hệ này tuy có vị trí và mức độ ảnh hưởng khác nhau, nhưng đều có mối liên quan chặt chẽ, trong đó, mối quan hệ giữa người Kinh với các tộc người thiểu số và mối quan hệ của từng tộc người với quốc gia dân tộc là những nội dung quan trọng. Với xu thế cùng cộng cư, hôn nhân hỗn hợp, quan hệ làm ăn và nhiều yếu tố khác đang dần thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các dân tộc.

Đặc điểm của quan hệ dân tộc là quan hệ diễn ra thường xuyên, lâu dài, trên mọi lĩnh vực đời sống xã hội của tất cả các tộc người và giữa các tộc người. Cho nên, quan hệ dân tộc rất đa dạng, sinh động, đa chiều, đa hình thức, cấp độ trong các không gian khác nhau, khá phức tạp và tồn tại lâu dài.