Lịch sử Việt Nam là sự minh chứng sức mạnh của ý chí tự lực, tự
cường, khát vọng độc lập, tự do phát triển đất nước. Để chống giặc ngoại xâm và
phòng chống thiên tai, toàn dân tộc Việt Nam đoàn kết, tự lực, tự cường dựa vào
sức mạnh của mình để cùng nhau chống kẻ thù, xây dựng bảo vệ nền độc lập Khát
vọng độc lập dân tộc, ý chí tự lực, tự cường là cốt lõi sức mạnh nội sinh của
dân tộc ta. Với khát vọng và ý chí kiên cường đó, dân tộc Việt Nam chiến thắng
thực dân Pháp, đế quốc Mỹ xâm lược, bảo vệ biên cương Tổ quốc ở Tây Nam và phía
Bắc. Trong thời kỳ đổi mới từ năm 1986 đến nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân
dân Việt Nam phát huy ý chí tự lực, tự cường trong công cuộc xây dựng, phát
triển kinh tế - khoa học đất nước, trước sự chuyển biến không ngừng của tình
hình trong nước và những diễn biến phức tạp của tình hình quốc tế. Thanh niên
đóng vai trò quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước. Ở bất cứ
hoàn cảnh nào, trước mọi khó khăn thách thức, thanh niên Việt Nam luôn nỗ lực
vượt qua, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ để góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu
xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, thịnh vượng, phồn vinh và hạnh phúc, cần
phát huy ý chí tự lực, tự cường của thanh niên Việt Nam. Như lời của Tổng Bí
thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: “Thanh niên có mạnh thì dân tộc mới mạnh;
trong sức mạnh của dân tộc có sức mạnh của thanh niên. Trong suốt chiều dài
lịch sử của đất nước, thanh niên luôn nêu cao truyền thống yêu nước, chí khí
anh hùng, bất khuất của dân tộc, hăng hái đi tiên phong trên mọi lĩnh vực, có
nhiều cống hiến to lớn vào sự nghiệp dựng nước và giữ nước”. Thanh niên là lực
lượng xã hội to lớn, xung kích, sáng tạo, đi đầu trong công cuộc đổi mới, xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; có vai trò quan trọng trong
sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhập quốc tế và xây dựng
chủ nghĩa xã hội. Thanh niên - lực lượng xã hội có nhiều tiềm năng về sức khỏe,
trí tuệ và khả năng thích ứng với mọi sự thay đổi, tác động tới. Họ có tinh
thần nhiệt tình, hăng hái, ham học hỏi, có óc sáng tạo. Họ dám mơ ước và theo
đuổi ước mơ của mình. Song, do còn những hạn chế nhất định về trình độ, kinh
nghiệm sống nên thanh niên dễ bị lôi kéo, kích động, dễ có tâm lý chán nản, bị
quan trước những cám dỗ thường nhật. Do vậy, thanh niên cần được định hướng,
khơi dậy nội lực để thanh niên phát huy được tài năng, sức lực, tính sáng tạo,
có tư tưởng chính trị vững vàng. Ý chí tự lực, tự cường của dân tộc đã bồi đắp
tư tưởng và sự nghiệp cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh; góp phần vào những
thành công của cách mạng Việt Nam. Ý chí tạo nên sức mạnh tinh thần to lớn,
thôi thúc cổ vũ con người đứng lên, vượt qua những rào cản trên con đường phấn
đấu để đạt được mục đích. Ý chí giúp con người phát huy được sức mạnh bên trong
của mỗi cá nhân, đôi khi đến mức độ phi thường. Ý chí của một cộng đồng dân tộc
dựa trên sự thống nhất về tư tưởng, có lợi ích chung, tạo thành sức mạnh tinh
thần to lớn của dân tộc trong giành, bảo vệ nền độc lập cũng như trong xây
dựng, phát triển đất nước. Ý chí chính là năng lực thực hiện các hành động có
mục đích của con người hay khả năng vượt qua mọi khó khăn để đạt được mục đích.
Như vậy, phát huy ý chí tự lực, tự cường cho thanh niên Việt Nam hiện nay là
kết quả của quá trình giáo dục, rèn luyện lâu dài và đòi hỏi sự phối hợp của
các chủ thể giáo dục và đối tượng giáo dục. Tuổi trẻ là tương lai, muốn có
tương lai tốt đẹp thì mỗi thanh niên phải nỗ lực xây dựng bằng ý chí và nghị
lực của bản thân. Việc giữ gìn thành quả và tiếp tục phát huy ý chí tự lực, tự
cường và khát vọng phát triển đất nước cho thanh niên trong bối cảnh hiện nay
góp phần hình thành một thế hệ thanh niên biết phát huy truyền thống tốt đẹp
của dân tộc; có lý tưởng cách mạng, bản lĩnh chính trị vững vàng; có chí tiến
thủ; có khát vọng vươn lên lập thân, lập nghiệp, cống hiến sức trẻ và trí tuệ
cho sự phát triển của đất nước là một nhiệm vụ cơ bản và cấp thiết./.
Thứ Sáu, 3 tháng 3, 2023
RÈN LUYỆN Ý CHÍ TỰ LỰC, TỰ CƯỜNG CHO THANH NIÊN VIỆT NAM
Thứ Ba, 14 tháng 2, 2023
ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI VẪN LÀ Ý CHÍ, NGUYỆN VỌNG CỦA NHÂN DÂN VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY.
Ước mơ, khát vọng ngàn đời của người Việt Nam là: Tổ quốc độc lập, hòa bình, thống nhất, phát triển, nhân dân có cuộc sống tự do, hạnh phúc. Trong bài viết “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam", Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: "nhân dân Việt Nam đã trải qua một quá trình đấu tranh cách mạng lâu dài, khó khăn, đầy gian khổ hy sinh để chống lại ách đô hộ và sự xâm lược của thực dân, đế quốc để bảo vệ nền độc lập dân tộc và chủ quyền thiêng liêng của đất nước, vì tự do, hạnh phúc của nhân dân", "Ngay khi mới ra đời và trong suốt quá trình đấu tranh cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn luôn khẳng định: chủ nghĩa xã hội là mục tiêu, lý tưởng của Đảng Cộng sản và nhân dân Việt Nam; đi lên chủ nghĩa xã hội là yêu cầu khách quan, là con đường tất yếu của cách mạng Việt Nam".
Trong giai đoạn hiện nay, ý chí, khát vọng của người dân
Việt Nam vẫn là độc lập dân tộc và CNXH; bảo vệ vững chắc nền độc lập,
thống nhất của Tổ quốc, xây dựng, phát triển đất nước hùng cường, phồn vinh,
hạnh phúc, sánh vai với các nước trên thế giới, có vị thế xứng đáng trên bản đồ
thế giới, có trách nhiệm cao trong giải quyết các vấn đề toàn cầu trên tinh
thần tôn trọng, hòa bình, hợp tác và phát triển. Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ XIII của Đảng thành công rất tốt đẹp ở nhiều phương diện, trong đó có sự
quan tâm, đóng góp, ủng hộ của toàn xã hội. Các mục tiêu, nhiệm vụ giải pháp
đến năm 2025, 2030, 2045 mà Văn kiện Đại hội xác định nhận được sự đánh giá cao
và đồng tình của người dân. Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu
Hội đồng nhân các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026 được dư luận đánh giá cao, đặc biệt
là sự tham gia trên 99% của cử tri, có nơi đạt 100% cử tri đi bầu. Các đại biểu
trúng cử cơ bản tập trung, đúng người có tài, có đức, số phiếu tín nhiệm rất
cao. Trong cuộc chiến chống "giặc" COVID-19, cả thế giới đều ghi nhận
nước ta là số ít quốc gia kiểm soát và chống dịch hiệu quả nhất, trong đó có sự
ủng hộ, đồng tình tuyệt đối, tham gia của các cấp, các ngành và toàn dân...
Thực tế đó đã chứng minh, người dân Việt Nam luôn tin tưởng vào sự lãnh đạo của
Đảng, tin tưởng vào thắng lợi của sự nghiệp đổi mới, vào con đường đi
lên CNXH- con đường mà Đảng, Bác Hồ, các thế hệ cha anh đã lựa chọn và đổ
biết bao mồ hôi xương máu mới giành được. Đi lên CNXH vẫn là ý chí,
nguyện vọng của người dân Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY XUÂN MẬU THÂN 1968, BIỂU TƯỢNG SÁNG NGỜI VỀ Ý CHÍ VÀ SỨC MẠNH CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM
Bằng cuộc tiến công và nổi dậy đồng loạt,
táo bạo, dũng mãnh, nhằm vào đô thị trên toàn miền Nam, quân và dân ta đã đánh
đòn quyết định vào ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, buộc chúng phải đơn phương
“xuống thang chiến tranh”. Ngày 31/3/1968, Tổng thống Mỹ Giônxơn phải tuyên bố
ba điểm: Đơn phương ngừng đánh phá miền Bắc Việt Nam từ vĩ tuyến 20 trở ra; chấp
nhận đàm phán với ta tại Hội nghị Paris; không ra tranh cử Tổng thống Mỹ nhiệm
kỳ hai. Đến tháng 5/1968, Mỹ bắt đầu khởi động quá trình đàm phán với ta về chấm
dứt chiến tranh ở Việt Nam. Cho dù phải 5 năm sau Mỹ mới rút hết quân ra khỏi
miền Nam và phải 7 năm sau chế độ Sài Gòn mới sụp đổ, nhưng về mặt chiến lược,
Mỹ đã thua cuộc từ mùa xuân năm 1968.
Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu
Thân 1968 dù chưa đạt được mục tiêu cao nhất đặt ra nhưng ta đã tiêu diệt, làm
tiêu hao một lực lượng quan trọng quân địch, phá huỷ nhiều vũ khí, phương tiện
chiến tranh, phá vỡ hệ thống phòng thủ đô thị của chúng trên quy mô toàn miền
Nam, tạo một bước phát triển đột biến trong cục diện chiến tranh, tiếp tục đưa
sự nghiệp kháng chiến tiến lên.
Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân
1968 là một biểu tượng sáng ngời về ý chí và sức mạnh quật cường của quân và
dân Việt Nam, là tinh thần độc lập, tự chủ, sáng tạo, tài mưu lược trong nghệ
thuật chỉ đạo chiến tranh của Đảng ta: nghệ thuật nắm bắt thời cơ để chủ động
giáng đòn quyết định làm chuyển biến cục diện chiến tranh; nghệ thuật tiến công
bằng cách đánh chiến lược mới, giành thế bất ngờ, đưa chiến tranh vào thành thị;
là nghệ thuật tổ chức, bố trí và sử dụng lực lượng “lấy nhỏ đánh lớn”, “lấy ít
địch nhiều”, “lấy chất lượng cao thắng số lượng đông”, lấy trí tuệ của con người
Việt Nam để chiến thắng vũ khí và trí tuệ của bộ máy điều hành chiến tranh của
đế quốc Mỹ.
Ý nghĩa và bài học của cuộc Tổng tiến
công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 vẫn còn vẹn nguyên giá trị trong giai đoạn
hiện nay. Đó là khát vọng về độc lập, tự do và hòa bình cho Tổ quốc, là niềm
tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng, là tinh thần độc lập, tự chủ,
sáng tạo trong hoạch định đường lối và chỉ đạo chiến lược, là sức mạnh của khối
đại đoàn kết toàn dân tộc, là sự kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại,
là tinh thần đoàn kết quốc tế cao cả...
Nhìn lại những chiến công hào hùng của ông cha năm xưa để các thế hệ trẻ ngày
nay thêm tự hào, thêm yêu quê hương đất nước và thêm nỗ lực phấn đấu, cùng
chung sức đồng lòng xây dựng một Việt Nam phát triển, hội nhập; vì một Việt Nam
hùng cường, thịnh vượng.
Thứ Tư, 11 tháng 5, 2022
GIẢI PHÁP XÂY DỰNG BẢN LĨNH VỮNG VÀNG, Ý CHÍ QUYẾT TÂM CHO CÁN BỘ, CHIẾN SĨ TRONG QUÂN ĐỘI HIỆN NAY
Thường xuyên giáo dục, quán triệt đặc
điểm, tình hình nhiệm vụ, âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, xây dựng
cho bộ đội có bản lĩnh chính trị vững vàng, ý chí quyết tâm cao, sẵn sàng nhận
và hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao. Trong Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân
năm 1975, cuộc chiến đấu vô cùng ác liệt diễn với kẻ thù hùng mạnh, được trang
bị vũ khí hiện đại, các đơn vị trong quân đội tập trung giáo dục làm cho: Cán
bộ, chiến sỹ luôn kiên định, nêu cao tinh thần yêu nước, giác ngộ giai cấp xã
hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa, trách nhiệm chính trị, ý chí chiến đấu, tư
tưởng cách mạng tiến công, dũng cảm mưu trí, kiên quyết khắc phục khó khăn, sẵn
sàng nhận và hoàn thành nhiệm vụ trong mọi lĩnh vực, hoàn cảnh, trên mọi chiến
trường. Vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh: Dù có bao nhiêu khí giới tinh
xảo mà con người không có lập trường vững, quan điểm đúng, thiếu tinh thần
trong sạch, một lòng một dạ phục vụ nhân dân thì súng đó cũng bỏ đi”, các đơn
vị phải chú trọng giáo dục, rèn luyện cán bộ, chiến sĩ thông qua thực tiễn
chiến đấu, làm cho bộ đội nhận thức rõ âm mưu, thủ đoạn của địch, xây dựng ý
chí quyết tâm dám đánh, biết đánh và quyết đánh thắng, hình thành phẩm chất tâm
lý và bản lĩnh vững vàng cho bộ đội.
Trước yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới, yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, các đơn vị cần tổ chức tốt nhiệm vụ huấn luyện và sẵn sàng chiến đấu bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới, cần thường xuyên giáo dục cho bộ đội nhận thức sâu sắc nhiệm vụ của đơn vị và âm mưu, thủ đoạn tinh vi của các thế lực thù địch, rèn luyện cho bộ đội có ý chí quyết tâm cao, bản lĩnh chính trị vững vàng, không sợ khó khăn, gian khổ, hy sinh, tổn thất, kiên quyết đánh bại kẻ địch dù chúng có vũ khí, phương tiện chiến tranh hiện đại. Đồng thời, coi trọng giáo dục, học tập nghệ thuật quân sự, nghệ thuật tác chiến, kỹ chiến thuật, kịp thời điều chỉnh, bổ sung những nội dung mới vào quá trình huấn luyện chiến đấu. Đẩy mạnh tổng kết kinh nghiệm từ các cuộc chiến tranh gần đây kết hợp với kinh nghiệm trong các cuộc kháng chiến trước đây của quân và dân ta, xây dựng thành những tài liệu để giáo dục cán bộ, chiến sĩ.
Thứ Năm, 11 tháng 11, 2021
ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI VẪN LÀ Ý CHÍ, NGUYỆN VỌNG CỦA NHÂN DÂN VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
Ước mơ, khát vọng ngàn đời của người Việt Nam là: Tổ quốc độc lập, hòa
bình, thống nhất, phát triển, nhân dân có cuộc sống tự do, hạnh phúc.
Trong bài viết “Một số vấn đề lý luận và thực
tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam", Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: "nhân dân Việt Nam đã trải
qua một quá trình đấu tranh cách mạng lâu dài, khó khăn, đầy gian khổ hy sinh
để chống lại ách đô hộ và sự xâm lược của thực dân, đế quốc để bảo vệ nền độc
lập dân tộc và chủ quyền thiêng liêng của đất nước, vì tự do, hạnh phúc của
nhân dân", "Ngay khi mới ra đời và trong suốt quá trình đấu tranh
cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn luôn khẳng định: chủ nghĩa xã hội là mục
tiêu, lý tưởng của Đảng Cộng sản và nhân dân Việt Nam; đi lên chủ nghĩa xã hội
là yêu cầu khách quan, là con đường tất yếu của cách mạng Việt Nam".
Trong giai đoạn hiện nay, ý chí, khát vọng của người dân Việt Nam vẫn là
độc lập dân tộc gắn liền với CNXH; bảo vệ vững chắc nền độc lập, thống
nhất của Tổ quốc, xây dựng, phát triển đất nước hùng cường, phồn vinh, hạnh
phúc, sánh vai với các nước trên thế giới, có vị thế xứng đáng trên bản đồ thế
giới, có trách nhiệm cao trong giải quyết các vấn đề toàn cầu trên tinh thần
tôn trọng, hòa bình, hợp tác và phát triển. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
XIII của Đảng thành công rất tốt đẹp ở nhiều phương diện, trong đó có sự quan
tâm, đóng góp, ủng hộ của toàn xã hội. Các mục tiêu, nhiệm vụ giải pháp đến năm
2025, 2030, 2045 mà Văn kiện Đại hội xác định nhận được sự đánh giá cao và đồng
tình của người dân. Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu Hội đồng
nhân các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026 được dư luận đánh giá cao, đặc biệt là sự
tham gia trên 99% của cử tri, có nơi đạt 100% cử tri đi bầu. Các đại biểu trúng
cử cơ bản tập trung, đúng người có tài, có đức, số phiếu tín nhiệm rất cao.
Trong cuộc chiến chống "giặc" COVID-19, cả thế giới đều ghi nhận nước
ta là số ít quốc gia kiểm soát và chống dịch hiệu quả nhất, trong đó có sự ủng
hộ, đồng tình tuyệt đối, tham gia của các cấp, các ngành và toàn dân... Thực tế
đó đã chứng minh, người dân Việt Nam luôn tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng,
tin tưởng vào thắng lợi của sự nghiệp đổi mới, vào con đường đi lên CNXH-
con đường mà Đảng, Bác Hồ, các thế hệ cha anh đã lựa chọn và đổ biết bao mồ hôi
xương máu mới giành được. Đi lên CNXH vẫn là ý chí, nguyện vọng của người dân Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Thứ Ba, 18 tháng 5, 2021
ĐỘNG LỰC CHO SỰ PHÁT TRIỂN TRONG GIAI ĐOẠN MỚI
Bối cảnh quốc tế và những xu
hướng phát triển của thời đại đặt yêu cầu phải phát huy chủ nghĩa yêu nước và
tinh thần dân tộc, ý chí, khát vọng của toàn dân tộc cho sự phát triển nhanh,
hiệu quả và bền vững.
Văn kiện Đại hội XIII của Đảng
đã dự báo tình hình thế giới sẽ “…tiếp tục có nhiều thay đổi rất nhanh, phức
tạp, khó lường”. Đáng chú ý, Văn kiện đã chỉ rõ toàn cầu hóa và hội nhập quốc
tế tiếp tục tiến triển, nhưng cũng đang bị đe dọa bởi sự trỗi dậy của chủ nghĩa
dân tộc cực đoan, cạnh tranh chiến lược, cạnh tranh kinh tế, chiến tranh thương
mại diễn ra gay gắt… Trong hoàn cảnh thế giới phát triển phụ thuộc lẫn nhau,
lợi ích quốc gia, dân tộc là nhân tố quyết định để mỗi quốc gia dân tộc tham
gia vào các mối quan hệ quốc tế, hội nhập quốc tế thành công. Ngoài tiềm lực
kinh tế, ý chí tự lực, tự cường, khát vọng phát triển của toàn dân tộc là chỗ
dựa và điều kiện để mở rộng quan hệ hợp tác, hội nhập quốc tế. Trong điều
kiện cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn diễn ra gay gắt, phức tạp, tác
động mạnh mẽ đến Việt Nam hiện nay, việc giữ vững độc lập, tự chủ, khơi dậy và
phát huy ý chí tự cường, khát vọng phát triển của toàn dân tộc góp phần giữ
vững môi trường hòa bình, tận dụng cơ hội và hóa giải những thách thức đối với
độc lập, hòa bình và phát triển của dân tộc.
Trong lĩnh vực phát triển kinh
tế - xã hội và khoa học, công nghệ hiện nay, cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ
tư đang phát triển rất mạnh mẽ, tạo nên đột phá trên nhiều lĩnh vực, mang đến
cả thời cơ và thách thức đối với mọi quốc gia. Vai trò của nhân tố con
người, đặc biệt là tri thức, trí tuệ, sáng tạo có ý nghĩa quyết định để có sự
phát triển đột phá, làm thay đổi vị thế quốc gia trên bản đồ thế giới. Chúng ta
có quyền tự hào về một dân tộc Việt Nam thông minh, sáng tạo, một đội ngũ người
lao động có trình độ học vấn khá cao, một môi trường phát triển và hội nhập
quốc tế có nhiều thuận lợi nhờ thắng lợi của công cuộc đổi mới và đường lối đối
ngoại đúng đắn…, giúp nâng cao vị thế và uy tín Việt Nam trên trường quốc tế.
Đúng như khẳng định trong Văn kiện Đại hội XIII: “Đất nước đã đạt được những
thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện so với
những năm trước đổi mới. Quy mô, trình độ nền kinh tế được nâng lên. Đời sống
nhân dân được cải thiện rõ rệt cả về vật chất và tinh thần. Đất nước ta chưa
bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”. Và: “…
Cương lĩnh của Đảng tiếp tục là ngọn cờ tư tưởng, ngọn cờ chiến đấu, ngọn cờ
quy tụ sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc phấn đấu vì một nước Việt Nam “dân
giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Hơn lúc nào hết, cần phát
huy mạnh mẽ chủ nghĩa yêu nước và tinh thần dân tộc, ý chí, khát vọng phát
triển trong toàn dân tộc theo tư tưởng Hồ Chí Minh làm động lực cho sự phát
triển trong giai đoạn phát triển mới.
Phát huy chủ nghĩa yêu nước,
tinh thần dân tộc, ý chí tự cường và khát vọng phát triển đất nước trong giai
đoạn mới là nhiệm vụ của Đảng, Nhà nước và mỗi người dân để xây dựng đất nước
phồn vinh, hạnh phúc. Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng lần đầu tiên xác
định 5 quan điểm chỉ đạo công cuộc đổi mới hiện nay, trong đó, quan điểm về
động lực phát triển nêu rõ: “Khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự
cường dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển đất
nước phồn vinh, hạnh phúc…”. Để thực hiện quan điểm này, Nghị quyết yêu
cầu phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính
trị và của nền văn hoá, con người Việt Nam. Bồi dưỡng sức dân, nâng cao chất
lượng nguồn nhân lực, có cơ chế đột phá để thu hút, trọng dụng nhân tài, thúc
đẩy đổi mới sáng tạo. Ứng dụng mạnh mẽ khoa học và công nghệ, nhất là những
thành tựu của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, tạo động lực mạnh mẽ cho
phát triển nhanh và bền vững.
Để phát huy có hiệu quả ý chí,
khát vọng phát triển của dân tộc trong thời kỳ mới, cần tập trung thực hiện
hiệu quả một số giải pháp sau:
Một là, khơi dậy, nhân lên, phát huy
giá trị, sức mạnh nội sinh của ý chí, khát vọng phát triển của dân tộc. Lịch sử
cách mạng Việt Nam đã chứng tỏ chính ý chí, khát vọng phát triển của dân tộc
khi được khơi dậy, nhân lên, phát huy phù hợp sẽ tạo ra sức mạnh muôn người như
một. Trong giai đoạn hiện nay, làm cho ý chí, khát vọng phát triển của dân tộc
trở thành ý chí, khát vọng phát triển của mỗi người con đất Việt là trách nhiệm
của Đảng, trước hết, mỗi cán bộ, đảng viên phải thể hiện rõ ý chí, khát vọng
của mình, gương mẫu, làm lan tỏa, nhân lên ý chí, khát vọng phát triển của toàn
dân tộc.
Hai là, để ý chí, khát vọng phát triển
của dân tộc trở thành nguồn nội lực phát triển của đất nước, cần tập trung
tuyên truyền, khẳng định những thành tựu rất đáng tự hào, dưới sự lãnh đạo của
Đảng, toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta đã đạt được. Những thành tựu đó cũng là
kết quả của sự phát huy có hiệu quả ý chí, khát vọng phát triển của toàn dân
tộc trước đây cũng như trong giai đoạn hiện nay. Từ đó, chúng ta thêm tin
tưởng, tự hào, quyết tâm; thêm cơ sở khẳng định sự đúng đắn của con đường độc
lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội mà Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn.
Ba là, tiếp tục tháo gỡ những nút thắt
trong cơ chế quản lý kinh tế, quản lý xã hội, quản lý văn hóa, quản lý con
người... Xóa bỏ triệt để cơ chế bao cấp, xin - cho, tạo điều kiện để tất cả các
thành phần kinh tế, mỗi gia đình, cá nhân, địa phương… đều có cơ hội phát
triển, làm giàu cho mình cho đất nước. Ý chí, khát vọng phát triển của dân tộc
chỉ có thể được phát huy trên nền tảng xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng
lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng; xây dựng Nhà nước và
hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện; xây dựng đội ngũ cán bộ đủ
phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ, gắn bó mật thiết với nhân
dân. Điều này phải được coi là nhân tố có ý nghĩa quyết định trong phát huy có
hiệu quả ý chí, khát vọng phát triển của dân tộc.
Bốn là, muốn phát huy có hiệu quả ý
chí, khát vọng phát triển của dân tộc trong bất kỳ thời đại nào cũng phải dựa
vào dân; tin vào sức mạnh phi thường của quần chúng nhân dân. Sự đồng lòng của
nhân dân là điều kiện tiên quyết để phát huy có hiệu quả ý chí, khát vọng phát
triển của dân tộc. Trong tình hình mới hiện nay, sự lãnh đạo đúng đắn, nhạy bén
của Đảng, sự quản lý của Nhà nước; sự chỉ đạo, điều hành quyết liệt, kịp thời
của Chính phủ; sự vào cuộc đồng bộ, tích cực của cả hệ thống chính trị; sự đồng
tình, hưởng ứng, ủng hộ mạnh mẽ của nhân dân cả nước và đồng bào ta ở nước
ngoài là điều kiện để phát huy có hiệu quả ý chí, khát vọng phát triển của dân
tộc Việt Nam./.
VAI TRÒ QUAN TRỌNG CỦA Ý CHÍ, KHÁT VỌNG PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC TRONG TOÀN DÂN TỘC
Ý chí là khả năng vượt qua mọi
khó khăn để đạt được mục đích, là sức mạnh tinh thần to lớn, là động lực cổ vũ
con người đứng lên, vượt qua những rào cản trên con đường phấn đấu để đạt được
mục đích. Ý chí giúp con người phát huy được sức mạnh bên trong của mỗi cá
nhân, đôi khi đến mức độ phi thường. Ý chí của một cộng đồng dân tộc dựa trên
sự thống nhất về tư tưởng, có lợi ích chung, tạo thành sức mạnh tinh thần to
lớn của dân tộc trong giành, bảo vệ nền độc lập cũng như trong xây dựng, phát
triển đất nước.
Khát vọng
là những mong muốn tốt đẹp của con người với sự thôi thúc mạnh mẽ từ bên
trong để đạt được những mong muốn ấy. Cũng như ý chí, khát vọng có vai trò, ý nghĩa vô cùng quan
trọng trong cuộc sống của mỗi người, gắn với mục đích sống, nuôi dưỡng những
hoài bão lớn lao trong họ… Khát vọng chung của nhiều cá nhân trong xã hội tạo
thành khát vọng xã hội và đến lượt nó, khi đã hình thành, vận động và phát
triển, khát vọng xã hội có tác dụng lôi cuốn mọi cá nhân, vượt qua những chần
chừ, dao động, tính toán thiệt hơn…, để tham gia thực hiện thành công khát vọng
chung của xã hội.
Trong lịch sử phát triển của xã
hội loài người, sự hình thành và phát triển của mỗi quốc gia, dân tộc phụ thuộc
trước hết vào ý chí và khát vọng sống, tồn tại và phát triển của cộng đồng dân
tộc, tự mình cố kết lại để bảo vệ mình trước sức mạnh của tự nhiên, của các thế
lực bên ngoài muốn thôn tính, đô hộ, áp bức, đồng hóa dân tộc. Lịch sử đã chứng
minh không hiếm dân tộc, nền văn minh trên thế giới bị đồng hóa, bị tiêu diệt
trong quá trình biến thiên lâu dài của lịch sử, khi không có sự đoàn kết toàn
dân tộc, thiếu ý chí, khát vọng độc lập, tự cường và phát triển.
Thực tế lịch sử dân tộc Việt
Nam đã chứng minh rất rõ vai trò của ý chí tự lực, tự cường và khát vọng phát
triển. Hòn đá thề trên đỉnh núi Hy Cương, Phú Thọ nói lên ý chí, khát
vọng độc lập của Vua Hùng và Thục Phán, về sự đoàn kết, thống nhất để
chống giặc ngoại xâm, bảo vệ nền độc lập. Hai Bà Trưng phất cờ khởi nghĩa,
đền nợ nước, trả thù nhà. Triệu Thị Trinh hùng hồn khẳng
định: “Tôi muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp luồng sóng dữ, chém cá kình ở biển
Đông, đánh đuổi quân Ngô giành lại giang sơn, cởi ách nô lệ, chứ không chịu
khom lưng làm tỳ thiếp người"…
Trong những khúc quanh của lịch
sử, cộng đồng dân tộc đã sinh ra những vĩ nhân, nhìn xa, trông rộng, như
Nguyễn Trường Tộ, Vũ Duy Thanh… với tư tưởng cải cách, đổi mới để phát
triển, xây dựng đất nước độc lập, hùng cường trước hiểm họa xâm lược từ các
nước tư bản phương Tây. Lịch sử lâu dài của dân tộc đã chứng tỏ, ý chí,
khát vọng phát triển của dân tộc là nguồn nội lực xã hội khổng lồ cho sự nghiệp
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Những thành tựu và
bài học kinh nghiệm của công cuộc đổi mới toàn diện đất nước 35 năm qua một lần
nữa khẳng định vai trò quan trọng của ý chí, khát vọng phát triển đất nước
trong toàn dân tộc. Bài học kinh nghiệm quý giá nhất của công cuộc đổi mới
là dựa vào sức dân, phát huy tinh thần và ý chí khát vọng của nhân dân trong
chiến tranh cách mạng vào xây dựng phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ môi
trường hòa bình. Kết quả của công cuộc đổi mới không chỉ thể hiện bằng những
thành tựu về kinh tế, xã hội, mà còn là bài học về phát huy ý chí, khát vọng
phát triển, xây dựng đất nước ta phồn vinh, hạnh phúc, để “sánh vai với các
cường quốc năm châu” như mong muốn của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát
huy ý chí, khát vọng phát triển đất nước của toàn dân tộc gắn liền với tư tưởng
của Người về cuộc đấu tranh giành lại nền độc lập dân tộc, “trước làm cách mạng
quốc gia, sau làm cách mạng thế giới”; với tinh thần chủ động, tự lực cánh
sinh, “đem sức ta mà giải phóng cho ta”. Ngay sau khi giành được nền độc lập,
Người đặt tên nước Việt Nam gắn với các cụm từ “dân chủ, cộng hòa, độc lập, tự
do, hạnh phúc” và trong lời dặn trước lúc đi xa Người mong muốn “tột bậc” về
một nước Việt Nam “hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh”.
Tháng 9/1945, ngay sau khi nước
nhà được độc lập, Người viết thư cho học sinh, sinh viên trong ngày khai trường
năm học đầu của nước Việt Nam mới, trong đó có đoạn: “Non sông Việt Nam có
trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh
vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở
công học tập của các em”. Thể hiện ý chí và vai trò của tự lực, tự cường
trong quan hệ quốc tế, Người dặn: “Phải trông ở thực lực. Thực lực mạnh, ngoại
giao sẽ thắng lợi. Thực lực là cái chiêng mà ngoại giao là cái tiếng. Chiêng có
to tiếng mới lớn”.
Tháng 5/1965, khi tròn 75 tuổi,
Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ động viết bản Di chúc, để lại những lời dặn tâm huyết
nhất cho Đảng và nhân dân ta. Về khát vọng phát triển của dân tộc, Người viết:
“…Thắng giặc Mỹ, ta sẽ xây dựng hơn mười
ngày nay!” và đến ngày thắng lợi, chúng ta sẽ xây dựng đất
nước ta “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về ý chí
và khát vọng phát triển đất nước gắn liền với tấm gương và sự nêu gương về
trách nhiệm của mỗi người dân Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc. Chủ tịch Hồ Chí Minhkhi đã trở thành người lãnh đạo cao nhất đã nhấn mạnh
đầy đủ, thẳng thắn nhất về mong muốn của mình khi trả lời các nhà
báo: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta
được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn
áo mặc, ai cũng được học hành. Riêng phần tôi thì làm một cái nhà nho nhỏ, nơi
có non xanh, nước biếc để câu cá, trồng hoa, sớm chiều làm bạn với các cụ già
hái củi, em trẻ chăn trâu, không dính líu gì với vòng danh lợi”.
Toàn bộ cuộc đời hoạt động của
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thể hiện rõ ý chí và khát vọng của Người cho độc lập
dân tộc và phát triển. Người nói: “Cả đời tôi chỉ có một mục đích, là phấn
đấu cho quyền lợi Tổ quốc, và hạnh phúc của quốc dân. Những khi tôi phải ẩn nấp
nơi núi non, hoặc ra vào chốn tù tội, xông pha sự hiểm nghèo - là vì mục
đích đó... Bất kỳ bao giờ, bất kỳ ở đâu, tôi cũng chỉ theo đuổi một mục đích,
làm cho ích quốc lợi dân”. Trả lời của Chủ tịch
Hồ Chí Minh đối với phóng viên báo Granma (Cuba), vào ngày 14-7-1969, Người
nói: “Tôi hiến cả đời tôi cho dân tộc tôi”.
Ý chí, khát vọng của Chủ tịch
Hồ Chí Minh về độc lập của Tổ quốc, hạnh phúc cho nhân dân, hùng cường cho dân
tộc và sự hy sinh, cống hiến trọn đời của Người cho niềm mong ước ấy là tấm
gương mẫu mực về trách nhiệm của mỗi người Việt Nam trong bảo vệ vững chắc nền
độc lập dân tộc, xây dựng nước Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc. Thực hiện học tập
và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh về ý chí và khát vọng
phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc là góp phần hiện thực hóa tư tưởng của
Người trong công cuộc Đổi mới của Đảng và nhân dân ta hiện nay.
Thứ Ba, 11 tháng 5, 2021
TÍCH CỰC THAM GIA ĐI BẦU CỬ QUỐC HỘI KHÓA XV VÀ HĐND CÁC CẤP NHIỆM KỲ 2021 - 2026
Ngày 23/5/2021 tới đây, cử
tri cả nước sẽ đi bầu cử để chọn người đủ đức, đủ tài vào Quốc hội khóa XV và Hội
đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2021-2026.
Bầu cử đại biểu Quốc hội
khóa XV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026 là sự kiện
chính trị quan trọng của đất nước nhằm lựa chọn, bầu ra những đại biểu tiêu biểu,
xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân trong
Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ mới, góp phần tích cực vào việc
xây dựng, củng cố và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân,
do nhân dân, vì nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Bầu cử là cơ sở pháp lý
cho việc hình thành ra các cơ quan đại diện cho quyền lực nhà nước. Thông qua bầu
cử giúp người dân có điều kiện thể hiện quyền "làm chủ" của mình, nhất
là trong việc lựa chọn ra những người đại diện cho tiếng nói, cho lợi ích của mình.
Tham gia bầu cử đại biểu
Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp chính là hình thức dân chủ trực
tiếp, là phương thức thể hiện ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân
trong việc xây dựng nhà nước nói chung và cơ quan đại diện - cơ quan quyền lực
nhà nước từ Trung ương tới địa phương ở nước ta nói riêng. Tham gia bầu cử chính
là nơi để cử tri phát huy quyền và nghĩa vụ của công dân trong việc lựa chọn, bầu
ra những người tiêu biểu, xứng đáng cho ý chí, nguyện vọng là quyền làm chủ của
mình trong cơ quan quyền lực nhà nước, đáp ứng yêu cầu xây dựng, hoàn thiện Nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
Thứ Năm, 29 tháng 4, 2021
THAM GIA BẦU CỬ ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI VÀ HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN LÀ PHƯƠNG THỨC THỂ HIỆN Ý CHÍ, NGUYỆN VỌNG, QUYỀN LÀM CHỦ CỦA NHÂN DÂN TRONG XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
Trong quá trình lịch sử, các cuộc bầu cử
dân chủ luôn là hoạt động tiêu biểu, quan trọng nhất trong các hoạt động dân chủ
trực tiếp của người dân. Thông qua các cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu
Hội đồng nhân dân, quyền công dân, quyền "làm chủ" của dân được thể
hiện đúng với bản chất của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa: Mọi quyền lực
thuộc về nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Nói cách khác, tham gia bầu cử đại
biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp chính là hình thức dân chủ
trực tiếp, là phương thức thể hiện ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân
dân trong việc xây dựng nhà nước nói chung và cơ quan đại diện - cơ quan
quyền lực nhà nước từ Trung ương tới địa phương ở nước ta nói riêng. Tham gia bầu
cử chính là nơi để cử tri phát huy quyền và nghĩa vụ của công dân trong việc lựa
chọn, bầu ra những người tiêu biểu, xứng đáng cho ý chí, nguyện vọng là quyền
làm chủ của mình trong cơ quan quyền lực nhà nước, đáp ứng yêu cầu xây dựng,
hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
Trong lịch sử đất nước ta, sau khi Chủ tịch
Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
(02/9/1945), cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên vào ngày 06/01/1946 được tổ chức thành
công là mốc son lịch sử của thể chế dân chủ ở Việt Nam trong điều kiện đất nước
vô cùng khó khăn của "thù trong, giặc ngoài", tình hình kinh tế,
chính trị, xã hội hết sức khó khăn. Do đó, cuộc Tổng tuyển cử này không chỉ là
một cuộc vận động chính trị thông thường mà thực chất là một cuộc đấu tranh
chính trị, đấu tranh dân tộc, đấu tranh giai cấp vô cùng gay go, phức tạp. Tuy
nhiên, đại đa số người dân tham gia bầu cử luôn xúc động và tự hào vì "...
ngày mai mà một ngày đầu tiên trong lịch sử Việt Nam mà nhân dân ra bắt đầu hưởng
dụng quyền dân chủ của mình..."[1]. Trong quá trình vận động và phát triển,
tính dân chủ trong bầu cử và ứng cử ngày càng được mở rộng và quy trình bầu cử
cũng như lựa chọn nhân sự ngày càng chặt chẽ và khoa học. Mặc dù, vẫn còn một số
ít những tồn tại, hạn chế nhưng phải khẳng định một điều rằng chất lượng đại biểu
Quốc hội, Hội đồng nhân dân ngày càng được nâng cao. Điều này được minh chứng
trên diễn đàn của Quốc hội, của Hội đồng nhân dâncác cấp ngày càng xuất hiện
nhiều hơn những tiếng nói đại diện cho quyền lực nhân dân trong hoạt động kiểm
tra giám sát của các đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân, trong các phát biểu,
kiến nghị, góp ý và thông qua các văn bản quy phạm pháp luật, trong giải quyết
những vấn đề mà cử tri, nhân dân cả nước quan tâm. Để đạt được những thành tựu
trên, một trong những yếu tố quyết định và không thể không nói đến đó là tinh
thần, trách nhiệm của mỗi người dân ngày càng được nâng cao thông qua việc lựa
chọn những người đại diện xứng đáng nhất để thay mặt quyết định các vấn
đề trọng đại của đất nước, dân tộc.
Trải qua nhiều kỳ bầu cử đại biểu Quốc hội
và Hội đồng nhân dân các cấp, người dân đã ý thức được quyền và nghĩa vụ của
mình nên đã tích cực thể hiện quyền làm chủ của mình thông qua lá phiếu bầu,
tích cực tham gia vào cuộc bầu cử từ giai đoạn giới thiệu người ứng cử, tham
gia các Hội nghị cử tri để đóng góp ý kiến, nhận xét, bày tỏ sự tín nhiệm đối với
người ứng cử đến giai đoạn bỏ phiếu bầu để ngày bầu cử đã thực sự trở thành
ngày hội, một dịp sinh hoạt chính trị của đồng bào, nhân dân cả nước. Những vấn
đề chưa phù hợp trong quy chế, quy định bầu cử đã tiếp tục được hoàn thiện, tạo
cơ sở pháp lý đảm bảo cho quyền lực của người dân được thực hiện tốt hơn trên
thực tế.
Bên cạnh đó, bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng
trong suốt quá trình bầu cử là một tất yếu nhằm lựa chọn được những người tiêu
biểu, xứng đáng nhất, có đủ các tiêu chuẩn theo quy định, không tham nhũng và
kiên quyết đấu tranh phòng, chống tham nhũng; có năng lực, có điều kiện thực
thi nhiệm vụ của đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân. Đồng thời bảo
đảm cơ cấu và chất lượng, không vì cơ cấu mà giảm chất lượng. Đó là là cơ sở
pháp lý giúp cho việc hình thành các cơ quan nhà nước trong nhiệm kỳ mới, bảo đảm
tính liên thông, thống nhất với kết quả đại hội đảng bộ các cấp và Đại hội đại
biểu toàn quốc của Đảng.
Tuy nhiên, với mưu đồ chống phá công tác bầu
cử, các thế lực thù địch, các đối tượng phản động, chống đối, cơ hội chính trị
đã xuyên tạc bản chất vấn đề, đưa ra những luận điệu sai trái, khi cho rằng bầu
cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân đều là sự sắp đặt nhân sự có chủ ý,
nhân dân không có quyền thực sự. Những luận điệu xuyên tạc này của chúng nhằm
hướng lái dư luận, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc để hiện thực hóa mục
đích "cài cắm mầm mống dân chủ" vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp
với mưu đồ biến nghị trường thành diễn đàn để các đối tượng thực hiện hoạt động
chống phá, hình thành lực lượng đối lập trong Quốc hội - cơ quan quyền lực nhà
nước cao nhất, thúc đẩy "tự diễn biến", "tự chuyển hóa"
trong nội bộ và thực hiện "chiến lược diễn biến hòa bình" làm nước ta
tự suy yếu từ bên trong.
Trong lịch sử, có thể thấy chiêu bài
"đòi ghế" trong Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp của các thế lực
thù địch, các đối tượng phản động, chống đối, cơ hội chính trị không phải là vấn
đề mới. Từ năm 1946, trong lần Tổng tuyển cử đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ
cộng hòa, trong bối cảnh đất nước còn gặp nhiều khó khăn, tình hình thế giới có
nhiều diễn biến phức tạp, sau khi không phá hoại được Tổng tuyển cử, Việt Nam
Quốc dân Đảng và Việt Nam Cách mạng đồng minh Hội đã đòi 70 ghế trong Quốc hội.
Mặc dù, một trong năm phương thức lãnh đạo
của Đảng là thông qua công tác cán bộ và vai trò tiên phong gương mẫu của người
đảng viên. Đối với những cơ quan dân cử, các cấp ủy đảng cần trực tiếp xem xét,
tập thể quyết định việc lựa chọn, đánh giá, giới thiệu những cán bộ giữ chức vụ
quan trọng trong bộ máy Đảng, chính quyền và các tổ chức chính trị xã hội.
Trên thực tế, sau khi chỉ thị của Bộ Chính
trị được ban hành, hội nghị toàn quốc triển khai công tác bầu cử được tổ chức để
kịp thời quán triệt, xây dựng kế hoạch triển khai công tác bầu cử. Hội đồng Bầu
cử quốc gia, Ủy ban Thường vụ Quốc hội... ban hành nhiều văn bản lãnh đạo, chỉ
đạo và hướng dẫn công tác bầu cử từ Trung ương đến địa phương. Các cấp ủy đảng,
Mặt trận Tổ quốc, chính quyền, các tổ chức đoàn thể ở địa phương cũng tiến hành
khẩn trương, nghiêm túc các công việc chuẩn bị bầu cử và lãnh đạo, chỉ đạo công
tác bầu cử ở các cấp. Các tổ chức phụ trách bầu cử được thành lập theo đúng quy
trình và triển khai thực hiện tốt các nhiệm vụ theo quy định. Việc chuẩn bị
nhân sự ứng cử đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng, Đoàn Chủ tịch Ủy ban
Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam chủ trì và tổ chức các hội nghị hiệp
thương, hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác, nơi cư trú đối với người ứng cử
đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp.
Quốc hội Việt Nam là cơ quan quyền lực nhà
nước cao nhất, cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, có chức năng lập pháp,
quyết định những chủ trương, chính sách quan trọng của đất nước về đối nội, đối
ngoại và giám sát tối cao hoạt động của bộ máy nhà nước; Hội đồng nhân dân là
cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền
làm chủ của nhân dân, do nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước
nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên. Do đó, thực hiện thành công
cuộc bầu cử sẽ thiết thực góp phần xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; đồng thời củng cố niềm
tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta.
Vì vậy, việc lựa chọn, bầu ra những người tiêu biểu về đức, tài, xứng đáng đại
diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân trong Quốc hội và Hội
đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ mới là nhiệm vụ hết sức quan trọng đối với toàn
Đảng, toàn dân, toàn quân.
Những luận điệu của các thế lực thù địch,
phản động cho rằng: "Việc bầu cử Quốc hội và Hội đồng nhân dân chỉ là
nghĩa vụ chứ không phải là quyền lợi, dân chủ, đều là sự sắp đặt nhân sự có chủ
ý, nhân dân không có quyền thực sự"... là hoàn toàn xuyên tạc, sai sự thật,
nhằm xuyên tạc, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, chống phá chế độ, chống
phá Đảng, Nhà nước Việt Nam trước thềm bầu cử Quốc hội khóa XV và Hội đồng nhân
dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026./.
Thứ Hai, 22 tháng 3, 2021
NGUYÊN TẮC BẦU CỬ ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI VÀ HĐND CÁC CẤP LÀ BẢO ĐẢM Ý CHÍ CỦA NHÂN DÂN VÀ PHÙ HỢP VỚI XU HƯỚNG TIẾN BỘ XÃ HỘI
Bầu cử là việc công dân của một quốc gia lựa
chọn những người đại diện để trao quyền cho họ thay mặt mình quyết định
các vấn đề trọng đại của đất nước. Mỗi quốc gia có cách tổ chức và quy
định bầu cử khác nhau, không thể lấy mô hình của nước này áp đặt lên nước khác
được bởi vì hệ thống chính trị nói chung, hệ thống bầu cử nói riêng trên thế giới
hiện rất đa dạng, cho nên tùy thuộc vào chế độ chính trị, lịch sử, kinh tế, văn
hóa của quốc gia - dân tộc và xu thế tiến bộ của nhân loại như thế nào. Về mô
hình bầu cử các nước cũng khác nhau: mô hình bầu cử ở các quốc gia theo chế độ
đa đảng (lấy việc bầu cho đại diện của mỗi đảng làm tiêu chí) khác với các quốc
gia bầu cử theo tỷ lệ cử tri và theo địa bàn hành chính; mô hình bầu cử trực tiếp
khác với mô hình bầu cử gián tiếp - thông qua đại cử tri… Song về tổng
quan luật bầu cử một số nước trên thế giới hiện nay là theo nguyên tắc: “phổ
thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín”.
Ở Việt Nam, Hiến pháp và Luật Bầu cử Việt
Nam quy định: cử tri bầu đại biểu Quốc hội và HĐND các cấp theo bốn nguyên tắc: phổ
thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín. Những quy định của pháp luật
bầu cử ở Việt Nam thể hiện một cách nhất quán nhận thức về các nguyên tắc bầu cử
để đảm bảo ý chí của nhân dân, phù hợp với xu hướng tiến bộ xã hội, phù hợp với
Tuyên ngôn nhân quyền mà Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua năm 1948 đã nêu
rõ: “Ý chí của nhân dân phải là cơ sở của quyền lực nhà nước. Ý chí này thể hiện
qua các cuộc bầu cử định kỳ và chân thực, theo nguyên tắc phổ thông đầu phiếu,
bình đẳng và bỏ phiếu kín hoặc bằng những tiến trình bầu cử tự do tương đương”.
Về nguyên tắc phổ thông: pháp luật bầu cử
của các nước đều khẳng định, nguyên tắc phổ thông đầu phiếu là một trong những
nguyên tắc cơ bản của chế độ bầu cử. Nguyên tắc phổ thông đầu phiếu trong bầu cử
bảo đảm để mọi công dân không phân biệt dân tộc, nam, nữ, thành phần xã hội,
tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hoá, nghề nghiệp, thời hạn cư trú, (trừ những
người mất trí hay những người bị tước quyền bầu cử trên cơ sở của pháp luật), đến
tuổi trưởng thành đều được trao quyền bầu cử. Yêu cầu của nguyên tắc này là Nhà
nước phải bảo đảm để cuộc bầu cử thực sự trở thành một cuộc sinh hoạt chính trị
rộng lớn, tạo điều kiện thuận lợi để công dân thực hiện quyền bầu cử của mình,
bảo đảm tính dân chủ, công khai và sự tham gia rộng rãi của các tầng lớp nhân
dân trong bầu cử. Đối với Việt Nam, Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu
HĐND quy định đối với việc bầu cử đại biểu Quốc hội: (1) Ngày bầu cử phải là
ngày chủ nhật, được Quốc hội ấn định và công bố chậm nhất là 115 ngày trước
ngày diễn ra bầu cử; (2) Các tổ chức phụ trách bầu cử được thành lập công khai,
có sự tham gia của đại diện các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và đoàn thể
nhân dân; (3) Thời gian bỏ phiếu được quy định thống nhất trong cả nước từ 7 giờ
sáng đến 7 giờ tối (trừ những trường hợp đặc biệt theo quy định của Luật); (4)
Mọi công dân cư trú thường xuyên hoặc tạm trú đều được ghi tên vào danh sách cử
tri; (5) Danh sách cử tri được niêm yết công khai chậm nhất là 40 ngày trước
ngày diễn ra bầu cử; (6) Danh sách ứng cử viên cũng được lập và niêm yết công
khai chậm nhất là 20 ngày trước ngày diễn ra bầu cử để cử tri tìm hiểu và lựa
chọn.
Về nguyên tắc bình đẳng: Bình đẳng
trong bầu cử là nguyên tắc nhằm bảo đảm để mọi công dân đều có cơ hội ngang
nhau tham gia bầu cử, nghiêm cấm mọi sự phân biệt dưới bất cứ hình thức nào. Mỗi
cử tri có một phiếu bầu đối với một cuộc bầu cử và giá trị phiếu bầu như nhau
không phụ thuộc vào giới tính, địa vị xã hội, sắc tộc, tôn giáo,... Nguyên tắc
này được thể hiện trong các quy định của pháp luật về quyền bầu cử và ứng cử của
công dân. Mỗi cử tri chỉ được ghi tên vào danh sách cử tri ở một nơi cư trú; mỗi
ứng cử viên chỉ được ghi tên ứng cử ở một đơn vị bầu cử; mỗi cử tri chỉ được bỏ
một phiếu bầu. Nguyên tắc bình đẳng còn đòi hỏi phải có sự phân bổ hợp lý cơ cấu,
thành phần, số lượng đại biểu để bảo đảm tiếng nói đại diện của các vùng, miền,
địa phương, các tầng lớp xã hội, các dân tộc thiểu số và phụ nữ phải có tỷ lệ đại
biểu phù hợp.
Về nguyên tắc trực tiếp: Bầu cử trực tiếp
có nghĩa là cử tri trực tiếp thể hiện ý chí của mình qua lá phiếu, cử tri trực
tiếp bầu ra đại biểu của mình chứ không qua một cấp đại diện cử tri nào.Nguyên
tắc bầu cử trực tiếp đòi hỏi cử tri không được nhờ người bầu hộ, bầu thay hoặc
bầu bằng cách gửi thư. Cử tri tự bỏ lá phiếu bầu vào hòm phiếu. Trường hợp cử
tri không thể tự viết phiếu bầu thì nhờ người khác viết hộ, nhưng phải tự mình
bỏ phiếu; người viết hộ phải bảo đảm bí mật phiếu bầu của cử tri; nếu cử tri vì
tàn tật không tự bỏ phiếu được thì nhờ người khác bỏ phiếu vào hòm phiếu.Trường
hợp cử tri ốm đau, già yếu, tàn tật không thể đến phòng bỏ phiếu được thì tổ bầu
cử mang hòm phiếu phụ và phiếu bầu đến nơi ở của cử tri để cử tri nhận phiếu bầu
và thực hiện các thủ tục bỏ phiếu.
Về nguyên tắc bỏ phiếu kín: thể hiện ở
việc loại trừ sự theo dõi và kiểm soát từ bên ngoài đối với việc thể hiện ý chí
(sự bỏ phiếu) của cử tri. Mục đích của nguyên tắc này là nhằm đảm bảo tự do đầy
đủ sự thể hiện ý chí của cử tri.Để bảo đảm khách quan trong việc lựa chọn của cử
tri, các nước thường quy định việc bỏ phiếu kín và Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội,
đại biểu HĐND nước ta quy định việc bầu cử đại biểu Quốc hội được tiến hành bằng
cách bỏ phiếu kín. Theo nguyên tắc này, cử tri bầu ai, không bầu ai đều được bảo
đảm bí mật. Khi cử tri viết phiếu bầu không ai được đến gần, kể cả cán bộ, nhân
viên các tổ chức phụ trách bầu cử; không ai được biết và can thiệp vào việc viết
phiếu bầu của cử tri. Cử tri viết phiếu bầu trong buồng kín và bỏ phiếu vào hòm
phiếu.
Bốn nguyên tắc nói trên là một chỉnh thể,
thiếu sót ở nguyên tắc nào cũng ảnh hưởng đến nguyên tắc khác. Để buộc các chủ
thể phải tuân thủ các nguyên tắc nói trên, Nhà nước pháp điển hóa các nội dung
của chúng thành các quy phạm pháp luật. Theo chiều hướng của sự phát triển xã hội
ngày càng mở rộng dân chủ, thì các hình thức biểu hiện của các nguyên tắc bầu cử
trên đây càng đa dạng, càng phong phú, càng góp phần đảm bảo tính chất dân chủ
của các cuộc bầu cử. Việc thực hiện bốn nguyên tắc bầu cử nói trên là một nét
ưu việt của chế độ dân chủ trong bầu cử và là thước đo trình độ dân chủ của đất
nước dưới sự lãnh đạo của Đảng, quy tụ sức mạnh của quần chúng nhân dân, phát
huy cao nhất quyền làm chủ của mỗi công dân; đồng thời, trao đổi để đi đến một
cơ cấu đại biểu hợp lý đảm bảo cho các thành phần xã hội đều có đại diện trong
Quốc hội mới.
Quốc hội Việt Nam là cơ quan quyền lực Nhà
nước cao nhất, cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, có chức năng lập pháp,
quyết định những chủ trương, chính sách quan trọng của đất nước về đối nội, đối
ngoại và giám sát tối cao hoạt động của bộ máy Nhà nước. Trong bối cảnh toàn Đảng,
toàn dân và toàn quân ta đang nỗ lực đoàn kết hướng đến Đại hội lần thứ XIII của
Đảng bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV, đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021-2026
sắp tới như ngày hội của toàn dân với tinh thần phấn khởi, tự hào để thông qua
lá phiếu có trách nhiệm của mình lựa chọn những đại biểu thực sự có đức, có tài
đại diện cho lợi ích, ý chí, nguyện vọng của nhân dân xứng đáng là nơi gửi gắm
niềm tin của cử tri cả nước vì một nước Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, dân chủ,
công bằng, văn minh”. Thực hiện thành công cuộc bầu cử sẽ thiết thực góp phần
xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do
nhân dân, vì nhân dân; đồng thời củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng,
Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Vì vậy, việc lựa chọn, bầu ra những
người tiêu biểu về đức, tài, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền
làm chủ của nhân dân trong Quốc hội và HĐND các cấp nhiệm kỳ mới là nhiệm vụ hết
sức quan trọng đối với toàn Đảng, toàn dân, toàn quân. Do vậy, những luận điệu
của các thế lực thù địch, phản động cho rằng: “Việc bầu cử Quốc hội và HĐND chỉ
là nghĩa vụ chứ không phải là quyền lợi, dân chủ, đều là sự sắp đặt nhân sự có
chủ ý, nhân dân không có quyền thực sự”... là hoàn toàn xuyên tạc sai sự thật,
nhằm tuyên truyền chống phá chế độ, chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam trước thềm
Đại hội Đảng lần thứ XIII, bầu cử Quốc hội và HĐNDcác cấp nhiệm kỳ 2021-2026,
nhằm gây nhũng loạn thông tin, mâu thuẫn nội bộ mà thôi./.
Thứ Sáu, 15 tháng 1, 2021
KHÔNG CÓ CHUYỆN ĐẠI BIỂU NHẤN NÚT BIỂU QUYẾT THEO “CHỈ ĐẠO”
Thực tế đã chứng tỏ Quốc hội (QH) Việt Nam hoạt động ngày càng hiệu
quả. ĐBQH nhấn nút biểu quyết thông qua luật trên cơ sở ý chí, nguyện vọng
của cử tri. Thế nhưng, vẫn có người lại đưa ra luận điệu lạc lõng là "QH
Việt Nam chỉ thảo luận, thông qua những nội dung theo quyết định của Đảng, việc
thảo luận dự án luật chỉ để “cho vui". Luận điệu này khó có thể thuyết phục
được những người quan tâm, theo dõi hoạt động của QH và đông đảo cử tri Việt
Nam.
Trên thực tế, những vấn đề quan trọng, trong đó có các
dự án luật mà QH xây dựng, thông qua đều có dấu ấn lãnh đạo của Đảng Cộng sản
Việt Nam. Đó là điều bình thường, bởi theo Điều 4, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa (XHCN) Việt Nam năm 2013, Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo
Nhà nước và xã hội. Tuy nhiên, cũng theo quy định của Hiến pháp, Đảng Cộng sản
Việt Nam gắn bó mật thiết với nhân dân, phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của
nhân dân và chịu trách nhiệm trước nhân dân về quyết định của mình. Các tổ chức
của Đảng và đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp
và pháp luật. Mọi hoạt động của Đảng Cộng sản Việt Nam đều hướng tới nhân dân,
vì nhân dân. Bởi vậy, việc QH Việt Nam thảo luận về những vấn đề do Đảng lãnh đạo
là đúng Hiến pháp, vì nhân dân, đáp ứng nguyện vọng của nhân dân.
Thực tế, trước khi thông qua luật hoặc nghị quyết, các
ĐBQH đều được thảo luận, tranh luận dân chủ, thẳng thắn. Những nội dung
không thuộc bí mật quốc gia đều được công bố công khai, minh bạch cả về tài liệu
lẫn các ý kiến thảo luận. Những đạo luật lớn liên quan tới các vấn đề lớn của đất
nước được đông đảo cử tri và nhân dân quan tâm như: Hiến pháp, Luật Đất đai...
đều được phát thanh, truyền hình trực tiếp các buổi thảo luận để cử tri, nhân
dân theo dõi, giám sát.
Những ai thường xuyên theo dõi hoạt động QH đều biết rằng,
các dự án luật khi đưa ra QH thảo luận đều có những ý kiến đồng tình, ý kiến phản
bác. Tất cả ý kiến dù đồng tình hay phản bác đều được trân trọng, tiếp thu, giải
trình đầy đủ và QH chỉ quyết định theo đa số. Mấy nhiệm kỳ gần đây, không dự án
luật nào mà tất cả các ĐBQH đều nhất trí. Một số dự án luật chỉ khoảng
70% ĐBQH nhấn nút đồng ý khi thông qua; thậm chí có dự án luật không
được thông qua. Như vậy, trong số những đại biểu nhấn nút không đồng ý, chắc chắn
có đại biểu là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam. Do đó, không thể có chuyện ĐBQH là
đảng viên đều phải nhấn nút biểu quyết đồng ý theo “chỉ đạo”.
Cũng có những nội dung sau khi thảo luận, tranh luận
đã bị QH bác bỏ, chẳng hạn việc QH chưa đồng ý thành lập Tòa án Nhân dân khu vực,
Viện Kiểm sát Nhân dân khu vực khi thông qua các luật tổ chức liên quan tới hai
ngành này. Tại Kỳ họp thứ tám, QH khóa XIV, cơ quan soạn thảo đề xuất mở rộng
khung thỏa thuận làm thêm giờ. Tuy nhiên, sau khi các ĐBQH nhận được ý kiến của
cử tri đã thảo luận rất sôi nổi về vấn đề này. Kết quả biểu quyết cho thấy, đa
số ĐBQH không nhất trí mở rộng khung thỏa thuận làm thêm giờ.
Mới đây nhất, vào tháng 11-2020, tại Kỳ họp thứ mười,
khi UBTVQH xin ý kiến ĐBQH về các vấn đề liên quan đến dự án Luật Giao thông đường
bộ (sửa đổi) và dự án Luật Bảo đảm trật tự, an toàn giao thông đường bộ, đã có
tới 302 đại biểu không đồng ý (62,79%) việc tách nội dung bảo đảm trật tự, an
toàn giao thông đường bộ trong Luật Giao thông đường bộ hiện hành để ban hành
luật riêng. 321 đại biểu không đồng ý (66,74%) với đề xuất của Chính phủ trong
việc thay đổi thẩm quyền quản lý đào tạo, sát hạch, cấp giấy phép lái xe từ Bộ
Giao thông vận tải sang Bộ Công an.
Tại cuộc họp báo ngay sau kết thúc kỳ họp, đồng chí
Nguyễn Trường Giang, Phó chủ nhiệm Ủy ban pháp luật của QH cho biết: “Qua thăm
dò xin ý kiến, có kết quả như vậy là làm đúng theo tinh thần mới, thể hiện tính
dân chủ và quy định chung của QH. Ủy ban Pháp luật cũng không có quyền bác luật,
mà chính QH sẽ quyết định. Ủy ban Pháp luật sẽ tham mưu và thẩm tra theo đúng
quy định của pháp luật”.
Đó là những ví dụ cụ thể khẳng định QH Việt Nam không “thảo luận cho vui” mà thảo luận dân chủ, quyết định theo đa số, theo ý nguyện của cử tri và nhân dân. Những luận điệu nhằm làm giảm sút niềm tin của nhân dân với QH chẳng thể nào làm thay đổi được thực tế.
Thứ Hai, 11 tháng 1, 2021
KỶ NIỆM 75 NĂM NGÀY TỔNG TUYỂN CỬ ĐẦU TIÊN BẦU QUỐC HỘI VIỆT NAM (6/1/1946 - 6/1/2021)
Cách đây 75 năm, ngày 6/1/1946, hưởng ứng lời hiệu triệu
của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân khắp mọi miền đất nước đã nô nức tham gia vào
cuộc Tổng tuyển cử để bầu ra Quốc hội của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là
nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.
Đó là một ngày trọng đại của đất nước, khi người dân lần
đầu tiên được bỏ phiếu chọn ra người đại diện cho mình. Đó là một ngày chưa có
tiền lệ trong lịch sử dân tộc. Trước Tổng tuyển cử 1 tuần, ngày 31/12/1945, Chủ
tịch Hồ Chí Minh viết bài đăng trên báo Cứu quốc, số 130. Người kêu gọi: Tổng
tuyển cử là một dịp cho toàn thể quốc dân tự do lựa chọn những người có tài, có
đức, để gánh vác công việc nhà nước. Trong cuộc Tổng tuyển cử, hễ là người muốn
lo việc nước thì đều có quyền ra ứng cử, hễ là công dân thì đều có quyền đi bầu
cử. Không chia gái trai, giàu nghèo, tôn giáo, nòi giống, giai cấp, đảng phái,
hễ là công dân Việt Nam thì đều có hai quyền đó. Do Tổng tuyển cử mà toàn dân bầu
ra Quốc hội, Quốc hội bầu ra Chính phủ, Chính phủ đó thật sự là Chính phủ của
toàn dân.
Cuộc Tổng tuyển cử ngày 6/1/1946 đánh dấu bước trưởng
thành mang tính bước ngoặt của Nhà nước cách mạng Việt Nam, mở ra một thời kỳ mới,
thời kỳ đất nước ta có một Quốc hội, một Chính phủ thống nhất, từ đó có một một
bản Hiến pháp tiến bộ và một hệ thống chính quyền đại diện cho nhân dân Việt
Nam về đối nội, đối ngoại.
Cuộc Tổng tuyển cử thắng lợi đã đưa đến xây dựng bản
Hiến pháp đầu tiên của đất nước. Hiến pháp là đạo luật cơ bản, luật gốc của Nhà
nước, các quy định của Hiến pháp là cơ sở pháp lý để xây dựng, hoàn thiện hệ thống
pháp luật đồng bộ, thống nhất; đồng thời là cơ sở cho việc tổ chức, hoạt động của
bộ máy nhà nước.
Sau khi Tổng tuyển cử thành công, ngày 2/3/1946, Quốc
hội đã nghe Chính phủ trình bày bản dự thảo Hiến pháp. Trên cơ sở đó, Quốc hội
(Khoá I, Kỳ họp thứ Nhất) đã thành lập Ban dự thảo Hiến pháp gồm 11 người là đại
biểu của nhiều tổ chức, đảng phái khác nhau do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu.
Ngày 28/10/1946, tại Nhà hát lớn Hà Nội, kỳ họp thứ hai của Quốc hội khoá I
khai mạc. Ngày 9/11/1946, sau hơn mười ngày làm việc khẩn trương, Quốc hội đã
thông qua bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà với sự nhất
trí của 240/242 đại biểu dự họp.
Như vậy là trong một thời gian rất ngắn, hai việc cực
kỳ hệ trọng đều đã hoàn thành: Tổng tuyển cử bầu Quốc hội và xây dựng, thông
qua Hiến pháp đầu tiên của đất nước.
Năm 1945, tháng 8 Mùa Thu, với cuộc cách mạng long trời
lở đất người Việt Nam giành độc lập cho đất nước, tự do cho giống nòi. Đầu năm
1946, người Việt Nam bầu ra Quốc hội của mình và Quốc hội đã quyết định bản Hiến
pháp đầu tiên của đất nước. Những công việc cực kỳ lớn lao và hệ trọng ấy được
thực hiện trong một thời gian rất ngắn, nhưng chính là nền tảng cơ bản, vững chắc
để một lần nữa toàn quốc kháng chiến, quyết gìn giữ độc lập, ngày 19/12/1946.
Ngày 30/12/2020, dự họp mặt kỷ niệm 75 năm Ngày Tổng
tuyển cử đầu tiên của Quốc hội Việt Nam và tổng kết nhiệm kỳ khóa XIV
(2016-2021) của Đoàn đại biểu Quốc hội đơn vị tỉnh Bến Tre, Chủ tịch Quốc hội
Nguyễn Thị Kim Ngân nhấn mạnh: Cách đây 75 năm, ngày 6/1/1946, một sự kiện trọng
đại đã đi vào lịch sử nước ta như một mốc son chói lọi, đánh dấu bước phát triển
về thể chế dân chủ, mở ra một thời kỳ phát triển mới của đất nước Việt Nam. Đó
là Ngày Tổng tuyển cử đầu tiên. Chủ tịch Quốc hội cũng cho biết, trải qua 75 năm
với 14 nhiệm kỳ hoạt động, Quốc hội Việt Nam đã không ngừng lớn mạnh, thực hiện
có hiệu quả chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Hiến pháp và pháp
luật. Các thế hệ đại biểu Quốc hội luôn thể hiện và phát huy tốt tinh thần trách
nhiệm, phẩm chất, trí tuệ, là đại biểu đại diện cho ý chí, nguyện vọng chính đáng
của nhân dân.
Thật vui mừng khi chất lượng các vị đại biểu Quốc hội
ngày càng cao, bản lĩnh của các vị đại biểu dân cử cũng được thể hiện sắc nét, đặc
biệt rõ tại các phiên chất vấn - trả lời chất vấn của các kỳ họp Quốc hội gần đây.
Qua các vị đại biểu Quốc hội, hầu hết những vấn đề người dân quan tâm, mong đợi
đều đã được vang lên trên Nghị trường. Điều đó cho thấy tính dân chủ của Quốc hội,
trí tuệ cũng như bản lĩnh, trách nhiệm của những người đại diện cho dân. Những
việc trọng đại của đất nước hay là những việc rất cụ thể trong cuộc sống hàng
ngày của người dân cũng đều được các vị đại biểu Quốc hội phản ánh, kiến nghị.
Mỗi kỳ họp Quốc hội, mỗi ngày họp Quốc hội đều được người dân cả nước trông đợi,
hy vọng.
Điều đó có được bắt nguồn từ sự tiếp nối truyền thống vẻ vang của Quốc hội Việt Nam 75 năm qua, mà khởi nguồn là từ Ngày Tổng tuyển cử đầu tiên 6/1/1946. Những ngày này, khi đất nước kỷ niệm 75 năm Ngày Tổng tuyển cử, càng thấy giá trị lịch sử vĩ đại Quốc hội đầu tiên của đất nước. Đó chính là nền tảng, là bệ phóng để các thế hệ nối tiếp tiếp tục làm tròn trách nhiệm đại diện cho ý chí và nguyện vọng chính đáng của nhân dân vì mục đích cao cả: Xây dựng đất nước ta ngày một đàng hoàng hơn, to đẹp hơn.