Thứ Ba, 3 tháng 4, 2018

ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA DÂN TỘC THÁI Ở VIỆT NAM

Người Thái là cư dân sinh sống tập trung ở vùng chân núi thung lũng của các tỉnh miền núi Tây Bắc, gồm hai nhóm địa phương là Thái Đen và Thái Trắng. Các bản người Thái th­ường nằm ở ven đồi, chân núi, nhìn ra cánh đồng, có ít nhất một dòng suối to nhỏ tùy nơi. Những dòng suối còn đóng vai trò quan trọng trong tâm linh của người Thái.
Nhà sàn Thái có mái đầu hồi khum khum hình mai rùa, trên đỉnh đầu hồi ấy có hai vật trang trí, người Thái gọi là "Sừng cuộn" (Khau cút) vì đầu phía trên của nó thường được điêu khắc thành một vòng tròn xoáy trôn ốc, giống như ngọn rau dớn (Phắc cút), một thứ rau rừng rất được đồng bào ưa chuộng.
Văn hóa nông nghiệp trồng lúa nước ở vùng thung lũng của người Thái nổi tiếng với hệ thống tưới tiêu “phai, mương, lái, lịn”. Do chủ động tưới tiêu nên người Thái nuôi cá ngay trong ruộng lúa. Gặt lúa xong là tháo nước bắt cá. Cá nuôi trong ruộng vừa ăn sâu bọ cỏ dại, vừa sục bùn cho tốt lúa. Cho nên, món dâng cúng trong lễ cơm mới bao giờ cũng có xôi và cá nướng.
Canh tác nương rẫy là một bộ phận quan trọng trong sản xuất nông nghiệp của người Thái. Trên nương rẫy, đồng bào trồng lúa, bầu bí, rau cải, đậu, đu đủ, vừng, kê, ớt,.vv... Bông và chàm cũng trồng trên nương.
Đối với người Thái, rừng là môi trường sống, là nơi con người hái rau rừng, lấy thuốc chữa bệnh, săn bắt thú rừng và cung cấp lương thực khi thất bát mùa màng. Luật tục Thái có hàng chục điều quy định về việc khai thác rừng, săn bắn thú, đặc biệt là những quyết định về bảo vệ rừng đầu nguồn, rừng cây ban - biểu tượng văn hóa của quê hương họ.
Người Thái sống chân thật, giản dị và rất hòa thuận. Trong gia đình, trong bản, đồng bào ít to tiếng với nhau. Trẻ con có gì sai sót, người lớn chỉ nhắc nhở nhẹ nhàng. Đồng bào thường tợ giúp nhau trong sản xuất và sinh hoạt, lúc khó khăn, đói kém.
Cũng như các dân tộc trong vùng, người Thái có có tín ngưỡng "vạn vật hữu linh". Đồng bào quan niệm, con người có đến 80 hồn như hồn tóc, hồn lông mày, lông mi, tai, mũi, trán v.v... Người chết không biến mất mà trở về sống ở bản của tổ tiên. Do mọi vật đều có hồn nên cần phải cư xử với chúng như trong quan hệ với người. Có hồn tốt, hồn xấu, hồn ác, hồn lành tùy thuộc vào cách đối xử của người với chúng.
Văn hóa nghệ thuật của người Thái rất phong phú và đủ thể loại, có cả truyện thơ dài hàng ngàn câu như trường ca Tiễn dặn người yêu, có cả truyện thơ lịch sử, kể lại quá trình thiên di của họ vào Tây Bắc như bản sử thi Dõi theo bước đường chinh chiến của ông cha (Táy pú xớc) hay Lịch sử bản mường (Quán tố mướng). Ngay đến lời hát của các mo then (thầy cúng) trong lễ cúng người ốm cũng là một áng du kí ca đầy hình tượng đẹp được diễn tả bằng văn phong trau chuốt. "Xòe" là đặc sản nghệ thuật múa Thái và trở thành biểu tượng văn hóa Tây Bắc. Người Thái có Xòe vòng quanh đốm lửa, quanh hũ rượu cần với sự tham gia đông đảo của già trẻ, gái trai trong tiếng chiêng trống rộn ràng. Nhưng cũng có Xòe điệu của người Thái Trắng ven sông Đà suốt từ vùng Ngọc Chiến, Quỳnh Nhai lên đến Lai Châu, Phong Thổ. Tương truyền, người Thái có đến 32 điệu xòe do các cô thanh nữ múa. 

ĐẶC ĐIỂM VÙNG DÂN TỘC TÂY NAM BỘ Ở VIỆT NAM

Đặc điểm về địa lý và dân số. Tây Nam Bộ là một bộ phận của châu thổ sông Cửu Long, phía Bắc giáp Campuchia, phía Tây Nam là vịnh Thái Lan, phía Đông Nam là Biển Đông; diện tích tự nhiên là 40.548,2 km², gồm 13 tỉnh, thành: Cần Thơ, Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh Long, Hậu Giang, Trà Vinh, An Giang, Kiên Giang, Bạc Liêu, Cà Mau, Sóc Trăng, Đồng Tháp. Năm 2011, dân số vùng dân tộc Tây Nam Bộ là 17,33 triệu người, đa số là người Kinh, còn lại là các dân tộc: Khơ-me, Hoa, Chăm. Khu vực này từng là vùng tập trung lớn nhất của người Khơ-me ở ngoài Campuchia, gọi là Khơ-me Crôm (người Khơ-me ở vùng dưới). Đồng bào Khơ-me cư trú chủ yếu ở Trà Vinh, Sóc Trăng; người Chăm theo đạo Hồi sống ở Tân Châu, An Giang; người Hoa sống ở Kiên Giang và Trà Vinh.
Đặc điểm về lịch sử, văn hóa - xã hội. Người Kinh là những lưu dân từ Bắc và Bắc Trung Bộ đã vượt biển theo chúa Nguyễn đến khai khẩn vùng đất Nam Bộ từ thế kỷ XVII. Năm 1698, chính quyền chúa Nguyễn đến Nam Bộ, xác lập cơ cấu hành chính quản lý vùng đất cực Nam. Những thế hệ cư dân người Việt đã đến Tây Nam Bộ khai khẩn đất đai, tạo lập xóm ấp theo mô hình làng xóm ở Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ. Họ còn tạo nên một đời sống văn hóa phong phú nhưng có những nét riêng ở Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long. Người Khơ-me có mặt khá sớm, nhiều chùa của người Khơ-me ở Trà Vinh, Sóc Trăng được xây dựng từ 4-5 thế kỷ trước.
Vào thế kỷ XVII, người Hoa cũng dần di cư đến miền Nam Việt Nam, sinh sống ở Tây Nam Bộ. Những người Trung Hoa ban đầu đến Nam Bộ với tư cách kiều dân, dần dần định cư, tham dự vào công cuộc khẩn hoang, hội nhập vào cộng đồng cư dân và trở thành công dân Việt Nam. Người Chăm, cư trú tập trung ở một số huyện, thị là: Châu Phú, Tân Châu, Châu Đốc tỉnh An Giang, đầu nguồn sông Hậu. Đầu thế kỷ XVIII, một số người Chăm từ Campuchia theo sông Hậu vào định cư ở Châu Đốc.
Hơn ba thế kỷ qua, các cộng đồng cư dân cùng cộng cư ở vùng Tây Nam Bộ, khẳng định sức sống mãnh liệt của đồng bào trên vùng đất Tây Nam của Tổ quốc. Các dân tộc đoàn kết, giúp đỡ nhau xây dựng cuộc sống, kiến tạo nhiều nét văn hóa phong phú, đặc biệt đã góp phần gìn giữ đất nước trước các cuộc xâm lấn, nô dịch của ngoại bang.

Thứ Hai, 2 tháng 4, 2018

GIẢI PHÁP ĐẤU TRANH, NGĂN CHẶN HOẠT ĐỘNG PHÁT TÁN ẤN PHẨM, TÀI LIỆU XẤU ĐỘC

Một là, các cơ quan chức năng cần tiếp tục phối hợp chặt chẽ trong nắm tình hình, phát hiện kịp thời, chủ động đấu tranh. Cần phối hợp làm tốt công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân về âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, nhất là việc xuất bản, tán phát các tài liệu xấu độc chống phá cách mạng Việt Nam. Sự phối hợp cần được thực hiện thường xuyên, nhưng tập trung vào thời điểm các thế lực bên ngoài chuẩn bị ra các loại văn bản, tài liệu, xuất bản các ấn phẩm, mở các chiến dịch phát tán tài liệu phản động vào nước ta để chủ động đấu tranh, ngăn chặn.
Hai là, tiếp tục xây dựng, hoàn thiện các quy định của pháp luật trong lĩnh vực thông tin - truyền thông, xuất bản, báo chí, quản lý in-tơ-nét. Đây là yêu cầu khách quan của quá trình xây dựng, phát triển và hội nhập quốc tế. Do vậy, cần chủ động rà soát lại hệ thống pháp luật hiện hành, xác định những quan hệ xã hội nảy sinh trên lĩnh vực này chưa được pháp luật điều chỉnh để kiến nghị Nhà nước xây dựng, ban hành mới văn bản pháp luật, góp phần phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị trong công tác phòng ngừa, đấu tranh với hoạt động xuất bản, tán phát tài liệu, ấn phẩm của các thế lực thù địch mang nội dung xấu độc.
Ba là, nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực thông tin - truyền thông, xuất bản, báo chí, quản lý internet. Tham mưu cho Đảng, Nhà nước ban hành các chỉ thị, nghị quyết về tiếp tục đẩy mạnh phối kết hợp giữa các ban, bộ, ngành chức năng trong công tác phòng ngừa, đấu tranh; có cơ chế kiểm tra, giám sát đối với nhiệm vụ này. Tăng cường quản lý các dự án hợp tác trên lĩnh vực bưu chính, viễn thông, hoạt động xuất, nhập khẩu văn hóa phẩm; kịp thời phát hiện, chấn chỉnh sai phạm trong hoạt động kinh doanh, kiểm tra, phát hiện các trang web, blog có nội dung xấu, độc hại để xử lý, ngăn chặn kịp thời.
Bốn là, thường xuyên ứng dụng các thành tựu khoa học - công nghệ mới, trang bị các phương tiện thiết bị hiện đại, nhằm phục vụ hiệu quả công tác quản lý, kiểm duyệt, kiểm tra trong lĩnh vực quản lý báo chí, thông tin - truyền thông, xuất bản, internet, đáp ứng kịp thời yêu cầu công tác phòng ngừa, đấu tranh với các hoạt động lợi dụng khoa học - công nghệ để xuất bản, tán phát các tài liệu, ấn phẩm chống phá Việt Nam.
Năm là, phải tạo ra các điều kiện thuận lợi, những mặt tích cực và hạn chế những mặt tiêu cực ở trong nước, nhằm không để các thế lực thù địch lợi dụng chống phá. Trước hết, phải xây dựng Đảng vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức; xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; đề cao vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội trong việc quản lý và xây dựng đất nước….

Thực hiện đồng bộ các giải pháp trên sẽ thiết thực ngăn chặn, đẩy lùi sự phát tán ấn phẩm, tài liệu xấu độc vào nước ta, góp phần làm thất bại mưu đồ chống phá của các thế lực thù địch, giữ vững sự ổn định chính trị, bảo vệ Đảng, chế độ và Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

NHẬN DIỆN CÁC ẤN PHẨM, TÀI LIỆU XẤU ĐỘC HIỆN NAY

Nhằm xóa bỏ chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tiến tới thủ tiêu sự lãnh đạo của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta, các thế lực thù địch đã và đang tăng cường chống phá bằng nhiều phương thức, thủ đoạn tinh vi, thâm độc. Trong đó, chúng đặc biệt coi trọng việc xuất bản, tán phát các ấn phẩm, tài liệu để tuyên truyền, xuyên tạc tình hình thực tế của đất nước, vu cáo Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền, đàn áp dân tộc, tôn giáo,... gây mâu thuẫn, chia rẽ nhân dân với Đảng, chính quyền, phá vỡ sự đồng thuận xã hội. Đồng thời, làm suy giảm lòng tin của quần chúng vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước và tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa; kích động các đối tượng cơ hội, bất mãn trong nước hoạt động chống đối và khi có thời cơ lôi kéo quần chúng vào các cuộc bạo loạn chính trị. Hiện nay, có thể phân loại các ấn phẩm, tài liệu chính như sau:
Một là, các nghị quyết, dự luật,… của Nghị viện, Quốc hội Mỹ, Úc, các nước phương Tây (Anh, Thụy Sỹ,…). Các ấn phẩm này thường có những nhận xét sai lệch, thiếu khách quan về tình hình dân chủ, nhân quyền ở các quốc gia; trong đó có Việt Nam, nhằm đưa ra các yêu sách trong quan hệ ngoại giao song phương, đa phương, can thiệp sâu vào nội bộ Việt Nam. Điển hình như: Báo cáo thường niên về tự do tôn giáo quốc tế của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ; Báo cáo, Nghị quyết thường niên của Quốc hội châu Âu, Anh về tình hình nhân quyền thế giới, v.v.
Hai là, các văn bản pháp lý của các tổ chức quốc tế, tổ chức phi chính phủ (NGO) gửi Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc, lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các cơ quan chức năng của Việt Nam với nội dung phản ánh sai lệch tình hình trong nước, như: Thông cáo báo chí của tổ chức Ân xá Quốc tế (AI), Kháng thư của Tổ chức theo dõi nhân quyền (HRW), v.v.
Ba là, các ấn phẩm xuất bản, như: sách, báo, tạp chí, tập san, tờ rơi, truyền đơn,… của các cá nhân, tổ chức phản động lưu vong gửi Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc, các NGO hoạt động trên lĩnh vực nhân quyền, các hoạt động của lãnh đạo Đảng, Nhà nước Việt Nam, với nội dung không đúng sự thật hoặc bóp méo, xuyên tạc, vu cáo Việt Nam vi phạm nhân quyền trên các lĩnh vực dân tộc, tôn giáo.
Bốn là, các chương trình phát thanh, phát hình bằng tiếng Việt định kỳ của các hãng VOA, RFA, RFI,… có nội dung cập nhật mặt trái của tình hình dân chủ, nhân quyền trong nước, nhưng được xuyên tạc, thổi phồng hoặc tô đậm những yếu kém, vi phạm của chính quyền các cấp trong giải quyết các vụ việc phức tạp liên quan đến tôn giáo, dân tộc; xử lý các đối tượng lợi dụng tự do báo chí, tự do ngôn luận để vu cáo, rêu rao Việt Nam vi phạm nhân quyền, đàn áp tôn giáo, v.v.
Cùng với đó, các thế lực bên ngoài đã lập ra các đài phát thanh, truyền hình và website, blog, diễn đàn; lợi dụng các phương tiện thông tin đại chúng, in-tơ-nét để thực hiện chiến dịch phá hoại tư tưởng, chống phá Việt Nam. Thông qua hợp tác trên các lĩnh vực bưu chính viễn thông, báo chí, xuất bản trong nước, chương trình hợp tác quốc tế, dự án đào tạo báo chí, các hội thảo để móc nối, tác động chuyển hóa tư tưởng. Chúng còn lợi dụng đường thư tín, bưu phẩm, bưu kiện, nhân viên ngoại giao, các đoàn khách quốc tế vào thăm, làm việc tại Việt Nam để chuyển tải các ấn phẩm, báo cáo, tài liệu vào nước ta, đầu độc thông tin, làm cho các tầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ xa rời mục tiêu, lý tưởng, mất lòng tin vào Đảng, từng bước hình thành xu hướng ly khai, lôi kéo dựng “ngọn cờ”, tập hợp lực lượng, tiến tới hình thành đảng đối lập, thúc đẩy nhanh quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ở nước ta.

THỦ ĐOẠN "ĐẦU ĐỘC" VĂN HÓA CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

Văn hóa là nền tảng tinh thần, là sức mạnh nội sinh hun đúc nên phẩm chất, cốt cách con người Việt Nam. Là bản sắc để phân biệt người Việt Nam với thế giới, nền văn hóa với chiều sâu hàng nghìn năm, đối với người dân đã trở thành nề nếp, chất liệu, nhu cầu không thể thiếu trong đời sống hàng ngày; là cốt cách, niềm tin để mỗi người đứng vững trước những luận điệu xuyên tạc.
Nhận thấy rõ vai trò to lớn của văn hóa, các thế lực thù địch đã không từ mọi thủ đoạn thâm độc, nham hiểm, tinh vi, xảo quyệt nhằm làm rối loạn chuẩn mực đạo đức, lối sống và làm băng hoại truyền thống văn hóa dân tộc. Mục đích của chúng là gieo rắc lối sống thực dụng, xa rời lý tưởng, gây hỗn loạn về lý luận và tư tưởng, nhằm làm cho người dân dao động, mất niềm tin dễ bề thao túng, kích động.
Đối với thế hệ cao tuổi chúng lợi dụng tâm lý người già dùng các chiêu trò, hoạt động từ thiện, tung hô cá nhân, ủng hộ đình, chùa …, từ đó gây dựng lòng tin rồi tổ chức tuyên truyền phản động, tạo bè phái gây mất đoàn kết, lối sống thiếu chuẩn mực, làm lệch lạc hình ảnh, truyền thống tốt đẹp của người cao tuổi, làm suy giảm niềm tin của thế hệ trẻ và xã hội.
Đối với cán bộ công chức và thế hệ trẻ chúng ra sức lợi dụng chính sách mở cửa, giao lưu văn hóa để lén lút chuyển tải các sản phẩm văn hóa độc hại làm mê muội con người, đặc biệt là giới trẻ, đồng thời, quảng bá lối sống của phương Tây, coi thường những giá trị văn hóa truyền thống, chạy theo lối sống thực dụng, cá nhân vị kỷ.
Chúng cũng tìm mọi cách để tuyên truyền các khuynh hướng văn hóa, nghệ thuật độc lập với chính trị vào nước ta, đồng thời, luôn tìm mọi cách xuyên tạc các giá trị mang tính nền tảng của văn hóa Việt Nam như truyền thống đoàn kết dân tộc chống ngoại xâm, bảo vệ đất nước... vốn đã trở thành cội nguồn sức mạnh của toàn dân tộc Việt Nam làm nên chiến thắng trong các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc trước đây, cũng như trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN ngày nay.
Đối với lực lượng vũ trang, chúng ra sức tìm mọi khe hở, sai sót của cán bộ, chiến sĩ để bôi nhọ, xuyên tạc hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ” nhằm phá vỡ nền tảng, biểu tượng cao đẹp tiêu biểu cho đạo đức cách mạng của Đảng, quân đội và cả dân tộc.
Từ đó tạo ra tư tưởng tiêu cực, mất phương hướng, niềm tin vào chủ trương đường lối, sự nghiệp đổi mới của đảng, rễ ràng rơi vào vòng xoáy chờ sẵn của các thế lực thù địch, quay lại chống phá đất nước.
Nhận diện được những thủ đoạn thâm độc của chúng, bản lĩnh của những người quân nhân cách mạng, lúc này trở thành bức tường vững chắc để ngăn chặn, là vũ khí sắc bén vạch trần bộ mặt thật, để chúng không thể hả hê với những thành công của chiêu trò bẩn thỉu. Góp phần bảo vệ, phát huy nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc văn hóa của dân tộc.

PHÒNG CHỐNG LUẬN ĐIỆU SAI TRÁI TRONG THỜI ĐẠI CÔNG NGHỆ THÔNG TIN

Hiện nay, mạng xã hội đang phát triển như một xu thế tất yếu do nhu cầu cần tìm kiếm thông tin, thiết lập các mối quan hệ cá nhân đặc biệt là đối với giới trẻ. Thông tin trên mạng xã hội đều có những mặt tích cực và những mặt tiêu cực và đặc biệt là không có sự kiểm soát vì vậy nó sẽ gây tác động xấu tới mọi lĩnh vực trong xã hội.
Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều đã thấy được tác hại của các trang mạng xã hội đối với trật tự an toàn xã hội và an ninh quốc gia. Đối với nước ta, các thế lực thù địch , phản động đã lợi dụng các trang mạng xã hội để tuyên truyền và chống phá Đảng và Nhà nước. Các trang mạng xã hội thông dụng hiện nay mà mọi người hay sử dụng như Facebook, Youtube, Zalo …đã xuất hiện nhiều thông tin sai sự thật, bóp méo sự thật, xuyên tạc mọi đường lối chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước trên tất cả các lĩnh vực. Những thông tin nói xấu bôi nhọ hình ảnh cán bộ Đảng và Nhà nước được nhiều đối tượng đưa những bài tin nói sai sự thật gây ảnh hưởng tới quá trình thực hiện nhiệm vị gặp khó khăn. Cụ thể trong thời gian vừa qua những hình ảnh và video được cắt xén trên mạng của một số đối tượng đã nói xấu hình ảnh của lực lượng cảnh sát giao thông trong quá trình làm nhiệm vụ, các video clip được tung lên mạng với nhiều nội dung nói xấu cán bộ, đảng viên trong quá trình thực hiện nhiệm vụ mà Đảng và Nhà nước giao nhiệm vụ, mới đây nhất có nhiều vụ án nghiêm trọng như bị cáo Đinh La Thăng làm thất thoát hàng nghìn tỷ đồng của nhà nước đang trong quá trình xét xử nhưng có nhiều đối tượng phản động đã đưa tin sai sự thật nói xấu các đồng chí cán bộ Nhà nước đã đứng sau vụ án mà không bị xét xử thông qua các trang thông tin mạng . Chính những thông tin và những hình ảnh đó kết hợp với những luận điệu, các thành phần phản động đã đưa ra những bài viết trên các trang mạng xã hội như Facebook và Youtube….mà những trang mạng này Nhà nước chúng ta không thể kiểm soát được và ngăn chặn kịp thời. Hiện nay một số nước trên thế giới để kiểm soát được những thông tin trên mạng họ đã có những chính sách mới trong quản lý thông tin mạng như sử dụng mạng nội bộ là một biện pháp tích cực và hiệu quả trong việc kiểm soát và quản lý những thông tin xấu độc trên mạng.
Trước những thông tin xấu độc này, không ít những người sử dụng mạng xã hội do tư tưởng không vững vàng đã thay đổi quan điểm, “ tự diễn biến ’’ “ tự chuyển hóa” tư tưởng gây tâm lý xấu tác động vào nhận thức từ đó sẽ dẫn đến việc làm sai trái, gây ảnh hưởng tới xã hội. Do đó, để quản lý thông tin trên mạng, đấu tranh chống các thế lực thù địch, phản động thì bản thân mỗi một người dân chúng ta cần phải có nhận thức đúng, khi có những sự việc xảy ra thì cung cấp thông tin cho báo chí chính thống và đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên phải làm tốt những bài viết trên các trang mạng. Ngoài ra các cơ quan ban ngành nhà nước cần xây dựng được mạng xã hội Việt Nam để từ đó người dân được tham gia sử dụng những trang mạng chính thống và được kiểm soát nội dung góp phần xây dựng một nền văn hóa trên mạng bảo đảm trật tự an toàn xã hội và An ninh Quốc gia.

XÂY DỰNG ĐẢNG VỮNG MẠNH TOÀN DIỆN - VẤN ĐỀ TIÊN QUYẾT ĐỂ VÔ HIỆU HÓA TƯ TƯỞNG XẤU ĐỘC HIỆN NAY

Khi và chỉ khi chúng ta xây dựng Đảng thật sự trong sạch, vững mạnh, đủ năng lực và bản lĩnh lãnh đạo cách mạng: có đường lối chính trị đúng, làm cho kinh tế - xã hội phát triển ổn định, đời sống nhân dân từng bước được nâng cao, những giá trị ưu việt của CNXH được khẳng định, niềm tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội được củng cố thì những tư tưởng cơ hội, xét lại, chống cộng khó có đất tồn tại.
Thế nhưng, thực tế hiện nay, Đảng đang tồn tại những khuyết điểm: “Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống với những biểu hiện khác nhau về sự phai nhạt lý tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi, tiền tài, kèn cựa địa vị, cục bộ, tham nhũng, lãng phí, tùy tiện, vô nguyên tắc...”. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng gọi tên những tật bệnh đó là lên mặt “quan cách mạng”, “kéo bè, kéo cánh”, “hủ hóa”, “tham lam”, “trộm cướp”… Thực trạng đó đã làm giảm niềm tin của nhân dân vào Đảng, vào chế độ, đúng như cảnh báo của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Một dân tộc, một đảng, một con người ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không còn trong sáng, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”.  Chính những yếu kém, tiêu cực đó là điều kiện, cơ hội thuận lợi cho các thế lực xấu chống phá cách mạng nước ta cả lý luận và thực tiễn.
Để vô hiệu hóa các tư tưởng lý luận thù địch, tất yếu Đảng phải tự đổi mới, tự chỉnh đốn, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu, để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Trước mắt cần tập trung: kiên quyết đấu tranh, khắc phục tình trạng suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí. Các cấp ủy đảng, từng cán bộ, đảng viên phải quán triệt tư tưởng và thực hiện đồng bộ các nhóm giải pháp: về công tác giáo dục chính trị, tư tưởng; về tự phê bình và phê bình; về tổ chức, cán bộ; về nguyên tắc sinh hoạt đảng; về cơ chế, chính sách. Đây là công tác liên quan trực tiếp đến xây dựng tổ chức, xây dựng con người, đụng chạm trực tiếp đến danh dự, quyền lợi của cán bộ, đảng viên, do đó rất phức tạp, nhạy cảm, nên phải làm rất kiên trì, bền bỉ, thường xuyên, liên tục. Đòi hỏi cán bộ đảng viên, nhất là những người đứng đầu các tổ chức Đảng, chính quyền các cấp phải nghiêm túc tự giác, nêu cao tính tiền phong, gương mẫu về đạo đức, lối sống, nghiêm khắc kiểm điểm, trên cương vị chức trách, nhiệm vụ được giao, làm rõ trách nhiệm cá nhân; thực sự thấm nhuần và làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; lời nói phải đi đôi với việc làm; xử lý nghiêm minh theo Điều lệ Đảng và pháp luật những vi phạm, bất kể ai ở cương vị, chức vụ nào.
Hồ Chí Minh đã căn dặn: Đối với các dân tộc phương Đông, “một tấm gương sống có giá trị hơn một trăm bài diễn thuyết”; “Trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán hai chữ “cộng sản” mà được họ yêu mến. Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách, đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta noi theo”.  Người cách mạng phải học tập, tu dưỡng đạo đức suốt đời. “Đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống, nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hàng ngày mà phát triển và củng cố. Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”.
Khi xây dựng Đảng thật sự trong sạch, vững mạnh, đủ sức lãnh đạo cách mạng Việt Nam, thì các tư tưởng cơ hội, xét lại, chống cộng: phủ nhận vai trò lãnh đạo; chia rẽ mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với nhân dân; mọi âm mưu xuyên tạc, phủ nhận quan điểm, chính sách của Đảng, Nhà nước… đều sẽ bị vô hiệu hóa. Ngược lại, nếu không thì những tư tưởng cơ hội xét lại, phản động càng thừa cơ phát triển, chi phối đời sống tinh thần xã hội.