Hiển thị các bài đăng có nhãn kinh nghiệm. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn kinh nghiệm. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 9 tháng 1, 2024

BÀI HỌC KINH NGHIỆM TRONG GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ DÂN TỘC CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI LÀ GÌ?

Từ kinh nghiệm của Trung Quốc, Thái Lan, Indonexia, Xingapo và Ôxtrâylia có thể rút ra một số bài học trong giải quyết vấn đề dân tộc như sau:

Lợi ích quốc gia, dân tộc là cao nhất và được xây dựng, bảo đảm trên cơ sở nhà nước giải quyết tốt, hài hòa lợi ích các dân tộc thiểu số trong quốc gia, dân tộc. Vấn đề dân tộc và mối quan hệ dân tộc tồn tại lâu dài một cách khách quan và có xu hướng vận động khách quan riêng của nó. Mọi sự giản đơn, chủ quan duy ý chí, áp đặt trong quan điểm lý luận đường lối và phương thức xử lý quan hệ dân tộc đều có thể dẫn tới những hậu quả khôn lường, thậm chí làm tiêu vong cả một sự nghiệp, một chế độ xã hội, một đảng chính trị cầm quyền, làm tan rã cả một quốc gia mà không thể nào cứu vãn nổi.

Thể chế hóa và bảo đảm thực thi một cách nghiêm túc, hiệu quả các vấn đề liên quan đến dân tộc, quan hệ dân tộc, nhất là các quyền chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, tôn giáo, v.v. Vấn đề dân tộc và phương thức xử lý mối quan hệ dân tộc là những vấn đề đặc thù. Các thể chế cầm quyền cần và có thể tác động đến xu hướng vận động của dân tộc bằng các phương thức thích hợp với đặc điểm dân tộc thay vì chỉ dùng biện pháp quyền lực, đặc biệt là yếu tố con người, trên cơ sở đó hình thành hệ thống chính sách công để giải quyết các vấn đề dân tộc và quan hệ dân tộc.

Vấn đề căn bản nhất trong xử lý quan hệ dân tộc ở các quốc gia đa dân tộc chính là quan hệ giữa dân tộc đa số với các dân tộc thiểu số. Mọi biến động chính trị - xã hội của thế giới đương đại đều liên quan đến vấn đề dân tộc, xét đến cùng đều do các mối quan hệ dân tộc chưa được xử lý thỏa đáng và hài hòa theo nghĩa đầy đủ của mối quan hệ này. Xử lý quan hệ dân tộc phải theo quan điểm toàn diện, bao gồm các lĩnh vực kinh tế, xã hội, chính trị, văn hóa, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, trong đó đặc biệt chú ý lĩnh vực văn hóa và tâm lý, ý thức dân tộc.

Vấn đề dân tộc và mối quan hệ dân tộc tồn tại lâu dài một cách khách quan và có xu hướng vận động khách quan riêng của nó. Tôn trọng xu hướng này là một tất yếu trong giải quyết vấn đề dân tộc. Các thể chế cầm quyền cần và có thể tác động đến xu hướng vận động của dân tộc bằng các phương thức thích hợp với đặc điểm dân tộc thay vì chỉ dùng biện pháp quyền lực, trong đó đặc biệt là yếu tố con người.

Lấy phát triển kinh tế cho các dân tộc thiểu số làm khâu đột phá, làm cơ sở để giải quyết các vấn đề khác trong phát triển. Sự phát triển không đồng đều là căn nguyên tạo nên sự phân hóa trên thế giới, gây sức ép và sự xáo trộn ở nhiều quốc gia.  Do vậy, trong giải quyết quan hệ dân tộc, phải giải quyết toàn diện, trong đó lấy phát triển kinh tế làm khâu đột phá, làm cơ sở trong giải quyết các vấn đề khác. 

NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM TRONG GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ DÂN TỘC CỦA CÁC TRIỀU ĐẠI PHONG KIẾN VIỆT NAM LÀ GÌ?

Nhận thức đúng vị trí, vai trò của vấn đề dân tộc, các triều đại phong kiến luôn xác định vùng núi, vùng biên giới là “phên dậu”, có vị trí đặc biệt quan trọng trong bảo vệ chủ quyền quốc gia, vùng đồng bào dân tộc, vùng biên giới là “trọng trấn”, là “bình phòng phên chắn của trung đô”. Do đó, chính sách dân tộc được xây dựng, thực thi một cách nhất quán đối với từng vương triều.

Đặt lợi ích quốc gia lên trên hết trong thực hiện chính sách dân tộc. Tư tưởng nhất quán trong chính sách dân tộc của các triều đại phong kiến là thực hiện “mềm dẻo phương xa” hay “nhu viễn” nhằm củng cố khối đại đoàn kết dân tộc, khai thác vị trí, tầm quan trọng của các dân tộc trong việc bảo vệ đất nước. Để thực hiện mục đích đó, các nhà nước phong kiến vừa sử dụng biện pháp quân sự cứng rắn nhằm hàng phục, thu phục các tù trưởng dân tộc thiểu số, vừa ban hành các chính sách vỗ về, lôi kéo, ràng buộc, khoan dung dân chúng để ổn định tình hình, củng cố sự thống nhất quốc gia, đập tan mọi âm mưu, hành động ly khai.   

Xây dựng và thực hiện chính sách dân tộc mềm dẻo, linh hoạt, phù hợp với điều kiện lịch sử, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước. Các triều đại phong kiến đã coi trọng việc thực hiện chính sách ràng buộc, thu phục các tù trưởng dân tộc thiểu số, phủ dụ dân chúng gắn với điều kiện lịch sử cụ thể, đặc điểm từng vùng, từng dân tộc.  

Giải quyết vấn đề dân tộc gắn liền với đặc thù dân tộc. Đây là vấn đề có ý nghĩa to lớn. Sự phát triển của chính sách dân tộc từ thế kỷ XI đến thế kỷ XIX cho thấy không thể can thiệp một cách thô bạo đối với các dân tộc, tôn trong phong tục, tập quán, ngôn ngữ, tâm lý... của các dân tộc thiểu số. Mặt khác, giải quyết vấn đề dân tộc không thể tách rời tổng thể các chính sách về kinh tế - xã hội. Thực tiễn lịch sử khẳng định: Muốn thực hiện chính sách dân tộc đúng không thể thực hiện một cách đơn tuyến, cũng không thể là hình thức “ban phát”, “ban ơn”, quan tâm hơn nữa đến phát triển kinh tế - xã hội, chính sách thuế khoá nặng về bóc lột và khai thác, đồng hóa tất yếu dẫn đến sự bất bình của nhân dân.  

Thứ Ba, 1 tháng 3, 2022

NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM VỀ GIỮ VỮNG SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG ĐỐI VỚI QUÂN ĐỘI

Ngay từ khi mới ra đời, trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên, Đảng xác định sử dụng bạo lực cách mạng để đánh đổ bạo lực phản cách mạng. Trên cơ sở đó, Đảng đã sớm đề ra chủ trương tổ chức và lãnh đạo lực lượng vũ trang. Tại Đại hội I của Đảng (tháng 3-1935), trong Nghị quyết về “Đội tự vệ” - bước đi ban đầu trong xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng - Đảng xác định: “Công nông cách mạng Tự vệ đội là dưới quyền chỉ huy thống nhất của Trung ương, quân ủy của Đảng Cộng sản”. Khi mới thành lập (ngày 22-12-1944), thực hiện theo chỉ thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân đã thể hiện rõ sự lãnh đạo của Đảng trong tổ chức và thực hiện nhiệm vụ. Bên cạnh hệ thống chỉ huy có chi bộ đảng, bên cạnh người chỉ huy có chính trị viên. Từ khi thành lập đến nay, quân đội luôn được sự quan tâm lãnh đạo của Đảng. Sự lãnh đạo đó được thực hiện theo nguyên tắc: “Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp, toàn diện”, “Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp, thống nhất về mọi mặt”, “Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt” đối với quân đội. Tuy cách diễn đạt mỗi thời kỳ lịch sử có khác nhau, nhưng bản chất cốt lõi đều là một, đó là, Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng duy nhất thực hiện quyền lãnh đạo Quân đội nhân dân Việt Nam. Sự lãnh đạo đó thể hiện ở những vấn đề bao trùm có tính toàn diện: xác định đường lối quân sự, quốc phòng, xây dựng tổ chức, biên chế, bảo đảm vũ khí, trang bị, hiện đại hóa quân đội; phát triển khoa học, nghệ thuật quân sự; tổ chức nuôi dưỡng bộ đội; tiến hành công tác đảng, công tác chính trị,…,

Đảng đã quy định cụ thể về hệ thống tổ chức đảng, tổ chức chỉ huy, cơ quan chính trị, cán bộ chính trị, tổ chức quần chúng các cấp trong quân đội, để luôn giữ vững được vai trò lãnh đạo đối với quân đội, không ngừng xây dựng và phát huy bản chất, truyền thống “trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”(2) của quân đội. Trong quá trình ra đời và phát triển, quân đội đã làm tốt vai trò là chỗ dựa vững chắc cho toàn dân khởi nghĩa đấu tranh giành chính quyền trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945, làm nòng cốt cho toàn dân đánh giặc, lập nên những chiến công hiển hách trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược (1945 - 1975), hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc.

Sau ngày thống nhất đất nước, do hậu quả chiến tranh và những yếu tố tác động khác nhau, đã có giai đoạn, đất nước rơi vào khủng hoảng kinh tế - xã hội trầm trọng, kéo dài; đời sống cán bộ, chiến sĩ gặp rất nhiều khó khăn. Trong khi đó, Việt Nam lại phải đương đầu với cuộc chiến tranh xâm lược ở hai đầu đất nước (biên giới phía Tây Nam và biên giới phía Bắc). Dù thách thức đặt ra nặng nề, nhưng quân đội vẫn một lòng trung thành với Đảng, Tổ quốc và nhân dân, vượt mọi khó khăn, chiến đấu kiên cường, kiên định với mục tiêu, lý tưởng của Đảng. Trong thời kỳ đổi mới, với chủ trương xây dựng theo hướng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, đội quân cách mạng ấy đã và đang thể hiện rõ là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu trung thành, tin cậy, nòng cốt trong bảo vệ Tổ quốc, đồng thời tham gia phát triển kinh tế, giải quyết các vấn đề xã hội, phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, tìm kiếm cứu nạn, phòng, chống dịch bệnh, bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân. Nhân tố quyết định để quân đội làm nên những thành tích mới ấy cũng xuất phát từ vai trò lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với quân đội.

Nhìn rộng ra, cách mạng thế giới đã để lại nhiều bài học đắt giá, nếu đảng cộng sản buông lỏng lãnh đạo đối với quân đội, thì cách mạng đứng trước nguy cơ thất bại. Sự khủng hoảng và sụp đổ của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu, sự tan rã, mất phương hướng của quân đội các nước này ở cuối thập niên 80, đầu thập niên 90 của thế kỷ XX do nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân từ việc buông lỏng và tiến tới thủ tiêu nguyên tắc lãnh đạo của Đảng Cộng sản đối với quân đội (trước đó, trong một thời gian dài, quân đội Liên Xô bỏ hệ thống tổ chức đảng từ toàn quân đến cơ sở). Đó chính là sai lầm trầm trọng mà Đảng Cộng sản Liên Xô đã mắc phải trong lãnh đạo quân đội. Điều đó càng đặt ra yêu cầu trong việc quán triệt, thực hiện nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam là phải giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với lực lượng vũ trang, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các tổ chức đảng trong quân đội.

Trong tiến trình đổi mới từ Đại hội VI đến Đại hội XIII, Đảng đều xác định chủ trương giữ vững, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, đề ra những chủ trương, giải pháp lãnh đạo xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại. Ngày 20-7-2005, Bộ Chính trị khóa IX ban hành Nghị quyết số 51-NQ/TW, “Về tiếp tục hoàn thiện cơ chế lãnh đạo của Đảng, thực hiện chế độ một người chỉ huy gắn với thực hiện chế độ chính ủy, chính trị viên trong Quân đội nhân dân Việt Nam”. Sự vững mạnh về chính trị của quân đội, sự phát triển về chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu của quân đội sau 16 năm thực hiện Nghị quyết số 51-NQ/TW đã chứng minh tính đúng đắn của việc xác lập lại chế độ chính ủy, chính trị viên trong quân đội. Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ XI, nhiệm kỳ 2020 - 2025 đã xác định các nhiệm vụ trọng tâm trong việc thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng và xây dựng Đảng bộ Quân đội trong 5 năm tới, trong đó tiếp tục khẳng định phải giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với quân đội.

Trong giai đoạn phát triển mới, nhằm bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng xác định: “Tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh, xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số lực lượng tiến thẳng lên hiện đại, tạo tiền đề vững chắc phấn đấu năm 2030 xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, biển, đảo, vùng trời; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước. Đại hội chủ trương: “Giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước đối với Quân đội nhân dân”.

Thứ Ba, 17 tháng 11, 2020

BỘ QUỐC PHÒNG RÚT KINH NGHIỆM CÔNG TÁC PHÒNG, CHỐNG BÃO LỤT

Ngày 4/11, Bộ Quốc phòng tổ chức hội nghị trực tuyến trên 183 điểm cầu trong toàn quân rút kinh nghiệm công tác phòng, chống bão lụt, khắc phục hậu quả mưa lũ, sạt lỡ đất, đá khu vực miền Trung tháng 10 năm 2020. Thượng tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Tổng Tham mưu trưởng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng chủ trì hội nghị.

Năm 2020, tình hình thời tiết, thiên tai diễn biến hết sức phức tạp, cực đoan, khó lường. Trong tháng 10, khu vực miền Trung liên tiếp chịu ảnh hưởng thiệt hại nặng nề của cơn bão số 6, 7, 8, 9 và hoàn lưu bão gây mưa lớn, dài ngày làm ngập lụt trên diện rộng. Mưa lớn kéo dài làm sạt lỡ đất, đá tại nhiều nơi trên địa bàn Quân khu 4, Quân khu 5 gây thiệt hại nghiêm trọng về người, tài sản của Nhà nước và Nhân dân.

Trước tình hình đó, các cơ quan, đơn vị trong toàn quân chủ động quán triệt, tổ chức thực hiện nghiêm chỉ đạo của Thủ trưởng Bộ Quốc phòng, Thủ trưởng Bộ Tổng Tham mưu, Thủ trưởng Tổng Cục Chính trị và các cơ quan chức năng triển khai đồng bộ, quyết liệt, kịp thời, huy động mọi nguồn lực ứng phó kịp thời với bão, lũ và các tình huống xảy ra. Tuy nhiên, thiệt hại vẫn còn lớn về người và tài sản của Nhà nước, Nhân dân và Quân đội.

Tại hội nghị, các ý kiến phát biểu nêu rõ những khó khăn vướng mắc, bài học kinh nghiệm và kiến nghị trong việc thực hiện nhiệm vụ ứng phó sự cố thiên tai và tìm kiếm cứu nạn.

Bài học kinh nghiệm được các ý kiến tại hội nghị đề cập là việc chủ động cập nhập, nắm chắc diễn biến thời tiết khí hậu thủy văn; chủ động với địa phương nắm chắc tình hình về mọi mặt, địa hình, địa chất ở các trọng điểm thiên tai, tìm kiếm cứu nạn phù hợp với đặc thù đơn vị. Quá trình thực hiện nhiệm vụ phải nắm chắc thời cơ, khẩn trương, quyết liệt, huy động mọi nguồn lực tổ chức tìm kiếm cứu nạn trong thời gian sớm nhất, bảo đảm an toàn, hiệu quả. Lực lượng làm nhiệm vụ cứu hộ, cứu nạn phải bảo đảm tính độc lập, thông tin liên lạc phải thông suốt, chuẩn bị đầy đủ trang thiết bị phù hợp với địa hình, thời tiết, bảo đảm an toàn về mọi mặt.

Phát biểu chỉ đạo tại hội nghị, Thượng tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Tổng Tham mưu trưởng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng đề nghị các cơ quan chuyên môn tập trung nghiên cứu, đảm bảo các chế độ chính sách cho bộ đội trong thực hiện nhiệm vụ; tổ chức các lực lượng thực hiện nhiệm vụ phải phù hợp; nghiên cứu hướng dẫn các biện pháp khắc phục sự cố sập đổ công trình; các đơn vị tiếp tục rút kinh nghiệm, kiểm tra các địa bàn khu vực đóng quân để đảm bảo an toàn và sẵn sàng ứng phó với thiên tai; bổ sung các nội dung phòng chống thiên tai, tìm kiếm cứu nạn vào chương trình huấn luyện, đào tạo tại các học viện, nhà trường Quân đội; chú trọng công tác tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng về công tác phòng chống thiên tai, tìm kiếm cứu nạn.

Thứ Năm, 5 tháng 11, 2020

BỘ QUỐC PHÒNG RÚT KINH NGHIỆM CÔNG TÁC PHÒNG, CHỐNG BÃO LỤT

Ngày 4/11, Bộ Quốc phòng tổ chức hội nghị trực tuyến trên 183 điểm cầu trong toàn quân rút kinh nghiệm công tác phòng, chống bão lụt, khắc phục hậu quả mưa lũ, sạt lỡ đất, đá khu vực miền Trung tháng 10 năm 2020. Thượng tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Tổng Tham mưu trưởng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng chủ trì hội nghị.

Năm 2020, tình hình thời tiết, thiên tai diễn biến hết sức phức tạp, cực đoan, khó lường. Trong tháng 10, khu vực miền Trung liên tiếp chịu ảnh hưởng thiệt hại nặng nề của cơn bão số 6, 7, 8, 9 và hoàn lưu bão gây mưa lớn, dài ngày làm ngập lụt trên diện rộng. Mưa lớn kéo dài làm sạt lỡ đất, đá tại nhiều nơi trên địa bàn Quân khu 4, Quân khu 5 gây thiệt hại nghiêm trọng về người, tài sản của Nhà nước và Nhân dân.

Trước tình hình đó, các cơ quan, đơn vị trong toàn quân chủ động quán triệt, tổ chức thực hiện nghiêm chỉ đạo của Thủ trưởng Bộ Quốc phòng, Thủ trưởng Bộ Tổng Tham mưu, Thủ trưởng Tổng Cục Chính trị và các cơ quan chức năng triển khai đồng bộ, quyết liệt, kịp thời, huy động mọi nguồn lực ứng phó kịp thời với bão, lũ và các tình huống xảy ra. Tuy nhiên, thiệt hại vẫn còn lớn về người và tài sản của Nhà nước, Nhân dân và Quân đội.

Tại hội nghị, các ý kiến phát biểu nêu rõ những khó khăn vướng mắc, bài học kinh nghiệm và kiến nghị trong việc thực hiện nhiệm vụ ứng phó sự cố thiên tai và tìm kiếm cứu nạn.

Bài học kinh nghiệm được các ý kiến tại hội nghị đề cập là việc chủ động cập nhập, nắm chắc diễn biến thời tiết khí hậu thủy văn; chủ động với địa phương nắm chắc tình hình về mọi mặt, địa hình, địa chất ở các trọng điểm thiên tai, tìm kiếm cứu nạn phù hợp với đặc thù đơn vị. Quá trình thực hiện nhiệm vụ phải nắm chắc thời cơ, khẩn trương, quyết liệt, huy động mọi nguồn lực tổ chức tìm kiếm cứu nạn trong thời gian sớm nhất, bảo đảm an toàn, hiệu quả. Lực lượng làm nhiệm vụ cứu hộ, cứu nạn phải bảo đảm tính độc lập, thông tin liên lạc phải thông suốt, chuẩn bị đầy đủ trang thiết bị phù hợp với địa hình, thời tiết, bảo đảm an toàn về mọi mặt.

Phát biểu chỉ đạo tại hội nghị, Thượng tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Tổng Tham mưu trưởng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng đề nghị các cơ quan chuyên môn tập trung nghiên cứu, đảm bảo các chế độ chính sách cho bộ đội trong thực hiện nhiệm vụ; tổ chức các lực lượng thực hiện nhiệm vụ phải phù hợp; nghiên cứu hướng dẫn các biện pháp khắc phục sự cố sập đổ công trình; các đơn vị tiếp tục rút kinh nghiệm, kiểm tra các địa bàn khu vực đóng quân để đảm bảo an toàn và sẵn sàng ứng phó với thiên tai; bổ sung các nội dung phòng chống thiên tai, tìm kiếm cứu nạn vào chương trình huấn luyện, đào tạo tại các học viện, nhà trường Quân đội; chú trọng công tác tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng về công tác phòng chống thiên tai, tìm kiếm cứu nạn.

Thứ Tư, 18 tháng 12, 2019

KINH NGHIỆM VỀ GIÁO DỤC PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI

Giáo dục lòng liêm chính, đạo đức công vụ cho công chức từ lâu đã được nhiều nước trên thế giới xem như một trụ cột trong chính sách phòng, chống tham nhũng. Qua đó, giúp công chức thấy được tham nhũng là hành vi vi phạm đạo đức, trách nhiệm và nghĩa vụ của người công chức trong quá trình thực thi công vụ. Việc giáo dục liêm chính ở một số quốc gia được thực hiện hằng năm và mang tính bắt buộc cho toàn thể cán bộ, công chức. Tất cả các quốc gia thuộc Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) đều có chương trình đào tạo liêm chính bắt buộc cho cán bộ, viên chức của họ. Với mục tiêu nâng cao nhận thức cho công chức về trách nhiệm công vụ, về việc nghiêm cấm các hành vi tham nhũng trong công chức, một số nước như Thụy Điển, Hàn Quốc, Malaysia, Đức, Trung Quốc, Singapore ban hành văn bản pháp luật riêng về đạo đức công chức, thậm chí thành lập những cơ quan chuyên phụ trách về đạo đức công chức. Hàn Quốc thành lập ủy ban đặc biệt về đạo đức công chức có trách nhiệm chính trong việc giáo dục đạo đức công chức, theo dõi quá trình thực hiện của công chức. Singapore giáo dục công chức lòng tự trọng, xem tham nhũng như sự sỉ nhục danh dự và họ sợ bị áp dụng chế tài pháp luật, coi đây là hành vi nhiều rủi ro, từ đó có thái độ nói không với tham nhũng trong quá trình thực thi nhiệm vụ.

Thứ Tư, 17 tháng 10, 2018

KINH NGHIỆM TỔ CHỨC ĐẤU TRANH CHỐNG QUAN ĐIỂM SAI TRÁI TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG

Một là, phát huy vai trò, trách nhiệm của cấp ủy đảng, chỉ huy, cơ quan chính trị, lực lượng chuyên trách các cấp. Để đạt hiệu quả, lực lượng này phải chủ động nắm chắc âm mưu, thủ đoạn chống phá mới của các thế lực thù địch; quản lý, nắm vững tư tưởng, tâm trạng của cán bộ, chiến sĩ để dự báo, tham mưu cho lãnh đạo, chỉ huy những biện pháp giáo dục, định hướng tư tưởng, bảo đảm cho mọi quân nhân kiên định, vững vàng về chính trị, tư tưởng trong mọi tình huống, sẵn sàng nhận và hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao.
Hai là, nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, giáo dục, định hướng tư tưởng cho cán bộ, chiến sĩ và nhân dân. Các đơn vị tiếp tục thực hiện tốt nền nếp công tác giáo dục chính trị, lãnh đạo tư tưởng, hướng vào đối tượng là cán bộ trẻ, học viên trong các học viện, nhà trường và chiến sĩ mới. Trong tiến hành, cần tích cực đổi mới hình thức tuyên truyền, giáo dục, bảo đảm tính đa dạng, phong phú, hấp dẫn; nội dung ngắn gọn, gắn với phê phán, phản bác các luận điệu sai trái bằng những lý lẽ sắc sảo, khoa học, khách quan, thực tế, có sức thuyết phục cao.
Ba là, tích cực xây dựng môi trường văn hóa tốt đẹp, lành mạnh tại đơn vị. Phát huy có hiệu quả các thiết chế văn hóa ở đơn vị thông qua việc tổ chức tốt các hoạt động văn hóa văn nghệ, thể thao, vui chơi giải trí, nhất là trong ngày nghỉ, giờ nghỉ, tạo sân chơi lành mạnh, bổ ích góp phần ngăn chặn sự xâm nhập của các loại văn hóa phẩm và thông tin xấu độc thẩm thấu vào đơn vị. Thực hiện có hiệu quả việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ”. Nắm vững phương châm lấy “xây” để “chống” lấy “cái đẹp, dẹp cái xấu”, cổ vũ mạnh mẽ các nhân tố tích cực, lấy cái tích cực, cái tốt đẩy lùi cái tiêu cực, cái xấu…
Bốn là, quản lý tốt hoạt động khai thác, sử dụng mạng internet của các tập thể và cá nhân trong Quân đội. Quản lý chặt chẽ hoạt động của các cơ quan báo chí trong việc cung cấp, đưa thông tin trên mạng internet và các trang mạng xã hội; tăng cường quản lý đội ngũ phóng viên, biên tập viên, báo cáo viên. Đồng thời, phải chủ động “phủ kín” thông tin, không để “khoảng trống” thông tin trên mạng internet; tận dụng không gian mạng internet để tuyên truyền quan điểm đúng đắn, thông tin trung thực, khách quan, kịp thời, chính xác cho cán bộ, chiến sĩ và nhân dân.
Năm là, phát huy vai trò nêu gương của đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ trì, chủ chốt các cấp. Mỗi cán bộ, đảng viên phải nâng cao nhận thức, trách nhiệm “nói đi đôi với làm”, phẩm chất, đạo đức, lối sống và sự gương mẫu, theo phương châm: trên trước dưới sau, trong trước ngoài sau. Đẩy mạnh chống tham nhũng, lãng phí, tệ quan liêu và những hiện tượng tiêu cực trong xã hội, trong cơ quan, đơn vị. Thường xuyên kiểm tra, nắm chắc tình hình tư tưởng, kịp thời phát hiện và giải quyết tốt các mâu thuẫn, những băn khoăn, vướng mắc nảy sinh. Thực hiện tốt Quy chế Dân chủ ở cơ sở; nêu cao tự phê bình và phê bình; giữ vững đoàn kết nội bộ, đoàn kết quân dân. Có như vậy, mới triệt tiêu mọi nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, góp phần làm trong sạch đội ngũ cán bộ, đảng viên, xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện, tăng thêm sức mạnh, uy tín của Đảng và niềm tin trong nhân dân.

Thứ Sáu, 15 tháng 12, 2017

MỘT SỐ KINH NGHIỆM TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI Ở CÁC KHU KINH TẾ - QUỐC PHÒNG HIỆN NAY

          Hiện nay, trước những tiềm ẩn khá phức tạp về tình hình dân tộc, tôn giáo trên địa bàn, vấn đề cốt yếu để góp phần ổn định lòng dân, bảo đảm an ninh chính trị, giữ vững thế trận quốc phòng an ninh nói chung và ở vùng đồng bào các dân tộc thiểu số khu KT – QP nói riêng là phải tập trung chăm lo nâng cao chất lượng đời sống nhân dân, thực hiện thật tốt chính sách an sinh xã hội, gắn phát triển kinh tế xã hội với quốc phòng an ninh. Từ thực tiễn quá trình thực hiện các dự án KT - QP ở vùng đồng bào dân tộc, có một số bài học kinh nghiệm được rút ra như sau:
         Một là, trong tiến hành công tác dân tộc nói chung và các dự án KT - QP nói riêng cần thực hiện “3 bám” (bám dân, bám địa bàn, bám đơn vị), “4 cùng” (cùng ăn, cùng ở, cùng làm, cùng nói tiếng dân tộc) và “5 có” (có tình thương với dân, có kiến thức, có phương pháp, có trách nhiệm và có kỷ luật dân vận tốt). Đây là một bài học kinh nghiệm rất sáng tạo và phù hợp để hòa nhập, tuyên truyền, vận động đồng bào các dân tộc có hiệu quả. Trong tuyên truyền, vận động các tầng lớp nhân dân, đồng bào các dân tộc, tín đồ các tôn giáo... chính quyền các cấp và các đơn vị quân đội cần nắm chắc đối tượng, sử dụng đa dạng các hình thức, biện pháp và lựa chọn nội dung để tuyên truyền phù hợp; kết hợp chặt chẽ giữa các hình thức, phương tiện đơn giản với công nghệ hiện đại, giữa “nói” và “làm” để nâng cao hiệu quả tuyên truyền. 
          Hai là, phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa cấp ủy, chính quyền địa phương, đoàn KT - QP và các lực lượng vũ trang trên địa bàn đóng quân để nắm chắc tình hình an ninh chính trị địa bàn, nắm chắc tâm tư, nguyện vọng của nhân dân, làm tốt công tác tuyên truyền vận động nhân dân thực hiện tốt chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật Nhà nước, nhận thức rõ âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch. Các đoàn KT - QP kịp thời tham mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương để đấu tranh ngăn chặn, giải quyết có hiệu quả các vụ việc nảy sinh  ngay từ cơ sở. Thực tiễn cho thấy, nhiều vấn đề phức tạp nảy sinh ở các bản cũng như tâm tư, nguyện vọng của bà con đã được các đội sản xuất nắm bắt nhanh nhạy và giải quyết kịp thời nên đã ngăn ngừa được một số vụ việc không tốt về an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội.
          Ba là, trong phát triển kinh tế xã hội vùng đồng bào các dân tộc phải căn cứ vào thực tế từng địa bàn cụ thể để có nội dung, biện pháp tham mưu, phối hợp hoạt động cho phù hợp. Có những nơi chỉ cần trao đổi, hướng dẫn, nhưng có nơi phải “cầm tay, chỉ việc”, thực hiện mô hình trình diễn. Song dù ở đâu, cũng phải tránh tư tưởng bao biện, làm thay; phải coi trọng việc giúp đỡ, bồi dưỡng nâng cao trình độ, năng lực cán bộ, đảng viên cho địa phương. 
          Bốn là, coi trọng công tác bồi dưỡng, lựa chọn, xây dựng đội ngũ cán bộ, nhân viên thực hiện các dự án KT - QP cả về trình độ lý luận, năng lực tham mưu, kỹ năng công tác và phẩm chất cách mạng, bảo đảm cho họ phải thật sự đồng cam, cộng khổ, cùng ăn, cùng ở, cùng làm với dân, thông hiểu tiếng nói, chữ viết, phong tục, tập quán của từng dân tộc. Các tổ đội công tác và các đoàn KT - QP cần hết sức tránh tình trạng đưa cán bộ có phẩm chất, năng lực yếu và không có uy tín về công tác tại các đội sản xuất. Đồng thời, Nhà nước và quân đội cần có chế độ, chính sách đãi ngộ xứng đáng đối với cán bộ công tác ở vùng sâu, vùng xa, khu vực biên giới, xã trọng điểm về quốc phòng an ninh, để mọi người an tâm công tác, thực hiện tốt nhiệm vụ được giao.
          Như vậy, sau gần nhiều năm thực hiện các dự án KT - QP, đời sống của đồng bào các dân tộc vùng biên ở các khu KT - QP đã có những thay đổi trên tất cả các lĩnh vực. Trong vùng dự án, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân ổn định và được cải thiện rõ rệt, cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội thiết yếu được đầu tư xây dựng về cơ bản. Mặc dù hiện tượng di cư tự do lẻ tẻ diễn ra nhưng nhìn chung, người dân đã định canh định cư ổn định. Những yếu tố mới của kinh tế hàng hóa từng bước thâm nhập vào đời sống sản xuất. Đồng thời, công tác quốc phòng an ninh trên địa bàn được bảo đảm. Rừng được bảo vệ thông qua trồng mới, khoanh nuôi tái sinh và bảo vệ rừng. Văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số được phục hồi, bảo tồn và phát triển. Đạt được kết quả đó, có sự đóng góp rất lớn của các đơn vị quân đội, trực tiếp là các Đoàn KT - QP. Bằng những hình thức hoạt động cụ thể, thiết thực, cán bộ chiến sĩ các Đoàn KT - QP đã góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, củng cố lòng tin của người dân với Đảng và Nhà nước, với chính quyền các cấp; làm thất bại âm mưu phá hoại nhiều mặt của các thế lực thù địch; củng cố thế trận quốc phòng an ninh trên địa bàn chiến lược Tây Bắc.

Thứ Ba, 10 tháng 10, 2017

Bài học về chăm lo xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, nòng cốt là quân đội nhân dân để bảo vệ vững chắc thành quả của cách mạng cũng như xây dựng tổ quốc xã hội chủ nghĩa từ thành công của Cách mạng Tháng Mười Nga


Cách mạng Tháng Mười không chỉ sản sinh ra chính quyền nhà nước, phát huy vai trò của chính quyền nhà nước trong xây dựng chủ nghĩa xã hội. Tuy nhiên, để chính quyền nhà nước xã hội chủ nghĩa tồn tại, phát triển phải thực hành bảo vệ nó dựa trên cơ sở vũ trang toàn dân mà nòng cốt là xây dựng quân đội nhân dân vững mạnh. V.I.Lênin luôn đặc biệt quan tâm đến xây dựng Hồng quân hùng mạnh trên cơ sở vũ trang toàn dân. Người nhấn mạnh: “Sự vững bền của nước Cộng hòa trong cuộc chiến đấu chống đế quốc, thắng lợi của chủ nghĩa xã hội ở Nga và trên toàn thế giới đều tùy thuộc vào sự tăng cường quân đội”. Theo V.I.Lênin, Hồng quân phải được xây dựng theo hướng cách mạng, chính quy, hiện đại, thực sự là một quân đội kiểu mới của giai cấp công nhân và nhân dân lao động do Đảng Cộng sản lãnh đạo. Điều quan trọng nhất, có ý nghĩa quyết định là giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, xây dựng quân đội luôn vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức. Được thể hiện tập trung ở lý tưởng chiến đấu, cơ chế lãnh đạo và tổ chức, cơ sở chính trị - xã hội và chức năng, nhiệm vụ của quân đội. Ngay từ Tháng Mười năm 1917, tổ chức đảng và chế độ chính ủy bước đầu được xác lập trong một số đơn vị Hồng quân. Đến tháng 4 năm 1918, hệ thống tổ chức đảng, cơ quan chính trị, chế độ chính ủy được thiết lập và thực hiện thống nhất trong Hồng quân, làm nòng cốt xây dựng Hồng quân vững mạnh về chính trị, tư tưởng, nhờ đó Hồng quân đã thể hiện rõ vai trò, sức mạnh to lớn trong nội chiến cách mạng, trong chiến tranh tự vệ cũng như trong xây dựng và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa.
 Mặc dù trải qua một trăm năm, lịch sử nhân loại đã có những bước thăng trầm, song Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga là cuộc cách mạng vĩ đại nhất trong lịch sử xã hội loài người, với cả tầm vóc, quy mô và ý nghĩa lịch sử, giá trị thời đại của nó; đó là kho tàng kinh nghiệm phổ biến, mang tính quốc tế sâu sắc, vô tận và hết sức quý giá, mãi còn nguyên giá trị. Vì vậy, giai cấp công nhân và đội tiền phong của nó là đảng cộng sản ở mỗi nước phải biết kế thừa bài học kinh nghiệm của Cách mạng Tháng Mười Nga, hoàn thành tốt sứ mệnh trước dân tộc. Muốn như vậy, phải củng cố và mở rộng các lực lượng cách mạng, có đường lối chiến lược và sách lược đúng đắn, linh hoạt và sáng tạo, giành thắng lợi từng bước cho chủ nghĩa xã hội. Đặc biệt, quan tâm đến vấn đề giành chính quyền, bảo vệ, xây dựng chính quyền và sử dụng chính quyền cách mạng. Trong đó, luôn coi trọng xây dựng quân đội cách mạng - lực lượng nòng cốt trong sự nghiệp bảo vệ, xây dựng tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Điều này càng làm cho Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga thực sự có ý nghĩa trong điều kiện lịch sử mới./.


Thứ Tư, 4 tháng 10, 2017

KINH NGHIỆM CỦA QUÂN ĐỘI TRONG ĐẤU TRANH PHÒNG, CHỐNG ÂM MƯU, THỦ ĐOẠN LỢI DỤNG VẤN ĐỀ DÂN TỘC, TÔN GIÁO CHỐNG PHÁ SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

Từ thực tiễn phát huy vai trò của quân đội trong đấu tranh phòng, chống âm mưu thủ đoạn lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo chống phá sự nghiệp đổi mới ở nước ta hiện nay, có thể rút ra một số kinh nghiệm sau:
Một là, thường xuyên quan tâm tuyên truyền, giáo dục cho cán bộ, chiến sĩ, đồng bào dân tộc, tôn giáo nắm vững đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước ta và âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo chống phá cách mạng nước ta. Với phương châm: “kiên nhẫn, thận trọng, dân chủ, bình đẳng”, “gần gũi lắng nghe ý kiến của nhân dân”, các đơn vị quân đội đã tích cực, chủ động phối hợp chặt chẽ với cấp ủy, chính quyền địa phương, các lực lượng trên địa bàn tổ chức nhiều đợt tuyên truyền, vận động đồng bào dân tộc, tôn giáo. Chỉ trong năm 2013 và 2014, đã tuyên truyền được 6.987 buổi/396.623 lượt người (trong đó vùng công giáo 2.126 buổi/174.654 lượt người)... Hàng năm có hàng ngàn cán bộ, chiến sĩ với hàng chục ngàn phóng sự, đề tài, sách, bài viết được truyền tải trên các phương tiện thông tin nhằm vạch trần âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch. Nhờ đó, đã làm cho  đồng bào các vùng dân tộc, tôn giáo, các già làng, trưởng bản, các chức sắc, chức việc, tín đồ tôn giáo và cán bộ, chiến sĩ có nhận thức sâu sắc đường lối, chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng, Nhà nước, nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, linh hoạt xử lý chính xác các tình huống xảy ra. Vì vậy, công tác tuyên truyền, giáo dục phải được xác định là trách nhiệm của cấp ủy, chỉ huy các đơn vị quân đội, cấp ủy đảng, chính quyền, các đoàn thể chính trị - xã hội ở các địa phương, được tiến hành thường xuyên bằng nhiều hình thức, phương pháp phù hợp với từng đối tượng cụ thể.
Hai là, chủ động phòng ngừa, quản lý, giám sát chặt chẽ hoạt động của đối tượng, giải quyết kịp thời, triệt để các vụ việc phức tạp ngay từ cơ sở. Các đơn vị quân đội đã phối hợp chặt chẽ với địa phương kịp thời phát hiện, ngăn chặn 2.543 vụ truyền đạo trái pháp luật, vận động nhân dân dỡ bỏ 120 nhà nguyện, điểm cầu nguyện trái pháp luật; đã vận động giải quyết 1.442 vụ việc phức tạp vùng tôn giáo.Một số tổ, đội công tác vận động quần chúng cùng với chính quyền địa phương đã vận động nhân dân tố giác tội phạm được 18.975 đối tượng; đấu tranh kiểm điểm 8.324 đối tượng; ngăn chặn 1.258 vụ truyền đạo trái pháp luật.  Do đó, cần phối hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa các lực lượng trong và ngoài quân đội, nắm vững tình hình an ninh chính trị trên địa bàn, kịp thời nắm bắt phân loại các đối tượng (đối tượng cầm đầu, chủ mưu; đối tượng bị kích động, mua chuộc, lôi kéo…); xây dựng kế hoạch, theo dõi quá trình diễn biến của vụ việc, kịp thời tuyên truyền, vận động đồng bào không nghe, không tin, không làm theo kẻ địch; khi có đủ bằng chứng thì tách các đối tượng chủ mưu, cầm đầu để đấu tranh khai thác; khi xảy ra tình trạng tụ tập đông người phải nhanh chóng phối hợp với chính quyền địa phương xử lý ngay không để lây lan rộng.
Ba là, quan tâm xây dựng lực lượng, tiềm lực và thế trận quốc phòng - an ninh, thế trận khu vực phòng thủ, xây dựng thế trận lòng dân vững chắc ngay từ cơ sở, địa bàn đóng quân vùng đồng bào dân tộc, tôn giáo, miền núi. Xây dựng lực lượng, tiềm lực và thế trận quốc phòng - an ninh, thế trận khu vực phòng thủ, xây dựng thế trận lòng dân vững chắc, tạo ra sức mạnh tổng hợp, hình thành thế trận rộng khắp, chắc chắn, đủ sức để nắm tình hình, kịp thời ứng phó, xử lý mọi tình huống xảy ra. Trong những năm qua, Quân đội đã chủ động tham mưu và tham gia củng cố 9.700 lượt tổ chức đảng cơ sở; 5.300 lượt tổ chức chính quyền, trên 23.000 tổ chức chính trị - xã hội, bồi dưỡng giới thiệu cho cấp ủy địa phương kết nạp trên 1.300 đảng viên, góp phần xóa 107 thôn, bản đồng bào dân tộc chưa có đảng viên. Từ năm 2003 đến nay, các đơn vị trong toàn quân đã phối hợp tham gia huấn luyện 30 vạn lượt dân quân tự vệ, dự bị động viên, đấu tranh ngăn ngừa 17.230 vụ việc phức tạp, cùng địa phương giải quyết 13.693 vụ việc phức tạp thu giữ 19.750 các loại tài liệu phản động vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Các đoàn kinh tế - quốc phòng đã tham gia phối hợp cùng với địa phương bố trí, sắp xếp ổn định dân cư trên địa bàn vùng Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ, qua đó tạo ra hệ thống “lá chắn thép” bảo vệ vững chắc vùng biên giới của Tổ quốc. Thực tiễn cho thấy, cần tập trung xây dựng lực lượng toàn diện, cả con người, cơ sở vật chất, vũ khí trang bị, coi trọng phát huy mọi tiềm năng, thế mạnh của từng địa phương. 
Bốn là, kết hợp chặt chẽ giữa đấu tranh phòng, chống âm mưu thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo chống phá cách mạng với phát triển kinh tế gắn với giải quyết vấn đề xã hội, tăng cường quốc phòng, an ninh, đối ngoại vùng đồng bào dân tộc, tôn giáo. Các đơn vị đã tích cực tham gia phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, xóa đói, giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới vùng đồng bào dân tộc, tôn giáo. Kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế với giải quyết vấn đề xã hội, tăng cường quốc phòng - an ninh, đối ngoại sẽ tạo ra sức mạnh tổng hợp, thế trận vững chắc để kịp thời ngăn chặn những âm mưu thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo chống phá cách mạng nước ta. Để làm được điều này, cần huy động mọi tiềm lực sẵn có ở địa phương, phát huy tối đa sức người, sức của trong xây dựng và bảo vệ địa phương. Tổ chức tốt các phong trào ở địa phương như: “Phong trào đấu tranh tố giác tội phạm, bảo vệ trị an”, “Phong trào toàn dân tham gia xây dựng (thôn, bản, phum, sóc) văn hóa”, “Phong trào bảo vệ cột mốc đường biên”… Thực hiện kết nghĩa với địa phương và các đơn vị quân đội các nước có chung đường biên giới, hải đảo nhằm giao lưu văn hóa, trao đổi thông tin, tiến hành tuần tra chung để kịp thời phát hiện và phối hợp xử lý các tình huống liên quan đến quốc phòng - an ninh hai nước.
Năm là, nắm vững và thực hiện tốt cơ chế phối hợp giữa các các đơn vị quân đội với cấp ủy, chính quyền địa phương các cấp trong đấu tranh phòng, chống âm mưu thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo chống phá cách mạng. Sự phối hợp chặt chẽ giữa các đơn vị quân đội với cấp ủy đảng, chính quyền và các lực lượng vũ trang trên địa bàn trực tiếp tạo ra những kết quả cao cho công tác đấu tranh phòng, chống âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch. Ngược lại, sự phối hợp thiếu một cơ chế cụ thể, rõ ràng sẽ dẫn đến sự chồng chéo trong triển khai thực hiện và phát huy vai trò của các lực lượng sẽ dẫn đến hiệu quả đấu tranh thấp. Các hoạt động đấu tranh phải được đặt dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo tập trung thống nhất của Đảng, quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước, Chính phủ mà trực tiếp là cấp ủy, người chỉ huy các đơn vị quân đội với cấp ủy đảng, chính quyền địa phương các cấp. Các đơn vị quân đội và địa phương chủ động bàn bạc, thống nhất cơ chế phối hợp, hiệp đồng; xác định rõ mục tiêu, nội dung, hình thức, biện pháp đấu tranh; xây dựng phương án đấu tranh và xác rõ định trách nhiệm của các lực lượng tham gia, có tính đến các phương án dự phòng… Thường xuyên thông tin cho nhau biết và nắm vững tình hình, diễn biến âm mưu thủ đoạn của các thế lực thù địch; phát huy vai trò của lực lượng chuyên trách, Công an, Quân đội trong việc tham mưu, phối hợp hiệp đồng đấu tranh phòng, chống âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo chống phá cách mạng. 
Âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo rất tinh vi, xảo quyệt, có lúc ngấm ngầm, có lúc công khai, vừa hợp pháp, vừa bí mật, bất hợp pháp, cả trong nước và ngoài nước, trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Vì vậy, các đơn vị trong toàn quân cần vận dụng linh hoạt, sáng tạo những kinh nghiệm đấu tranh phòng, chống âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội ở mỗi địa phương và nhiệm vụ của từng đơn vị./.