Hiển thị các bài đăng có nhãn cường quốc. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn cường quốc. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 21 tháng 9, 2021

VIỆT NAM CÓ THỂ TRỞ THÀNH CƯỜNG QUỐC CHỐNG DỊCH

Trong bối cảnh Cách mạng kỹ thuật số chưa bao giờ chỉ là tạo ra những công nghệ đột phá và đối với hầu hết các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam, tương lai sẽ không được quyết định bởi động lực đổi mới, sáng tạo mà là năng lực của quốc gia trong việc tận dụng tối đa các công nghệ kỹ thuật số do các nước khác phát triển, ông Jaques Morriset, Trưởng nhóm chuyên gia kinh tế của Ngân hàng Thế giới (WB) tại Việt Nam đã chỉ ra các giải pháp giúp đưa quốc gia Đông Nam Á trở thành cường quốc kỹ thuật số. 

Trước hết, ông Morriset cho rằng Việt Nam cần tạo điều kiện để các đơn vị trong nước áp dụng và thích ứng với những công nghệ kỹ thuật số toàn cầu mới. Theo ông, cho đến nay, Việt Nam đã làm việc này rất tốt. Ngày nay, Việt Nam được so sánh với các đối thủ ngang hàng và có tham vọng về phổ biến điện thoại di động và người dân cũng như doanh nghiệp của Việt Nam có khả năng kết nối tốt với Internet. Cơ sở hạ tầng kỹ thuật số của Việt Nam khá hiện đại, phủ khắp các tỉnh, thành và do các công ty viễn thông trong nước đầu tư. Việt Nam cũng là điểm đến của một số công ty công nghệ thông tin hàng đầu thế giới như Apple, Samsung, Intel,…  Điều này thể hiện khả năng cạnh tranh của Việt Nam và tạo lập một nền tảng đặc biệt cho các doanh nghiệp và đơn vị phát triển trong nước - mô hình được Nhật Bản và Hàn Quốc áp dụng trong những năm 1970 và 1980, và gần đây là Trung Quốc.

Bên cạnh đó, Việt Nam cần đảm bảo sự phát triển của lực lượng lao động có kỹ năng kỹ thuật số, sự tham gia của khu vực tư nhân trong nước năng động và tích cực, cùng với khả năng tiếp cận thông tin tốt và an toàn. Chuyên gia kinh tế của WB cho rằng việc đảm bảo khả năng cung cấp lực lượng lao động có kỹ năng số là giải pháp trọng tâm vì có tới 1/3 số việc làm hiện có ở Việt Nam có nguy cơ bị mất trong khoảng 5 năm tới do số hóa. Mặc dù chuyển đổi kỹ thuật số sẽ tạo ra nhiều việc làm mới, nhưng công việc này sẽ đòi hỏi nhiều kỹ năng mới. Có thể kỳ vọng thị trường lao động sẽ điều chỉnh dần dần do nhu cầu cao về lao động có kỹ năng sẽ làm tăng mức lương tương đối. Điều này sẽ khuyến khích người lao động và doanh nghiệp tăng đầu tư vào giáo dục và đào tạo. Tuy nhiên, kinh nghiệm quốc tế đã chứng minh rằng người lao động có thể không có thông tin hoặc nguồn lực tài chính để đầu tư vào con đường học vấn dài hơn. Với tốc độ hiện tại, Việt Nam có thể mất 25 năm để có số lượng sinh viên đăng ký vào các trường đại học như tại Thái Lan hiện nay. Ở các quốc gia thành công, chính phủ đã giải quyết thất bại này của thị trường bằng cách loại bỏ các trở ngại pháp lý đối với dịch chuyển lao động; cung cấp thông tin cho người lao động về các xu hướng và nhu cầu của thị trường lao động để họ biết khi ra quyết định; nâng cao chất lượng các chương trình giáo dục kỹ thuật và dạy nghề; và hỗ trợ các doanh nghiệp và người lao động về tài chính khi học những kỹ năng mới.

Thứ Năm, 23 tháng 8, 2018

VIỆT NAM PHẢI LIÊN MINH QUÂN SỰ VỚI MỘT CƯỜNG QUỐC THÌ MỚI GIỮ ĐƯỢC CHỦ QUYỀN BIỂN ĐẢO

Trước tình hình Biển Đông thời gian qua có nhiều diễn biến phức tạp. Bên cạnh những hoạt động đấu tranh đầy trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta để giữ vững và bảo vệ vững chắc chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc, thì cũng có không ít lợi dụng “đục nước béo cò” đã có nhiều quan điểm sai trái nhằm mục đích gây nhiễu loạn thông tin, khoét sâu mâu thuẫn giữa nước ta với các nước khác. Trong đó đặc biệt có quan điểm cho rằng Việt Nam phải liên minh quân sự với một cường quốc (Mỹ) thì mới giữ được chủ quyền biển đảo.
Với quan điểm trên có thể nói người bình thường cũng nhận ra được đây là quan điểm sai trái đi ngược lại với đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta, đi ngược lại với “Sách Trắng quốc phòng” Việt Nam.Mục đích của quan điểm này không gì khác là nhằm chia rẽ mối quan hệ giữa Việt Nam với các nước khác. Nghiên cứu tình hình Biển Đông ta thấy, những bất đồng, tranh chấp ở Biển Đông hiện nay không chỉ liên quan đến 5 nước, 6 bên có yêu sách chủ quyền mà còn trực tiếp liên quan đến hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn, tự do hàng hải, hàng không ở Biển Đông và khu vực. Đây là vấn đề phức tạp, lâu dài không thể giải quyết ngay trong ngày một ngày hai và cũng không thể giải quyết được bằng vũ lực, vì sẽ gây tổn hại đến hòa bình, ổn định phát triển.
Bảo vệ hủ quyền lãnh thổ nói chung, chủ quyền biển đảo nói riêng hiện nay phải bằng sức mạnh tổng hợp trên cơ sở luật pháp quốc tế. Kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại, nội lực và ngoại lực, bằng cả sức mạnh trong nước và sức mạnh của cộng đồng quốc tế, chứ không thể chỉ dựa vào việc liên minh quân sự với một cường quốc, một nước phát triển. Trong điều kiện các nước đều đề cao lợi ích, dân tộc thì hiếm có quốc gia một “nước phát triển”, một “cường quốc” nào lại đi bảo vệ chủ quyền, bảo vệ Tổ quốc cho quốc gia, dân tộc khác một cách vô tư, không tính toán. Do đó, dự vào một nước nào đó thì không những không giải quyết được vấn đề mà thậm chí còn làm trầm trọng, căng thẳng và phức tạp thêm tình hình.
“Liên minh” với một nước nào đó để chống nước khác tức là chúng ta đã tự tạo cho mình them một kẻ thù. Càng tai hại hơn nếu đó là một quốc gia có địa chính trị ngay bên cạnh chúng ta. Lịch sử đã khắc ghi nhiều bài học sâu sắc cho việc tồn tại độc lập bên cạnh một láng giềng luôn tìm cách “đồng hóa” chúng ta, đó không chỉ là nhờ vào những chiến công hiển hách như lời hiệu triệu  các bảm Tuyên ngôn “Hịch tướng sỹ” hay “Đại cáo bình Ngô”… mà còn nhờ vào chính sách ngoại giao mềm dẻo ngay sau mỗi chiến thắng của các tướng anh minh vì dân, vì nước. “Bán an hem xa, mua láng giềng gần”, “nước xa không cứu được lửa gần”,… những câu dặn dò cử cha ông xưa vẫn còn nguyên giá trị.
Quan điểm dựa vào nước này, liên minh với nước khác để bảo vệ chủ quyền… là thể hiện tư tưởng yếu hèn, nhược tiểu. Quan điểm này hoàn toàn trái ngược với truyền thống của dân tộc ta và trái với xu thế vận động khách quan của thế giới đương đại.Kinh nghiệm lịch sử cho thấy, dựa vào nước khác không những không bảo vệ, không đòi được chủ quyền, thậm chí còn mất luôn cả quyền độc lập về chính trị, quyền tự quyết của dân tộc. Do đó ỷ lại, trông chờ sự giúp đỡ của nước khác, dựa vào nước khác để bảo vệ độc lập, chủ quyền thì không xứng đáng được hưởng tự do, độc lập. Sự phụ thuộc của một số quốc gia trên thế giới hiện nay càng khẳng định thêm tính đúng đắn trong đường lối đối ngoại của Đảng, Nhà nước ta./.

Thứ Tư, 4 tháng 10, 2017

VẤN ĐỀ BIỂN ĐÔNG KHÔNG THỂ DO MỘT NƯỚC LỚN HAY MỘT VÀI CƯỜNG QUỐC NÀO ĐÓ DÀN XẾP, QUYẾT ĐỊNH

Thời gian gần đây, trước những diễn biến phức tạp của tình hình khu vực và thế giới, nhất là vấn đề Biển Đông, đã xuất hiện những tư tưởng, tâm trạng lo lắng, quan ngại, không tin tưởng vào phương thức đấu tranh hòa bình đúng đắn của Đảng, Nhà nước ta; thậm chí một số quan điểm còn cho rằng: Để giải quyết vấn đề biển Đông hiện nay Việt Nam cần phải liên minh với một cường quốc khác.Thực chất, đây là những ý đồ, mục tiêu "kép" của các thế lực thù địch- vừa tác động, gây sức ép nhằm "lái" đường lối, quan điểm, chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước ta hoặc ngả theo quốc gia này hoặc quốc gia kia, đồng thời chúng còn nhằm chia rẽ lãnh đạo Đảng, Nhà nước khi nhận thức về bảo vệ chủ quyền biển đảo còn có những ý kiến khác nhau. Bàn về vấn đề này xin đưa ra một số ý kiến sau:
Thứ nhất, như chúng ta đã biết những bất đồng, tranh chấp ở Biển Đông hiện nay không chỉ liên quan đến 5 nước, 6 bên có yêu sách chủ quyền mà còn trực tiếp liên quan đến hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn, tự do hàng hải, hàng không ở Biển Đông và khu vực. Đây là vấn đề phức tạp, lâu dài, không thể giải quyết ngay trong ngày một, ngày hai và vấn đề Biển Đông không thể do một nước lớn hay một vài cường quốc nào đó dàn xếp, quyết định. Càng không thể giải quyết được vấn đề phức tạp ở Biển Đông bằng sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực. Vì sẽ không thể có hòa bình, ổn định và phát triển lành mạnh ở Biển Đông nếu ở đây chân lý thuộc về kẻ mạnh, nếu những tranh chấp, bất đồng được các bên hành xử theo kiểu "cá lớn nuốt cá bé". Thực tế cho thấy, chính những hành động bất chấp luật pháp quốc tế và quân sự hóa Biển Đông gần đây đã và đang làm cho tình hình trở nên phức tạp, căng thẳng và khó kiểm soát. Do đó, giải quyết vấn đề Biển Đông tất yếu phải bằng các cơ chế đàm phán, thương lượng hòa bình song phương và đa phương trên cơ sở Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982, Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) và Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC).
Thứ hai, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ hiện nay phải bằng sức mạnh tổng hợp trên cơ sở luật pháp quốc tế. Kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại, nội lực và ngoại lực, bằng cả sức mạnh trong nước và sức mạnh của cộng đồng quốc tế chứ không thể chỉ dựa vào việc liên minh quân sự với một cường quốc, một nước phát triển. Trong điều kiện các nước đều đề cao lợi ích quốc gia, dân tộc thì hiếm có một "nước phát triển", một "cường quốc" nào lại đi bảo vệ chủ quyền, bảo vệ Tổ quốc cho quốc gia, dân tộc khác một cách vô tư, không tính toán. Do đó, dựa vào một nước nào đó cho dù là "nước phát triển", "cường quốc" thì không những không giải quyết được vấn đề mà thậm chí còn làm trầm trọng, căng thẳng và phức tạp thêm tình hình. Thực tế cho thấy, là đồng minh của Nhật Bản nhưng lâu nay Mỹ cũng không giúp được gì cho Nhật Bản trong việc khẳng định chủ quyền đối với quần đảo Senkaku (Trung Quốc gọi là Điếu Ngư); hay như cả Mỹ và Liên minh châu Âu "bảo trợ" khá toàn diện cho Ucraina nhưng đất nước này vẫn rơi vào khủng hoảng và không thể giữ được bán đảo Crưm...
Thứ ba, "liên minh" với một nước nào đó để chống nước khác tức là chúng ta đã tự tạo cho mình thêm một kẻ thù. Càng tai hại hơn nếu đó lại là một quốc gia có địa chính trị "núi liền núi, sông liền sông". Lịch sử đã khắc ghi nhiều bài học sâu sắc cho việc tồn tại độc lập bên cạnh một láng giềng luôn tìm cách "đồng hóa" chúng ta, đó không chỉ là nhờ vào những chiến công hiển hách như lời hiệu triệu của các bản Tuyên ngôn "Hịch tướng sĩ" hay "Đại cáo bình Ngô"... mà còn nhờ vào chính sách ngoại giao mềm dẻo ngay sau mỗi chiến thắng của các vị tướng anh minh vì dân, vì nước. "Bán anh em xa, mua láng giềng gần", "nước xa không cứu được lửa gần",... những câu dặn dò của cha ông xưa vẫn còn nguyên giá trị. Hơn nữa, trong quan hệ quốc tế đương đại, các nước vừa hợp tác, vừa đấu tranh với nhau. Mỹ, Trung Quốc, Ấn Độ, Nga, Nhật Bản... vừa là chủ nợ, vừa là con nợ, vừa là đối thủ, vừa là đối tác lớn của nhau. Do đó, việc nêu "quan điểm" đi theo (liên minh với) nước này để chống nước khác nhằm bảo vệ chủ quyền biển, đảo là ảo tưởng, ngây thơ, hài hước.
Thứ tư, quan điểm dựa vào nước này, liên minh với nước khác để bảo vệ chủ quyền... là thể hiện tư tưởng yếu hèn, nhược tiểu. Quan điểm này hoàn toàn trái ngược với truyền thống của dân tộc ta và trái với xu thế vận động khách quan của thế giới đương đại. Trong trường kỳ lịch sử: Độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường là truyền thống, kinh nghiệm, bản lĩnh, khí phách dân tộc Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng từng đúc kết: Không có gì quý hơn độc lập, tự do; đem sức ta mà giải phóng cho ta; tự lực cánh sinh, dựa vào sức mình là chính. Xu thế phát triển khách quan của thế giới đương đại là hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, hợp tác và phát triển; các quốc gia, dân tộc đề cao ý thức độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường... Kinh nghiệm lịch sử cho thấy, dựa vào nước khác không những không bảo vệ, không đòi được chủ quyền, thậm chí còn mất luôn cả quyền độc lập về chính trị, quyền tự quyết của dân tộc. Do đó, ỷ lại, trông chờ sự giúp đỡ của nước khác, dựa vào nước khác để bảo vệ độc lập, chủ quyền thì không xứng đáng được hưởng tự do, độc lập. Sự phụ thuộc của một số quốc gia trên thế giới hiện nay càng khẳng định thêm tính đúng đắn trong đường lối đối ngoại của Đảng, Nhà nước Việt Nam đó là: "Bảo đảm lợi ích tối cao của quốc gia - dân tộc, trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, bình đẳng và cùng có lợi, thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa dạng hóa, đa phương hóa trong quan hệ đối ngoại; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; là bạn, là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế. Trên cơ sở vừa hợp tác, vừa đấu tranh, hoạt động đối ngoại nhằm phục vụ mục tiêu giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, tranh thủ tối đa các nguồn lực bên ngoài để phát triển đất nước, nâng cao đời sống nhân dân; kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; nâng cao vị thế, uy tín của đất nước và góp phần vào sự nghiệp hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới".