Thứ Ba, 14 tháng 2, 2023

QUÂN ĐỘI NHÂN VIỆT NAM TUYỆT ĐỐI TRUNG THÀNH VỚI ĐẢNG, NHÀ NƯỚC VÀ NHÂN DÂN

         Vào ngày 22/12/1944, tại khu rừng giữa Tổng Hoàng Hoa Thám và Trần Hưng Đạo thuộc châu Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân được thành lập theo chỉ thị của lãnh tụ Hồ Chí Minh, gồm 3 tiểu đội với 34 chiến sĩ, do đồng chí Võ Nguyên Giáp trực tiếp chỉ huy. Đây là đơn vị chủ lực đầu tiên của lực lượng vũ trang cách mạng, tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam.

Ngay sau khi thành lập, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân đã đánh thắng trận Phai Khắt (25/12/1944) và Nà Ngần (26/12/1944). Tháng 4/1945, Trung ương Đảng triệu tập Hội nghị Quân sự cách mạng Bắc Kỳ, quyết định thống nhất các lực lượng vũ trang cả nước, thành lập Việt Nam Giải phóng quân (15/5/1945), đồng chí Võ Nguyên Giáp được phân công làm Tư lệnh các lực lượng vũ trang. Tháng 8/1945, lực lượng vũ trang làm nòng cốt, hỗ trợ cho phong trào nổi dậy của quần chúng nhân dân khởi nghĩa giành chính quyền. Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, Việt Nam Giải phóng quân được đổi tên thành Vệ Quốc quân, đến năm 1946, đổi tên thành Quân đội Quốc gia Việt Nam. Năm 1950, đổi tên thành Quân đội nhân dân Việt Nam và ngày 22/12/1944 được lấy làm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam.

Từ khi được thành lập, Quân đội ta đã liên tiếp lập nên những chiến công hiển hách. Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp, đỉnh cao là chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ năm 1954, “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” là thắng lợi đầu tiên của Quân đội một dân tộc thuộc địa đánh bại một Quân đội thực dân hùng mạnh. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước vĩ đại, ở miền Nam, để đẩy mạnh đấu tranh vũ trang, ngày 15/02/1961, Quân ủy Trung ương quyết định thành lập Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam, cùng toàn dân và toàn quân ta “đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào”, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước vào mùa Xuân năm 1975. 

Hòa bình lập lại, Quân đội nhân dân Việt Nam đã tích cực tham gia xây dựng và khôi phục đất nước từ hậu quả nặng nề của chiến tranh; đồng thời cùng toàn dân đánh thắng hai cuộc chiến tranh ở biên giới Tây Nam, biên giới phía Bắc và làm tròn nhiệm vụ quốc tế cao cả ở Campuchia… Bước vào thời kỳ đổi mới, Quân đội nhân dân Việt Nam đã có những đóng góp xứng đáng vào những thành tựu chung của đất nước…

Trải qua 79 năm chiến đấu, xây dựng và trưởng thành, đối mặt với biết bao thử thách, khắc nghiệt, nhất là những bước ngoặt của cách mạng, Quân đội Nhân dân Việt Nam luôn tỏ rõ bản lĩnh của một đội quân cách mạng, từ Nhân dân mà ra, vì Nhân dân mà chiến đấu; một lực lượng chính trị đặc biệt, lực lượng chiến đấu tuyệt đối trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và Nhân dân. Quân đội Nhân dân Việt Nam không chỉ là một đội quân chiến đấu, đội quân công tác, đội quân lao động sản xuất mà còn là đội quân văn hóa, là hình mẫu của quân đội cách mạng. Trong bất kỳ điều kiện, hoàn cảnh nào, dù phải chịu đựng nhiều gian khó, hy sinh; dù phải đương đầu với những âm mưu, thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt của kẻ thù, Quân đội Nhân dân Việt Nam luôn nhất mực trung thành, tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng, chủ động, sáng tạo, mưu trí dũng cảm, quyết chiến, quyết thắng, gắn bó máu thịt với Nhân dân, thương yêu đồng chí, đồng đội, kỷ luật nghiêm minh; các thế hệ cán bộ, chiến sĩ đã nối tiếp lập nên những chiến công hiển hách, làm rạng rỡ lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, xây đắp nên truyền thống vẻ vang, xứng đáng với lời khen ngợi của Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì Chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng"... Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta đặt trọn niềm tin yêu vào Quân đội Nhân dân Việt Nam, vào sức mạnh của nền Quốc phòng toàn dân. Dù trong bất cứ điều kiện, hoàn cảnh nào, Đảng, Nhà nước và hệ thống chính trị cũng luôn chăm lo củng cố quốc phòng, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân lớn mạnh, góp phần xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. 

 

KHÔNG THỂ PHỦ NHẬN KẾT QUẢ BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI Ở VIỆT NAM

Hiện nay, trên các trang mạng xã hội, blogger cá nhân xuất hiện một số tổ chứ Quốc  tế có thâm thù, kỳ thị với chế độ chính trị và Nhà nước ta, đã lấy vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền” làm cái cớ để xuyên tạc, vu cáo Việt Nam “vi phạm nhân quyền”. Họ xuyên tạc, boi den tình hình nhân quyền ở Việt Nam rằng: “Việt Nam là một quốc gia mà tôn giáo nằm dưới sự chi phối của chính phủ”, “Việt Nam đang cô đơn" vv... Tuy nhiên, cho dù họ có ra sức chống phả, xuyên tạc, bôi đen với chiêu trò nào đi chăng nữa cũng không thể phủ nhận, xóa bỏ những thành quả to lớn về bảo đảm quyền con người mà Đảng và Nhà nước ta đã đạt được trong những năm vừa qua.

          Trong cương lĩnh, đường lối của Đảng ta từ khi thành lập đến nay, Đảng luôn nhất quán quan điểm xem quyền con người là mục tiêu của cách mạng Việt Nam. Đại hội XIII của Đảng tiếp tục khẳng định những cam kết quốc tế của Nhà Nước ta với cộng đồng quốc tế về quyền con người: Coi trọng chăm lo hạnh phúc và sự phát triển toàn diện của con người, bảo vệ và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của con người, tôn trọng và thực hiện các điều ước quốc tế về quyền con người mà nước ta ký kết. Hiến pháp năm 2013 đã dành cả một chương (chương II) quy định về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân”, nêu rõ: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bao đảm theo hiến pháp và pháp luật” (khoản 1, Điều 14)

Cho đến nay, Việt Nam đã gia nhập, ký kết nhiều công ước quốc tế cơ bản về quyền con người và công ước chuyên biệt về quyền của các nhóm xã hội dễ bị tổn thương như: “Công ước quốc tế về Quyền Dân sự, Chính trị, năm 1966; Công ước về Xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ” “Công ước chống tra tấn” (CAT) và “Công ước của Liên hợp quốc về Quyền của người khuyết tật, năm 2014.vv...

         Trên thực tế, các quyền về dân sự, chính trị, quyền tự do tín ngưỡng, tôn  giáo và quyền của các dân tộc thiểu số được bảo đảo ngày càng tốt hơn. Quyền tự do ngôn luận báo chí ngày càng được bảo đảm đầy đủ và phát triển tốt. Trên lĩnh vực kinh tế - xã hội, văn hóa, việc bảo đảm quyền con người được thực hiện ngày càng tốt hơn thông qua tốc độ tăng trưởng kinh tế. Bình quân thu nhập đầu người tăng lên; tỷ lệ hộ ghèo giảm xuống, Nhà nước đã có nhiều chính sách hỗ trợ cho nhóm ghèo, hộ ghèo, đồng bào vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số vv…

         Những thành tựu trên đây là cơ sở chính trị, pháp lý vững chắc, chứng minh quyền con người ở Việt Nam luôn được Đảng, Nhà nước ta tôn trọng và bảo đảm đầy đủ. Các thế lực thù địch dù có dung mưu thâm, kế hiểm thế nào đi chăng nữa cũng không thể phủ nhận kết quả bảo đảm quyền con người ở Việt Nam.

 

 

NHỮNG ĐÓNG GÓP NỔI BẬT CỦA TRÍ THỨC NGƯỜI VIỆT NAM Ở NƯỚC NGOÀI ĐỐI VỚI SỰ NGHIỆP XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC VIỆT NAM XÃ HỘI CHỦ NGHĨA HIỆN NAY

 Công tác người Việt Nam ở nước ngoài nói chung và công tác thu hút nguồn lực trí thức trong lực lượng này nói riêng đã thực sự được quan tâm, thúc đẩy, trở thành nhận thức chung của tất cả các cơ quan trong hệ thống chính trị và của toàn dân kể từ khi NQ 36-NQ/TW của Bộ Chính trị được ban hành ngày 26/3/2004. Đây có thể được coi là văn kiện có ý nghĩa lịch sử, có giá trị cơ bản, to lớn, toàn diện và lâu dài thể thể hiện sâu sắc tư duy đổi mới của Đảng ta về công tác này. Đây cũng là cơ sở để nhiều chủ trương, chính sách nhằm tạo môi trường “mở” cho các chuyên gia, trí thức có thể đóng góp cho đất nước đã được liên tục ban hành thời gian qua. 

Đáp lại mong muốn của Đảng và Nhà nước, cộng đồng chuyên gia, trí thức, nhà khoa học kiều bào luôn hướng về quê hương, chủ động bày tỏ nguyện vọng được đồng hành cùng Chính phủ và nhân dân trong nước đóng góp cho sự vươn lên mạnh mẽ của đất nước. Trong năm 2017, lần đầu tiên đã có bốn (04) chuyên gia là người Việt Nam ở nước ngoài tham gia vào Tổ Tư vấn Kinh tế của Thủ tướng Chính Phủ nhiệm kỳ 2016-2021, trực tiếp tham gia vào quá trình tham mưu, tư vấn chính sách cho Chính phủ nhằm từng bước tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc nảy sinh trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước như năng lượng sạch, công nghệ xanh, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững…

Bên cạnh đó, nhiều chuyên gia là người Việt Nam ở nước ngoài đã chuyển về sinh sống, làm việc lâu dài ở trong nước và có nhiều đóng góp thiết thực cho sự phát triển của đất nước. Theo số liệu ước tính của Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài – Bộ Ngoại giao, hằng năm trung bình có khoảng 300-500 lượt chuyên gia, trí thức, nhà khoa học người Việt Nam ở nước ngoài về nước tham gia các hoạt động khoa học và công nghệ, triển khai các dự án hợp tác trong giảng dạy, đào tạo nguồn nhân lực, nghiên cứu phát triển trên nhiều lĩnh vực, qua đó nâng cao năng lực nghiên cứu và ứng dụng các thành tựu khoa học, chuyển giao công nghệ và đổi mới sáng tạo tại Việt Nam.

Thời gian qua, đa bắt đầu xuất hiện nhiều nhóm trí thức người Việt Nam đa quốc gia, xuyên biên giới như Mạng lưới đổi mới sáng tạo Việt Nam hay Mạng lưới người Việt có tầm ảnh hưởng. Sự kết nối người Việt trên toàn cầu đang tạo ra các cơ chế làm việc, hợp tác ngày càng linh hoạt cho các chuyên gia trong và ngoài nước khi tham gia vào các dự án, chương trình nằm trong chiến lược phát triển quốc gia của Việt Nam. Gần đây nhất, tháng 12/2021, Mạng lưới các Hội trí thức kiều bào hỗ trợ đổi mới sáng tạo và thương mại hoá công nghệ đã ra mắt, được điều hành bởi 21 Chủ tịch của các Hội trí thức kiều bào tiêu biểu đến từ 15 quốc gia, hầu hết là từ các nước phát triển như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Úc, Đức...  

Sự đóng góp của các cá nhân người Việt Nam ở nước ngoài là chuyên gia, trí thức, nhà khoa học trong thời gian qua đã khẳng định tình yêu nước sâu nặng và tinh thần nhiệt huyết cháy bỏng luôn khát khao cống hiến trí tuệ cho quê hương, đất nước.

 

SỐ LƯỢNG TRÍ THỨC NGƯỜI VIỆT NAM Ở NƯỚC NGOÀI HIỆN NAY

Người Việt Nam ở nước ngoài hiện nay có khoảng 5,3 triệu người, đang sinh sống, làm việc trên 130 quốc gia và vùng lãnh thổ. Theo số liệu ước tính, trong số đó có khoảng hơn 600.000 trí thức, với  hơn 7.000 tiến sỹ và hàng trăm trí thức tên tuổi có uy tín quốc tế, tập trung chủ yếu ở các nước thuộc khối phương Tây. Đây là những người được đào tạo bài bản ở các nước tiên tiến, có kinh nghiệm thực tiễn, làm việc trong môi trường khoa học, công nghệ phát triển cao, làm chủ các phương pháp quản lý kinh tế chuyên nghiệp, và đặc biệt có quan hệ sâu rộng ở nước sở tại cũng như trên thế giới. Nhiều người giữ các vị trí quan trọng trong các cơ sở nghiên cứu, đào tạo, bệnh viện, doanh nghiệp và tổ chức quốc tế. Thêm vào đó, đội ngũ các nhà khoa học và chuyên gia gốc Việt thế hệ thứ 2, thứ 3 cũng đang trưởng thành, tập trung ở nhiều lĩnh vực khoa học chuyên ngành và kinh tế mũi nhọn của thế giới như công nghệ điện tử - thông tin, công nghệ sinh học, khoa học vũ trụ, vật liệu mới, công nghệ nano, năng lượng, y học, các lĩnh vực của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 như trí tuệ nhân tạo, học máy (machine learning), dữ liệu lớn (big data), các lĩnh vực quản lý kinh tế, ngân hàng, chứng khoán. Riêng tại Thung lũng Silicon, các kỹ sư công nghệ người Việt chiếm từ 2-3% nhân sự tại các công ty, tập đoàn đang hoạt động ở đây, trong đó 2% giữ các cương vị chủ chốt. Những số liệu này là minh chứng sinh động nhất cho thấy tiềm năng, tiềm lực to lớn của cộng đồng NVNONN nói chung và lực lượng chuyên gia, trí thức, nhà khoa học kiều bào nói riêng.

 


TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY XUÂN MẬU THÂN 1968, BIỂU TƯỢNG SÁNG NGỜI VỀ Ý CHÍ VÀ SỨC MẠNH CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM

Bằng cuộc tiến công và nổi dậy đồng loạt, táo bạo, dũng mãnh, nhằm vào đô thị trên toàn miền Nam, quân và dân ta đã đánh đòn quyết định vào ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, buộc chúng phải đơn phương “xuống thang chiến tranh”. Ngày 31/3/1968, Tổng thống Mỹ Giônxơn phải tuyên bố ba điểm: Đơn phương ngừng đánh phá miền Bắc Việt Nam từ vĩ tuyến 20 trở ra; chấp nhận đàm phán với ta tại Hội nghị Paris; không ra tranh cử Tổng thống Mỹ nhiệm kỳ hai. Đến tháng 5/1968, Mỹ bắt đầu khởi động quá trình đàm phán với ta về chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam. Cho dù phải 5 năm sau Mỹ mới rút hết quân ra khỏi miền Nam và phải 7 năm sau chế độ Sài Gòn mới sụp đổ, nhưng về mặt chiến lược, Mỹ đã thua cuộc từ mùa xuân năm 1968.

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 dù chưa đạt được mục tiêu cao nhất đặt ra nhưng ta đã tiêu diệt, làm tiêu hao một lực lượng quan trọng quân địch, phá huỷ nhiều vũ khí, phương tiện chiến tranh, phá vỡ hệ thống phòng thủ đô thị của chúng trên quy mô toàn miền Nam, tạo một bước phát triển đột biến trong cục diện chiến tranh, tiếp tục đưa sự nghiệp kháng chiến tiến lên.

Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 là một biểu tượng sáng ngời về ý chí và sức mạnh quật cường của quân và dân Việt Nam, là tinh thần độc lập, tự chủ, sáng tạo, tài mưu lược trong nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh của Đảng ta: nghệ thuật nắm bắt thời cơ để chủ động giáng đòn quyết định làm chuyển biến cục diện chiến tranh; nghệ thuật tiến công bằng cách đánh chiến lược mới, giành thế bất ngờ, đưa chiến tranh vào thành thị; là nghệ thuật tổ chức, bố trí và sử dụng lực lượng “lấy nhỏ đánh lớn”, “lấy ít địch nhiều”, “lấy chất lượng cao thắng số lượng đông”, lấy trí tuệ của con người Việt Nam để chiến thắng vũ khí và trí tuệ của bộ máy điều hành chiến tranh của đế quốc Mỹ.

Ý nghĩa và bài học của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 vẫn còn vẹn nguyên giá trị trong giai đoạn hiện nay. Đó là khát vọng về độc lập, tự do và hòa bình cho Tổ quốc, là niềm tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng, là tinh thần độc lập, tự chủ, sáng tạo trong hoạch định đường lối và chỉ đạo chiến lược, là sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, là sự kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, là tinh thần đoàn kết quốc tế cao cả...
Nhìn lại những chiến công hào hùng của ông cha năm xưa để các thế hệ trẻ ngày nay thêm tự hào, thêm yêu quê hương đất nước và thêm nỗ lực phấn đấu, cùng chung sức đồng lòng xây dựng một Việt Nam phát triển, hội nhập; vì một Việt Nam hùng cường, thịnh vượng.


CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG TA VỀ MỞ CUỘC TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY XUÂN MẬU THÂN 1968

Sau 10 năm (1954-1964), Mỹ thế chân Pháp vào miền Nam Việt Nam và sau bốn năm (1961-1964) tiến hành chiến lược “chiến tranh đặc biệt”, mặc dù đã bỏ ra nhiều tiền của và công sức, thi hành nhiều thủ đoạn và biện pháp, nhưng Mỹ vẫn không dập tắt được phong trào cách mạng miền Nam. Từ năm 1964 đến đầu năm 1965, cuộc đấu tranh cách mạng của đồng bào, chiến sĩ ở miền Nam phát triển nhanh chóng, thu được những thắng lợi ngày càng to lớn, khiến cho chiến lược "chiến tranh đặc biệt" của đế quốc Mỹ bị thất bại nghiêm trọng.

Trước tình hình ấy, đế quốc Mỹ chuyển sang thực hiện chiến lược "chiến tranh cục bộ", ồ ạt đưa quân Mỹ và chư hầu vào miền Nam; đồng thời, mở rộng hoạt động không quân và hải quân, ném bom bắn phá miền Bắc để gây áp lực hòng làm giảm sự chi viện về sức người, sức của từ hậu phương lớn miền Bắc cho tiền tuyến lớn miền Nam. Tuy nhiên, bằng sức mạnh của sự đoàn kết và sẵn sàng hy sinh, với đường lối quân sự đúng đắn, quân và dân miền Nam đã làm thất bại hai cuộc phản công chiến lược mùa khô 1965-1966 và 1966-1967 của Mỹ-ngụy. Hai gọng kìm "tìm diệt" và "bình định" bị bẻ gãy. Mục tiêu mà Mỹ đề ra chẳng những không thực hiện được mà còn chịu tổn thất nặng cả về sinh lực và phương tiện chiến tranh. Không cam chịu, Mỹ liều lĩnh quyết định đưa thêm 10 vạn quân chiến đấu vào miền Nam Việt Nam.

Về phía ta, tháng 12/1967, Bộ Chính trị họp phiên đặc biệt, chính thức thông qua Kế hoạch chiến lược năm 1968 và nhiệm vụ của quân và dân ta, chủ trương chuyển cuộc chiến tranh cách mạng của nhân dân ta ở miền Nam sang một thời kỳ mới - thời kỳ tiến công và nổi dậy, giành thắng lợi quyết định, tạo ra bước ngoặt lớn cho cuộc chiến tranh. Để thực hiện quyết tâm chiến lược đó, nhiệm vụ cấp bách lúc này huy động toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta ở cả hai miền Nam-Bắc cùng gấp rút chuẩn bị lực lượng, phương tiện cho cuộc tổng công kích và tổng khởi nghĩa.

Theo đó, miền Nam gấp rút chuẩn bị lực lượng, xây dựng phương án tác chiến và phương án phát động quần chúng nổi dậy, bảo đảm hậu cần tiếp tế, thông tin liên lạc; chuẩn bị cơ sở giấu ém lực lượng và bàn đạp xuất phát tiến công ở vùng ven và trong các đô thị trên toàn miền Nam. Cùng với đó, ta thực hiện kế nghi binh và đánh lạc hướng quân địch. Ta (và Lào) mở chiến dịch Nậm Bạc ở Thượng Lào, Chiến dịch Đường 9-Khe Sanh, nhằm đánh lạc hướng, thu hút quân cơ động của Mỹ, vây hãm, giam chân, tiêu hao lực lượng và sinh lực địch tạo thế cho các chiến trường khác tiến công và nổi dậy.

 


ĐẢNG VỪA LÀ NGƯỜI LÃNH ĐẠO, VỪA LÀ NGƯỜI ĐẦY TỚ THẬT TRUNG THÀNH CỦA NHÂN DÂN

Nhân dân có vị trí, vai trò to lớn trong sự nghiệp cách mạng của Đảng. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh: “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân” (1). Chính vì thế mà dân là gốc của nước, của cách mạng. Đặc biệt, từ khi giành được chính quyền, Đảng ta trở thành đảng cầm quyền thì vai trò quyết định của nhân dân càng được Bác khẳng định: “Nước lấy dân làm gốc”; “Dân chúng đồng lòng, việc gì cũng làm được. Dân chúng không ủng hộ, việc gì làm cũng không nên” (2).  Đồng thời, Bác khẳng định: “nước ta là nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ;” “Chế độ ta là chế độ dân chủ, tức là nhân dân là người chủ” (3). Vì vậy, tăng cường mối quan hệ giữa Đảng với dân sẽ tạo ra cơ sở chính trị-xã hội vững chắc cho Đảng, quyết định đến thành bại của sự nghiệp cách mạng. Cho nên, Đảng hoàn thành nhiệm vụ vẻ vang của mình, Đảng phải luôn lấy lợi ích của nhân dân, ấm no, hạnh phúc của nhân dân làm mục tiêu để phấn đấu. Mọi cán bộ, đảng viên phải xứng đáng là người lãnh đạo, người đầy tớ thật trung thành của nhân dân.

 Với vai trò là người lãnh đạo, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng phải có tầm cao trí tuệ, biết động viên, tổ chức, đoàn kết quần chúng, lấy sức quần chúng để giải phóng dân tộc, xây dựng cuộc sống mới, đem lại hạnh phúc cho nhân dân. Mọi đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng phải xuất phát từ tâm tư, nguyện vọng, lợi ích chính đáng của nhân dân, hợp lòng dân, thực sự là ngọn đèn dẫn lối, soi đường cho nhân dân hành động. Đường lối đó phải phù hợp với tuyệt đại đa số quảng đại quần chúng và thỏa mãn lợi ích nhân dân. “Mọi công tác của Đảng luôn luôn phải đứng về phía quần chúng”, Bác chỉ rõ. Khi đã có đường lối, chủ trương đúng, Đảng phải kiên quyết tổ chức thực hiện đường lối, để đường lối đó đi vào cuộc sống nhân dân.

Là người đầy tớ trung thành của nhân dân, Đảng phải thực sự là công bộc tin cậy của nhân dân. Việc gì có lợi cho dân thì hết sức làm, việc gì có hại cho dân thì hết sức tránh. Có lợi cho dân thực chất là, Đảng phải thực sự chăm lo đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân. Hết sức tránh những biểu hiện quan liêu, hách dịch, xa rời quần chúng; hạn chế, thủ tiêu vai trò, quyền lợi và nghĩa vụ của quần chúng. Tuy nhiên, là người đầy tớ, nhưng không phải là Đảng theo đuôi quần chúng, mà Đảng phải thực sự tiên phong về chính trị, tư tưởng và tổ chức, thực sự tiêu biểu cho trí tuệ, lương tâm, danh dự của dân tộc, đạo đức, văn minh của thời đại. “Chúng ta tuyệt đối không nên theo đuôi quần chúng”.

Thực tiễn lịch sử hơn 90 năm của Đảng đã chứng minh: tin dân, dựa vào dân, hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân là nguồn sức mạnh bất tận và vô địch của Đảng, đây cũng là nhân tố cơ bản, sức mạnh chủ yếu và động lực quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam.