Hiển thị các bài đăng có nhãn nguyên tắc. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn nguyên tắc. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 26 tháng 4, 2024

CÁC NGUYÊN TẮC QUÂN ĐỘI THAM GIA THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC TA HIỆN NAY?

Thứ nhất, quán triệt, thực hiện đúng quan điểm của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước về dân tộc, chính sách dân tộc; đồng thời, chủ động, sáng tạo trong tham gia thực hiện chính sách dân tộc. Quá trình tham gia thực hiện chính sách dân tộc của các đơn vị quân đội mang những nét riêng, yêu cầu riêng, đặc thù của một tổ chức chính trị - xã hội đặc thù, đòi hỏi các đơn vị quân đội phải quán triệt và thực hiện đúng đắn, sáng tạo các quan điểm của Đảng về chính sách dân tộc.

Thứ hai, quân đội tham gia thực hiện chính sách dân tộc phải đặt dưới sự lãnh đạo của các cấp ủy đảng, sự chỉ đạo của cơ quan chính trị, của chính ủy, chính trị viên và người chỉ huy các cấp trong Quân đội. Thực hiện chính sách dân tộc là một nội dung cơ bản trong công tác đảng, công tác chính trị của quân đội, vừa là trách nhiệm chính trị, vừa thể hiện bản chất, truyền thống tốt đẹp của “Bộ đội Cụ Hồ”. Do vậy, quá trình tham gia thực hiện chính sách dân tộc các đơn vị quân đội cần quán triệt và thực hiện nghiêm túc các nghị quyết, chỉ thị, quy chế của Đảng và Quân uỷ Trung ương, Bộ Quốc phòng, bảo đảm cho hoạt động này đúng định hướng, bám sát yêu cầu nhiệm vụ, sát với đối tượng, địa bàn cụ thể.

Thứ ba, phối hợp chặt chẽ giữa cấp ủy, chỉ huy các cơ quan, đơn vị quân đội với cấp ủy, chính quyền và các đoàn thể chính trị - xã hội ở địa phương. Các đơn vị bộ đội địa phương cần phối, kết hợp chặt chẽ với các tổ chức chính trị - xã hội, các lực lượng khác trên địa bàn để nắm chắc tình hình địa bàn, tuyên truyền vận động đồng bào các dân tộc thực hiện tốt chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, động viên đồng bào phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và tham gia vào các cuộc vận động lớn của Đảng, Nhà nước, địa phương.

Thứ tư, nắm vững tình hình kinh tế, chính trị - xã hội ở địa phương và đặc điểm văn hóa, truyền thống của các dân tộc. Do đó, các đơn vị quân đội phải bám sát tình hình phát triển kinh tế - xã hội, đời sống văn hoá, tinh thần của đồng bào các dân tộc trên địa bàn đóng quân cũng như những đặc điểm riêng biệt về văn hóa vùng miền, về phong tục, tập quán, về tín ngưỡng, tôn giáo của đồng bào.

Thứ năm, tham gia thực hiện chính sách dân tộc phải đúng với chức năng, nhiệm vụ và phát huy được lợi thế của từng đơn vị. Đây là nguyên tắc đảm bảo khắc phục, phòng ngừa sự chồng lấn cũng như tạo mối liên hệ hiệp đồng, tương trợ lẫn nhau trong quá trình công tác của các đơn vị.   

Thứ Ba, 19 tháng 12, 2023

NGUYÊN TẮC CƠ BẢN CỦA CÔNG TÁC DÂN TỘC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY?

Hiện nay, công tác dân tộc phải tuân thủ các nguyên tắc cơ bản sau:

Một là, công tác dân tộc phải tuân theo nguyên tắc “Bảo đảm các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển”[1]. Bình đẳng giữa các dân tộc là quyền ngang nhau của các dân tộc, không phân biệt dân tộc đó là đa số hay thiểu số, trình độ văn hóa, dân trí cao hay thấp, là bình đẳng trên mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và được bảo đảm bằng pháp luật. Bình đẳng không có nghĩa là cào bằng, dàn đều, mà thể hiện ở khâu phân phối tư liệu sản xuất và phân phối kết quả sản xuất, ở việc tạo điều kiện cho mọi người, mọi cộng đồng, dân tộc có cơ hội phát triển và sử dụng tốt năng lực, tiềm năng, thế mạnh của mình. Bình đẳng là cơ sở, tiền đề để các dân tộc trong cộng đồng 54 dân tộc Việt Nam thực hiện đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển; đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển là động lực thúc đẩy quá trình hiện thực hóa sự bình đẳng giữa các dân tộc ở nước ta.

Hai là, đảm bảo và thực hiện chính sách phát triển toàn diện, từng bước nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu số. “Các chính sách phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh vùng dân tộc miền núi phải toàn diện, hướng đến mục tiêu phát triển bền vững và phát huy lợi thế, tiềm năng của vùng và tinh thần tự lực của đồng bào dân tộc thiểu số.”[2] Theo đó, phải phát triển toàn diện chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội và an ninh - quốc phòng trên địa bàn vùng dân tộc và miền núi; gắn tăng trưởng kinh tế với giải quyết các vấn đề xã hội, thực hiện tốt chính sách dân tộc; quan tâm phát triển, bồi dưỡng nguồn nhân lực; chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số; giữ gìn và phát huy những giá trị, bản sắc văn hoá truyền thống các dân tộc thiểu số trong sự nghiệp phát triển chung của cộng đồng dân tộc Việt Nam thống nhất.

Ba là, đảm bảo việc giữ gìn tiếng nói, chữ viết, bản sắc dân tộc, phát huy những phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mỗi dân tộc. Quá trình thực hiện công tác dân tộc đòi hỏi các chủ thể phải giữ gìn và phát huy những giá trị này, coi đây vừa là mục tiêu vừa là động lực phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng, bảo đảm toàn vẹn chủ quyền lãnh thổ quốc gia. Bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số phù hợp với tình hình thực tế, đặc biệt chú trọng địa bàn các dân tộc có nguy cơ bị biến dạng văn hóa cao. Phát huy vai trò của các chủ thể văn hóa trong phát triển văn hóa truyền thống của các dân tộc; tôn vinh các giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của các dân tộc thiểu số; khích lệ sáng tạo các giá trị văn hóa mới; góp phần giảm dần sự chênh lệch về mức sống và hưởng thụ văn hóa giữa các vùng, các dân tộc, gắn kết giữa phát triển kinh tế với bảo tồn và phát triển văn hóa các dân tộc.  

Bốn là, các dân tộc có trách nhiệm tôn trọng phong tục, tập quán của nhau, góp phần xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Việt Nam là quốc gia đa dân tộc, có nền văn hóa thống nhất trong đa dạng, mỗi dân tộc có phong tục, tập quán riêng, đòi hỏi các dân tộc trong quá trình thực hiện công tác dân tộc, phải có trách nhiệm tôn trọng phong tục, tập quán của nhau, góp phần xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Thực hiện nguyên tắc này, dưới góc độ quản lý nhà nước, các chủ thể cần có chủ trương, biện pháp hiệu quả trong đẩy mạnh công tác tuyên truyền ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; tăng cường đồng thuận xã hội; củng cố lòng tin của đồng bào với Đảng và Nhà nước, phát huy nội lực, vượt qua khó khăn, thách thức, hoà nhập phát triển cùng với đất nước.[3]



[1] Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb CTQG-ST, Hà Nội, tr.170-171.

[2] Kết luận Số 65-KL/TW ngày 30 tháng 10 năm 2019 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX về công tác dân tộc trong tình hình mới

[3] Xin xem Nghị định Số 05/2011/NĐ-CP của Chính phủ ngày 14/01/2011 về công tác dân tộc 

Thứ Ba, 5 tháng 12, 2023

XÂY DỰNG VÀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC Ở VIỆT NAM THEO NHỮNG NGUYÊN TẮC CƠ BẢN NÀO?

Bình đẳng giữa các dân tộc là nguyên tắc có vị trí hàng đầu trong các nguyên tắc của chính sách dân tộc, bởi bình đẳng là cơ sở cho đoàn kết, tương trợ, giúp nhau cùng phát triển giữa các dân tộc. Bình đẳng giữa các dân tộc là bình đẳng trên mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa; thể hiện trong quyền phát triển, được đảm bảo và tạo mọi điều kiện để các dân tộc thực hiện và có cơ hội phát triển bình đẳng với các dân tộc khác.

Đoàn kết giữa các dân tộc tắc cơ bản, nhất quán, trọng yếu của chính sách dân tộc; là chiến lược của cách mạng Việt Nam. Đoàn kết giữa các dân tộc là đoàn kết trong nội bộ của từng dân tộc; giữa các dân tộc thiểu số với nhau và với dân tộc đa số; giữa các dân tộc ở Việt Nam với các dân tộc trên thế giới; và đấu tranh chống tư tưởng dân tộc lớn, dân tộc hẹp hòi, tự ti mặc cảm dân tộc, cục bộ, bản vị, vị kỷ dân tộc, cực đoan dân tộc.

Tôn trọng, thương yêu nhau giữa các dân tộc là các nguyên tắc quan trọng. Đây là cơ sở để thực hiện bình đẳng dân tộc, chống sự kỳ thị, định kiến dân tộc, cực đoan dân tộc... bảo đảm cho đoàn kết dân tộc thêm chặt chẽ, bền vững.

Giải quyết hài hòa quan hệ giữa các dân tộc là một yêu cầu có tính nguyên tắc, xuất phát từ thực tiễn khoảng cách phát triển giữa các tộc người ngày càng bị đẩy ra xa thêm, bao gồm cả giữa dân tộc thiểu số với dân tộc đa số, giữa các dân tộc thiểu số với nhau, giữa dân tộc trong nước với người Việt Nam ở nước ngoài.

Giúp  nhau cùng phát triển là nguyên tắc phản ánh mối quan hệ tương hỗ giữa các dân tộc để tạo nên đoàn kết và hợp thành sức mạnh tổng hợp, bao gồm cả dân tộc đa số giúp đỡ dân tộc thiểu số, dân tộc thiểu số giúp đỡ dân tộc đa số, các dân tộc thiểu số giúp đỡ nhau... trong sự nghiệp phát triển chung của cộng đồng dân tộc Việt Nam. Sự phát triển của các tộc người đóng góp vào sự phát triển chung của cộng đồng quốc gia - dân tộc, các tộc người có quyển và nghĩa vụ tham gia vào sự phát triển quốc gia-dân tộc; sự phát triển của cộng đồng quổc gia- dân tộc là môi trường, điều kiện, động lực, nguồn lực cho sự phát triển của mọi tộc người; lợi ích của tộc người phải thống nhất và là một bộ phận của lợi ích quốc gia-dân tộc; không thể có sự phát triển của từng tộc người nếu độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và các lợi ích quốc gia - dân tộc bị đe dọa, uy hiếp, xâm hại.

 Cùng phát triển, cùng tiến bộ là một nguyên tắc quan trọng. Trong chủ nghĩa xã hội, các dân tộc có quyền cùng phát triển, cùng tiến bộ, không dân tộc nào bị bỏ lại phía sau, dù có dân tộc phát triển nhanh, có dân tộc phát triển chậm hơn, có dân tộc tiến bộ nhiều hơn, có dân tộc tiến bộ ít hơn; song không chấp nhận tình trạng dân tộc này phát triển lại loại trừ khả năng phát triển của dân tộc khác.

Các dân tộc cùng thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc vì “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, ván minh” là vấn đề có tính nguyên tắc nhằm xác định các dân tộc không chỉ bình đẳng về quyền mà còn bình đẳng về nghĩa vụ đối với sự nghiệp cách mạng chung, với quốc gia-dân tộc.

Các nguyên tắc cơ bản trên có mối quan hệ mật thiết với nhau, được xác định và triển khai đồng bộ trong quá trình xây dựng và triển khai thực hiện chính sách dân tộc ở nước ta. 

Thứ Tư, 18 tháng 10, 2023

NHẬN DIỆN CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI PHỦ NHẬN NGUYÊN TẮC TẬP TRUNG DÂN CHỦ CỦA DẢNG

Trong suốt quá trình cách mạng ở nước ta, các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị luôn dùng mọi thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt hòng phủ nhận nguyên tắc tập trung dân chủ (TTDC) của Đảng, phá vỡ sự đoàn kết, thống nhất, chặt chẽ về mặt tổ chức và hoạt động của Đảng, làm cho Đảng tan rã cả về chính trị, tư tưởng, tổ chức, đạo đức và cán bộ hòng thủ tiêu vai trò lãnh đạo của Đảng.

Để thực hiện âm mưu này, các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị đã lợi dụng tự do ngôn luận, tự do báo chí, núp bóng dân chủ, đội lốt nhân quyền rêu rao cho rằng: tập trung và dân chủ là hai mặt không thể thống nhất, đã tập trung thì không thể có dân chủ, đã dân chủ thì không thể tập trung, tập trung với dân chủ như lửa với nước, nên hoặc chỉ có tập trung, hoặc chỉ có dân chủ.

Thực chất các luận điệu này là muốn tách rời, đối lập tập trung và dân chủ nhằm phủ nhận một mặt nào đó để Đảng dẫn tới dân chủ vô chính phủ, khi đó sự chặt chẽ, thống nhất trong tổ chức và hoạt động của Đảng bị phá vỡ, Đảng mất sức chiến đấu, uy tín của Đảng bị giảm sút, không còn đủ sức lãnh đạo cách mạng, Đảng sẽ mất vai trò lãnh đạo.

Trong bối cảnh đất nước ta thực hiện công cuộc đổi mới, các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị cho rằng: nguyên tắc TTDC chỉ phù hợp khi Đảng còn hoạt động bí mật hoặc trong điều kiện chiến tranh, nay thời bình, nguyên tắc đó là lỗi thời, không còn phù hợp, là nguyên nhân của mọi nguyên nhân dẫn tới trì trệ, tiêu cực. Điều nguy hiểm hơn, họ lợi dụng những khuyết điểm, sai phạm trong đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là những vụ việc tham nhũng, lãng phí, tiêu cực để đổ lỗi cho những khuyết điểm, hạn chế đó đều do nguyên tắc TTDC không còn phù hợp.

Lợi dụng những hạn chế, khuyết điểm, nhất là khi Đảng ta đẩy mạnh thực hiện xây dựng, chỉnh đốn Đảng, với quan điểm “không có vùng cấm”, “không có trường hợp ngoại lệ” đã xử lý nghiêm nhiều cán bộ, đảng viên, tổ chức đảng sai phạm, làm trong sạch Đảng, các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị đã xuyên tạc, bóp méo sự thật, quy chụp, đánh đồng hiện tượng thành bản chất. Họ cho rằng, tham nhũng là bản chất của Đảng, là hệ quả của thực hiện nguyên tắc TTDC, là lợi ích nhóm, lợi ích của cán bộ, đảng viên. Họ cho rằng: chống tham nhũng là để thanh trừng phe cánh chứ không phải là để làm cho Đảng sạch hơn, mạnh hơn.

Sự thật hoàn toàn trái ngược: trong công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nhiệm vụ chống tham nhũng được coi là phương thuốc chữa bệnh đặc hiệu, làm cho Đảng thật sự trong sạch, vững mạnh. Với quan điểm “xử một người, cứu muôn người”, “chặt cành để cứu cây”, Đảng sẽ thật sự trong sạch, thật sự xứng đáng với sứ mệnh lịch sử và trọng trách mà nhân dân giao phó. “Cuộc đại phẫu” này tuy đau đớn, nhưng cần thiết và được nhân dân đồng tình, ủng hộ. Chưa khi nào uy tín của Đảng được nâng cao như ngày nay. Vì vậy, những luận điểm đánh lận bản chất, bôi đen mục tiêu của Đảng cần phải được nhận diện và đấu tranh. 

Thứ Bảy, 11 tháng 2, 2023

KIÊN ĐỊNH CÁC NGUYÊN TẮC XÂY DỰNG ĐẢNG, GÓP PHẦN BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

Thực tế của Đảng Cộng sản Liên Xô đã chứng minh, một trong những nguyên nhân dẫn đến sự sụp đổ Liên Xô là do đã từ bỏ các nguyên tắc xây dựng Đảng dẫn đến sự tan rã của Đảng.

Đối với Đảng Cộng sản Việt Nam, trong các kỳ đại hội Đảng gần đây, vấn đề kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng là quá trình phát triển nhận thức lý luận của Đảng trên cơ sở tổng kết thực tiễn của 36 năm đổi mới theo hướng mở rộng và bao quát hơn những nội dung cần phải kiên định. Kiên định nguyên tắc là cơ sở để chúng ta phân biệt đối tượng, đối tác trong cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Đại hội lần thứ XIII, Đảng ta lần đầu tiên khẳng định: Kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng, bởi những lý do sau đây:

Thứ nhất, về lý luận, nguyên tắc là vấn đề có tính sống còn đối với một tổ chức. Tuân thủ các nguyên tắc thì tổ chức đó vững mạnh, từ bỏ hoặc thực hiện không nghiêm túc các nguyên tắc thì sẽ dẫn đến tổ chức rệu rã và có nguy cơ tan rã.

Trải qua hơn 90 năm xây dựng và trưởng thành, Đảng ta luôn vận dụng và phát triển sáng tạo những nguyên tắc cơ bản của học thuyết Mác-Lênin về xây dựng Đảng. Tổng kết công tác xây dựng Đảng qua các thời kỳ cách mạng khác nhau, tuy cách diễn đạt về các nguyên tắc xây dựng Đảng có khác nhau một vài điểm nhưng nhìn chung, Đảng ta vẫn luôn khẳng định những nguyên tắc trên cơ sở vận dụng và tuân thủ các nguyên lý cơ bản của Chủ nghĩa Mác-Lênin.

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Đảng ta phát triển nguyên tắc về nền tảng tư tưởng: “Đảng lấy Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động”. Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Đảng ta khẳng định: “Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của dân tộc”.

Đây là lần đầu tiên Đảng ta xác định: Đảng Cộng sản Việt Nam không chỉ là đội tiền phong của giai cấp công nhân mà còn là đội tiền phong của nhân dân lao động và của cả dân tộc Việt Nam. Đồng thời, cũng tại đại hội lần này, Đảng ta bổ sung thêm nguyên tắc: “Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”. Tuân thủ nghiêm ngặt những nguyên tắc chủ yếu nói trên trong quá trình xây dựng Đảng là một trong những yếu tố có tính quyết định bảo đảm cho Đảng ta giữ vững và tăng cường bản chất giai cấp công nhân, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam; là cơ sở khoa học để Đảng ta không ngừng chăm lo xây dựng Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, làm cho Đảng luôn xứng đáng vai trò người lãnh đạo cách mạng Việt Nam.

Trên cơ sở những nguyên lý về xây dựng chính đảng kiểu mới của giai cấp công nhân do Lênin nêu ra và thực tiễn hoạt động của Đảng ta, Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam do Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI thông qua (các nhiệm kỳ XII và XIII thống nhất giữ nguyên Điều lệ) quy định về các nguyên tắc tổ chức và hoạt động như sau: “Đảng là một tổ chức chặt chẽ, thống nhất ý chí và hành động, lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản, thực hiện tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, thương yêu đồng chí, kỷ luật nghiêm minh, đồng thời thực hiện các nguyên tắc: Tự phê bình và phê bình, đoàn kết trên cơ sở Cương lĩnh chính trị và Điều lệ Đảng, gắn bó mật thiết với nhân dân, Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”.

Từ đó đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn kiên định thực hiện nghiêm 5 nguyên tắc này và đó cũng là một trong những yếu tố quyết định sự thành công của Đảng ta trong thời gian qua.

Thứ hai, quan điểm chỉ đạo là kiên định nhưng không phải là cứng nhắc, giáo điều và cũng không phải là đổi mới vô nguyên tắc.

Văn kiện Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh: “Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ yêu cầu, nguyện vọng, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; thắt chặt mối quan hệ mật thiết với nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng; lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu”.

Trong quá trình thực hiện các nguyên tắc xây dựng Đảng, cần thấm nhuần quan điểm chỉ đạo: Kiên định và đổi mới, kế thừa và phát triển, thống nhất giữa lý luận và thực tiễn. Kiên trì, kiên định nhưng không trở thành giáo điều, cứng nhắc; đổi mới, kế thừa và phát triển nhưng trên cơ sở giữ vững các nguyên tắc chứ không phải là vô nguyên tắc, dân chủ quá đà, lẫn lộn giữa đối tượng, đối tác.

Thứ ba, về thực tiễn, trong nghiên cứu, học tập, quán triệt thực hiện các nghị quyết của Đảng thì chỉ đạo và tổ chức thực hiện vẫn là khâu yếu, chậm được khắc phục nên khi thực hiện các chỉ thị, nghị quyết của Đảng rất cần phải kiên định tuân thủ các nguyên tắc. Nếu ai không tuân thủ sẽ phải chịu trách nhiệm bằng các hình thức kỷ luật của Đảng.

Đánh giá việc thực hiện các nguyên tắc và đổi mới phương thức lãnh đạo, văn kiện Đại hội XIII chỉ ra những ưu điểm sau: “Công tác xây dựng Đảng về chính trị được đặc biệt chú trọng. Kiên định nền tảng tư tưởng của Đảng, đường lối đổi mới và các nguyên tắc xây dựng Đảng”. “Phương thức lãnh đạo của Đảng tiếp tục được đổi mới. Ban hành và thực hiện nhiều quy định bảo đảm giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng, đề cao nguyên tắc pháp quyền, phát huy dân chủ, tính chủ động, sáng tạo và trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị-xã hội”.

Trong Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về tổng kết công tác xây dựng Đảng và thi hành Điều lệ Đảng nêu rõ ưu điểm: “Đảng ta luôn vững vàng, kiên định Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và không ngừng vận dụng, phát triển sáng tạo phù hợp với thực tiễn Việt Nam; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới và những nguyên tắc về xây dựng Đảng”.

Về hạn chế, khuyết điểm trong việc thực hiện nghị quyết của Đảng nói chung, các nguyên tắc xây dựng Đảng nói riêng vẫn còn những hạn chế, khuyết điểm như Văn kiện Đại hội XIII chỉ ra: “Chỉ đạo và tổ chức thực hiện vẫn là khâu yếu, chậm được khắc phục”.

Đánh giá việc thực hiện các nguyên tắc xây dựng Đảng, Văn kiện Đại hội XIII nêu: “Việc thực hiện các nguyên tắc tổ chức của Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ ở một số nơi chưa nghiêm, thậm chí còn vi phạm, mất đoàn kết nội bộ, có nơi còn biểu hiện cục bộ, lợi ích nhóm. Kiểm soát quyền lực còn lúng túng, hiệu quả thấp”. “Tự phê bình và phê bình ở nhiều nơi còn hình thức. Thực hiện trách nhiệm nêu gương, nhất là của người đứng đầu chưa tạo được sự lan tỏa sâu rộng”.

Một số cấp ủy, tổ chức đảng đã vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc tập trung dân chủ và quy chế làm việc; thiếu trách nhiệm, buông lỏng lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, thiếu kiểm tra, giám sát để xảy ra nhiều vi phạm, khuyết điểm kéo dài. Đây là điều rất đáng trăn trở vì trong nhiệm kỳ Đại hội XII, cấp ủy các cấp đã kiểm tra 264.091 tổ chức đảng và 1.124.146 đảng viên; ủy ban kiểm tra các cấp đã kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm đối với 15.920 tổ chức đảng và 47.701 đảng viên (trong đó có 23.432 cấp ủy viên). Qua kiểm tra, cấp ủy các cấp đã thi hành kỷ luật 1.329 tổ chức đảng và 69.600 đảng viên; ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật 17.610 đảng viên. Riêng Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã thi hành kỷ luật 10 tổ chức đảng và 60 đảng viên; Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã thi hành kỷ luật 169 đảng viên (trong đó có 53 đồng chí là cán bộ diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý). Các cấp ủy đã giám sát 193.993 tổ chức đảng và 528.652 đảng viên; ủy ban kiểm tra các cấp đã giám sát 124.469 tổ chức đảng và 185.731 đảng viên.

Điều cần lưu ý là rất nhiều vi phạm xảy ra từ nhiệm kỳ trước nhưng đến nay mới bị phát hiện và xử lý. Như vậy trước đó, việc tuân thủ các nguyên tắc xây dựng Đảng chưa thật sự được coi trọng, thậm chí bị buông lỏng. Thực trạng này do nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân là các nguyên tắc xây dựng Đảng chưa được coi trọng và thực hiện nghiêm túc. Những hạn chế, khuyết điểm nêu trên có nguyên nhân khách quan, nhưng chủ yếu là nguyên nhân chủ quan: Một số cấp ủy, tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên chưa nhận thức đầy đủ, toàn diện, sâu sắc về tầm quan trọng của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong tình hình mới; việc quán triệt các nghị quyết của Đảng ở một số nơi chưa kịp thời, sâu sắc. Công tác lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện của một số cấp ủy, tổ chức đảng chưa chủ động, sâu sát, thiếu quyết liệt; chưa coi trọng việc tự kiểm tra, xử lý vi phạm. Một số nơi, người đứng đầu chưa phát huy hết trách nhiệm, thiếu bản lĩnh, chưa gương mẫu, còn thụ động, né tránh, trông chờ vào chỉ đạo, hướng dẫn của cấp trên. Việc thực hiện các nguyên tắc tổ chức của Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ ở một số nơi chưa nghiêm, thậm chí còn vi phạm, mất đoàn kết nội bộ, có nơi còn biểu hiện cục bộ, lợi ích nhóm. Kiểm soát quyền lực còn lúng túng, hiệu quả thấp. Sự phối hợp giữa một số cấp ủy với đảng đoàn, ban cán sự đảng có lúc, có nơi thiếu chặt chẽ, hiệu quả chưa cao. Việc phân định trách nhiệm của người đứng đầu trong mối quan hệ với cấp ủy và tập thể lãnh đạo cơ quan, đơn vị chưa rõ; chưa phát huy đúng mức vai trò của cá nhân trong tập thể. Việc xây dựng, phát huy vai trò của các cơ quan tham mưu về công tác xây dựng Đảng có lúc, có nơi chưa được quan tâm đúng mức; một bộ phận cán bộ tham mưu chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.

Trong thời gian tới, để góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết số 35-NQ/TW, ngày 25-10-2018 của Bộ Chính trị khóa XII về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới” cần thực hiện đồng bộ một số nhiệm vụ, giải pháp sau:

Thứ nhất, kiên định những nguyên tắc xây dựng Đảng gắn với thực hiện Nghị quyết số 35-NQ/TW, ngày 25-10-2018 của Bộ Chính trị. Tăng cường tuyên truyền trong cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân về nội dung các nguyên tắc xây dựng Đảng để từ nhận thức sẽ có hành động đúng và tạo sự lan tỏa theo phương châm “lấy cái đẹp, dẹp cái xấu”.

Thứ hai, tập trung xây dựng, thông tin chủ động, chính xác, kịp thời, toàn diện, đúng đối tượng về các hoạt động, sự kiện chính trị, xã hội của đất nước. Nâng cao chất lượng, hiệu quả các chuyên trang, chuyên mục, fanpage, blog, tài khoản mạng xã hội (Zalo, Facebook...) về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.

Thứ ba, thường xuyên theo dõi, nắm bắt tình hình tư tưởng, kịp thời định hướng dư luận xã hội; thực hiện tốt quy chế phát ngôn, cung cấp thông tin chính thống, kịp thời cho báo chí; công khai kết quả kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng trên các phương tiện truyền thông; xử lý nghiêm những thông tin phản ánh không đầy đủ, phiến diện, tiêu cực một chiều trên báo chí, mạng xã hội.

Thứ tư, quán triệt, thực hiện nghiêm Quy định số 37-QĐ/TW ngày 25-10-2021 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về những điều đảng viên không được làm; Quy định số 22-QĐ/TW ngày 28-7-2021 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng; Quy định số 69-QĐ/TW ngày 6-7-2022 về kỷ luật tổ chức đảng, đảng viên vi phạm, nhằm nâng cao ý thức, trách nhiệm của cán bộ, đảng viên trong khai thác, sử dụng internet, mạng xã hội; thường xuyên tuyên truyền đến cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, người lao động và các tầng lớp nhân dân nêu cao tinh thần cảnh giác, không tham gia bình luận tiêu cực hoặc chia sẻ những thông tin xấu độc trên không gian mạng.

Theo: PGS, TS LÊ VĂN CƯỜNG, Phó viện trưởng Viện Xây dựng Đảng, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh

Thứ Năm, 1 tháng 12, 2022

GIỮ NGUYÊN TẮC, ĐÚNG QUY CHẾ

Nguyên tắc tổ chức, sinh hoạt Đảng, quy chế làm việc là những vấn đề có ý nghĩa quan trọng hàng đầu đối với mỗi cấp ủy, tổ chức Đảng cũng như với từng cán bộ, đảng viên. Bởi vô nguyên tắc, vi phạm quy chế làm việc là một bước rất ngắn dẫn tới vi phạm kỷ luật Đảng, vi phạm pháp luật.

Điều lệ Đảng quy định: “Đảng là một tổ chức chặt chẽ, thống nhất ý chí và hành động, lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản, thực hiện tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, thương yêu đồng chí, kỷ luật nghiêm minh, đồng thời thực hiện các nguyên tắc: Tự phê bình và phê bình, đoàn kết trên cơ sở Cương lĩnh chính trị và Điều lệ Đảng, gắn bó mật thiết với nhân dân, Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”.

Trong khi đó, quy chế làm việc là sự cụ thể hóa các nguyên tắc, quy định của Điều lệ Đảng, của Bộ Chính trị, Ban Bí thư thành chế độ vận hành điều chỉnh hoạt động của cấp ủy, tổ chức Đảng và việc làm của cán bộ, đảng viên. Do đó, việc xây dựng và tổ chức thực hiện quy chế làm việc có quan hệ mật thiết với việc tuân thủ các nguyên tắc Đảng; là “hệ tuần hoàn” không thể tách rời nhau.

Đối với mỗi tổ chức Đảng hay cán bộ, đảng viên, việc tuân thủ nguyên tắc, thực hiện đúng quy chế làm việc là rất quan trọng. Thực tế cho thấy, tổ chức Đảng thực hiện tốt nguyên tắc Đảng, ban hành quy chế làm việc chặt chẽ, tổ chức thực hiện hiệu quả đều là những tập thể mạnh. Ngược lại, những nơi vi phạm nguyên tắc, không làm đúng quy chế làm việc thường dẫn tới những khuyết điểm, sai phạm...

Tìm hiểu từ những trường hợp sai phạm bị cấp ủy, Ủy ban Kiểm tra cấp ủy kỷ luật thì gần như 100% đều vi phạm nguyên tắc Đảng, vi phạm quy chế làm việc. Mới đây nhất, tại kỳ họp thứ 22 vừa diễn ra đầu tháng 11-2022, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã xem xét kết quả kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm đối với Ban Thường vụ Đảng ủy Tổng công ty Công nghiệp Tàu thủy. Trong đó, Ủy ban Kiểm tra Trung ương nhận định: “Ban Thường vụ Đảng ủy Tổng công ty các nhiệm kỳ 2010-2015, 2015-2020 đã vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, quy chế làm việc; buông lỏng lãnh đạo, chỉ đạo, thiếu kiểm tra, giám sát...”.

Trước đó, theo thống kê trong hơn 110 cán bộ thuộc diện Ban Bí thư quản lý bị kỷ luật thời gian qua đều ghi nhận những mức độ vi phạm nguyên tắc Đảng và vi phạm quy chế làm việc khác nhau, như: Vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ dẫn tới chuyên quyền, độc đoán; vi phạm nguyên tắc tự phê bình và phê bình dẫn đến không kịp thời nhận ra sai sót, để sai sót nhỏ thành sai sót lớn; vi phạm nguyên tắc đoàn kết làm nảy sinh thói kèn cựa, cục bộ, địa phương, chia bè, kết cánh; vi phạm nguyên tắc gắn bó mật thiết với nhân dân dẫn đến quan liêu, xa rời quần chúng, phiền hà, sách nhiễu...

Trong phát biểu kết luận Hội nghị Trung ương 4 (khóa XIII), Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhìn nhận, không thực hiện đúng các nguyên tắc xây dựng Đảng và tổ chức sinh hoạt Đảng là một trong những biểu hiện nguy hiểm dẫn đến suy thoái, tự diễn biến, tự chuyển hóa trong nội bộ.

Để các nguyên tắc Đảng, quy chế làm việc phát huy đúng vai trò, vị trí, góp phần xây dựng Đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên, đòi hỏi sự quan tâm, vào cuộc quyết liệt của các cấp ủy, tổ chức Đảng, nhất là đội ngũ cán bộ chủ chốt.

Nhiệm vụ, giải pháp quan trọng hàng đầu và phải làm trước tiên là đẩy mạnh tuyên truyền, nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên về tầm quan trọng, sự cần thiết của các nguyên tắc Đảng và quy chế làm việc. Thực tế, không ít trường hợp khi sai phạm xảy ra ở chi bộ, đảng bộ cơ sở thì mới phát hiện là cấp ủy, cán bộ lãnh đạo không nắm rõ các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt Đảng, lúng túng trong triển khai thực hiện, thậm chí có tâm lý coi thường; có nơi không kịp thời xây dựng quy chế làm việc, quy chế làm việc không đúng với quy định chung; không bổ sung, chỉnh sửa hoàn thiện quy chế phù hợp với điều kiện mới...

Do đó, để tránh vi phạm hoặc không biết để thực hiện, cấp ủy cấp trên, đặc biệt là bộ phận chuyên trách công tác Đảng phải có chỉ đạo, hướng dẫn kịp thời, cụ thể cho cấp dưới về nhiệm vụ tuân thủ các nguyên tắc của Đảng, xây dựng và thực hiện quy chế làm việc; đẩy mạnh công tác kiểm tra, giám sát các cấp ủy, tổ chức Đảng, cán bộ, đảng viên trong thực hiện nhiệm vụ trên. Việc này cần thiết phải làm từ sớm và thường xuyên hơn.

Tại Đảng bộ thành phố Hà Nội, ngay từ đầu nhiệm kỳ khóa XVII, Ban Thường vụ Thành ủy và nhiều cấp ủy Đảng trực thuộc đã tiến hành giám sát, kiểm tra cấp ủy cấp dưới về việc xây dựng quy chế làm việc. Trong khi, nhiều cấp ủy Đảng thành phố tổ chức tập huấn nâng cao nghiệp vụ công tác Đảng cho các bí thư chi bộ, cán bộ chủ chốt, trong đó có nghiệp vụ về xây dựng quy chế làm việc, chương trình, kế hoạch công tác... Đây là những giải pháp rất hiệu quả, tích cực, cần được quan tâm, nhân rộng.

Đối với cấp ủy, tổ chức Đảng cần xác định rõ, thực hiện tốt các nguyên tắc Đảng, cụ thể là 5 nguyên tắc được nêu trong Điều lệ Đảng là nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu. Các nguyên tắc phải được cụ thể hóa vào quy chế làm việc. Quá trình xây dựng phải bám sát Điều lệ Đảng, các quy định, hướng dẫn của cấp trên; bảo đảm quy chế làm việc là sản phẩm của trí tuệ tập thể, hội tụ tinh thần đoàn kết, thống nhất, toát lên các nguyên tắc của Đảng, trước hết là nguyên tắc tập trung dân chủ. Quy chế làm việc đã ban hành phải bảo đảm tính khả thi, phân công rõ người, rõ việc. Quá trình thực hiện phải thường xuyên quan tâm đánh giá, để kịp thời sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới; tuyệt đối không để vì chậm sửa đổi, bổ sung quy chế làm việc mà ảnh hưởng đến hoạt động, làm giảm sút vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, tổ chức Đảng.

Xét cho cùng, trong bất kỳ trường hợp nào, cấp ủy, tổ chức Đảng và mỗi cán bộ, đảng viên nhất định phải “giữ nguyên tắc, đúng quy chế”.

Thứ Hai, 29 tháng 8, 2022

MỤC TIÊU, LỰC LƯỢNG, NỘI DUNG, NGUYÊN TẮC ĐẤU TRANH PHẢN BÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH LIÊN QUAN ĐẾN CHỦ QUYỀN QUỐC GIA TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG

Thứ nhất, về mục tiêu đấu tranh, phản bác quan điểm sai trái, thù địch về chủ quyền quốc gia trên không gian mạng. Việt Nam phản đối mọi hành động xâm phạm chủ quyền, lợi ích quốc gia trên không gian mạng, sử dụng không gian mạng để tuyên truyền, xuyên tạc, kích động, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc; sẵn sàng sử dụng mọi biện pháp phù hợp với luật pháp quốc tế để ngăn chặn các hành động chống phá, bảo vệ chủ quyền, lợi ích quốc gia trên không gian mạng.  Trong Văn kiện Đại hội XIII, Đảng ta khẳng định: “Tiếp tục triển khai thực hiện toàn diện, đồng bộ Chiến lược bảo vệ Tổ quốc, Chiến lược quốc phòng, Chiến lược quân sự, Chiến lược bảo vệ an ninh quốc gia, Chiến lược bảo vệ biên giới quốc gia, Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng” và “bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và giữ vững ổn định chính trị, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, giữ vững chủ quyền số quốc gia trên không gian mạng trong mọi tình huống.

Thứ hai, về lực lượng đấu tranh bảo vệ an ninh, chủ quyền quốc gia trên không gian mạng. Đó  là toàn Đảng, toàn dân và toàn quân; trong đó, Nhà nước áp dụng các biện pháp để bảo vệ không gian mạng quốc gia; phòng ngừa, xử lý hành vi xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân trên không gian mạng. Lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng được bố trí tại Bộ Công an, Bộ Quốc phòng. Lực lượng bảo vệ an ninh mạng được bố trí tại Bộ, ngành, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cơ quan, tổ chức quản lý trực tiếp hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia. Các tổ chức, cá nhân được huy động tham gia bảo vệ an ninh mạng.

Thứ ba, về nội dung đấu tranh bảo vệ an ninh, chủ quyền quốc gia trên không gian mạng. Đó là bảo vệ chế độ chính trị và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam trên không gian mạng; bảo vệ an ninh về tư tưởng và văn hóa, khối đại đoàn kết toàn dân tộc, quyền lợi và lợi ích hợp pháp của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trên không gian mạng; bảo vệ an ninh trong các lĩnh vực kinh tế, quốc phòng, đối ngoại và các lợi ích khác của quốc gia trên không gian mạng; bảo vệ bí mật nhà nước và các mục tiêu quan trọng về an ninh quốc gia trên không gian mạng; phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn, đấu tranh làm thất bại và loại trừ các hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia, nguy cơ đe dọa an ninh quốc gia trên không gian mạng. vệ an ninh, chủ quyền quốc gia trên không gian mạng

Thứ ba, về đối tượng bảo vệ an ninh, chủ quyền quốc gia trên không gian mạng. Đó  là tất cả các thế lực thù địch trong và ngoài nước, lực lượng cơ hội, suy thoái chính trị, đạo đức, lối sống, bất mãn, cực đoan có âm mưu, hành động sử dụng không gian mạng can thiệp, xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng, lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa, tiến hành các hình thái chiến tranh, thực hiện tham vọng xâm phạm chủ quyền, lợi ích quốc gia, dân tộc; cấu kết với các thế lực bên ngoài chống phá sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; thực hiện các hoạt động xâm nhập, phá hoại về kinh tế, chính trị, tư tưởng, văn hóa, xã hội, quốc phòng - an ninh, đối ngoại, gieo giắc lối sống ích kỷ, đề cao cá nhân chủ nghĩa, coi trọng vật chất; xâm phạm lợi ích quốc gia, dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân; thực hiện “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyến hóa”, kích động bạo loạn, và thực hiện các tình huống an ninh phi truyền thống khác.

Thứ tư, về  nguyên tắc bảo vệ an ninh, chủ quyền quốc gia trên không gian mạng.

Tuân thủ Hiến pháp và pháp luật; bảo đảm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự quản lý thống nhất của Nhà nước; huy động sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị và toàn dân tộc; phát huy vai trò nòng cốt của lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng. Kết hợp chặt chẽ giữa nhiệm vụ bảo vệ an ninh mạng, bảo vệ hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia với nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quyền con người, quyền công dân, tạo điều kiện cho cơ quan, tổ chức, cá nhân hoạt động trên không gian mạng. Chủ động phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn, đấu tranh, làm thất bại mọi hoạt động sử dụng không gian mạng xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân; sẵn sàng ngăn chặn các nguy cơ đe dọa an ninh mạng. Triển khai hoạt động bảo vệ an ninh mạng đối với cơ sở hạ tầng không gian mạng quốc gia; áp dụng các biện pháp bảo vệ hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia.

Thứ Ba, 26 tháng 4, 2022

BÀI HỌC ĐẮT GIÁ NẾU KHÔNG THỰC HIỆN CÁC NGUYÊN TẮC CỦA ĐẢNG

Vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách là một trong các biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân được Nghị quyết số 847-NQ/QUTW ngày 28-12-2021 của Quân ủy Trung ương về phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới chỉ ra rất rõ.

Đây là một trong những nguyên nhân cơ bản của nhiều vụ việc vi phạm ở một số tổ chức, cá nhân trong quân đội thời gian qua, ảnh hưởng không nhỏ đến những giá trị cao quý của Bộ đội Cụ Hồ.

Trong nhiều vụ việc vi phạm pháp luật, kỷ luật, điều lệnh, điều lệ quân đội thì tình trạng vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách khá phổ biến. Biểu hiện cụ thể đó là tổ chức đảng mất sức chiến đấu. Người lãnh đạo, chỉ huy tập trung quyền lực vào mình và trở nên độc đoán, gia trưởng, nội bộ mất đoàn kết, chia bè, kết phái. Trong khi hoạt động lãnh đạo của tổ chức đảng gần như bị tê liệt thì đảng viên cũng không thể hiện được sức chiến đấu, đơn vị mất dân chủ. Tổ chức chỉ còn là bình phong cho một số cá nhân tự tung tự tác. Hậu quả tất yếu là các sai phạm đã hoặc sẽ xảy ra.

Chỉ tính riêng từ đầu nhiệm kỳ khóa XIII đến nay, trải qua các kỳ họp của Ủy ban Kiểm tra Trung ương trong xem xét vi phạm ở các tổ chức đảng, một số tổ chức đảng trong quân đội bị kết luận “Vi phạm nguyên tắc, quy chế làm việc, thiếu trách nhiệm, buông lỏng lãnh đạo, chỉ đạo, thiếu kiểm tra, giám sát...”. Kết luận này được chỉ ra ở các đơn vị, như: Ban Thường vụ Đảng ủy Cảnh sát biển Việt Nam nhiệm kỳ 2015-2020; Ban Thường vụ Đảng ủy Bộ đội Biên phòng tỉnh Trà Vinh; Ban Thường vụ Đảng ủy Bộ đội Biên phòng tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu; Ban Thường vụ Đảng ủy Học viện Quân y các nhiệm kỳ 2015-2020, 2020-2025... Ủy ban Kiểm tra Quân ủy Trung ương qua các kỳ họp cũng đã kết luận sai phạm trong thực hiện nguyên tắc ở một số tổ chức đảng trong các cơ quan, đơn vị. Biểu hiện sai phạm trong thực hiện nguyên tắc Đảng có ở nhiều cấp ủy, tổ chức đảng các cấp.

Nguyên lý cơ bản trong tổ chức Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam, quân đội cách mạng, mang bản chất giai cấp công nhân đó là Đảng phải thực hiện lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với quân đội. Điều này là không phải bàn cãi. Trong các nguyên tắc lãnh đạo của Đảng thì tập trung dân chủ và tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách là hai nguyên tắc xương sống, đặc biệt quan trọng để quân đội luôn vững mạnh về mọi mặt, đủ sức hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao.

Trong suốt gần 80 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội ta, chưa có khi nào Đảng ta xem nhẹ các nguyên tắc lãnh đạo này. Thực hiện các nguyên tắc đó góp phần rất quan trọng để xây dựng quân đội vững mạnh, đồng thời cũng chính là yếu tố cốt lõi làm nên phẩm chất cao quý Bộ đội Cụ Hồ, là thành công của Đảng Cộng sản Việt Nam trong việc xây dựng QĐND Việt Nam vững mạnh về chính trị. Bộ đội Cụ Hồ là một giá trị văn hóa, được hun đúc kết tinh từ những giá trị phẩm chất cao quý nhất, đẹp đẽ nhất của lịch sử truyền thống Quân đội ta, trở thành bản chất, truyền thống tốt đẹp của quân đội cách mạng.

Thực tế cũng đã chứng minh, bất cứ tổ chức, cơ quan, đơn vị nào xa rời hoặc thực hiện không đúng hai nguyên tắc tập trung dân chủ và tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách thì đều dẫn đến vi phạm, sai phạm ở các cấp độ./.

Thứ Ba, 15 tháng 3, 2022

TÍNH BIỆN CHỨNG TRONG NGUYÊN TẮC VẬN DỤNG VÀ KẾ THỪA VIỆC KIÊN ĐỊNH, PHÁT TRIỂN, VẬN DỤNG SÁNG TẠO CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN, TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

Trong những thập niên đầu của thế kỷ XX, hành trình bôn ba tìm đường cứu nước đã đưa Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đến với chủ nghĩa Mác - Lênin. Người khẳng định: “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin”. Do đó, ngay từ những năm 20 của thế kỷ XX, Nguyễn Ái Quốc đã ra sức truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin về Việt Nam. Không chỉ có vậy, Người còn phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin bằng cách vận dụng sáng tạo vào điều kiện, hoàn cảnh của Việt Nam trong mỗi giai đoạn lịch nhất định. Bằng cách đó, Người đã đưa ra những tư tưởng chỉ đạo cách mạng Việt Nam. Do đó, cùng với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đã trở thành “kim chỉ nam” cho mọi hoạt động của cách mạng nước ta.

Trong thời gian qua, nhất là từ khi đổi mới đến nay, Đảng ta đã luôn kiên trì, kiên định và nêu cao chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Tại Đại hội VI (12/1986), Đảng ta nhấn mạnh: “Muốn đổi mới tư duy, Đảng ta phải nắm vững bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, kế thừa di sản quý báu về tư tưởng và lý luận cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh”. Đến Đại hội VII (6/1991), Đảng bổ sung điểm mới: “Nêu cao tư tưởng Hồ Chí Minh”; đồng thời khẳng định tư tưởng Hồ Chí Minh là kết quả của sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin trong điều kiện cụ thể của Việt Nam và tư tưởng của Người đã trở thành một tài sản tinh thần quý báu của Đảng và dân tộc ta. Từ đây, chủ nghĩa Mác - Lênin cùng với tư tưởng Hồ Chí Minh được xác định nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng.

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Cương lĩnh năm 1991) được thông qua tại Đại hội VII đã xác định: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động”. Đây là bước phát triển lớn trong tư duy, nhận thức và hoạt động thực tiễn của Đảng về việc vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh vào điều kiện thực tiễn của Việt Nam, đồng thời thể hiện rõ quan điểm nhất quán về mặt tư tưởng: chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là bộ phận cơ bản cấu thành hệ tư tưởng, thế giới quan, phương pháp luận của Đảng Cộng sản Việt Nam. Điều này không chỉ bảo đảm sự thống nhất nhận thức trong toàn Đảng mà còn thể hiện rõ lập trường kiên định, ý chí quyết tâm của Đảng trong việc bảo vệ tính khoa học, tính cách mạng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh trong bối cảnh chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu khủng hoảng, sụp đổ những năm đầu của thập kỷ 90.

Kế thừa tinh thần đó, trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), Đảng ta cũng khẳng định: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động”. Điều này tiếp tục được nhấn mạnh hơn ở Đại hội XII (năm 2016): “Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng với chủ nghĩa Mác - Lênin là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng và cách mạng Việt Nam, là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý giá của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta”.

Với những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử của 35 đổi mới đất nước, tại Đại hội XIII (năm 2021), Đảng ta vẫn tiếp tục khẳng định chủ nghĩa Mác - Lênin cùng với tư tưởng Hồ Chí Minh là “kim chỉ nam” cho mọi hành động của Đảng. Đai hội XIII đã nêu rõ quan điểm chỉ đạo quá trình đổi mới và phát triển ở Việt Nam. Đó là: “Tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta là phải kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh”. Đây được coi là một trong những vấn đề “mang tính nguyên tắc, có ý nghĩa sống còn đối với chế độ ta, là nền tảng vững chắc của Đảng ta, không cho phép ai được ngả nghiêng, dao động”.

Trên cơ sở kế thừa quan điểm của các kỳ Đại hội qua, tại Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII, Đảng ta tiếp tục nhấn mạnh đến việc lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là tư tưởng chỉ đạo quá trình phát triển của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Do đó, cần phải “kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; tiếp tục nghiên cứu phát triển, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh phù hợp với thực tiễn Việt Nam”. Có thể nhận thấy, ở Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII, Đảng ta đã nêu rõ quan điểm, thái độ với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Đó là kiên định, phát triển và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cho phù hợp với thực tiễn Việt Nam.

Sở dĩ trong giai đoạn hiện nay, Đảng ta đặt ra vấn đề này vì do xuất phát từ cả những nguyên nhân khách quan và chủ quan, cả tình hình quốc tế, khu vực và những diễn biến trong nước. Trên thế giới, chủ nghĩa dân tộc cực đoan, chủ nghĩa dân túy đang nổi lên, các vấn đề an ninh phi truyền thống vẫn đang tiếp diễn. Trong nước, sự nghiệp đổi mới tuy được đẩy mạnh toàn diện nhưng phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức lớn như: “Sự chống phá của các thế lực thù địch, tổ chức phản động ngày càng tinh vi hơn; những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ và tình hình tham nhũng, lãng phí, tiêu cực... còn diễn biến phức tạp”. Nghiêm trọng hơn, Đảng ta còn chỉ rõ: “Một bộ phận cán bộ, đảng viên bản lĩnh chính trị không vững vàng, suy thoái về tư tưởng chính trị, còn hoài nghi, mơ hồ về mục tiêu, lý tưởng của Đảng và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta; một số ít hoang mang, dao động, mất lòng tin; cá biệt còn phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối đổi mới của Đảng”. Trong bài phát biểu bế mạc tại Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII, đồng chí Tổng Bí thư chỉ rõ: “Từ suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống dẫn tới “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” chỉ là một bước ngắn, thậm chí rất ngắn, nguy hiểm khôn lường”, có thể dẫn tới tiếp tay hoặc cấu kết với các thế lực xấu, thù địch, cơ hội, phản bội lại lý tưởng và sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc”.

Cũng có thể nhận thấy, ở Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII, tính biện chứng được thể hiện rất rõ trong quan điểm của Đảng về kiên định, phát triển và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Nếu “kiên định, phát triển” là kiên trì làm theo, đi theo những quan điểm, tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh; làm cho những quan điểm, tư tưởng ấy ngày càng sinh động, có thêm những nội hàm mới thì “vận dụng sáng tạo” là sự chắt lọc những quan điểm của Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cho phù hợp với thực tiễn Việt Nam, tránh sự máy móc, sơ cứng. Đây chính là sự kế thừa, quán triệt những chỉ dẫn có tính phương pháp luận của V.I.Lênin trong việc bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác: “Chúng ta không hề coi lý luận của Mác như là một cái gì đã xong xuôi hẳn và bất khả xâm phạm; trái lại, chúng ta tin rằng lý luận đó chỉ đặt nền móng cho môn khoa học mà những người xã hội chủ nghĩa cần phải phát triển hơn nữa về mọi mặt, nếu họ không muốn trở thành lạc hậu đối với cuộc sống”.

Quan điểm của Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII về kiên định, phát triển và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vừa cho thấy sự vững vàng về lập trường tư tưởng, vừa cho thấy tính biện chứng trong nguyên tắc vận dụng và kế thừa. Thực tiễn hơn 92 năm ra đời, phát triển của Đảng và hơn 35 năm đổi mới đất nước với những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử khiến cho “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế, uy tín quốc tế như ngày nay”. Những thành tựu đó đã chứng tỏ sự kiên định, phát triển và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh của Đảng ta là hoàn toàn đúng đắn, vừa đáp ứng yêu cầu của thực tiễn, vừa phù hợp với xu thế khách quan đúng như Đảng ta nhận định: “Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử là kết tinh sức sáng tạo của Đảng và nhân dân ta, khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta là phù hợp với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại; khẳng định sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam”. Do đó, để quán triệt quan điểm chỉ đạo của Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII, Đảng ta đã bổ sung thêm quy định liên quan trực tiếp đến lập trường tư tưởng, thái độ của đảng viên đối với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong Quy định số 37-QĐ/TW về những điều đảng viên không được làm. Đó là đảng viên không được “phản bác, phủ nhận, xuyên tạc, chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh”. Đây là sự bổ sung kịp thời nhằm khắc phục triệt để những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị của đảng viên trong giai đoạn hiện nay.

THỰC HIỆN TẬP TRUNG DÂN CHỦ KHÔNG PHẢI LÀ SỰ ĐỘC QUYỀN CỦA "NHÓM QUYỀN LỰC"

Đảng Cộng sản Việt Nam "là một khối thống nhất ý chí và hành động, lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản, thực hiện lãnh đạo tập thể và cá nhân phụ trách, tự phê bình và phê bình, thực hiện dân chủ đầy đủ và kỷ luật chặt chẽ trong sinh hoạt đảng”. Sức mạnh tổ chức to lớn của Đảng là ở sự thực hiện đầy đủ nguyên tắc này. Tình trạng tập trung quan liêu, gia trưởng độc đoán, không tôn trọng ý kiến cấp dưới hay không phát huy trí tuệ tập thể dễ dẫn đến những quyết định sai lầm hoặc tình trạng cục bộ, vô kỷ luật gây hậu quả tai hại… đều làm suy yếu sự đoàn kết trong Đảng, đều làm cho sự lãnh đạo của Đảng kém hiệu lực. Vì thế, mọi cán bộ, đảng viên đều phải nêu cao tinh thần gương mẫu thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng.

Song trên thực tế, nguyên tắc tập trung dân chủ luôn là mục tiêu công kích, xuyên tạc của các thế lực thù địch, cơ hội, xét lại và nhũng người nhân danh dân chủ, mượn danh dân chủ để xuyên tạc, công kích, hòng phá hoại các Đảng Cộng sản nói chung, Đảng Cộng sản Việt Nam nói riêng. Các nhà "ảo dân chủ", "ngộ dân chủ" còn suy diễn rằng, trong thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, thì nếu đặt tập trung ở phía trước và dân chủ ở phía sau, thì có nghĩa là tập trung chính là mục đích, còn dân chủ chỉ là phương tiện. Vì thế, dân chủ chỉ là hình thức, nửa vời, là "bánh vẽ"… Đây chính là kiểu lập luận có chủ đích của những người nhân danh dân chủ, khoác áo dân chủ để quy chụp, xuyên tạc.

Dù nguyên tắc tập trung dân chủ là nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và hoạt động cuả một Đảng Mácxít Lêninnit, nhưng thực tế cũng cho thấy, nguyên tắc này không phải lúc nào và ở nơi đâu cũng được thực hiện một cách nghiêm túc. Lịch sử đã chứng kiến nguyên tắc này bị vô hiệu hóa trong quá trình tiến hành cải cách, cải tổ của Đảng Cộng sản Liên Xô và các Đảng Cộng sản ở các nước Đông Âu những thập niên trước. Việc từ bỏ nguyên tắc tập trung dân chủ là một trong những sai lầm "không thể cứu vãn" khiến cho các Đảng này tan rã, mất vai trò lãnh đạo xã hội. Việc Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô M.Goócbachốp vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ khi quyết định giải tán Ban Chấp hành Trung ương Đảng… làm cho Đảng Cộng sản Liên Xô tan vỡ là một bài học xương máu.

Rút kinh nghiệm sâu sắc bài học của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu, Đảng Cộng sản Việt Nam nghiêm ngặt thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và hoạt động; gắn mở rộng dân chủ đi đôi với củng cố, tăng cường kỷ cương, kỷ luật trong Đảng.

Trong toàn Đảng, những vấn đề cơ bản, quan trọng (chủ trương, nghị quyết của tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị về thực hiện nhiệm vụ chính trị; công tác cán bộ, công tác nhân sự cấp ủy, cơ quan…) đều phải được dân chủ thảo luận trong tập thể cấp ủy/lãnh đạo cơ quan/tổ chức đảng từ cao đến thấp theo phạm vi, quyền hạn được xác định. Quyết định của cấp ủy được quyết định theo đa số và ý kiến thiểu số vẫn được bảo lưu để trình cấp trên xem xét, nhưng khi nghị quyết đã ban hành, thì mọi đảng viên đều phải đồng lòng nói và làm theo nghị quyết. Trong toàn Đảng, mọi cấp uỷ đều thực hiện sự lãnh đạo tập thể (được bàn bạc và quyết định tập thể) đi đôi với tăng cường trách nhiệm cá nhân; "mọi cấp uỷ viên có quyền và có trách nhiệm phát biểu ý kiến, tranh luận thẳng thắn, tham gia các quyết định của cấp uỷ. Chống mọi biểu hiện độc đoán, gia trưởng, áp đặt ý kiến cá nhân, hoặc nể nang, né tránh”.

Trong công tác lãnh đạo và chỉ đạo thực hiện, Đảng xác định tập thể lãnh đạo với cá nhân phụ trách có mối quan hệ chặt chẽ với nhau; trong đó, "tập thể lãnh đạo không phủ nhận trách nhiệm cá nhân, trái lại phải trên cơ sở phát huy đầy đủ trách nhiệm cá nhân. Mọi cá nhân trên cương vị của mình phải chủ động đóng góp ý kiến với tập thể để tập thể có được quyết định chính xác, và dám chịu trách nhiệm trong việc chấp hành các nghị quyết của tập thể, dám tự phê bình và thành khẩn nhận khuyết điểm của mình trong việc chấp hành các nghị quyết ấy”. Đồng thời, mọi cấp ủy từ Trung ương đến địa phương đều quán triệt sâu sắc rằng, bất cứ người đứng đầu nào cũng không được lợi dụng/lạm dụng quyền lực của mình (được bầu/ được trao) để mưu cầu lợi ích cá nhân/nhóm lợi ích và "bất cứ người lãnh đạo nào cũng không được tự đặt mình ra ngoài tổ chức, tự cho mình quyền nói và làm khác quyết định của tập thể. Cấp dưới, dù cho người đứng đầu là ủy viên Trung ương, cũng không thể tự cho mình quyền không thi hành hoặc làm trái chỉ thị của cấp trên. Tăng cường sự lãnh đạo tập thể, mở rộng sinh hoạt dân chủ”.

Vì vậy, mọi hiện tượng, biểu hiện “bằng mặt nhưng không bằng lòng”, "nói một đằng nhưng làm một nẻo", "nói trong hội nghị khác nhưng phản ánh lên cấp trên khác" hoặc lợi dụng tập trung dân chủ vì mục đích không chính đáng… đều là những hạn chế cần phải khắc phục trong quá trình thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ; đều là trái với nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách. Những hạn chế này vừa không khuyến khích người đứng đầu nhiệt tình, tâm huyết, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, lại vừa tạo kẽ hở cho cách làm việc tắc trách, trì trệ hoặc lạm dụng quyền lực một cách tinh vi để mưu cầu lợi ích cá nhân; đồng thời, cũng dễ tạo kẽ hở cho các phần tử phản động, cơ hội xuyên tạc, công kích, chống phá Đảng.

Thực tế ở Việt Nam, việc mở rộng sinh hoạt dân chủ trong Đảng, nâng cao chất lượng sinh hoạt của các cấp ủy, đẩy mạnh tự phê bình và phê bình, kiểm tra và giám sát gắn liền với việc không ngừng hoàn thiện, thực hiện tốt hơn, có hiệu quả hơn nguyên tắc tập trung dân chủ; tiếp tục xử lý đúng đắn mối quan hệ giữa lãnh đạo tập trung và phát huy dân chủ, bảo đảm để nguyên tắc tập trung dân chủ không chỉ được thực hiện nghiêm trong Đảng mà đã và đang trở thành nguyên tắc quản lý của một xã hội văn minh, hiện đại, nhằm xây dựng đất nước Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc, phát triển bền vững.

Trong những năm qua, dân chủ xã hội chủ nghĩa đã ngày càng trở thành hiện thực sinh động, nhất là trong hơn 35 năm đổi mới và hội nhập quốc tế. Dân chủ xã hội chủ nghĩa được thực thi; nhân dân là người làm chủ xã hội, được thụ hưởng những thành quả của mình tạo ra đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: "Nước ta là nước dân chủ. Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân. Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân. Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân. Chính quyền từ xã đến Chính phủ Trung ương do dân cử ra. Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên. Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”…

Cùng với thời gian, chế độ dân chủ, xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền lực thực sự thuộc về nhân dân ở Việt Nam ngày càng hoàn thiện hơn gắn với kỷ luật, kỷ cương; được thể chế hóa bằng pháp luật, được pháp luật bảo đảm và được phổ biến sâu rộng đến mọi người dân. Việc thực hành dân chủ trong Đảng có ý nghĩa quyết định đối với phát triển dân chủ trong tổ chức, hoạt động của cả hệ thống chính trị gắn với dân chủ hóa đời sống xã hội, bởi dân chủ tạo sự đồng thuận xã hội và đồng thuận xã hội tạo nên sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc để xây dựng vào bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991 và Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) tiếp tục nhất quán mục tiêu xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa; xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Gần đây nhất, bài viết “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng ngày 16/5/2021 cũng đã tiếp tục khẳng định và làm rõ: Dân chủ là bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa, vừa là mục tiêu vừa là động lực của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội nói chung, ở Việt Nam nói riêng. Dân chủ vừa là bản chất vừa là động lực; đồng thời, cũng chính là mục tiêu của chế độ xã hội chủ nghĩa mà Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo nhân dân kiên định xây dựng trong suốt 9 thập niên qua. Đó là sự thật đã được kiểm chứng bởi lịch sử Việt Nam hiện đại; bởi sự tin tưởng, ủng hộ, đi theo của các tầng lớp nhân dân; bởi sự ghi nhận của các tổ chức quốc tế. Lịch sử cách mạng Việt Nam là minh chứng khẳng định rằng, dưới sự lãnh đạo của Đảng, “nhân dân là ông chủ nắm chính quyền. Nhân dân bầu ra đại biểu thay mặt mình thi hành chính quyền ấy. Thế là dân chủ. Các cơ quan chính quyền là thống nhất, tập trung. Từ hội đồng nhân dân và ủy ban kháng chiến hành chính xã đến Quốc hội và Chính phủ Trung ương, số ít phải phục tùng số nhiều, cấp dưới phải phục tùng cấp trên, địa phương phải phục tùng Trung ương. Thế là vừa dân chủ vừa tập trung”.

Vì thế, có thể khẳng định chắc chắn rằng: Nghiêm ngặt thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ là để Đảng luôn trong sạch, vững mạnh, đoàn kết, thống nhất trong tư tưởng và hành động; đảm bảo lãnh đạo và tổ chức thực hiện thắng lợi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước vào cuộc sống. Nguyên tắc tập trung dân chủ chắc chắn không phải là sự chuyên quyền, độc đoán, mất dân chủ như các thế lực thù địch xuyên tạc, thêu dệt, cho nên, bất cứ sự buông lỏng nào trong thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ cũng sẽ dẫn đến tình trạng vô chính phủ, tạo ra phe phái, lực lượng đối lập với Đảng, phá hoại sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng! Vì thế, những luận điệu phản động cho rằng thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ là nhằm mục đích "bảo vệ vị trí độc tài" của Đảng và "thao túng quyền lực" của một nhóm người trong Đảng; việc Đảng thực hành tập trung dân chủ trong Đảng và trong xã hội chỉ là sự "ảo tưởng" "mị dân"… đều là sự xuyên tạc vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam nói chung, nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức, hoạt động của Đảng nói riêng, cần phải bác bỏ!.