Hiển thị các bài đăng có nhãn phong kiến. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn phong kiến. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 9 tháng 1, 2024

NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM TRONG GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ DÂN TỘC CỦA CÁC TRIỀU ĐẠI PHONG KIẾN VIỆT NAM LÀ GÌ?

Nhận thức đúng vị trí, vai trò của vấn đề dân tộc, các triều đại phong kiến luôn xác định vùng núi, vùng biên giới là “phên dậu”, có vị trí đặc biệt quan trọng trong bảo vệ chủ quyền quốc gia, vùng đồng bào dân tộc, vùng biên giới là “trọng trấn”, là “bình phòng phên chắn của trung đô”. Do đó, chính sách dân tộc được xây dựng, thực thi một cách nhất quán đối với từng vương triều.

Đặt lợi ích quốc gia lên trên hết trong thực hiện chính sách dân tộc. Tư tưởng nhất quán trong chính sách dân tộc của các triều đại phong kiến là thực hiện “mềm dẻo phương xa” hay “nhu viễn” nhằm củng cố khối đại đoàn kết dân tộc, khai thác vị trí, tầm quan trọng của các dân tộc trong việc bảo vệ đất nước. Để thực hiện mục đích đó, các nhà nước phong kiến vừa sử dụng biện pháp quân sự cứng rắn nhằm hàng phục, thu phục các tù trưởng dân tộc thiểu số, vừa ban hành các chính sách vỗ về, lôi kéo, ràng buộc, khoan dung dân chúng để ổn định tình hình, củng cố sự thống nhất quốc gia, đập tan mọi âm mưu, hành động ly khai.   

Xây dựng và thực hiện chính sách dân tộc mềm dẻo, linh hoạt, phù hợp với điều kiện lịch sử, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước. Các triều đại phong kiến đã coi trọng việc thực hiện chính sách ràng buộc, thu phục các tù trưởng dân tộc thiểu số, phủ dụ dân chúng gắn với điều kiện lịch sử cụ thể, đặc điểm từng vùng, từng dân tộc.  

Giải quyết vấn đề dân tộc gắn liền với đặc thù dân tộc. Đây là vấn đề có ý nghĩa to lớn. Sự phát triển của chính sách dân tộc từ thế kỷ XI đến thế kỷ XIX cho thấy không thể can thiệp một cách thô bạo đối với các dân tộc, tôn trong phong tục, tập quán, ngôn ngữ, tâm lý... của các dân tộc thiểu số. Mặt khác, giải quyết vấn đề dân tộc không thể tách rời tổng thể các chính sách về kinh tế - xã hội. Thực tiễn lịch sử khẳng định: Muốn thực hiện chính sách dân tộc đúng không thể thực hiện một cách đơn tuyến, cũng không thể là hình thức “ban phát”, “ban ơn”, quan tâm hơn nữa đến phát triển kinh tế - xã hội, chính sách thuế khoá nặng về bóc lột và khai thác, đồng hóa tất yếu dẫn đến sự bất bình của nhân dân.  

CHÍNH SÁCH DÂN TỘC TRONG CÁC TRIỀU ĐẠI PHONG KIẾN VIỆT NAM CÓ NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN NÀO?

Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc. Ông cha ta đã sớm nhận thức vấn đề dân tộc và từng bước xây dựng chính sách dân tộc. Khi Nhà nước phong kiến trung ương tập quyền ra đời thế kỷ XI, chính sách dân tộc thực sự đầy đủ, toàn diện, ni lên những nội dung cơ bản sau:

Thực hiện chính sách ràng buộc, thu phục các tù trưởng dân tộc thiểu số, phủ dụ dân chúng. Đây là chính sách được thực hiện một cách nhất quán của tất cả các vương triều mặc dù các biện pháp thực hiện có khác nhau. Để thực hiện điều này, ông cha ta đã sử dụng nhiều biện pháp như: Phong thưởng, ban tước, trao một phần quyền lực, đặt các tù trưởng trong hệ thống hành chính (chức dịch, quan lại) của Nhà nước; đào tạo, sử dụng đội ngũ viên chức quan lại đặc biệt là thuộc người dân tộc thiểu số; ràng buộc về hôn nhân, nhiều tù trưởng trở thành phò mã, gắn bó và chịu sự thần phục của triều đình; chính sách an dân, vỗ về thu phục; cử những quan lại danh tiếng, am hiểu phong tục tập quán lên trấn trị khu vực biên giới.

Sử dụng các biện pháp cứng rắn chống xu hướng ly khai cát cứ, để thống nhất quốc gia. Các triều đại phong kiến, khi đã ổn định quyền lực cai trị, sn sàng sử dụng các biện pháp cứng rắn để đập tan, trấn áp các mầm mống ly khai, thu phục các tù trưởng dân tộc thiểu số. Sau trấn áp tiến hành các biện pháp lôi kéo, ràng buộc, khoan dung, vỗ yên dân chúng, đưa họ hoà nhập vào cộng đồng quốc gia.  

Kết hợp chính sách “mềm dẻo phương xa” với thể chế hoá vấn đề dân tộc. Chính sách “mềm dẻo phương xa” được sử dụng một cách triệt để, khi mà chính quyền trung ương chưa đủ sức với tay cai trị một cách trực tiếp các vùng dân tộc thiểu số để từng bước xác lập vị trí, quyền lực của mình ở khu vực biên giới, vùng dân tộc, cải tổ bộ máy hành chính, pháp luật hoá chính sách đối với các dân tộc thiểu số.  

Tuy nhiên, chính sách dân tộc của các triều đại phong kiến Việt Nam còn những hạn chế nhất định, như: Thiếu hoạch định biện pháp phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc; hầu như chỉ quan tâm việc định mức thuế khóa, quy định về sản vật phải cống nạp định kỳ cho triều đình, nghĩa vụ bảo vệ biên cương; chủ yếu khai thác tài nguyên, bóc lột nhân dân các dân tộc, ít chú ý trong cải thiện đời sống vật chất, tinh thần; duy trì tình trạng bất bình đẳng và khoảng cách, thậm chí còn phân biệt, đối xử giữa dân tộc đa số và thiểu số, giữa triều đình và địa phương miền núi...