Hiển thị các bài đăng có nhãn B52. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn B52. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 28 tháng 12, 2020

“NẾU BẮN B52 ĐỊCH KHÔNG RƠI TẠI CHỖ, TÔI XIN LAO THẲNG VÀO NÓ”

Anh hùng Vũ Xuân Thiều sinh năm 1945, dân tộc Kinh, quê ở Nam Định, cư trú tại phố Đặng Dung, Hà Nội. Từng theo học tại trường THPT Chu Văn An và Đại học Bách khoa Hà Nội, ông trốn gia đình để nhập ngũ khi đang học đại học năm thứ 3, vào năm 1965. Sau khi được tuyển chọn vào không quân, ông mới báo tin cho gia đình biết.

Trung tuần tháng 12 năm 1972, khi Mỹ mở rộng cuộc tập kích chiến lược quy mô lớn bằng máy bay B-52 vào thành phố Hà Nội và Hải Phòng, Vũ Xuân Thiều cùng đồng đội quyết tâm diệt B-52. Để đánh chắc thắng ông đề xuất phương án công kích gần, mặc dù có khả năng nguy hiểm cho cả máy bay và người lái.

Theo tin tình báo, đêm 28-12, sẽ có 50 lần/chiếc B-52 vào đánh phá Hà Nội, Hải Phòng. Bộ Tư lệnh không quân yêu cầu tất cả các sở chỉ huy và các đơn vị trực chiến phải theo dõi chặt chẽ và sẵn sàng cất cánh chiến đấu. Trong khi đó, phi công Vũ Xuân Thiều trực ban chiến đấu tại sân bay Cẩm Thủy, phi công Đinh Tôn trực ban chiến đấu ở sân bay Nội Bài đã sẵn sàng. Ngày 28 tháng 12 năm 1972, lúc 21g41, Vũ Xuân Thiều được lệnh cất cánh từ sân bay dã chiến Cẩm Thủy, Thanh Hóa.

Lúc 21g52, Sc B-1 (Thọ Xuân) lệnh Vũ Xuân Thiều vòng phải, bay hướng 360 độ, thông báo mục tiêu phía trước 50 độ, cự ly 15 km, nhưng do nhiễu quá nặng, Vũ Xuân Thiều vẫn chưa phát hiện được mục tiêu. Lúc này tại sở chỉ huy, sĩ quan dẫn đường trên hiện sóng rađa Trần Xuân Mão, bằng kinh nghiệm của mình đã phát hiện chấm trắng đục giữa nền nhiễu, anh khẳng định đó là B-52, chúng đã đổi hướng, bay ngược lên Sơn La rồi mới vòng xuống đánh phá Hà Nội. Sở chỉ huy lập tức lệnh Thiều vòng phải gấp, bay hướng 90 độ, qua Sầm Nưa, lên hướng bắc đuổi theo tốp B-52 đang bay về hướng Nà Sản, Sơn La.

Lúc 21g58, khi đến Sơn La, Vũ Xuân Thiều phát hiện mục tiêu, anh lập tức báo cáo và tăng tốc độ bám sát. Trong bầu trời tối đen, rađa lại bị nhiễu rất nặng nên rất khó phán đoán cự ly, Vũ Xuân Thiều phán đoán cự ly bằng mắt, theo tín hiệu đèn hàng hành của B-52. Lúc này tại sở chỉ huy tiền phương phó tư lệnh Trần Mạnh nhắc: "046 bật công tắc bắn cả loạt, kiên quyết tiêu diệt địch". Phi công Vũ Xuân Thiều trả lời: "046 nghe rõ!". Ông đã phóng cả hai quả đạn tên lửa nhưng chưa hạ được nó. Ông liền tăng tốc liều mạng đâm thẳng vào chiếc B-52 còn mang đầy bom chưa ném. Anh hùng Vũ Xuân Thiều đã hy sinh oanh liệt và hạ chiếc B52, Đây là chiếc B-52 thứ hai bị hạ bởi Không quân Nhân dân Việt Nam.

Tuy được ghi nhận đã hạ B-52 nhưng Vũ Xuân Thiều không được truy tặng danh hiệu ngay vì các cấp chỉ huy e ngại các phi công khác sẽ học theo lối tấn công "cảm tử" này.

Tới tháng 12 năm 1994, ông đã được Chính phủ truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân./.

27/12/1972: TIÊM KÍCH MIG-21FM (Liên Xô chế tạo, viện trợ) LẦN ĐẦU HẠ B52

MiG-21FM của Phạm Tuân cất cánh 22h16p đêm 27-12-1972 từ sân bay dã chiến Yên Bái, theo chiến thuật "đi thấp kéo cao" nhằm tránh radar máy bay Mỹ. Sau khi mặt đất thông báo cách phi đội Mỹ 8-9 km, Phạm Tuân kéo cao rồi tăng tốc máy bay, dùng tốc độ cao để bất ngờ bay vọt qua hai tốp F-4 hộ tống, khiến những chiếc F-4 không kịp phản ứng. Sau khi vọt qua đội F-4 hộ tống, ông tiếp cận hai chiếc B-52, khi còn cách B-52 khoảng 4 km, dẫn đường mặt đất ra lệnh bắn, nhưng Phạm Tuân chờ thêm mấy giây để tiếp cận gần hơn rồi mới bắn.

Do B52 trang bị nhiều mồi nhiệt làm nhiễu đầu dò tên lửa nên ông áp sát B-52 ở cự ly 2-3 km rồi phóng tên lửa (dù tầm bắn tên lửa là 8 km), ở cự ly này tên lửa chỉ mất 2-3 giây để tới mục tiêu nên B-52 sẽ không kịp thả mồi nhiễu. Rút kinh nghiệm từ vụ Vũ Đình Rạng (chỉ phóng 1 quả tên lửa thì không đủ hạ tại chỗ B-52) nên ông phóng cả hai tên lửa không đối không NHK-8-9-1-2 vào mục tiêu, không giữ lại tên lửa dự phòng. MiG-21 tắt radar và thiết bị liên lạc để B-52 không phát hiện đang bị áp sát.

Sau khi bắn, Tuân giảm tốc, kéo máy bay lên cao và lật ngửa thoát ly thì nhìn thấy chiếc B-52 nổ, sau máy bay lao vượt qua phía trên điểm nổ. Tuy nhiên do cơ động thoát ly cấp tốc nên máy ảnh phía mũi MiG-21 đã không thể chụp lại khoảnh khắc đó làm tư liệu, hạ cánh an toàn xuống sân bay Yên Bái.

Phạm Tuân kể tiếp: Khi lên trời rồi, phi công phải nhanh chóng đi vào điều kiện thuận lợi, vậy chúng ta phải phán đoán F-4 thường chặn chúng ta ở đâu, tầm cao nào để chúng ta tránh. Nếu F-4 bay ở độ cao 3 km thì chúng ta phải bay cao hơn, tốc độ hơn. Tất cả những kinh nghiệm đó để xây dựng thành phương án bay để tránh F-4. Lên thấy F-4 nhiều lắm, bên phải có, bên trái có. Bên dưới chỉ huy là vượt qua mà đi.

Vậy vượt qua bằng cách nào? Ở đây là bản lĩnh của phi công, phải phán đoán được tình huống như thế nào. Trận đánh B-52 của tôi rất nhanh, tiếp cận B-52 chưa đầy một phút. Khi tiếp cận đằng sau B-52 với tốc độ rất cao, 1.500 km/h so với tốc độ của B52 là 900 km/h nên đã vượt qua tất cả. Vượt qua phải bao gồm tất cả nỗ lực, từ tổ chức chỉ huy, sân bay cất cánh, dẫn đường, để có được điều kiện tốt nhất.

Hiệp đồng với binh chủng tên lửa phải chặt, khi tên lửa bắn lên F-4 phải dạt ra tránh, chúng tôi tranh thủ để vượt qua. Rồi lựa chọn hướng vào tiếp cận B-52 như thế nào. Tất cả tạo nên điều kiện thuận lợi nhất đánh B-52. Tôi bắn B-52 xong rồi mà F-4 vẫn ở đằng sau nhưng không làm gì được.

Với chiến công này, sáng hôm sau (ngày 28/12) ông được đại tướng Giáp gửi điện khen. Ông được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam ngày 3-9-1973, khi đó ông mang quân hàm Thượng úy, biên đội trưởng thuộc Đại đội 5, trung đoàn 921, Sư đoàn Không quân 371.

Phạm Tuân chia sẻ, chiến công của ông có "80% là may mắn", nhưng may mắn ở đây là có thời cơ, và phải biết chớp được thời cơ đó thì mới làm nên chuyện. Ông cho biết: "Trận ấy không thực sự phức tạp. Nhưng thành quả đó có được là do chúng ta đã từng đổ xương máu, đổ mồ hôi cho những trận chiến đấu trước."