Hiển thị các bài đăng có nhãn công tác dân tộc. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn công tác dân tộc. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 6 tháng 5, 2024

NHỮNG GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG, HIỆU QUẢ QUÂN ĐỘI THAM GIA THỰC HIỆN CÔNG TÁC DÂN TỘC HIỆN NAY LÀ GÌ?

Một là, tăng cường giáo dục, bồi dưỡng nâng cao nhận thức, trách nhiệm, trình độ, năng lực của cán bộ, chiến sĩ về tham gia thực hiện công tác dân tộc của Quân đội. Đây là giải pháp quan trọng hàng đầu nhằm nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm, ý chí quyết tâm tính tích cực, tự giác hoàn thành các nhiệm vụ tham gia thực hiện chính sách dân tộc trong tình hình mới.

Hai là, tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo phối hợp chặt chẽ của cấp ủy đảng, tổ chức chỉ huy, cơ quan chính trị các cấp trong Quân đội  với  cấp ủy, chính quyền, ban ngành đoàn thể địa phương trong tham gia thực hiện công tác dân tộc. Kết quả tham gia thực hiện chính sách dân tộc của quân đội, trước hết phụ thuộc vào sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp uỷ, chỉ huy các đơn vị và các cơ quan chức năng các cấp trong toàn quân trong phối hợp với  cấp ủy, chính quyền, ban ngành đoàn thể địa phương tham gia thực hiện công tác dân tộc.

Ba là, đổi mới nội dung, hình thức công tác dân tộc phù hợp với điều kiện, chức năng, nhiệm vụ của từng đơn vị và tình hình thực tế địa phương.  Quá trình thực hiện công tác dân tộc phải linh hoạt, sáng tạo phù hợp với thực tiễn địa bàn; xu thế hiện nay, chức năng, nhiệm vụ, tổ chức, biên chế, đặc điểm hoạt động của các cơ quan, đơn vị cụ thể trong toàn quân.  

Bốn là, hoàn thiện cơ chế, chính sách và thực hiện tốt quan điểm của Đảng, chính sách của Nhà nước về công tác dân tộc trong Quân đội. Đây là một trong những giải pháp quan trọng trực tiếp giải quyết vấn đề lợi ích vật chất, tinh thần, nâng cao phẩm chất, năng lực những người trực tiếp thực hiện chính sách dân tộc, góp phần tạo ra động lực to lớn, tính tích cực, tự giác của cán bộ, chiến sĩ người dân tộc và những người tham gia thực hiện chính sách dân tộc. 

Thứ Hai, 8 tháng 4, 2024

NHỮNG GIẢI PHÁP CƠ BẢN ĐỂ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC, CÔNG TÁC DÂN TỘC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY LÀ GÌ?

Một là, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, các cấp, các ngành và toàn thể xã hội về vị trí, vai trò, nhiệm vụ của chính sách dân tộc, công tác dân tộc của Đảng, Nhà nước trong tình hình mới. Đồng thời tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, nâng cao hiệu lực quản lý của Nhà nước đối với chính sách dân tộc, công tác dân tộc.  

Hai là, xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật về dân tộc trên cơ sở bảo đảm nguyên tắc bình đẳng giữa các dân tộc; bảo đảm tính thống nhất giữa pháp luật chung với những qui định mang tính đặc thù của địa phương. Rà soát, khắc phục sự chống chéo, điều chỉnh, bổ sung để hoàn chỉnh những chính sách đã có và nghiên cứu ban hành những chính sách mới, chính sách đặc thù với vùng, miền, dân tộc. Công khai hóa các chính sách, chương trình, dự án, v.v. để đồng bào biết và tham gia quản lý, giám sát và thụ hưởng.

Ba là, huy động nhiều nguồn lực cho đầu tư, phát triển, giúp đỡ vùng dân tộc và miền núi. Phát huy tốt nguồn lực tại chỗ, bảo đảm hài hoà lợỉ ích của các nhóm dân cư và các tổ chức trên địa địa về kinh tế - xã hội, môi trường. Đẩy mạnh đầu tư xây dựng các cơ sở hạ tầng thiết yếu gắn với xây dựng nông thôn mới. Ưu tiên đầu tư cho xóa đói, giảm nghèo, giáo dục, đào tạo, y tế nhằm phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững, giải quyết những khó khăn, bức xúc của đồng bào, trước hết tập trung cho các vùng đặc biệt khó khăn.

Bốn là, tiếp tục hoàn thiện tổ chức bộ máy nhà nước quản lý nhà nước về công tác dân tộc đi đôi với thực hiện tốt công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng cán bộ là người dân tộc thiểu số cho từng vùng, từng dân tộc. Tăng cường lực lượng cán bộ có năng lực, phẩm chất tốt đến công tác ở vùng dân tộc, nhất là các địa bàn xung yếu về chính trị, an ninh, quốc phòng. Kiện toàn và chăm lo xây dựng hệ thống tổ chức cơ quan làm công tác dân tộc từ Trung ương đến địa phương.

Năm là, đổi mới nội dung và phương pháp công tác dân vận ở vùng đồng bào dân tộc phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới. Tập trung tuyên truyền, vận động quần chúng; phổ biến giáo dục pháp luật cho các tầng lớp đồng bào dân tộc; có chính sách động viên, bồi dưỡng, hướng dẫn và phát huy vai trò của những người có uy tín trong đồng bào dân tộc. Động viên đồng bào các dân tộc đoàn kết, tích cực hưởng ứng các cuộc vận động, các phong trào thi đua yêu nước, sáng tạo trong lao động sản xuất. 

TRÁCH NHIỆM CỦA CÁC BỘ, CƠ QUAN NGANG BỘ TRONG CÔNG TÁC DÂN TỘC Ở NƯỚC TA HIỆN NAY ĐƯỢC QUY ĐỊNH NHƯ THẾ NÀO?

Chủ trì, phối hợp với Ủy ban Dân tộc thực hiện quản lý nhà nước về công tác dân tộc và giải quyết những vấn đề có liên quan đến công tác dân tộc trong phạm vi, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao.

Xây dựng, ban hành và trình cấp có thẩm quyền ban hành các chính sách, chương trình, dự án thuộc lĩnh vực công tác do Bộ, ngành quản lý để áp dụng đối với vùng dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn, các dân tộc rất ít người, dân tộc thiểu số có khó khăn đặc biệt, hộ dân tộc thiểu số nghèo; hướng dẫn, kiểm tra, thanh tra, sơ kết, tổng kết việc thực hiện các chính sách, chương trình, dự án thuộc quyền quản lý.

Định kỳ 06 tháng, năm gửi báo cáo về tình hình công tác dân tộc, kết quả thực hiện chính sách dân tộc thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước do Bộ, ngành chủ trì và gửi Ủy ban Dân tộc để tổng hợp, báo cáo Thủ tướng Chính phủ.

Thực hiện các nhiệm vụ quản lý nhà nước khác về công tác dân tộc theo sự phân công của Chính phủ. 

BỘ MÁY QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CÔNG TÁC DÂN TỘC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY ĐƯỢC TỔ CHỨC NHƯ THẾ NÀO?

Chính phủ là cơ quan quản lý cao nhất trong bộ máy, thống nhất quản lý nhà nước về công tác dân tộc trên mọi lĩnh vực.

Ủy ban Dân tộc có trách nhiệm giúp Chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà nước về công tác dân tộc trong phạm vi cả nước..

Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ thực hiện trách nhiệm quản lý nhà nước về công tác dân tộc theo quy định của pháp luật.

Ủy ban nhân dân các cấp thực hiện quản lý nhà nước về công tác dân tộc ở địa phương theo quy định của pháp luật, có trách nhiệm tổ chức thực hiện chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về công tác dân tộc ở địa phương.

Cơ quan công tác dân tộc được tổ chức từ Trung ương, tỉnh và cấp huyện thuộc vùng đồng bào dân tộc. Đối với cấp tỉnh: Thành lập Ban Dân tộc là cơ quan tham mưu, giúp ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện chức năng quản lý nhà nước về công tác dân tộc khi tỉnh, thành đó có một trong ba tiêu chí: Có trên 20.000 người dân tộc thiểu số sống tập trung thành cộng đồng làng, bản; có dưới 5.000 người dân tộc thiểu số đang cần Nhà nước tập trung giúp đỡ, hỗ trợ phát triển; có đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống ở địa bàn xung yếu về quốc phòng an ninh, địa bàn xen canh, xen cư, biên giới có đông đồng bào dân tộc thiểu số  nước ta và nước láng giềng thường xuyên qua lại. Đối với những tỉnh chưa đáp ứng các điều kiện quy định trên thì tổ chức làm công tác dân tộc theo một trong hai mô hình: 1) Thành lập Ban Dân tộc trực thuộc ủy ban nhân dân cấp tỉnh, chịu sự chỉ đạo trực tiếp của ủy ban nhân dân tỉnh, Văn phòng ủy ban nhân dân tỉnh đảm bảo cơ sở vật chất, kinh phí, phương tiện và điều kiện làm việc. 2) Thành lập sở có chức năng quản lý nhà nước đa ngành, đa lĩnh vực, trong đó có công tác dân tộc và công tác chuyên môn khác có liên quan đến công tác dân tộc trực thuộc ủy ban nhân dân cấp tỉnh.

Đối với cấp huyện, thực hiện theo các tiêu chí: 1) Thành lập Phòng Dân tộc thuộc ủy ban nhân dân cấp huyện khi có một trong hai tiêu chí: Có ít nhất 5.000 người dân tộc thiểu số đang cần Nhà nước tập trung giúp đỡ, hỗ trợ phát triển; Có đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống ở địa bàn xung yếu về an ninh, quốc phòng; địa bàn xen canh, xen cư; biên giới có đông đồng bào dân tộc thiểu số nước ta và nước láng giềng thường xuyên qua lại. Đối với những huyện chưa đủ các tiêu chí trên thì tổ chức làm công tác dân tộc thực hiện theo mô hình: 1) Thành lập phòng quản lý nhà nước đa ngành, đa lĩnh vực. 2) Bố trí cán bộ chuyên trách công tác dân tộc trong Văn phòng hội đồng nhân dânủy ban nhân dân hoặc phòng chuyên môn khác.

Đối với cấp xã có đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống trên địa bàn không thành lập tổ chức riêng, nhưng phân công một ủy viên ủy ban nhân dân cấp xã kiêm nhiệm theo dõi tổ chức thực hiện công tác dân tộc. 

NHỮNG LĨNH VỰC CHỦ YẾU CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CÔNG TÁC DÂN TỘC Ở VIỆT NAM LÀ GÌ?

Xây dựng, ban hành các chương trình mục tiêu quốc gia, quy hoạch, kế hoạch, chính sách về lĩnh vực công tác dân tộc; các văn bản quy phạm pháp luật về công tác dân tộc; các chính sách dân tộc, chính sách đặc thù, các chương trình, dự án, đề án phát triển vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn; tiêu chí phân định vùng dân tộc theo trình độ phát triển, tiêu chí xác định thành phần dân tộc, tiêu chí về chuẩn đói nghèo đối với vùng dân tộc thiểu số; xây dựng chính sách đào tạo nguồn nhân lực, nâng cao dân trí, bảo tồn và phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số.

Tuyên truyền, phổ biến, chế độ, chính sách pháp luật về lĩnh vực dân tộc để đồng bào các dân tộc hiểu rõ và chủ động tham gia vào quá trình thực hiện. Tuyên truyền về truyền thống đoàn kết của các dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Tổ chức tốt các phong trào tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau giữa các dân tộc trong cộng đồng. Tổ chức hoạt động kết nghĩa giữa các địa phương nhằm tương trợ giúp nhau cùng phát triển.

Tổ chức thực hiện chính sách, chiến lược, chương trình mục tiêu quốc gia, quy hoạch, kế hoạch, chính sách về lĩnh vực công tác dân tộc và liên quan đến dân tộc. Huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực đầu tư cho vùng dân tộc thiểu số. Thẩm định các chương trình, dự án, đề án, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số.

Xây dựng và tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về công tác dân tộc từ Trung ương đến cơ sở; thực hiện phân công, phân cấp có hiệu quả trong lĩnh vực công tác dân tộc. Quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng, quản lý cán bộ người dân tộc thiểu số trong hệ thống chính trị và cán bộ trong hệ thống cơ quan làm công tác dân tộc.

Xây dựng hệ thống thông tin cơ sở dữ liệu về công tác dân tộc nhằm cung cấp thông tin, dữ liệu về các tộc người, các vùng dân tộc thiểu số, các lĩnh vực quản lý nhà nước về công tác dân tộc cho các tổ chức, cá nhân để nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách, chương trình, dự án; Đồng thời làm cơ sở hoạch định, xây dựng chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật về dân tộc.

Kiểm tra, thanh tra, sơ kết, tổng kết, đánh giá việc thực hiện chính sách, chương trình, dự án ở vùng dân tộc thiểu số; việc chấp hành pháp luật về công tác dân tộc, phòng, chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, giải quyết khiếu nại, tố cáo liên quan đến công tác dân tộc theo quy định. Nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn tình hình công tác dân tộc, chiến lược công tác dân tộc, chính sách dân tộc, quản lý nhà nước về lĩnh vực công tác dân tộc.

Hợp tác quốc tế về công tác dân tộc, phối hợp với các tổ chức, cá nhân nước ngoài, tổ chức quốc tế trong việc nghiên cứu, trao đổi kinh nghiệm về công tác dân tộc; khuyến khích việc giúp đỡ, hỗ trợ đầu tư phát triển vùng dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn thực hiện tốt công tác dân tộc và chính sách dân tộc theo quy định của pháp luật. 

Thứ Ba, 12 tháng 3, 2024

NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA CÔNG TÁC DÂN TỘC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY?

Một là, tuyên truyền, vận động đồng bào dân tộc thiểu số thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước; chỉ thị, nghị quyết của các cấp ủy đảng, quy định của địa phương.

 Hai là, phát triển giáo dục và đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực dân tộc thiểu số; nâng cao chất lượng hệ thống chính trị cơ sở vùng dân tộc thiểu số và xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số; phát huy vai trò những người tiêu biểu có uy tín trong cộng đồng các dân tộc.

Ba là, phát triển sản xuất, xóa đói, giảm nghèo, phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số. Tập trung đầu tư phát triển địa bàn đặc biệt khó khăn, từng bước thu hẹp khoảng cách về trình độ phát triển và mức sống của đồng bào vùng dân tộc thiểu số và miền núi với vùng đồng bằng, đô thị.

Bốn là, tuyên truyền về truyền thống đoàn kết các dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; tổ chức các phong trào tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau giữa các dân tộc trong cộng đồng. 

 Năm là, bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào các dân tộc thiểu số, nhất là chữ viết của các dân tộc có chữ viết và các phong tục, tập quán, lễ hội truyền thống tốt đẹp của đồng bào các dân tộc. Đồng thời, vận động, hướng dẫn đồng bào khắc phục, tiến tới xóa bỏ các tập tục lạc hậu trong sinh hoạt, trong tiêu dùng và các hủ tục làm cản trở sự phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số và miền núi.

Sáu là, giữ vững an ninh trật tự, củng cố quốc phòng ở vùng dân tộc và miền núi; đấu tranh, ngăn chặn hoạt động của các thể lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo để phá hoại khối đoàn kết các dân tộc, làm mất ổn định chính trị xã hội. 

Thứ Tư, 31 tháng 1, 2024

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CÔNG TÁC DÂN TỘC Ở VIỆT NAM BAO GỒM NHỮNG NỘI DUNG NÀO?

Quản lý nhà nước về công tác dân tộc ở Việt Nam bao gồm các nội dung sau:  

1) Ban hành và chỉ đạo thực hiện chiến lược, chương trình mục tiêu quốc gia, quy hoạch, kế hoạch, chính sách về lĩnh vực công tác dân tộc.

2) Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về công tác dân tộc; xây dựng và tổ chức thực hiện các chính sách dân tộc, chính sách đặc thù, các chương trình, dự án, đề án phát triển vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn; tiêu chí phân định vùng dân tộc theo trình độ phát triển, tiêu chí xác định thành phần dân tộc, tiêu chí về chuẩn đói nghèo đối với vùng dân tộc thiểu số; xây dựng chính sách đào tạo nguồn nhân lực, nâng cao dân trí, bảo tồn và phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số.

3) Kiện toàn bộ máy cơ quan làm công tác dân tộc từ Trung ương đến cơ sở; thực hiện phân công, phân cấp có hiệu quả trong lĩnh vực công tác dân tộc.

4) Huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực đầu tư.

5) Kiểm tra, thanh tra, sơ kết, tổng kết, đánh giá việc thực hiện chính sách, chương trình, dự án ở vùng dân tộc thiểu số; việc chấp hành pháp luật về công tác dân tộc, phòng, chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, giải quyết khiếu nại, tố cáo liên quan đến công tác dân tộc theo quy định của pháp luật.

6) Tuyên truyền, giáo dục chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước bằng nhiều biện pháp, hình thức để đồng bào các dân tộc hiểu rõ và chủ động tham gia vào quá trình thực hiện.

7) Quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng, quản lý cán bộ người dân tộc thiểu số trong hệ thống chính trị và trong hệ thống cơ quan làm công tác dân tộc.

8) Xây dựng hệ thống thông tin cơ sở dữ liệu về công tác dân tộc.

9) Thẩm định các chương trình, dự án, đề án, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số.

10) Nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn công tác dân tộc, chiến lược công tác dân tộc, chính sách dân tộc, quản lý nhà nước về công tác dân tộc.

11) Hợp tác quốc tế về công tác dân tộc. 

Thứ Sáu, 26 tháng 1, 2024

NHỮNG NHIỆM VỤ CHỦ YẾU VÀ CẤP BÁCH CỦA CÔNG TÁC DÂN TỘC Ở NƯỚC TA ĐƯỢC XÁC ĐỊNH TRONG NGHỊ QUYẾT SỐ 24-NQ/TW NGÀY 12/3/2003 BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG ĐẢNG (KHÓA IX) VỀ CÔNG TÁC DÂN TỘC?

Nghị quyết  đã xác định nhiệm vụ chủ yếu và cấp bách của công tác dân tộc dân tộc ở nước ta

- Đẩy mạnh công tác xóa đói, giảm nghèo, nâng cao mức sống của đồng bào dân tộc thiểu số, trọng tâm là đồng bào ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa; trong những năm trước mắt tập trung trợ giúp đồng bào nghèo, các dân tộc đặc biệt khó khăn giải quyết ngay những vấn đề bức xúc như: tình trạng thiếu lương thực, thiếu nước sinh hoạt, nhà ở tạm bợ, không đủ tư liệu sản xuất, dụng cụ sinh hoạt tối thiểu; xây dựng kết cấu hạ tầng khu vực biên giới, vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn.

- Tiếp tục thực hiện có hiệu quả các chương trình phủ sóng phát thanh, truyền hình; tăng cường các hoạt động văn hóa, thông tin, tuyên truyền hướng về cơ sở; tăng thời lượng và nâng cao chất lượng các chương trình phát thanh, truyền hình bằng các tiếng dân tộc thiểu số; làm tốt công tác nghiên cứu, sưu tầm, giữ gìn và phát huy các giá trị, truyền thống tốt đẹp trong văn hóa của các dân tộc.

Thực hiện chương trình phổ cập giáo dục trung học cơ sở và các chương trình giáo dục miền núi, nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục, đào tạo, nhất là hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú các cấp; đẩy mạnh việc tổ chức các trường mẫu giáo công lập; mở rộng việc dạy chữ dân tộc. Đa dạng hóa, phát triển nhanh các loại hình đào tạo, bồi dưỡng, dạy nghề ở vùng dân tộc; đưa chương trình dạy nghề vào các trường dân tộc nội trú; tiếp tục thực hiện tốt chính sách ưu tiên, cử tuyển dành cho con em các dân tộc vào học tại các trường đại học và cao đẳng; mở thêm trường dự bị đại học dân tộc ở khu vực miền Trung, Tây Nguyên. Nghiên cứu tổ chức hệ thống trường chuyên đào tạo, bồi dưỡng trí thức và cán bộ là người dân tộc thiểu số. Tăng cường cơ sở khám, chữa bệnh, cán bộ y tế cho các xã, bản, thôn, ấp; nâng cao hơn nữa chất lượng công tác chăm sóc sức khỏe cho đồng bào dân tộc thiểu số; khuyến khích trồng và sử dụng các loại thuốc dân gian.

- Củng cố và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị cơ sở ở các vùng dân tộc thiểu số. Thực hiện tốt Nghị quyết Trung ương 5 (khóa IX) về kiện toàn, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ cơ sở; kiên quyết khắc phục tình trạng quan liêu, xa dân của một số cán bộ; thực hiện tốt công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng, đãi ngộ, luân chuyển cán bộ. Đẩy mạnh phát triển đảng viên trong đồng bào dân tộc, khắc phục tình trạng cơ sở không có tổ chức đảng và đảng viên.

- Xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân, phát huy sức mạnh tại chỗ để sẵn sàng đập tan mọi âm mưu phá hoại của các thế lực thù địch; tăng cường công tác đảm bảo an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, không để xảy ra những “điểm nóng” về an ninh, trật tự xã hội ở vùng dân tộc và miền núi. Tiếp tục xây dựng, phát triển nhanh các khu kinh tế kết hợp quốc phòng ở vùng sâu, vùng xa, biên giới.

Thực hiện tốt chính sách tín ngưỡng và tôn giáo ở vùng dân tộc và miền núi; kiên quyết ngăn chặn việc lợi dụng chính sách tự do tôn giáo, tự do tín ngưỡng để hoạt động phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, chống phá sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội của nước ta.

- Đổi mới nội dung, phương thức công tác dân tộc phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới.

Thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở, tạo điều kiện để nhân dân tích cực, chủ động tham gia xây dựng, thực hiện và giám sát việc thực hiện các chính sách, chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng ở địa phương. Thông qua các chính sách, biện pháp cụ thể, động viên đồng bào các dân tộc phát huy nội lực, ý chí tự lực tự cường, tinh thần vươn lên trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói, giảm nghèo, xây dựng cuộc sống ngày càng ấm no, hạnh phúc. 

Thứ Ba, 19 tháng 12, 2023

CÔNG TÁC DÂN TỘC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY ĐƯỢC THỰC HIỆN THÔNG QUA NHỮNG PHƯƠNG THỨC CƠ BẢN NÀO?

Một là, tuyên truyền, giáo dục, vận động nhân dân. Theo đó, việc tuyên truyền, giáo dục, vận động nhân dân thông qua hệ thống báo chí, phát thanh, truyền hình của Trung ương và địa phương, lực lượng  vũ trang trên địa bàn; tổ chức lực lượng tuyên truyền viên, báo cáo viên, các tổ đội công tác các cấp; thông qua hoạt động tuyên truyền và phổ biến pháp luật, kế hoạch hóa gia đình…

  Hai là, thông qua thực hiện chủ trương, chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước, các chương trình, đề án, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi làm chuyển biến mạnh mẽ cả về nhận thức và cách thức tổ chức thực hiện công tác dân tộc trên từng địa bàn, góp phần phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào các dân tộc.

Ba là, phối hợp và phát huy vai trò, trách nhiệm của các tổ chức, lực lượng trên địa bàn vùng dân tộc thiểu số và miền núi. Nội dung phối hợp là toàn diện trên tất cả các mặt hoạt động của công tác dân tộc. Tuỳ theo tình hình, đặc điểm, yêu cầu nhiệm vụ từng địa phương mà xây dựng cơ chế phối hợp cụ thể, biện pháp phát huy vai trò, trách nhiệm từng tổ chức, lực lượng tham gia, đảm bảo thiết thực, tính khả thi cao. Chú trọng phát huy vai trò lãnh đạo, quản lý, chỉ đạo của tổ chức đảng, chính quyền góp phần nâng cao đời sống về mọi mặt cho đồng bào các dân tộc.

 Bốn, thực hiện công tác kiểm tra, giám sát của cấp ủy và chính quyền địa phương các cấp. Mọi hoạt động của công tác dân tộc đều thông qua việc thực hiện vai trò, chức năng, nhiệm vụ của hệ thống chính trị các cấp, nhất là hệ thống chính trị cơ sở. Do đó, làm tốt công tác kiểm tra, giám sát hoạt động của lãnh đạo, người đứng đầu các cấp, của Hội đồng nhân dân…sẽ góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác dân tộc. 

NGUYÊN TẮC CƠ BẢN CỦA CÔNG TÁC DÂN TỘC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY?

Hiện nay, công tác dân tộc phải tuân thủ các nguyên tắc cơ bản sau:

Một là, công tác dân tộc phải tuân theo nguyên tắc “Bảo đảm các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển”[1]. Bình đẳng giữa các dân tộc là quyền ngang nhau của các dân tộc, không phân biệt dân tộc đó là đa số hay thiểu số, trình độ văn hóa, dân trí cao hay thấp, là bình đẳng trên mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và được bảo đảm bằng pháp luật. Bình đẳng không có nghĩa là cào bằng, dàn đều, mà thể hiện ở khâu phân phối tư liệu sản xuất và phân phối kết quả sản xuất, ở việc tạo điều kiện cho mọi người, mọi cộng đồng, dân tộc có cơ hội phát triển và sử dụng tốt năng lực, tiềm năng, thế mạnh của mình. Bình đẳng là cơ sở, tiền đề để các dân tộc trong cộng đồng 54 dân tộc Việt Nam thực hiện đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển; đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển là động lực thúc đẩy quá trình hiện thực hóa sự bình đẳng giữa các dân tộc ở nước ta.

Hai là, đảm bảo và thực hiện chính sách phát triển toàn diện, từng bước nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu số. “Các chính sách phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh vùng dân tộc miền núi phải toàn diện, hướng đến mục tiêu phát triển bền vững và phát huy lợi thế, tiềm năng của vùng và tinh thần tự lực của đồng bào dân tộc thiểu số.”[2] Theo đó, phải phát triển toàn diện chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội và an ninh - quốc phòng trên địa bàn vùng dân tộc và miền núi; gắn tăng trưởng kinh tế với giải quyết các vấn đề xã hội, thực hiện tốt chính sách dân tộc; quan tâm phát triển, bồi dưỡng nguồn nhân lực; chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số; giữ gìn và phát huy những giá trị, bản sắc văn hoá truyền thống các dân tộc thiểu số trong sự nghiệp phát triển chung của cộng đồng dân tộc Việt Nam thống nhất.

Ba là, đảm bảo việc giữ gìn tiếng nói, chữ viết, bản sắc dân tộc, phát huy những phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mỗi dân tộc. Quá trình thực hiện công tác dân tộc đòi hỏi các chủ thể phải giữ gìn và phát huy những giá trị này, coi đây vừa là mục tiêu vừa là động lực phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng, bảo đảm toàn vẹn chủ quyền lãnh thổ quốc gia. Bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số phù hợp với tình hình thực tế, đặc biệt chú trọng địa bàn các dân tộc có nguy cơ bị biến dạng văn hóa cao. Phát huy vai trò của các chủ thể văn hóa trong phát triển văn hóa truyền thống của các dân tộc; tôn vinh các giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của các dân tộc thiểu số; khích lệ sáng tạo các giá trị văn hóa mới; góp phần giảm dần sự chênh lệch về mức sống và hưởng thụ văn hóa giữa các vùng, các dân tộc, gắn kết giữa phát triển kinh tế với bảo tồn và phát triển văn hóa các dân tộc.  

Bốn là, các dân tộc có trách nhiệm tôn trọng phong tục, tập quán của nhau, góp phần xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Việt Nam là quốc gia đa dân tộc, có nền văn hóa thống nhất trong đa dạng, mỗi dân tộc có phong tục, tập quán riêng, đòi hỏi các dân tộc trong quá trình thực hiện công tác dân tộc, phải có trách nhiệm tôn trọng phong tục, tập quán của nhau, góp phần xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Thực hiện nguyên tắc này, dưới góc độ quản lý nhà nước, các chủ thể cần có chủ trương, biện pháp hiệu quả trong đẩy mạnh công tác tuyên truyền ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; tăng cường đồng thuận xã hội; củng cố lòng tin của đồng bào với Đảng và Nhà nước, phát huy nội lực, vượt qua khó khăn, thách thức, hoà nhập phát triển cùng với đất nước.[3]



[1] Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb CTQG-ST, Hà Nội, tr.170-171.

[2] Kết luận Số 65-KL/TW ngày 30 tháng 10 năm 2019 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX về công tác dân tộc trong tình hình mới

[3] Xin xem Nghị định Số 05/2011/NĐ-CP của Chính phủ ngày 14/01/2011 về công tác dân tộc 

Thứ Năm, 7 tháng 12, 2023

CÔNG TÁC DÂN TỘC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY CÓ NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN NÀO?

Thứ nhất, đối tượng công tác dân tộc chủ yếu là các dân tộc thiểu số, đồng bào ở vùng dân tộc thiểu số. Các dân tộc thiểu số ở Việt Nam chiếm tỷ lệ 14,7% dân số cả nước, sống rải rác ở 51 tỉnh, thành và tập trung chủ yếu ở 4 khu vực Tây Bắc, Tây Nguyên, Bắc Trung Bộ và Duyên Hải Miền Trung; Tây Nam Bộ. Mỗi dân tộc có nền văn hóa, ngôn ngữ, tôn giáo truyền thống riêng và phát triển không đều nhau; cá biệt, có những dân tộc thiểu số rất ít người, không thể tự phát triển, đòi hỏi phải có chính sách đặc thù để bảo tồn và phát triển. Vấn đề dân tộc và tôn giáo luôn song hành và nhạy cảm trong khi trình độ dân trí, văn hóa của đồng bào còn thấp, dễ bị các thế lực thù địch lợi dụng làm ảnh hưởng đến sự ổn định về an ninh, chính trị, trật tự, an toàn xã hội.  

Thứ hai, công tác dân tộc chủ yếu được thực hiện trên địa bàn vùng dân tộc thiểu số, có vị trí chiến lược quan trọng của Tổ quốc. Đây là vùng rộng lớn, địa hình chia cắt phức tạp, thường xuyên chịu ảnh hưởng của thiên tai, dịch bệnh, cơ sở hạ tầng thấp kém, tỉ lệ đói nghèo cao nhất cả nước; là địa bàn xung yếu, nhạy cảm về an ninh, chính trị. Do vậy, tiến hành công tác dân tộc gặp phải những khó khăn trong nắm bắt tình hình, tìm hiểu tâm tư nguyện vọng của đồng bào để đề xuất xây dựng chủ trương, chính sách, trong tổ chức triển khai thực hiện, công tác thanh tra, kiểm tra việc thực hiện các chương trình, dự án và chính sách đó.

Thứ ba, công tác dân tộc mang tính đa lĩnh vực, có sự tham gia của nhiều ngành, nhiều cấp trong hệ thống chính trị. Quá trình thực hiện công tác dân tộc ở Việt Nam luôn có sự tham gia, phối hợp của nhiều chủ thể, cùng hướng tới thực hiện thắng lợi nội dung, mục tiêu công tác dân tộc.

Thứ tư, đội ngũ cán bộ và hệ thống tổ chức bộ máy cơ quan công tác dân tộc từ Trung ương đến địa phương hiện nay chưa hoàn chỉnh, thiếu đồng bộ và ổn định. Do việc đào tạo, bồi dưỡng chưa được quan tâm đúng mức, nên đội ngũ cán bộ làm công tác dân tộc chưa đáp ứng theo quy chuẩn nghề nghiệp. Để đáp ứng yêu cầu tăng cường đội ngũ cán bộ làm công tác dân tộc, và cán bộ là người dân tộc thiểu số với một tỷ lệ thích hợp từ Trung ương đến địa phương, đòi hỏi phải xây dựng chính sách đào tạo, chính sách đãi ngộ đặc thù.    

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CÔNG TÁC DÂN TỘC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY ĐƯỢC HIỂU NHƯ THẾ NÀO?

Quản lý nhà nước về công tác dân tộc là quá trình tác động của nhà nước để điều hành, điều chỉnh các hoạt động kinh tế - xã hội đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số để những tác động đó diễn ra theo đúng quan điểm, đường lối của Đảng và pháp luật của Nhà nước.

Quản lý nhà nước về công tác dân tộc bao gồm các mặt hoạt động sau: Xây dựng, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về lĩnh vực dân tộc; tuyên truyền, phổ biến, chế độ, chính sách pháp luật về lĩnh vực dân tộc; tổ chức thực hiện chiến lược, chính sách và chương trình liên quan đến lĩnh vực dân tộc; xây dựng và tổ chức bộ máy thực hiện; thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực hiện chính sách dân tộc.

Thực chất quản lý nhà nước về công tác dân tộc là thực hiện luật pháp, chính sách và chương trình liên quan đến lĩnh vực dân tộc; đồng thời đây còn là sự kết hợp hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước với sự tham gia của các cộng đồng dân cư ở các vùng dân tộc thiểu số.

Nội dung quản lý nhà nước về công tác dân tộc bao gồm 11 nội dung: Ban hành và chỉ đạo thực hiện chiến lược, chương trình mục tiêu quốc gia, quy hoạch, kế hoạch, chính sách về lĩnh vực công tác dân tộc; kiện toàn tổ chức bộ máy cơ quan làm công tác dân tộc từ Trung ương đến cơ sở; thực hiện phân công, phân cấp có hiệu quả trong lĩnh vực công tác dân tộc; huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực đầu tư cho vùng dân tộc thiểu số; kiểm tra, thanh tra, sơ kết, tổng kết, đánh giá việc thực hiện chính sách, chương trình, dự án ở vùng dân tộc thiểu số; tuyên truyền, giáo dục chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước bằng nhiều biện pháp, hình thức để đồng bào các dân tộc hiểu rõ và chủ động tham gia vào quá trình thực hiện; xây dựng hệ thống thông tin cơ sở dữ liệu về công tác dân tộc; nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn tình hình công tác dân tộc, chiến lược công tác dân tộc, chính sách dân tộc, quản lý nhà nước về lĩnh vực công tác dân tộc và thực hiện hợp tác quốc tế về công tác dân tộc[1].



[1] Xin xem Nghị định Số 05/2011/NĐ-CP của Chính phủ ngày 14/01/2011 về công tác dân tộc 

NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA CÔNG TÁC DÂN TỘC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY?

Nội dung cơ bản của công tác dân tộc ở Việt Nam hiện nay là:

Một là, tuyên truyền, vận động đồng bào dân tộc thiểu số thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước; chỉ thị, nghị quyết của các cấp ủy đảng, quy định của địa phương.

 Hai là, phát triển giáo dục và đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực dân tộc thiểu số; nâng cao chất lượng hệ thống chính trị cơ sở vùng dân tộc thiểu số và xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số; phát huy vai trò những người tiêu biểu có uy tín trong cộng đồng các dân tộc.

Ba là, phát triển sản xuất, xóa đói, giảm nghèo, phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số. Tập trung đầu tư phát triển địa bàn đặc biệt khó khăn, từng bước thu hẹp khoảng cách về trình độ phát triển và mức sống của đồng bào vùng dân tộc thiểu số và miền núi với vùng đồng bằng, đô thị.

Bốn là, tuyên truyền về truyền thống đoàn kết các dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; tổ chức các phong trào tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau giữa các dân tộc trong cộng đồng. 

 Năm là, bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào các dân tộc thiểu số, nhất là chữ viết của các dân tộc có chữ viết và các phong tục, tập quán, lễ hội truyền thống tốt đẹp của đồng bào các dân tộc. Đồng thời, vận động, hướng dẫn đồng bào khắc phục, tiến tới xóa bỏ các tập tục lạc hậu trong sinh hoạt, trong tiêu dùng và các hủ tục làm cản trở sự phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số và miền núi.

Sáu là, giữ vững an ninh trật tự, củng cố quốc phòng ở vùng dân tộc và miền núi; đấu tranh, ngăn chặn hoạt động của các thể lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo để phá hoại khối đoàn kết các dân tộc, làm mất ổn định chính trị xã hội. 

CÔNG TÁC DÂN TỘC Ở VIỆT NAM ĐƯỢC HIỂU NHƯ THẾ NÀO?

Công tác dân tộc ở nước ta là tổng thể hoạt động theo chức năng và nhiệm vụ của các chủ thể, nhằm tác động và tạo điều kiện để đồng bào các dân tộc thiểu số và vùng dân tộc thiểu số  bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển”, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Đảng ta xác định: “Công tác dân tộc và thực hiện chính sách dân tộc là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của các cấp, các ngành, của toàn bộ hệ thống chính trị.”[1]

Mục đích công tác dân tộctác động và tạo điều kiện để đồng bào các dân tộc thiểu số và vùng dân tộc thiểu số cùng phát triển; đồng thời, phát huy vai trò của đồng bào các dân tộc trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa và tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc để thực hiện thắng lợi các mục tiêu cách mạng của đất nước.  

Chủ thể lãnh đạo công tác dân tộc. Trên phạm vi cả nước, Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương lãnh đạo toàn diện công tác dân tộc. Ở các địa phương, các cơ quan, đơn vị là các cấp ủy, tổ chức đảng.  

Chủ thể quản lý nhà nước về công tác dân tộc. Nhà nước thống nhất quản lý về công tác dân tộc; Chính phủ; các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ thực hiện trách nhiệm quản lý nhà nước về công tác dân tộc theo quy định của pháp luật. Ủy ban Dân tộc là cơ quan thực hiện chức năng tham mưu, quản lý nhà nước về công tác dân tộc trong phạm vi cả nước.   

Chủ thể thực hiện công tác dân tộc: Theo Nghị định số 05/2011/NĐ-CP, ủy ban nhân dân các cấp vừa là cơ quan quản lý nhà nước, vừa có trách nhiệm tổ chức thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về dân tộc và công tác dân tộc; cơ quan dân tộc ở các địa phương vừa có nhiệm vụ tham mưu cho ủy ban nhân dân, vừa chủ trì phối hợp với các ban ngành đoàn thể ở địa phương tiến hành công tác dân tộc.

Các chủ thể tham gia thực hiện công tác dân tộc: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp từ Trung ương đến địa phương, Quân đội nhân dân, Công an nhân dân...tổ chức thực hiện và tham gia thực hiện công tác dân tộc phù hợp với chức năng, nhiệm vụ và điều kiện, hoàn cảnh cụ thể ở từng địa phương.



[1] Ban Chấp hàng Trung ương, Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 12/3/2003, Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá IX) về công tác dân tộc