Hiển thị các bài đăng có nhãn quân sự. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn quân sự. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 22 tháng 2, 2023

QUÁN TRIỆT TƯ TƯỞNG CHỈ ĐẠO CUỐN SÁCH CỦA TỔNG BÍ THƯ NGUYỄN PHÚ TRỌNG VÀO THỰC HIỆN THẮNG LỢI SỰ NGHIỆP QUÂN SỰ, QUỐC PHÒNG, BẢO VỆ TỔ QUỐC

Sáng 20-2, tại Hà Nội, Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam phối hợp với Hội đồng Lý luận Trung ương và Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật tổ chức Tọa đàm khoa học: Quán triệt tư tưởng chỉ đạo trong cuốn sách "Kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, góp phần xây dựng Đảng và Nhà nước ta ngày càng trong sạch, vững mạnh" của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng vào thực hiện thắng lợi sự nghiệp quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

Tọa đàm được tổ chức bằng hình thức trực tiếp tại Hội trường Bộ Quốc phòng và trực tuyến tại 41 điểm cầu trong toàn quân với 1.600 đại biểu.

Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng dự và chỉ đạo tọa đàm. Dự tọa đàm có Thượng tướng Lê Huy Vịnh, Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng.

Đồng chủ trì tọa đàm có các đồng chí: Trung tướng Trịnh Văn Quyết, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam; Thượng tướng, PGS, TS Nguyễn Văn Thành, Phó chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương; PGS, TS Phạm Minh Tuấn, Giám đốc - Tổng biên tập Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật. Cùng dự tọa đàm có Thượng tướng Phùng Sĩ Tấn, Phó tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam; Trung tướng Lê Quang Minh, Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam. Đại diện lãnh đạo các ban, bộ, ngành Trung ương, Hội đồng Lý luận Trung ương, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật; các nhà khoa học, các chuyên gia nghiên cứu; đại diện các cơ quan, đơn vị chức năng.

Cuốn sách "Kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, góp phần xây dựng Đảng và Nhà nước ta ngày càng trong sạch, vững mạnh" của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng được xuất bản và ra mắt đúng vào dịp kỷ niệm 93 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, 10 năm thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, do đồng chí Tổng Bí thư làm Trưởng ban đã tiếp tục khẳng định sự quan tâm sâu sắc của đồng chí Tổng Bí thư đối với cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, góp phần xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh hiện nay.

Tọa đàm được tổ chức nhằm quán triệt sâu sắc nội dung cuốn sách của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng; thống nhất nhận thức, khẳng định giá trị lý luận, thực tiễn của cuốn sách, giúp cấp ủy, tổ chức đảng các cấp thực hiện hiệu quả hơn công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong thời gian tới, đóng góp tích cực vào sự nghiệp quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay.

Tin, ảnh: PHẠM KIÊN - VIỆT TRUNG


Thứ Bảy, 11 tháng 2, 2023

HẬU QUẢ CỦA NHỮNG CHIÊU TRÒ XUYÊN TẠC, PHÁ HOẠI

Cứ mỗi dịp chuẩn bị đến ngày hội tòng quân trên cả nước, không gian mạng lại xuất hiện những thông tin, hình ảnh cắt ghép, xuyên tạc, có nội dung nói xấu, bôi nhọ, đả kích môi trường quân ngũ. Đây là thủ đoạn nguy hiểm của các đối tượng xấu, có tư tưởng cực đoan, bất mãn. Những sản phẩm xấu độc này đã tiếp tay cho các thế lực thù địch thực hiện chiến dịch tuyên truyền nhằm hạ thấp uy tín Quân đội, gieo rắc tâm lý hoài nghi trong đời sống xã hội...

Vụ việc tán phát clip, thông tin thất thiệt về cái gọi là “Nữ sinh HUFLIT bị hiếp dâm, nhảy lầu tự tử tại Trường Quân sự Quân khu 7” đã được các cơ quan chức năng phối hợp làm sáng tỏ. Ngày 14-1, Cơ quan Điều tra hình sự Quân khu 7 đã ra quyết định khởi tố vụ án hình sự về tội “Đưa tin trái phép thông tin mạng máy tính”, căn cứ theo khoản 1, Điều 288, Bộ luật Hình sự và Điều 36; Điều 143; khoản 1, Điều 153; Điều 154 Bộ luật Tố tụng hình sự. Bước đầu, cơ quan điều tra đã xác định được một số đối tượng thực hiện hành vi cắt ghép, dàn dựng, tán phát clip, thông tin thất thiệt và đang khẩn trương củng cố hồ sơ để xử lý theo quy định của pháp luật. Những đối tượng vi phạm pháp luật về hành vi nêu trên sẽ bị nghiêm trị trước pháp luật.

Thực ra, ngay từ khi clip bị cắt ghép, xuyên tạc về nội dung nêu trên được các đối tượng xấu tung lên mạng xã hội, nhiều người đã nhận ra ngay đó là tin giả. Vậy nhưng, vì hội chứng đám đông và chiến dịch truyền thông “bẩn” do các thế lực xấu thực hiện, thông tin thất thiệt vẫn lan truyền với tốc độ chóng mặt. Vấn đề đặt ra ở đây là, tại sao từ một chuyện nhỏ trong quan hệ ứng xử giữa sinh viên với nhau, các đối tượng xấu lại tạo cớ xuyên tạc, đẩy vấn đề lên thành một “sự kiện” gây xôn xao dư luận? Chúng ta cùng nhìn nhận vấn đề dưới hai góc độ. Thứ nhất: Những thông tin liên quan đến Quân đội thường nhận được sự quan tâm lớn của công chúng. Triển lãm Quốc phòng quốc tế Việt Nam 2022 vừa qua là một ví dụ. Có rất nhiều người từ các vùng quê xa xôi đã lặn lội ra Hà Nội để xem triển lãm. Chứng kiến sự trưởng thành, lớn mạnh vượt bậc của Quân đội nhân dân Việt Nam, bà con bày tỏ niềm tin tưởng, tự hào sâu sắc. Thực tế cuộc sống đã chứng minh, mọi nhiệm vụ khó khăn, gian khổ, khi đất nước, nhân dân gặp biến cố lớn về thiên tai, dịch bệnh, sự cố môi trường... Bộ đội Cụ Hồ bao giờ và ở đâu cũng là lực lượng đầu tiên, chủ lực xả thân, hy sinh để bảo vệ tính mạng, tài sản cho nhân dân. Chính vì hình ảnh cao đẹp của Bộ đội Cụ Hồ đã in dấu sâu đậm trong lòng dân, trở thành giá trị văn hóa truyền thống bền vững nên ở chiều ngược lại, các thế lực thù địch cũng luôn tìm mọi cách, áp dụng mọi phương thức, thủ đoạn để bôi nhọ, xuyên tạc, hạ bệ uy tín của Quân đội. Bằng các chiến dịch tuyên truyền kiểu “nội công ngoại kích”, họ bóp méo hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ, bôi đen môi trường quân ngũ nhằm phá vỡ kết cấu bền vững của mối quan hệ đoàn kết quân dân.

Thứ hai, việc tung tin giả liên quan đến môi trường quân ngũ trong bối cảnh hiện nay là hành động đầy thâm ý. Hiện nay, các địa phương đang chuẩn bị cho ngày hội tòng quân đầu xuân mới. Hàng vạn thanh niên trên cả nước sẽ lên đường nhập ngũ. Tung đòn tâm lý đánh vào tư tưởng thanh niên, tình cảm phụ huynh bằng những sản phẩm truyền thông “bẩn” là chiêu bài rất nguy hiểm. Xuyên tạc những sự việc, câu chuyện, vấn đề liên quan đến phẩm chất đạo đức, lối sống của cán bộ, chiến sĩ, kỷ luật Quân đội... là chiêu bài thâm độc, hèn hạ của các đối tượng cực đoan, bất mãn. 

Sau khi sự thật đã sáng tỏ, những ồn ào dư luận từ tin giả đã lắng xuống, thì không ít tài khoản của các đối tượng cực đoan trên các nền tảng mạng xã hội lại có những cú “bẻ lái” thông tin đầy thâm ý. Họ tiếp tục xuyên tạc rằng, câu chuyện “nữ sinh bị hiếp dâm, nhảy lầu tự tử” đang được các cơ quan chức năng lái sang hướng khác để che đậy sự thật?! Họ đánh tráo khái niệm, lèo lái dư luận theo định kiến chủ quan, thể hiện rõ mưu đồ phá hoại để tiếp tục đẩy sự việc đi xa hơn theo ý đồ xấu. Họ ăn theo truyền thông “bẩn” để “đẩy thuyền”, bôi nhọ Quân đội, gieo rắc định kiến, tâm lý hoài nghi trong đời sống xã hội về môi trường quân ngũ, phá hoại ngày hội tòng quân 2023, làm hoen ố bản chất Bộ đội Cụ Hồ... Đó chính là những chiêu bài được các thế lực thù địch áp dụng nhằm hiện thực hóa âm mưu “diễn biến hòa bình” chống phá Quân đội nhân dân Việt Nam và LLVT nhân dân...

Thông tin “bẻ lái” là loại thông tin ăn theo tin giả. Nó diễn ra thường xuyên và diễn biến phức tạp. Người dùng mạng xã hội, nhất là giới trẻ, cần trau dồi kỹ năng phân biệt, sàng lọc, tiếp nhận... để không rơi vào bẫy truyền thông “bẩn” do các đối tượng xấu giăng sẵn.

Chủ Nhật, 20 tháng 11, 2022

VIỆT NAM KHÔNG THAM GIA LIÊN MINH QUÂN SỰ, KHÔNG LIÊN KẾT VỚI NƯỚC NÀY ĐỂ CHỐNG NƯỚC KIA, KHÔNG CHO NƯỚC NGOÀI ĐẶT CĂN CỨ QUÂN SỰ HOẶC SỬ DỤNG LÃNH THỔ VIỆT NAM ĐỂ CHỐNG LẠI NƯỚC KHÁC

Như chúng ta cần xác định rõ, tất cả các liên minh quân sự đều bắt nguồn từ việc chia sẻ lợi ích. Không một quốc gia nào sẵn sàng hy sinh vì quốc gia khác mà không có lợi ích của mình. Mục đích sâu xa khi các đối tượng kêu gọi nhằm lái Việt Nam tham gia các liên minh quân sự, đặc biệt là liên minh với các quốc gia phương Tây, đưa Việt Nam vào quỹ đạo lệ thuộc để tiến hành thay đổi chế độ chính trị và bản chất xã hội của chúng ta. Nếu không thực hiện đường lối quốc phòng độc lập, tự chủ, chính bản thân chúng ta sẽ bị chuyển hóa, lệ thuộc. Các luồng thông tin sai lệch được các đối tượng đưa ra nhằm kêu gọi, hướng lái Việt Nam tham gia các liên minh quân sự; đặc biệt, là liên minh với các quốc gia khác và từng bước làm lệch lạc ý nghĩa trong chính sách quốc phòng hòa bình và tự vệ của Việt Nam. Để tránh việc lệ thuộc, tăng cường tiềm lực, thế trận và lực lượng thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Đại hội XIII đã khảng định: “Tăng cưòng tiềm lực quốc phòng và an ninh; xây dựng và phát huy mạnh mẽ “thế trận lòng dân” trong nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân; xây dựng và củng cố vững chắc thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân. Kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa kinh tế, ván hóa, xã hội, đối ngoại với quốc phòng, an ninh và giữa quốc phòng, an ninh vối kinh tế, văn hóa, xã hội và đốì ngoại”.

Hiện nay, trật tự thế giới đa cực, các mối quan hệ quốc tế trở nên phức tạp hơn bao giờ hết; ranh giới giữa đối tượng và đối tác luôn luôn tồn tại và đan xen lẫn nhau. Trong cùng một chủ thể có những khía cạnh là đối tác để chúng ta tranh thủ hợp tác cùng phát triển, nhưng cũng có khía cạnh là đối tượng để đấu tranh. Việc nghiêng vào bất cứ phe nào, phụ thuộc vào bất cứ quốc gia nào cũng không phải là lựa chọn thích hợp. Đại hội XIII đã khảng định: “Đẩy mạnh và làm sâu sắc hơn quan hệ hợp tác song phương với các đối tác, đặc biệt là các đối tác chiến lược, đối tác toàn diện và các đối tác quan trọng khác tạo thế đan xen lợi ích và thái độ tin cậy. Kiên quyết đấu tranh, lầm thất bại mọi âm mưu, hành động can thiệp của các thế lực thù địch vào công việc nội bộ, xâm phạm độc lập chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, an ninh quốc gia và ổn định chính trị của đất nước”. Như vậy, chỉ có phát huy sức mạnh độc lập, tự chủ mới là cách thức tối ưu nhất để bảo vệ Tổ quốc.

Thứ Hai, 14 tháng 2, 2022

TĂNG CƯỜNG TRÁCH NHIỆM ĐỊA PHƯƠNG, NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC TUYỂN CHỌN VÀ GỌI CÔNG DÂN NHẬP NGŨ

Đã thành truyền thống tốt đẹp, sau Tết Nguyên đán Nhâm Dần, cấp ủy, chính quyền và nhân dân các địa phương trong cả nước lại tưng bừng mở Hội Tòng quân, tiễn đưa những người con ưu tú lên đường làm nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Năm nay do tác động của đại dịch Covid-19 hạn chế các hoạt động tập trung đông người nên có thể Lễ giao - nhận quân tại một số địa phương sẽ kém phần sôi động nhưng vẫn bảo đảm trang trọng, vui tươi, tiết kiệm, an toàn phòng chống dịch, đúng quy định.

Nhìn lại công tác tuyển chọn và gọi công dân nhập ngũ năm 2021, chúng ta vui mừng, phấn khởi nhận thấy rằng, mặc dù trong bối cảnh dịch bệnh Covid-19 diễn biến phức tạp nhưng các địa phương đã hoàn thành 100% chỉ tiêu được giao, chất lượng công dân nhập ngũ được nâng lên nhất là về sức khỏe và trình độ văn hóa.

Ngay sau khi hoàn thành nhiệm vụ, Bộ Quốc phòng đã chỉ đạo các đơn vị, địa phương tổ chức rút kinh nghiệm và triển khai ngay công tác tuyển chọn, gọi công dân nhập ngũ năm 2022. Theo đó, cấp ủy, chính quyền các địa phương đã tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo, phát huy vai trò của các cấp, các ngành, các tổ chức chính trị - xã hội đối với công tác tuyển chọn, gọi công dân nhập ngũ đảm bảo chặt chẽ, dân chủ, công khai, minh bạch, công bằng, đúng pháp luật. Đặc biệt, để tránh những hiện tượng tiêu cực, Bộ Quốc phòng đề nghị các địa phương phát huy cao độ vai trò giám sát của nhân dân trong tuyển chọn, gọi công dân nhập ngũ.

Để hoàn thành 100% chỉ tiêu được giao, các địa phương chú trọng kiện toàn Hội đồng nghĩa vụ quân sự, tổ chức Hội đồng khám sức khỏe nghĩa vụ quân sự bảo đảm đủ số lượng, đúng thành phần; bảo đảm phương tiện, trang thiết bị y tế đồng bộ; tổ chức khám tuyển chặt chẽ, phù hợp từng địa phương, từng cấp độ dịch bệnh… Theo chỉ đạo của Bộ Quốc phòng, các địa phương ưu tiên tuyển chọn những công dân đã tốt nghiệp đại học, cao đẳng, phù hợp với nhu cầu bố trí, sử dụng của Quân đội; con em đồng bào dân tộc ít người để tạo nguồn cán bộ cơ sở cho địa phương; bảo đảm 100% cấp xã có công dân nhập ngũ.

Cũng như trước đây, năm nay cả nước tiếp tục thực hiện tuyển chọn, gọi công dân nhập ngũ “Tròn khâu” với phương châm “Tuyển người nào chắc người đó”, hạn chế thấp nhất bù đổi, loại trả sau giao nhận quân. Giữa địa phương và đơn vị nhận quân phải có sự phối hợp, hiệp đồng chặt chẽ. Các địa phương tạo điều kiện thuận lợi để các đơn vị nhận quân được thâm nhập “Ba gặp, bốn biết” theo quy định của Bộ Quốc phòng; giao chỉ tiêu tuyển chọn, gọi công dân nhập ngũ gắn với địa bàn động viên để tạo nguồn xây dựng lực lượng dự bị động viên. Trong điều kiện dịch bệnh, các địa phương đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, đơn giản hóa thủ tục hành chính trong tuyển chọn, gọi công dân nhập ngũ, hạn chế thấp nhất việc đi lại làm ảnh hưởng đến công việc, thời gian của công dân và các cơ quan, tổ chức liên quan. Theo chỉ đạo của Bộ Quốc phòng, các địa phương sẽ ưu tiên 100% công dân có Lệnh gọi nhập ngũ được tiêm đủ 02 mũi vắc xin phòng Covid-19 trước 14 ngày giao quân và được xét nghiệm SARS-CoV-2 bằng kỹ thuật RT-PCR (có kết quả âm tính) còn hiệu lực đến ngày giao nhận quân.

Phát huy những kết quả đã đạt được, từ nhiều tháng qua, các tỉnh, thành phố trong cả nước đã khẩn trương triển khai làm công tác chuẩn bị để lễ giao - nhận quân được tiến hành chu đáo, an toàn. Hội đồng nghĩa vụ quân sự các cấp chỉ đạo chặt chẽ, sát sao thực hiện ở tất cả các khâu, các bước của quy trình tuyển chọn. Bước đầu cho thấy chất lượng công dân nhập ngũ tiếp tục được nâng lên. Đặc biệt chất lượng chính trị nhiều đảng viên, thanh niên có trình độ cao đẳng, đại học và trên đại học đã tình nguyện nhập ngũ. Cùng với các hình thức giáo dục, động viên thanh niên trúng tuyển chuẩn bị lên đường, các đơn vị, địa phương còn phối hợp thực hiện tốt chính sách hậu phương quân đội. Đặc biệt, quân nhân hoàn thành nghĩa vụ quân sự trở về được chăm lo chu đáo, quan tâm tạo điều kiện giải quyết công ăn việc làm ổn định cuộc sống.

Theo chỉ đạo của Hội đồng nghĩa vụ quân sự Trung ương, sau khi kết thúc lễ giao - nhận quân năm 2022, các đơn vị, địa phương phải tổ chức tốt rút kinh nghiệm đánh giá đúng những mặt được và chưa được, rút ra bài học kinh nghiệm để tiếp tục chuẩn bị cho nhiệm vụ này năm 2023 và những năm tiếp theo đạt kết quả cao hơn. Các đơn vị nhận quân tổ chức chặt chẽ việc đưa anh em hành quân về đơn vị, không để quân lưu dài ngày tại địa phương, bảo đảm tuyệt đối an toàn phòng, chống dịch Covid-19. Cùng với việc bảo đảm đúng, đủ tiêu chuẩn, chế độ, chính sách các đơn vị phải tổ chức phúc tra sức khỏe, rà soát hồ sơ kịp thời phát hiện, trả về địa phương những thanh niên không đủ tiêu chuẩn, phối hợp với địa phương thực hiện việc bù đổi đảm bảo đủ chỉ tiêu. Đồng thời, nhanh chóng ổn định biên chế để đưa chiến sĩ mới vào huấn luyện.

Trên khắp mọi miền Tổ quốc, tuy dịch bệnh còn diễn biến phức tạp nhưng những ngày này vẫn rực rỡ cờ hoa để chào đón chào một mùa Xuân mới - Xuân Nhâm Dần và sau đó là mùa Xuân tòng quân lên đường bảo vệ Tổ quốc. Bằng khí thế thi đua “Mừng Đảng - Mừng Xuân”, với sự chỉ đạo kịp thời, sự hiệp đồng chặt chẽ của các cấp, các ngành, sự vào cuộc của cả cộng đồng xã hội, chúng ta tin tưởng chắc chắn rằng Lễ giao - nhận quân năm 2022 sẽ diễn ra trang trọng, chu đáo và an toàn tuyệt đối về mọi mặt. Cả nước sẽ hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ tuyển chọn, gọi công dân nhập ngũ năm 2022.


Thứ Sáu, 11 tháng 2, 2022

NHIỆM VỤ QUÂN SỰ, QUỐC PHÒNG TRỌNG TÂM TRONG NĂM 2022

Năm 2022 là năm bản lề thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XI, đặt ra cho nhiệm vụ quân sự, quốc phòng những yêu cầu mới ngày càng cao. , trong đó tập trung vào những nhiệm vụ sau:

Một là, thường xuyên nắm chắc tình hình, thực hiện tốt chức năng tham mưu chiến lược với Đảng, Nhà nước về quân sự, quốc phòng, bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong mọi tình huống. Đây là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, quyết định đến thắng lợi của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới; bởi, chỉ có nắm chắc tình hình mới có quyết sách đúng đắn và chủ động xử lý có hiệu quả mọi tình huống, không để đất nước bị động, bất ngờ. 

Hai là, thực hiện tốt vai trò nòng cốt xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân ngày càng vững chắc. Cùng với đó, các cơ quan, đơn vị phối hợp chặt chẽ với Công an và các lực lượng liên quan thực hiện hiệu quả Nghị định số 03/2019/NĐ-CP, ngày 05/9/2019 của Chính phủ, sẵn sàng xử lý tốt các tình huống về quốc phòng, an ninh, giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội trên từng địa bàn và cả nước. Cùng với đó, toàn quân cần phát huy hơn nữa chức năng “đội quân công tác”, tích cực tham gia xây dựng hệ thống chính trị cơ sở; tiến hành công tác dân vận, giúp nhân dân xóa đói giảm nghèo; xung kích trong phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, thảm họa môi trường, dịch bệnh, tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn, với tinh thần “Ở đâu có gian khổ, hiểm nguy, ở đó có bộ đội”, góp phần xây dựng “thế trận lòng dân” ngày càng vững chắc.

Ba là, thực hiện đồng bộ các giải pháp tập trung nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của Quân đội, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.Đây là nội dung cơ bản, vấn đề cốt lõi để trong bất kỳ điều kiện, hoàn cảnh nào, Quân đội cũng luôn là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu, tuyệt đối trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước, Nhân dân và luôn hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. 

Bốn là, tập trung xây dựng Đảng bộ Quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ, đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc. Tập trung, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng bộ Quân đội là vấn đề có tính then chốt, quyết định nhất đến thắng lợi của sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Năm là, đẩy mạnh hội nhập quốc tế, đối ngoại quốc phòng, tạo thế và lực bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa từ sớm, từ xa. Trên cơ sở quán triệt, thực hiện nghiêm túc quan điểm, đường lối đối ngoại của Đảng, của Quân ủy Trung ương về hội nhập quốc tế, đối ngoại quốc phòng, các cơ quan, đơn vị tích cực triển khai nhiều giải pháp, nâng cao hơn nữa chất lượng, hiệu quả trong thực hiện nhiệm vụ quan trọng này và coi đó là định hướng chiến lược, kế sách bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, bằng biện pháp hòa bình. 

Thứ Hai, 18 tháng 10, 2021

ÂM MƯU CỦA QUAN ĐIỂM ĐÒI “DÂN SỰ HÓA” QUÂN ĐỘI

Thực chất âm mưu của quan điểm đòi “dân sự hóa” Quân đội là kết hợp “diễn biến hòa bình” với thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” về quân sự, quốc phòng ở Việt Nam.

Với việc đưa ra quan điểm đòi “dân sự hóa” Quân đội, một số người đã đánh tráo khái niệm “dân sự quản lý quân sự” với “dân sự hóa” Quân đội; họ đánh đồng việc dân sự quản lý quân sự với biến việc của quân sự thành việc của dân sự, làm cho người khác hiểu sai về bản chất vấn đề.

Mặc dù chế định “dân sự quản lý quân sự” ở các nước tư sản không thực hiện được (như đã đề cập ở trên), song những người đưa ra quan điểm “dân sự hóa” Quân đội không bao giờ đề cập tới sự thật này. Họ ra sức ca ngợi và cổ súy cho pháp lý và đời sống luật pháp tư sản theo hướng cái gì cũng “tốt đẹp”, “thiên đường”; làm cho người ta tưởng việc “dân sự hóa” quân đội của nhà nước tư sản là tốt đẹp, dễ làm, nhà nước xã hội chủ nghĩa cứ theo thế mà làm. Đây là thủ đoạn chính trị tinh vi, kết hợp giữa “diễn biến hóa bình” với thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” về quân sự, quốc phòng ở Việt Nam. Thực chất mục đích của quan điểm cổ vũ “dân sự hóa” Quân đội theo hướng pháp lý “dân sự quản lý quân sự” của nhà nước tư sản là nhằm tác động, thay đổi đường lối, cơ chế Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với Quân đội nhân dân Việt Nam; nguyên tắc hoạt động quốc phòng là tuân thủ Hiến pháp và pháp luật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Như vậy, mục đích chính trị cuối cùng của quan điểm cổ súy “dân sự hóa” Quân đội, không phải cái gì khác hơn là nhằm loại bỏ quyền lãnh đạo Quân đội và hoạt động quốc phòng của Đảng Cộng sản Việt Nam đã được Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước hiến định. Đây là một âm mưu, thủ đoạn nằm trong chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch - một thủ đoạn, âm mưu tinh vi, xảo quyệt, từ đánh tráo khái niệm, đến tiêm nhiễm, thẩm thấu tư tưởng, chuyển hóa cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội và hoạt động quốc phòng, cuối cùng là kích động “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” về quân sự, quốc phòng ở Việt Nam. Bởi vậy, chúng ta cần phải nghiên cứu kỹ mưu đồ của họ; cảnh giác, đề phòng, ngăn ngừa, đấu tranh bác bỏ tư tưởng, quan điểm sai trái này.

NHẬN DIỆN BẢN CHẤT CỦA QUAN ĐIỂM ĐÒI “DÂN SỰ HÓA” QUÂN ĐỘI

Quan điểm trên thể hiện sự áp đặt luật pháp tư sản vào nước ta. Họ đã lấy luật pháp nhà nước tư sản làm “thước đo”, “tiêu chí” pháp lý cho mọi nhà nước, chế độ xã hội. Đó là thứ “triết lý” về chế độ “dân sự quản lý quân sự của nhà nước tư sản”, theo Khoản 8, Điều I, Hiến pháp Hợp chúng quốc Hoa Kỳ. Ở đó, không có điều luật nào dành cho các nhánh hành pháp và tư pháp quyền ban hành luật pháp đối với việc quản lý nhà nước về quân sự, quốc phòng. Đó là sự vay mượn triết lý luật pháp về “chia tách” quyền lực quân sự (một dạng quyền hành pháp) với quyền lập pháp và tư pháp, bằng trích dẫn Khoản 1, Điều II quy định: “Quyền hành pháp sẽ được trao cho Tổng thống Hoa Kỳ”; Khoản 2, Điều II quy định: “Tổng thống sẽ là Tổng Tư lệnh các lực lượng lục quân và hải quân Hoa Kỳ và của các lực lượng dự bị ở một số bang”. Còn những người có quyền ban hành pháp luật, thì họ dựa vào Khoản 6, Điều I quy định: “Trong thời gian được bầu làm Thượng nghị sĩ hoặc Hạ nghị sĩ, không một ai sẽ được bổ nhiệm vào một chức vụ dân sự trong chính quyền Hòa Kỳ. Trong thời gian đó,... không một ai đang đảm nhiệm một chức vụ dân sự nào trong chính quyền Hoa Kỳ được bầu vào Quốc hội”.

Đó cũng là sự vin mượn tinh thần pháp lý quân sự tư sản: quá trình bổ nhiệm quan chức quân sự, chỉ đi một hướng từ dân sự sang quân sự mà không có chiều ngược lại; vào Chỉ thị 1344.10 của Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ, quy định thành viên quân đội không thể “Là ứng cử viên hay nắm giữ bất kỳ chức vụ nào trong bộ máy dân sự”. Năm 2008, luật pháp của Hoa Kỳ quy định, người rời khỏi quân đội ít nhất 7 năm mới được làm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng. Họ cũng dựa vào Điều lệ Nữ Hoàng (Vương quốc Anh), quy định: Nghiêm cấm các thành viên quân đội nắm giữ các vị trí hoạt động tích cực trong các tổ chức chính trị; đồng thời, hạn chế chặt chẽ việc bổ nhiệm vào các vị trí này trong và sau thời gian quân ngũ”, v.v.

Tuy nhiên, điều đã được nhân loại thừa nhận là: luật pháp của một chế độ nhà nước phải do ý chí, nguyện vọng của nhân dân (chủ thể quyền lực của nhà nước đó) quyết định và chỉ có giá trị trong phạm vi quốc gia đó. Do vậy, việc lấy luật pháp của nước này áp đặt cho nước khác là hoàn toàn phi lý. Không thể dùng pháp luật của nhà nước tư sản soi chiếu sang pháp luật của nhà nước xã hội chủ nghĩa. Bởi lẽ, hai loại nhà nước khác nhau về bản chất. Cũng giống như không thể áp đặt luật pháp của Việt Nam lên nhà nước tư sản. Như vậy, quan điểm “dân sự hóa” Quân đội ở Việt Nam là không phù hợp.

Thứ Năm, 2 tháng 9, 2021

ĐẠI VÕ NGUYÊN GIÁP – NHÀ QUÂN SỰ TÀI NĂNG XUẤT CHÚNG, VỊ TƯỚNG MƯU LƯỢC, QUYẾT ĐOÁN

Đánh giá về tài thao lược của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Giáo sư sử học Georges Boudarel người Pháp đã viết: “Võ Nguyên Giáp là nhà quân sự lỗi lạc, vị tướng lĩnh tài ba, nhân vật nổi bật của lịch sử hiện đại Việt Nam và thế giới trong thế kỷ XX... một thiên tài quân sự lớn nhất của thế kỷ XX và là một trong những thiên tài quân sự lớn nhất của các thời đại". Ở những thời điểm quan trọng, mang tính bước ngoặt của cuộc kháng chiến, Đại tướng luôn đánh giá đúng cục diện chiến trường, sáng suốt đưa ra những quyết định đúng đắn; đề xuất, chỉ đạo, thực hiện công thức “đại đội độc lập, tiểu đoàn tập trung” đập tan cuộc tiến công quy mô lớn của thực dân Pháp lên Việt Bắc (1947); sáng suốt quyết đoán đổi mục tiêu đánh Cao Bằng sang Đông Khê trong Chiến dịch Biên giới (1950); chủ trương phân tán lực lượng cơ động Pháp ra nhiều hướng trên chiến trường Đông Dương để chúng khó ứng cứu cho chiến trường Điện Biên Phủ trong Chiến cuộc Đông Xuân (1953-1954).

Đặc biệt, trong Chiến dịch Điện Biên Phủ (1954), Đại tướng hết sức cẩn trọng, so sánh tương quan lực lượng hai bên, táo bạo nhưng không tùy tiện, xác định chắc thắng mới đánh, nên đã đề xuất và quyết định chuyển phương châm tác chiến từ “đánh nhanh, giải quyết nhanh” sang “đánh chắc, tiến chắc”, đưa chiến dịch đến thắng lợi hoàn toàn.

Ngay sau khi kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Đại tướng là một trong những nhà lãnh đạo đầu tiên của Đảng khẳng định: “Phải tiếp tục cuộc cách mạng giải phóng dân tộc bằng cuộc chống Mỹ, cứu nước để giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước”. Sớm nhận ra tầm quan trọng của việc chi viện chiến lược cho cách mạng miền Nam, Đại tướng đề xuất với Trung ương và trực tiếp chỉ đạo xây dựng, bảo vệ tuyến vận tải chiến lược Trường Sơn, mở Đường Hồ Chí Minh trên biển nhằm tiếp tế hàng quân sự và binh khí kỹ thuật nhanh chóng, kịp thời cho chiến trường miền Nam.

Đại tướng đã cùng tập thể Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng tham mưu cho Đảng mở Chiến dịch Đường 9-Khe Sanh để ghìm lực lượng cơ động chiến lược của địch ở Bắc chiến trường miền Nam (tức Trị Thiên), tạo điều kiện thuận lợi để quân dân miền Nam tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân (1968), tiêu diệt địch trên chiến trường trọng điểm Sài Gòn-Gia Định, Huế, Đà Nẵng; chỉ đạo Quân chủng Phòng không-Không quân xây dựng phương án, tổ chức đánh bại cuộc tiến công đường không chiến lược (1972) của Mỹ, bảo vệ vững chắc bầu trời Hà Nội, Hải Phòng... giữ vững hậu phương chiến lược chi viện cho tiền tuyến lớn miền Nam.

Trong Chiến dịch Tây Nguyên, Đại tướng chỉ đạo Bộ tư lệnh chiến dịch điều Sư đoàn 968 từ Nam Lào về tổ chức nghi binh ở Pleiku (Bắc Tây Nguyên); bí mật cơ động Sư đoàn 10 và Sư đoàn 320A từ Bắc Tây Nguyên về hướng chính (Nam Tây Nguyên) phối hợp với Sư đoàn 316 thần tốc từ miền Bắc vào bố trí thế trận, bất ngờ đột phá Buôn Ma Thuột mở màn chiến dịch, tổ chức cắt giao thông, sẵn sàng đánh địch phản kích ứng cứu Buôn Ma Thuột, làm cho địch hoảng loạn, buộc phải rút chạy khỏi Tây Nguyên.

Đặc biệt, Đại tướng đã nắm chắc thời cơ chiến lược, đề nghị giải phóng sớm miền Nam (1975) so với kế hoạch ban đầu; chỉ đạo mở Chiến dịch Huế-Đà Nẵng; giải phóng quần đảo Trường Sa; thành lập cánh quân phía Đông Sài Gòn phối hợp với 4 cánh quân khác và ra mệnh lệnh: “Thần tốc, thần tốc hơn nữa, táo bạo, táo bạo hơn nữa...”, kịp thời xốc tới bao vây, tiến công tiêu diệt sào huyệt cuối cùng của địch tại Sài Gòn, đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc đến toàn thắng.

Trong quá trình chỉ đạo tác chiến, Đại tướng luôn cân nhắc kỹ lưỡng, đưa ra những quyết định táo bạo, quyết đoán, sắc sảo, đúng đắn; luôn chủ động “khiển địch, điều địch” buộc chúng bị động thay đổi thế trận, phải đánh theo cách đánh của ta, từng bước lâm vào thế bị động đối phó, bị tiêu hao, tiêu diệt ngày càng lớn và chịu thất bại hoàn toàn. Điều đặc biệt là, Đại tướng chưa từng được đào tạo ở bất kỳ trường lớp quân sự nào, kiến thức và tài năng quân sự của Đại tướng đều do tự học, tự nghiên cứu từ lịch sử chống giặc ngoại xâm của dân tộc Việt Nam và tinh hoa quân sự thế giới; tiếp thu, vận dụng sáng tạo học thuyết quân sự Mác-Lênin, tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh và đúc rút kinh nghiệm qua thực tiễn chỉ đạo chiến đấu.

Điều này đã tạo nên sự đặc sắc, độc đáo, khác biệt của Đại tướng khiến thế giới khâm phục, suy tôn Võ Nguyên Giáp là “danh tướng”, một trong những thống soái kiệt xuất nhất trong lịch sử nhân loại, như Đại tướng Mỹ Oétmolen đã đánh giá Võ Nguyên Giáp là “một thống soái quân sự cỡ lớn”, còn Bécna-sử gia phương Tây khẳng định: “Trong một tương lai có thể thấy trước, phương Tây chưa thể đào tạo được một vị tướng nào có thể so sánh kịp với tướng Giáp".

Thứ Ba, 17 tháng 8, 2021

ĐẠI TƯỚNG VÕ NGUYÊN GIÁP – NHÀ LÃNH ĐẠO MẪU MỰC VỀ ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG

Hơn 80 mươi năm hoạt động cách mạng, cuộc đời của Đại tướng Võ Nguyên Giáp gắn liền với sự nghiệp cách mạng của Đảng ta, dân tộc ta và Quân đội ta. Ở Đại tướng luôn sáng ngời những phẩm chất nhân cách của nhà văn hóa lớn, một tấm gương mẫu mực về đạo đức cách mạng: cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư; đặc biệt là 6 đức tính cần phải có của các vị tướng do Bác Hồ chỉ ra “Trí, Dũng, Nhân, Tín, Liêm, Trung” luôn được Đại tướng Võ Nguyên Giáp thực hiện đầy đủ, trọn vẹn.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp luôn ghi nhớ, noi gương và thực hành lời căn dặn của Lãnh tụ Hồ Chí Minh: Làm cách mạng là phải “Dĩ công vi thượng” (tức là phải đặt lợi ích chung lên trên hết), “Dĩ bất biến ứng vạn biến”, “Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng”… coi đó làm phương châm sống và phấn đấu trong suốt cuộc đời. Đại tướng không chỉ thể hiện rõ tư duy độc lập, sáng tạo của một nhà lãnh đạo ở tầm chiến lược mà còn là người tổ chức, hoạt động với tinh thần trách nhiệm cao, nghiêm túc, mẫu mực; phong cách làm việc khoa học, nguyên tắc nhưng hết sức linh hoạt; luôn đề cao vai trò của tập thể, phục tùng tổ chức; luôn coi trọng thực tiễn, chịu khó học tập, lắng nghe ý kiến hay của quần chúng, của các chuyên gia, nhà khoa học…; luôn tin tưởng vào sức mạnh của quần chúng Nhân dân, liên hệ và gắn bó mật thiết với Nhân dân; phấn đấu không mệt mỏi xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc; đem hết trí tuệ, sức lực để hoàn thành tốt mọi công việc của Đảng, Nhân dân và Quân đội giao phó.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp được Nhân dân hết lòng kính trọng, suy tôn là vị “Đại tướng của Nhân dân”. Cán bộ, chiến sĩ Quân đội mến phục, suy tôn là “Người anh Cả” duy nhất của Quân đội ta, xứng đáng là “Chính ủy của các Chính ủy, Tư lệnh của các Tư lệnh, Tướng của các Tướng”, “Tổng Tư lệnh biết quý từng giọt máu mỗi chiến binh”. Thế giới cũng rất nể phục nhân cách, đức độ của Đại tướng, tôn vinh Đại tướng là Anh hùng dân tộc của Nhân dân Việt Nam.

Với 103 tuổi đời, hơn 70 tuổi Đảng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã có những cống hiến to lớn, đặc biệt xuất sắc cho sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Cuộc đời hoạt động cách mạng của Đồng chí là tấm gương sáng để đồng bào, cán bộ, chiến sĩ cả nước kính trọng, yêu quý, học tập và noi theo. Hình ảnh và những cống hiến của Đồng chí cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc luôn sống mãi với non sông, đất nước, sống mãi trong lòng Nhân dân và bạn bè quốc tế. Trong lời điếu trong Lễ quốc tang của Đại tướng, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: “Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đánh giá cao công lao to lớn của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, các thế hệ cán bộ, chiến sĩ quân đội ta suy tôn đồng chí là anh Cả của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Con người, nhân cách và những cống hiến to lớn của đồng chí in đậm trong lòng Nhân dân, là vị tướng của Nhân dân, mãi mãi lưu danh trong lịch sử dân tộc”.

ĐẠI TƯỚNG VÕ NGUYÊN GIÁP – NHÀ VĂN HÓA LỚN CỦA VIỆT NAM

Không chỉ tỏa sáng rực rỡ trong lĩnh vực quân sự, Đại tướng còn là một trong những nhà văn hóa lớn của Việt Nam. Đại tướng đã dành nhiều tâm sức cho việc viết hồi ký và lịch sử. Đồng chí Võ Nguyên Giáp không chỉ là một Đại tướng lừng lẫy của Quân đội Nhân dân Việt Nam mà trong các lĩnh vực khác, như giáo dục - đào tạo, khoa học - kỹ thuật, báo chí, ngoại giao, văn hóa, lịch sử…, Đồng chí đều có nhiều đóng góp quan trọng, thực sự là con người tài - đức vẹn tròn, văn - võ song toàn.

Trên cương vị Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã có nhiều đóng góp cho việc phát triển khoa học - kỹ thuật của đất nước. Đại tướng Võ Nguyên Giáp là một nhà báo chính luận sắc sảo từ khi còn rất trẻ. Trên lĩnh vực nghiên cứu lịch sử, Đại tướng Võ Nguyên Giáp là nhà tổng kết lịch sử hàng đầu của nền sử học đương đại Việt Nam. Trên lĩnh vực ngoại giao, Đồng chí cũng có những đóng góp rất quan trọng.

Với phong trào cách mạng thế giới, Đại tướng Võ Nguyên Giáp có những đóng góp rất quan trọng, đặc biệt là trong cuộc đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, tiến bộ xã hội, chống áp bức, bóc lột, bất công ở các nước thuộc địa châu Á, châu Phi, châu Mỹ la tinh. Điều này đã được các nhân vật, lực lượng chính trị và xã hội ở nhiều nước các châu lục thừa nhận.

ĐẠI TƯỚNG VÕ NGUYÊN GIÁP – NGƯỜI CÓ CÔNG LAO TO LỚN GÓP PHẦN HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN HỌC THUYẾT QUÂN SỰ VIỆT NAM

Không chỉ là một thiên tài quân sự, trực tiếp tổ chức, kiến tạo những trận đánh lớn, đánh bại những danh tướng hàng đầu của thực dân Pháp, đế quốc Mỹ xâm lược, Ðại tướng Võ Nguyên Giáp có công lao đóng góp to lớn trong việc hình thành, phát triển học thuyết quân sự Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh, đó là đường lối chiến tranh Nhân dân, lấy chính nghĩa thắng bạo tàn. Học thuyết kế thừa và phát huy những bài học giá trị lịch sử của cha ông chống giặc ngoại xâm trong thời đại mới.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp là người đã tiến hành đường lối chiến tranh Nhân dân hết sức độc đáo, sáng tạo, sinh động và đầy hiệu quả. Đồng chí hết sức coi trọng việc xây dựng tổ chức đảng “trong sạch, vững mạnh” trong các lực lượng vũ trang, đặc biệt quan tâm, chăm lo xây dựng bản lĩnh chính trị, bản lĩnh chiến đấu, chiến thuật quân sự, khả năng tác chiến; giáo dục, bồi dưỡng phẩm chất "Bộ đội Cụ Hồ" trong cán bộ, chiến sĩ Quân đội Nhân dân Việt Nam.

Đại tướng kết hợp rất chặt chẽ, khéo léo đấu tranh vũ trang với đấu tranh chính trị, ngoại giao, tư tưởng, văn hóa; quốc phòng với kinh tế, an ninh… để đạt được kết quả toàn diện trên cả hai nhiệm vụ kháng chiến và kiến quốc.

Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của Bộ Chính trị, đứng đầu là Lãnh tụ tối cao Hồ Chí Minh, cùng với Quân đội và Nhân dân Anh hùng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã điều hành cuộc chiến tranh toàn dân thần kỳ của dân tộc Việt Nam đạt đến đỉnh cao của nghệ thuật quân sự. Đường lối ưu việt của cuộc chiến tranh toàn dân, toàn diện, kháng chiến trường kỳ đã đánh bại và làm phá sản hoàn toàn đường lối chiến lược tốc chiến, tốc thắng và các chiến lược khác của những đế quốc hùng mạnh nhất (Pháp và Mỹ) ở thế kỷ XX. Đây là sự kiện có một không hai trong lịch sử quân sự thế giới.

ĐẠI TƯỚNG VÕ NGUYÊN GIÁP – MỘT THIÊN TÀI QUÂN SỰ, ĐÃ CÙNG TOÀN ĐẢNG, TOÀN DÂN VÀ TOÀN QUÂN TA ĐI TỪ THẰNG LỢI NÀY ĐẾN THẮNG LỢI KHÁC

Trong tất cả những bước ngoặt lịch sử của cách mạng Việt Nam sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 và những chiến dịch quân sự trong kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược; dưới ngọn cờ bách chiến, bách thắng của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã góp phần làm nên những chiến thắng vĩ đại, tác động mạnh mẽ vào dòng chảy lịch sử dân tộc; trở thành vị tướng huyền thoại, thiên tài quân sự thời đại… và nhận được sự ngưỡng mộ, kính trọng của nhiều nguyên thủ quốc gia, chính khách, học giả, nhà sử học, nhà báo, nhà văn và đông đảo Nhân dân thế giới.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp là chuyên gia lỗi lạc hàng đầu về đường lối chiến tranh Nhân dân của phong trào giải phóng dân tộc trong nước và trên thế giới. Đại tướng là nhà chỉ huy quân sự có tài thao lược kiệt xuất, bậc thầy về chiến lược, chiến thuật quân sự. Đại tướng là vị tướng tài ba, người cầm quân rất cẩn trọng trong so sánh tương quan lực lượng đôi bên, luôn chủ động bắt buộc đối phương bị động thay đổi thế cờ, đánh theo cách đánh của ta, vì thế mà phá sớm về chiến thuật, chiến dịch, chiến lược, dẫn đến thất bại hoàn toàn của địch. Trong các chiến dịch lớn có tính chất quyết định, Đại tướng Võ Nguyên Giáp luôn thể hiện sự quyết đoán, sắc bén và có tư duy quân sự, chiến thuật, tài chỉ huy đặc biệt.

Những kiến thức và tài năng quân sự của Đại tướng Võ Nguyên Giáp đều do tự học từ lịch sử chống giặc ngoại xâm của dân tộc Việt Nam và lịch sử quân sự thế giới; tự rèn luyện, tự đúc rút kinh nghiệm qua thực tế chiến đấu của Quân đội ta mà nên. Chính điều ấy đã làm nên sự khác biệt của Đại tướng, khiến thế giới khâm phục, suy tôn Võ Nguyên Giáp là danh tướng, một trong những thống soái kiệt xuất nhất trong lịch sử nhân loại... là một trong số ít những người có khả năng làm thay đổi dòng chảy lịch sử. 

Thứ Hai, 10 tháng 5, 2021

BẢO VỆ CHỦ QUYỀN BIỂN ĐẢO KHÔNG PHẢI CỨ PHẢI DÙNG ĐẾN MÁY BAY, TÀU CHIẾN…

Trong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước, dân tộc Việt Nam ta đã trải qua nhiều cuộc chiến tranh đánh đuổi quân xâm lược, bảo vệ nền độc lập và chủ quyền biên giới trên không, bộ, biển. Đặc biệt, như chúng ta đều biết, từ năm 1947 cho đến nay, Trung Quốc với âm mưu bành trướng, bá quyền, thâu tóm biển Đông từ lâu đã nhiều lần ngông cuồng xâm phạm chủ quyền, gia tăng căng thẳng trên biển Đông, trong đó có cả khu vực thuộc chủ quyền quốc gia Việt Nam. Và chắc chắn, họ sẽ tiếp tục còn giở nhiều chiêu trò khác để nhằm đạt được mục đích họ đã đề ra về “Đường lưỡi bò” hay “đường chín đoạn” hoang tưởng.

Trước những vấn đề trên, đã có rất nhiều quan điểm trái chiều, thậm chí, trên các trang mạng xã hội, một số người còn tỏ ra vô cùng bức xúc, căm giận mà đặt câu hỏi “Tại sao chúng ta mua sắm trang bị hiện đại cho hải quân, không quân, tên lửa bờ… nhưng lại để cho Trung Quốc xâm phạm chủ quyền mà không ra tay trấn áp kẻ thù?”, hay tại sao Philippin dám đâm đơn lên Tòa án Quốc tế kiện Trung Quốc để đòi lại chủ quyền biển đảo, ta lại không có hành động gì? Rồi những kẻ phản động, thế lực thù địch còn tung nhưng tin thất thiệt, nhưng thông tin xuyên tạc, nói xấu, đồn nhảm, sai sự thật cho rằng Đảng cộng sản Việt Nam hèn nhác, hạ mình nhìn biển đảo Tổ quốc bị Trung Quốc chiếm đóng…

Xét về mặt tích cực, những câu hỏi của một số người dân Việt Nam như vậy xuất phát từ lòng yêu nước, tự tôn dân tộc của mình, một truyền thống quý báu của dân tộc ta, dù cho có thể hiện bằng cách này hay cách khác. Nhưng dưới góc độ quan điểm của những kẻ cơ hội chính trị, đám con rối làm tay sai cho ngoại bang thì đó chẳng khác nào một lời kích động, bôi nhọ uy tín của Nhà nước và lực lượng Quân đội nhân dân Việt Nam.

Vậy tại sao Đảng, Nhà nước ta lựa chọn đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển đảo bằng con đường hòa bình, kiên trì, lâu dài trên cơ sở thượng tôn pháp luật và các điều ước quốc tế.

Trước hết, những đau thương mất mát từ bài học của các cuộc chiến tranh đánh đuổi quân xâm lược đã dạy cho chúng ta hiểu rất rõ nỗi đau xót của chiến tranh loạn lạc, của bom rơi máu đổ, vậy nên chẳng ai mong muốn chiến tranh xảy ra, đặc biệt là lãnh đạo đất nước chúng ta.

Cho nên, trước âm mưu bành trướng, muốn nuốt chửng Việt Nam của người láng giềng to xác, chúng ta không thể nướng sức người, sức của, tính mạng của đồng chí, đồng bào ta vào chiến đấu với những thế lực không cân sức ấy.

Trong bối cảnh toàn cầu hóa, muốn bảo vệ chủ quyền biển, đảo, chúng ta phải phát huy tinh thần tự lực, tự cường và phải biết kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, nêu cao tính chính nghĩa, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của quốc tế, “kiên quyết, kiên trì đấu tranh”, tăng cường hợp tác quốc tế, “tạo sự đan xen lợi ích”, “vừa hợp tác, vừa đấu tranh”. Và cũng cần xác định, giải quyết tranh chấp trên Biển Đông là vấn đề lâu dài, không thể nóng vội, kiên trì hợp tác tìm kiếm biện pháp hòa bình để giải quyết tranh chấp, không làm phức tạp thêm tình hình, bảo vệ lợi ích chính đáng của ta, đồng thời tôn trọng lợi ích chính đáng của các nước trên cơ sở tuân thủ luật pháp quốc tế. Đặc biệt, phải hiểu rằng hiện nay, Trung Quốc chỉ cần một cái cớ hợp lý để phát động cỗ máy chiến tranh nuốt gọn biển Đông mà dư luận quốc tế khó lên tiếng kết tội Trung Quốc là xâm lược hay phát xít, giống như Mỹ đã làm với chúng ta từ sự kiện Vịnh Bắc bộ năm 1964. Cái cớ ấy sẽ biến kẻ xâm lược, ăn cướp thành kẻ tự vệ. Bởi vậy, chúng ta không phải không đấu tranh mà là chúng ta đang đấu tranh trong khôn khéo và trí tuệ. Đó mới là đỉnh cao của nghệ thuật quân sự trong sự nghiệp bảo vệ độc lập, hòa bình và toàn vẹn lãnh thổ của dân tộc Việt Nam, chứ không phải cứ dùng đến máy bay, tên lửa, tàu chiến…là bảo vệ được./.

Thứ Năm, 29 tháng 4, 2021

“THẦN TỐC, THẦN TỐC HƠN NỮA. TÁO BẠO, TÁO BẠO HƠN NỮA. TRANH THỦ TỪNG PHÚT, TỪNG GIỜ, XỐC TỚI MIỀN NAM. QUYẾT CHIẾN VÀ QUYẾT THẮNG. TRUYỀN ĐẠT TỨC KHẮC ĐẾN ĐẢNG VIÊN, CHIẾN SĨ” ĐƯỢC COI LÀ KIM CHỈ NAM, LỜI HỊCH TƯỚNG SỸ ĐỂ CÁC CÁNH QUÂN TIẾN THẲNG VÀO SÀO HUYỆT CỦA KẺ THÙ

Cách đây 46 năm, lúc 11 giờ 30 phút ngày 30/4/1975, lịch sử dân tộc đã ghi một mốc son chói lọi khi lá cờ cách mạng tung bay trên nóc dinh Độc Lập, kết thúc thắng lợi chiến dịch Hồ Chí Minh, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Trong thắng lợi vẻ vang ấy, không thể không nhắc đến sự lãnh đạo và điều hành trực tiếp của Bộ thống soái tối cao: Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng Tư lệnh. Trong những ngày tháng lịch sử đó, Bộ thống soái tối cao đã tập trung trí tuệ, tài năng ra những quyết định, kế hoạch chiến lược, chiến dịch, những mệnh lệnh, chỉ thị cho quân và dân cả nước biến các nghị quyết đúng đắn của Đảng thành sức mạnh chiến đấu và chiến thắng trên các chiến trường.

Một trong những mệnh lệnh đó do Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp ký trong bức điện khẩn ngày 7-4-1975. Bức điện với nội dung “thần tốc, thần tốc hơn nữa. Táo bạo, táo bạo hơn nữa. Tranh thủ từng phút, từng giờ, xốc tới miền Nam. Quyết chiến và quyết thắng. Truyền đạt tức khắc đến đảng viên, chiến sĩ” được coi là kim chỉ nam, LỜI HỊCH TƯỚNG SỸ để các cánh quân tiến thẳng vào sào huyệt của kẻ thù.

Chấp hành Nghị quyết của Bộ Chính trị và Chỉ thị của Quân ủy Trung ương, ngày 31-3-1975, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng trực tiếp giao nhiệm vụ cho Bộ tư lệnh Quân đoàn 1: 'Quân đoàn 1 (trừ Sư đoàn 308) có nhiệm vụ tổ chức hành quân gấp vào miền Đông Nam Bộ, hiệp đồng với các đơn vị bạn tham gia trận quyết chiến chiến lược giải phóng Sài Gòn-Gia Định'.

9 giờ 30 phút ngày 7-4-1975, Quân đoàn 1 nhận được bức điện khẩn của Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Mệnh lệnh: “Thần tốc, thần tốc hơn nữa, táo bạo, táo bạo hơn nữa, tranh thủ từng giờ, từng phút, xốc tới mặt trận, giải phóng miền Nam. Quyết chiến và toàn thắng”. Mệnh lệnh của Đại tướng lập tức được chuyển đến toàn thể cán bộ, chiến sĩ các đơn vị đang hành quân nhiều ngày, đã khá mệt, nhưng khi nhận được lệnh, anh em phấn khởi cơ động suốt ngày đêm, với tinh thần quyết chiến, quyết thắng, có mặt đúng vị trí tập kết tại Đồng Xoài, tỉnh Phước Long (nay là tỉnh Bình Phước); nhanh chóng huấn luyện bổ sung cách đánh trong thành phố và cách đánh thọc sâu trong hành quân bằng bộ binh cơ giới. Với phương châm: Táo bạo, thọc sâu đánh nhanh các mục tiêu theo kế hoạch; đêm 25-4-1975, cùng với các đơn vị trong Quân đoàn 1, Trung đoàn 27, Sư đoàn 320B đã tập trung ở Bầu Cá Trê, phía bắc Tân Uyên.

Ngày 26-4-1975, chúng tôi được lệnh tiến công đánh vượt qua Tân Uyên theo đường đất đỏ qua Bình Chuẩn; tối 29-4-1975, đơn vị vào tới Búng, cách Lái Thiêu 10km. Đến 20 giờ ngày 29-4, tôi (khi đó là Trung đoàn trưởng Trung đoàn 27) và đồng chí Trịnh Văn Thư, Chính ủy trung đoàn, cùng tổ trinh sát đã bắt được liên lạc với cơ sở cách mạng. Tại xã Thuận Giao, gia đình bà Huỳnh Thị Sáu (má Sáu Ngẫu) rất vui và lấy tấm bản đồ thành Sài Gòn cất giữ từ lâu, trao ngay cho chúng tôi. Má Sáu chỉ tường tận đường đi, các chốt đóng quân, trận địa hỏa lực của địch mà má đã đánh dấu. Nhờ tấm bản đồ chỉ dẫn của má Sáu, sáng 30-4-1975, trong đội hình của Sư đoàn 320B (Quân đoàn 1), Trung đoàn 27 theo trục đường 13, lần lượt đánh chiếm quận lỵ Lái Thiêu, bao vây, chia cắt, cô lập, bức hàng hơn 2000 tên địch tại Trại lính Huỳnh Văn Lương và đánh chiếm cầu Vĩnh Bình; tiếp đó tiến công đánh chiếm Bộ tư lệnh Thiết giáp ngụy, căn cứ Lục quân công xưởng Gò Vấp, tiếp quản Tổng y viện cộng hòa.

9 giờ 30 phút ngày 30-4-1975, ba mũi tiến công của Quân đoàn 1 đã gặp nhau ở khu vực cột cờ, trước trụ sở Bộ Tổng tham mưu ngụy. 16 giờ ngày 30-4-1975, các đơn vị của quân đoàn đều hoàn thành nhiệm vụ được giao; quân đoàn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong Chiến dịch Hồ Chí Minh.

Thắng lợi của Chiến dịch Hồ Chí Minh đánh dấu sự trưởng thành vượt bậc về trình độ tổ chức, chỉ huy, tác chiến hiệp đồng quân binh chủng, với nhiều bài học kinh nghiệm quý. Trước hết, là nét độc đáo về nghệ thuật tổ chức, sử dụng lực lượng thọc sâu chiến dịch, tạo ưu thế về sức mạnh, đánh chiếm mục tiêu chiến lược, giành thắng lợi. Thực hiện phương châm: “Thần tốc, quyết thắng”, nên bộ đội ta nhanh chóng đánh vượt qua các trọng điểm đề kháng vòng ngoài, đánh chiếm các mục tiêu chủ yếu; đặc biệt là đánh chiếm các cầu để đưa quân ta vào đánh các mục tiêu chiến lược trong nội đô Sài Gòn. Đây là nét độc đáo về nghệ thuật tổ chức, sử dụng lực lượng thọc sâu trong chiến dịch; nhanh chóng tiêu diệt các cơ quan đầu não của địch; thực hiện triệt để tư tưởng chỉ đạo của Bộ Chính trị: “Thần tốc, táo bạo, chắc thắng”.

Các đơn vị quân giải phóng đã tạo lập thế trận thọc sâu vững chắc, sẵn sàng đột kích đánh chiếm mục tiêu đảm nhiệm. Trước khi bước vào chiến dịch, ta đã khẩn trương chuẩn bị tốt các trục đường cơ động trên các hướng, nhất là đường cơ động cho xe cơ giới. Bộ Tư lệnh chiến dịch chỉ đạo các đơn vị tổ chức các đợt chiến đấu tạo ra thế trận thọc sâu vững chắc, bảo đảm có thể hợp vây lớn và chia cắt cả tập đoàn phòng ngự của địch. Đây là nghệ thuật tạo lập thế trận ban đầu rất quan trọng để các đơn vị nhanh chóng tiêu diệt, làm tan rã các đơn vị chủ lực của địch; khiến chúng không thể ứng cứu được cho nhau, dẫn tới sụp đổ nhanh chóng.

Chiến dịch Hồ Chí Minh cũng thể hiện nét độc đáo về nghệ thuật kết hợp chặt chẽ giữa hoạt động tác chiến của bộ đội chủ lực với LLVT địa phương; giữa tiến công quân sự với nổi dậy của quần chúng. Các đơn vị của Quân đoàn 1, cùng với việc xác định hướng tiến công đúng và sử dụng lực lượng hợp lý, đã tận dụng thế trận chiến tranh nhân dân tại chỗ để làm bàn đạp, tạo sức mạnh bảo đảm liên tục phát triển chiến đấu; vừa bảo vệ được đội hình, vừa bảo vệ được lực lượng trên hướng tiến công chủ yếu, nhanh chóng chuyển hóa thế trận, chuyển hướng tiến công, thực hiện đúng ý định và kế hoạch của Tư lệnh chiến dịch.

Mệnh lệnh lịch sử này đã góp phần quan trọng tạo nên tính lịch sử cho chiến dịch quân sự lớn nhất của Quân đội nhân dân việt Nam.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhớ lại: “Ngay sau Hội nghị Bộ Chính trị (ngày 31/3/1975 với quyết tâm của Bộ Chính trị thực hiện tổng công kích, tổng khởi nghĩa trong thời gian sớm nhất – NV), tôi suy nghĩ nhiều về trận chiến đấu sẽ diễn ra trên chiến trường trọng điểm Sài Gòn – Gia Định. Sau khi nghiên cứu, trao đổi với Tổng tham mưu phó Cao Văn Khánh và Cục trưởng tác chiến Lê hữu Đức, ngày 1 tháng 4, tôi gọi điện vào B2: Đúng như Bộ Chính trị nhận định, chiến tranh cách mạng ở miền Nam đang bước vào giai đoạn phát triển nhảy vọt. Hiện nay ta đã có đầy đủ lực lượng và khả năng để dành thắng lợi hoàn toàn trong một thời gian ngắn hơn dự kiến rất nhiều.

Vấn đề quyết định là phải kịp thời nắm lấy thời cơ, tranh thủ vào trung tuần tháng 4 thì bắt đầu cuộc tấn công quy mô lớn vào Sài Gòn. Làm được như vậy thì thuận lợi nhất, bảo đảm thắng lợi giòn giã nhất. Bất ngờ hiện nay không còn ở phương hướng nữa. Địch biết nhất định ta sẽ đánh vào Sài Gòn nhưng chúng cho rằng ta cần chuẩn bị một hai tháng. Vì vậy bất ngờ hiện nay chủ yếu là khâu thời gian. Một mặt cần cơ động lực lượng nhanh chóng, thần tốc, mặt khác sử dụng ngay lực lượng hiện có để kịp thời hành động…”. (Trích Đại tướng Võ Nguyên Giáp với cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, NXB Quân đội nhân dân).

Quân ủy Trung ương đang theo dõi diễn biến Chiến dịch Hồ Chí Minh năm 1975. Trong ảnh, từ trái sang phải: đại tá Lê Hữu Đức (Cục trưởng Cục tác chiến), thượng tướng Hoàng Văn Thái (Phó tổng tham mưu), thiếu tướng Vũ Xuân Chiêm (Phó chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần), thượng tướng Song Hào (Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị), đại tướng Võ Nguyên Giáp (Tổng tư lệnh, Bộ trưởng Quốc phòng, Bí thư Quận ủy Trung ương), trung tướng Lê Quang Đạo (Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị).

Đại tướng Võ Nguyên Giáp nói rõ hơn: “Cuộc tiến công lịch sử của Quang Trung – Nguyễn Huệ lại hiện về trong ký ức. Ngày 4-4, tôi gửi điện cho cán bộ, chiến sĩ Quân đoàn 2 đang hành quân: Các đồng chí lên đường làm nhiệm vụ rất vẻ vang. Cần hành động thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng…. Ngày 7/4, tôi ra lệnh cho các đơn vị đang dổ vào chiến trường: “Mệnh lệnh: 1. Thần tốc, thần tốc hơn nữa. Táo bạo, táo bạo hơn nữa. Tranh thủ từng giờ, từng phút, xốc tới mặt trận, giải phóng miền Nam. Quyết chiến và toàn thắng. 2. Truyền đạt tức khắc đến đảng viên, chiến sĩ”.

Bức điện khẩn “Thần tốc, thần tốc hơn nữa…” do tự tay Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Ủy viên bộ Chính trị, Bí thư Quân ủy trung ương, Bộ trưởng bộ Quốc phòng ký tên được Ban Cơ yếu lập tức truyền đi khắp các mặt trận trên toàn miền Nam như một lời hịch tướng sĩ. Mệnh lệnh đã truyền đạt quyết tâm cao nhất của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương tới các cấp lãnh đạo và chỉ huy chiến trường, tới mỗi đảng viên, chiến sĩ để chủ động sáng tạo, thừa thắng, xốc tới, hướng mọi hành động theo phương châm thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng. Và cả dân tộc đã ra quân với khí thế ấy. Tất cả đều thấm nhuần: lúc này, lỡ thời cơ là có tội.

Thứ Sáu, 9 tháng 10, 2020

NHỮNG SÁNG TẠO LÝ LUẬN CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VỀ TƯ TƯỞNG QUÂN SỰ

- Sáng tạo nổi bật trong tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh là về xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng. Phân tích sự cai trị của thực dân Pháp ở Đông Dương được thực hiện bằng bạo lực, đàn áp đẫm máu những người yêu nước, phản kháng lại sự cai trị đó, Hồ Chí Minh đi đến khẳng định: cần dùng bạo lực cách mạng để chống lại bạo lực phản cách mạng dưới hình thức cuộc khởi nghĩa toàn dân giành chính quyền. Lực lượng thực hiện cuộc khởi nghĩa đó là lực lượng chính trị của quần chúng kết hợp với lực lượng vũ trang được xây dựng trong các phong trào của quần chúng. Trong cao trào cách mạng giải phóng dân tộc 1941-1945, đầu tiên, Hồ Chí Minh lựa chọn những du kích tham gia khởi nghĩa Bắc Sơn lập ra đội tự vệ. Năm 1944 Người chỉ đạo thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, xác định nhiệm vụ chủ yếu là tuyên truyền, vận động quần chúng, làm chỗ dựa cho quần chúng đấu tranh cùng với nhiệm vụ chiến đấu, bảo vệ cách mạng. Thực tiễn Cách mạng Tháng Tám năm 1945, trong 12 ngày với sức mạnh áp đảo của quần chúng kết hợp với lực lượng vũ trang hỗ trợ, chúng ta đã giành được chính quyền trong cả nước và hầu như không phải sử dụng đến vũ khí, không đổ máu, chết người... 
- Sau Cách mạng Tháng Tám, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, tư tưởng quân sự trong xây dựng quân đội quốc gia Việt Nam của Hồ Chí Minh là kết hợp giữa chính trị và quân sự. Người khẳng định: "Quân sự mà không có chính trị như cây không có gốc, vô dụng, lại có hại". Người đặc biệt quan tâm đến xây dựng sức mạnh tinh thần, giác ngộ của quân đội với quan điểm “người trước, súng sau”. Quân đội nhân dân Việt Nam ra đời từ Đội Việt Nam tuyên truyền, giải phóng quân, kết hợp nhiệm vụ tuyên truyền và nhiệm vụ chiến đấu, gắn bó chặt chẽ với nhân dân, thực sự là đội quân “từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu”…

- Sáng tạo trong tư tưởng quân sự nổi bật của Hồ Chí Minh thể hiện trong quan điểm xây dựng căn cứ địa, xây dựng hậu phương, chiến tranh nhân dân và xây nền quốc phòng toàn dân. Điểm nổi bật trong tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng căn cứ địa cách mạng là "trận địa lòng dân", "có dân là có tất cả", nơi ở "gần dân không gần đường". Trong quá trình đấu tranh giành chính quyền, từ bản Cốc Pó, căn cứ địa của cách mạng đã không ngừng được mở rộng, trở thành vùng rộng lớn Cao - Bắc - Lạng, Thái - Hà - Tuyên, cùng với các "an toàn khu" ngay sát các đô thị lớn, làm cơ sở cho tổng khởi nghĩa giành chính quyền. Với tầm nhìn xa rộng, sau Cách mạng Tháng Tám, các cơ quan đảng, chính phủ, đoàn thể chuyển về Hà Nội, Người đã cử đồng chí Phạm Văn Đồng ở lại Tuyên Quang để xây dựng căn cứ địa "nhờ đồng bào một lần nữa" trong cuộc kháng chiến chống Pháp 1946-1954. Trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Đại hội III của Đảng, tháng 9 năm 1960 đã xác định xây dựng miền Bắc xã hội chủ nghĩa làm hậu phương lớn cho tiền tuyến lớn miền Nam đấu tranh cho sự nghiệp thống nhất nước nhà.

- Sáng tạo trong tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh còn thể hiện rõ trong tư tưởng chỉ đạo “dám đánh, quyết đánh, biết đánh”. Đứng trước sức mạnh quân sự hùng hậu của thực dân Pháp vào năm 1946 hay sự hung hăng, tàn bạo của đế quốc Mỹ năm 1966, Hồ Chí Minh không hề nao núng, khẳng định quyết tâm chiến thắng cuộc chiến tranh phi nghĩa, xâm lược của chúng với tinh thần “thà hy sinh tất cả chứ không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ”; “…Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố xí nghiệp có thể bị tàn phá. Song nhân dân Việt Nam quyết không sợ, Không có  gì quý hơn độc lập tự do”… Đó là tư tưởng sáng tạo của chiến tranh nhân dân “trường kỳ kháng chiến”, “vừa kháng chiến, vừa kiến quốc”; "lấy yếu đánh mạnh", "lấy ít đánh nhiều", "lấy nhỏ đánh lớn"; “càng đánh càng mạnh, càng đánh càng thắng”. Trong đánh địch, với truyền thống lấy đại nghĩa thắng hung tàn của dân tộc, Người không cho rằng trận thắng mà để chết nhiều người (cả ta và địch) là trận thắng hay; đề cao công tác địch vận, “đánh mà chiếm được đồn là giỏi, nhưng không đánh mà chiếm được đồn thì còn giỏi hơn…” 

- Sáng tạo trong tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh còn thể hiện trong khởi đầu, kết thúc chiến tranh và con đương đi đến thắng lợi. Biểu hiện đầy đủ nhất của tư tưởng này là các câu thơ trong bài thơ chúc tết năm 1969: Vì độc lập, vì tự do, Đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào. Tiến lên chiến sỹ đồng bào, Bắc Nam sum họp Xuân nào vui hơn. Thực tế giai đoạn cuối của cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước dã diễn ra đúng như thế.

Thứ Sáu, 14 tháng 8, 2020

XÂY DỰNG “THẾ TRẬN LÒNG DÂN” Ở KHU VỰC BIÊN GIỚI

Việt Nam có đường biên giới đất liền dài hơn 5.032 km, tiếp giáp với ba nước: Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào và Vương quốc Cam-pu-chia; có bờ biển dài hơn 3.260 km, vùng biển rộng hơn 1 triệu km2; với 44 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, 233 huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, 1.084 xã, phường, thị trấn có biên giới. 

Thứ Ba, 26 tháng 11, 2019

TƯ TƯỞNG TIẾN CÔNG – TƯ TƯỞNG QUÂN SỰ ĐẶC SẮC CỦA VIỆT NAM

Đối với dân tộc ta, tư tưởng quân sự ở một khía cạnh nào đó đồng nghĩa với tư tưởng giữ nước, hay nói đúng hơn là nội dung cốt yếu của tư tưởng giữ nước và đó cũng là cơ sở quan trọng nhất để hoạch định đường lối quân sự, những chủ trương lớn và kế sách giữ nước. Bởi vậy, tư tưởng quân sự chi phối mọi hoạt động quân sự của Nhà nước, từ tổ chức hệ thống quân sự các cấp, tổ chức xây dựng lực lượng vũ trang (nòng cốt là quân đội) tới phương thức tiến hành chiến tranh, loại hình tác chiến và các hoạt động liên quan khác. Điều đó cho thấy, tầm quan trọng đặc biệt của tư tưởng quân sự, mà trước hết là sự tác động có tính định hướng của nó đến đường lối quân sự - yếu tố quyết định thành bại trong chiến tranh. Tư tưởng quân sự như thế nào thì đường lối quân sự như thế ấy, có tư tưởng quân sự phù hợp thì mới có đường lối quân sự đúng và ngược lại.

Thứ Năm, 23 tháng 8, 2018

VIỆT NAM PHẢI LIÊN MINH QUÂN SỰ VỚI MỘT CƯỜNG QUỐC THÌ MỚI GIỮ ĐƯỢC CHỦ QUYỀN BIỂN ĐẢO

Trước tình hình Biển Đông thời gian qua có nhiều diễn biến phức tạp. Bên cạnh những hoạt động đấu tranh đầy trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta để giữ vững và bảo vệ vững chắc chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc, thì cũng có không ít lợi dụng “đục nước béo cò” đã có nhiều quan điểm sai trái nhằm mục đích gây nhiễu loạn thông tin, khoét sâu mâu thuẫn giữa nước ta với các nước khác. Trong đó đặc biệt có quan điểm cho rằng Việt Nam phải liên minh quân sự với một cường quốc (Mỹ) thì mới giữ được chủ quyền biển đảo.
Với quan điểm trên có thể nói người bình thường cũng nhận ra được đây là quan điểm sai trái đi ngược lại với đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta, đi ngược lại với “Sách Trắng quốc phòng” Việt Nam.Mục đích của quan điểm này không gì khác là nhằm chia rẽ mối quan hệ giữa Việt Nam với các nước khác. Nghiên cứu tình hình Biển Đông ta thấy, những bất đồng, tranh chấp ở Biển Đông hiện nay không chỉ liên quan đến 5 nước, 6 bên có yêu sách chủ quyền mà còn trực tiếp liên quan đến hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn, tự do hàng hải, hàng không ở Biển Đông và khu vực. Đây là vấn đề phức tạp, lâu dài không thể giải quyết ngay trong ngày một ngày hai và cũng không thể giải quyết được bằng vũ lực, vì sẽ gây tổn hại đến hòa bình, ổn định phát triển.
Bảo vệ hủ quyền lãnh thổ nói chung, chủ quyền biển đảo nói riêng hiện nay phải bằng sức mạnh tổng hợp trên cơ sở luật pháp quốc tế. Kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại, nội lực và ngoại lực, bằng cả sức mạnh trong nước và sức mạnh của cộng đồng quốc tế, chứ không thể chỉ dựa vào việc liên minh quân sự với một cường quốc, một nước phát triển. Trong điều kiện các nước đều đề cao lợi ích, dân tộc thì hiếm có quốc gia một “nước phát triển”, một “cường quốc” nào lại đi bảo vệ chủ quyền, bảo vệ Tổ quốc cho quốc gia, dân tộc khác một cách vô tư, không tính toán. Do đó, dự vào một nước nào đó thì không những không giải quyết được vấn đề mà thậm chí còn làm trầm trọng, căng thẳng và phức tạp thêm tình hình.
“Liên minh” với một nước nào đó để chống nước khác tức là chúng ta đã tự tạo cho mình them một kẻ thù. Càng tai hại hơn nếu đó là một quốc gia có địa chính trị ngay bên cạnh chúng ta. Lịch sử đã khắc ghi nhiều bài học sâu sắc cho việc tồn tại độc lập bên cạnh một láng giềng luôn tìm cách “đồng hóa” chúng ta, đó không chỉ là nhờ vào những chiến công hiển hách như lời hiệu triệu  các bảm Tuyên ngôn “Hịch tướng sỹ” hay “Đại cáo bình Ngô”… mà còn nhờ vào chính sách ngoại giao mềm dẻo ngay sau mỗi chiến thắng của các tướng anh minh vì dân, vì nước. “Bán an hem xa, mua láng giềng gần”, “nước xa không cứu được lửa gần”,… những câu dặn dò cử cha ông xưa vẫn còn nguyên giá trị.
Quan điểm dựa vào nước này, liên minh với nước khác để bảo vệ chủ quyền… là thể hiện tư tưởng yếu hèn, nhược tiểu. Quan điểm này hoàn toàn trái ngược với truyền thống của dân tộc ta và trái với xu thế vận động khách quan của thế giới đương đại.Kinh nghiệm lịch sử cho thấy, dựa vào nước khác không những không bảo vệ, không đòi được chủ quyền, thậm chí còn mất luôn cả quyền độc lập về chính trị, quyền tự quyết của dân tộc. Do đó ỷ lại, trông chờ sự giúp đỡ của nước khác, dựa vào nước khác để bảo vệ độc lập, chủ quyền thì không xứng đáng được hưởng tự do, độc lập. Sự phụ thuộc của một số quốc gia trên thế giới hiện nay càng khẳng định thêm tính đúng đắn trong đường lối đối ngoại của Đảng, Nhà nước ta./.

Thứ Tư, 4 tháng 4, 2018

"ĐÁNH VÀ ĐÀM" - GIÁ TRỊ VĂN HÓA QUÂN SỰ VIỆT NAM

Thắng lợi của nhân dân ta trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược năm 1945-1954 và trong cuộc kháng chiến chống Mỹ năm 1954-1975 dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, là thắng lợi của sức mạnh tổng hợp, cả sức mạnh vật chất và sức mạnh tinh thần, là thắng lợi của con người Việt Nam, của văn hóa Việt Nam, nhất là của văn hóa quân sự Việt Nam.
Hai cuộc kháng chiến thần thánh đó của dân tộc ta đánh thắng hai đế quốc lớn đã khẳng định những giá trị văn hóa quân sự đặc sắc của dân tộc Việt Nam. Trong đó “đánh và đàm” là một trong những giá trị văn hóa quân sự rất đặc sắc trong nền nghệ thuật quân sự Việt Nam - một trong những yếu tố cấu thành hệ giá trị văn hóa quân sự Việt Nam.
Vận dụng một cách sáng tạo lý luận Mác - Lênin về chiến tranh nhân dân giải phóng dân tộc, chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc vào điều kiện cụ thể của Việt Nam - một nước đất còn nghèo, cơ sở vật chất còn thiếu thốn, nhưng phải chống lại những đạo quân xâm lược lớn, có vũ khí trang bị hiện đại của các nước có tiềm lực kinh tế, quân sự lớn - Đảng ta, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã biết đề ra đường lối quân sự độc đáo, sáng tạo, kết hợp giữa đấu tranh quân sự với đấu tranh ngoại giao, kết hợp giữa “đánh và đàm”.
“Đánh và đàm” - giá trị văn hóa quân sự đặc sắc của dân tộc Việt Nam đã được biểu hiện hết sức rõ nét, sinh động, phong phú trong hai cuộc kháng chiến thần thánh chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại.
“Đánh và đàm” là sự kết hợp giữa vừa đấu tranh quân sự, vừa đấu tranh ngoại giao; lấy đấu tranh quân sự làm cơ sở để đấu tranh ngoại giao và đấu tranh ngoại giao để tạo những điều kiện thuận lợi cho đấu tranh quân sự phát triển. Thắng lợi trên mặt trận quân sự, giành thắng lợi lớn trên chiến trường là điều kiện quan trọng để giành thắng lợi trên bàn đàm phán; ngược lại, giành thắng lợi trên bàn đàm phán lại tạo ra những điều kiện thuận lợi để giành thắng lợi trên chiến trường.
Thực tiễn cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược đã thể hiện sự kết hợp chặt chẽ giữa vừa “đánh”, vừa “đàm”, thể hiện vai trò của “đánh”, của đấu tranh trên mặt trận quân sự đối với “đàm”, đối với đấu tranh trên mặt trận ngoại giao. Thực tế đã chỉ rõ, trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, quân và dân ta đã từng bước giành thắng lợi trên mặt trận quân sự và cuối cùng với thắng lợi của quân và dân ta ở Điện Biên Phủ là đòn quân sự có ý nghĩa quyết định đến kết quả cuối cùng của hội nghị Giơ-ne-vơ. Đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tổng kết ngoại giao ở hội nghị Giơ-ne-vơ thắng lợi là vì Điện Biên Phủ thắng lớn. 
Thực tiễn cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược cũng đã thể hiện sự kế thừa và nâng lên một tầm cao mới về sự kết hợp giữa “đánh và đàm” trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp vào điều kiện lịch sử mới của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, một lần nữa lại chứng minh rõ sự kết hợp chặt chẽ giữa vừa “đánh”, vừa “đàm”, thể hiện vai trò của “đánh”, của đấu tranh trên mặt trận quân sự đối với “đàm”, đối với đấu tranh trên mặt trận ngoại giao.
Trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược quân và dân ta đã từng bước giành thắng lợi trên mặt trận quân sự. Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân đã tiêu hao, tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch. Những thắng lợi quân sự của ta trong các chiến dịch Đường 9 - Nam Lào, Đông Bắc và Đông Nam Cam-pu-chia trong năm 1971; các chiến dịch tiến công Trị - Thiên, Bắc Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, Bắc Bình Định, Khu 8 Nam Bộ… trong năm 1972 đã làm Mỹ - Ngụy bị thiệt hại nặng nề. Và cuối cùng, thắng lợi của quân và dân trong trận “Điện Biên Phủ trên không” là đòn quân sự có ý nghĩa quyết định đến kết quả cuối cùng buộc Mỹ phải ký “Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam” ngày 27-01- 1973, tại Pa-ri.
Như vậy, có thể thấy trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, chúng ta đã biết kết hợp chặt chẽ giữa đấu tranh quân sự để giành thắng lợi trên chiến trường với đấu tranh ngoại giao để giành thắng lợi trên bàn đàm phán; kết hợp chặt chẽ giữa đấu tranh quân sự với đấu tranh ngoại giao, giữa “đánh và đàm” để kết thúc chiến tranh. Đó cũng là thể sự hiện sinh động về giá trị văn hóa quân sự Việt Nam - “đánh và đàm” trong thời đại Hồ Chí Minh. Những giá trị văn hóa quân sự đó cần được nghiên cứu, kế thừa và vận dụng sáng tạo trong công cuộc xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, xây dựng nền quốc phòng toàn dân, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ mới.
Nguồn: tapchicongsan.org.vn

Thứ Năm, 11 tháng 5, 2017

Giải pháp phòng, chống hoạt động thu thập bí mật Nhà nước, bí mật quân sự của các thế lực thù địch

Một là, cấp ủy, chỉ huy các cơ quan, đơn vị thường xuyên lãnh đạo, chỉ đạo làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục, thực hiện các chỉ thị, quy định của Đảng, Nhà nước, Quân đội về quản lý, giữ bí mật Nhà nước, bí mật quân sự.  Qua đó, làm cho mọi cán bộ, chiến sĩ và nhân dân nhận rõ âm mưu, thủ đoạn của các thế lực phản động, thù địch trong lĩnh vực này; không mơ hồ, mất cảnh giác, vô tình tiếp tay cho địch; chủ động phát hiện, đấu tranh ngăn chặn có hiệu quả những hoạt động câu móc, cài cắm người vào nội bộ các cơ quan, tổ chức của ta để thu thập tin tức bí mật.
Hai là, làm tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ, bảo vệ đơn vị an toàn tuyệt đối. Cấp ủy, chỉ huy các cơ quan, đơn vị, nhất là các cơ quan cơ mật, trọng yếu, phải chấp hành nghiêm quy định, quy trình về tuyển dụng, bố trí, bổ nhiệm, bảo đảm cán bộ, nhân viên có lý lịch trong sạch, quan điểm chính trị vững vàng và có trình độ chuyên môn cao. Đồng thời, thường xuyên quản lý, nắm chắc tình hình chính trị, tư tưởng, các mối quan hệ của cán bộ, nhân viên cả trong đơn vị, gia đình và địa phương, địa bàn, nhất là đội ngũ cán bộ, nhân viên thường xuyên làm việc, tiếp xúc với người nước ngoài,… kịp thời phát hiện, xử lý các trường hợp vi phạm quy định, vô tình hay cố ý làm lọt, lộ thông tin bí mật. Cùng với đó, lãnh đạo, chỉ huy các cơ quan, đơn vị cần chủ động phối hợp với chính quyền và các cơ quan chức năng địa phương nơi đóng quân, nhất là phối hợp với lực lượng an ninh Quân đội, Công an nắm chắc tình hình hoạt động của các đối tượng trên địa bàn, có biện pháp chủ động phòng ngừa, phát hiện, đấu tranh ngăn chặn có hiệu quả các hoạt động thu thập bí mật quân sự, câu móc vào nội bộ ta của địch; hoặc những sơ hở, thiếu sót của ta trong công tác giữ gìn bí mật nói chung và quản lý công văn, tài liệu, quản lý, khai thác sử dụng mạng internet, các vật mang tin điện tử,... nhằm hạn chế tối đa các thiệt hại do kẻ địch tác động thu thập đánh cắp thông tin, tài liệu mật.
Ba là, các cơ quan, đơn vị tăng cường công tác kiểm tra, hướng dẫn và có biện pháp ngăn ngừa, chấn chỉnh, khắc phục kịp thời những hạn chế, sai sót trong công tác bảo mật. Định kỳ tổ chức sơ kết, tổng kết rút kinh nghiệm về công tác bảo vệ bí mật nhà nước, bí mật quân sự, bổ sung hoàn thiện các quy chế, quy định của cơ quan về công tác bảo vệ bí mật quân sự cho phù hợp với thực tiễn cơ quan, đơn vị; làm tốt công tác biểu dương, khen thưởng những tập thể, cá nhân có thành tích trong thực hiện tốt công tác bảo vệ bí mật nhà nước.
Bốn là, quan tâm đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị, cũng như các phương tiện bảo mật phù hợp, đáp ứng yêu cầu phục vụ cho công tác bảo vệ bí mật Nhà nước, bí mật quân sự. Tiếp tục hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật về công tác bảo vệ bí mật Nhà nước, nhất là các cơ quan Đảng, chính quyền, các ngành cơ yếu, viễn thông, công nghệ thông tin, công nghệ cao…; xây dựng hệ thống tiêu chuẩn về nghiệp vụ quản lý, trang thiết bị kỹ thuật, bảo đảm tốt kinh phí nghiệp vụ và có chế độ, chính sách phù hợp cho cán bộ, nhân viên, những người trực tiếp làm công tác cơ mật của Đảng, Nhà nước và Quân đội.
Ngoài ra, cơ quan quản lý nhà nước cần chú trọng quản lý đội ngũ phóng viên, báo chí về “Quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ internet và thông tin trên mạng”; chấp hành quy chế quản lý, sử dụng tài liệu mật, đưa tin,… không để “vô tình” lộ, lọt bí mật Nhà nước, bí mật quân sự, đưa thông tin sai lệch,… góp phần bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong tình hình mới.