Hiển thị các bài đăng có nhãn dân tộc học. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn dân tộc học. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 12 tháng 4, 2018

ĐẶC ĐIỂM CỦA DÂN TỘC HOA Ở VIỆT NAM

Dân tộc Hoa nước ta có tên gọi khác là người Khách, người Hán, người Tàu; gồm các nhóm địa phương từ Quảng Đông, Quảng Tây, Hải Nam, Triều Châu, Phúc Kiến, Sạng Phang, Xìa Phống, Thảng Nhằm, Minh Hương, Hẹ... Đồng bào di cư đến Việt Nam vào các thời điểm khác nhau, sớm nhất vào thế kỷ XVI, cuối thời Minh đầu thời Thanh, kéo dài cho đến nửa đầu thế kỷ XX. Hiện nay, dân sô dân tộc Hoa ở nước ta có 823.071 người.
Người Hoa cư trú ở nông thôn chủ yếu sống bằng nghề trồng lúa nước. Ở thành phố, thị xã, thị trấn, họ làm nghề dịch vụ, buôn bán; các nghề tiểu thủ công nghiệp khá phát triển như gốm, giấy, nhang... Một bộ phận cư trú ở ven biển sống làm muối, đánh cá. Đặc biệt, họ có truyền thống buôn bán rất giỏi.
Lương thực chính của người Hoa là gạo, bữa ăn thường có mì xào, hủ tiếu, vằn thắn... Gia đình bình dân, sáng điểm tâm bằng cháo trắng với trứng vịt muối, nhà khá giả là hủ tiếu, bánh bao, xíu mại... Người Hoa nấu ăn giỏi, thích các món xào với gia vị; thức uống là các loại nước thuốc ngoài tác dụng giải khát còn là loại thuốc mát. 
Trang phục truyền thống của người Hoa chỉ còn thấy ở một số người có tuổi hay trong các nghi lễ cưới xin, tang ma. Phụ nữ thường mặc áo cổ viền cao, cài khuy một bên, xẻ tà cao hoặc một chiếc áo “sườn xám” may dài, ôm ngang hông, xẻ tà phần dưới đùi. Đàn ông mặc áo màu đen hay xanh đậm, cài khuy vải một bên, vai liền cổ đứng, xẻ tà hoặc kiểu áo tứ thân, xẻ giữa, cổ đứng, vai liền, có túi.
Làng của người Hoa thường ở ven chân núi, trong cánh đồng, trải dài trên bờ biển, gần nguồn nước, giao thông thuận tiện; nhà ở sát nhau theo dòng họ. Ở thành thị, người Hoa thường sống tập trung, có khu phố riêng. Nhà cửa thường có 3 loại: nhà 3 gian hai chái, nhà chữ Môn và nhà chữ Khẩu. Nổi bật trong nhà ở là các bàn thờ tổ tiên, dòng họ, thờ Phật và các vị thần thánh cùng các câu đối, liễn, các tờ giấy hồng chữ Hán để cầu phúc, lợi, bình yên.
Trước đây, xã hội của họ có phân hóa giai cấp sâu sắc và mang tính phụ quyền cao. Mối quan hệ với những người cùng họ được hết sức coi trọng. Mỗi một dòng họ có một từ đường để thờ cúng. Hằng năm vào một ngày nhất định, người cùng họ làm lễ giỗ họ tại từ đường. Gia đình theo chế độ phụ hệ một vợ một chồng; kết hôn trong cùng một nhóm địa phương. Người kinh doanh, sản xuất thường có các lễ hội nghề nghiệp tương ứng, có một vị tổ và một ngày giỗ tổ nghề trong năm.
Một năm, người Hoa có nhiều ngày lễ tết như Nguyên Đán, Nguyên Tiêu, Thanh Minh, Đoan Ngọ, Trung Thu… Nguyên Tiêu là tết đặc trưng, tín ngưỡng và văn hóa truyền thống được biểu hiện trong dịp này. Nổi bật trong tín ngưỡng dân gian là thờ cúng tổ tiên, gia tộc, dòng họ, các vị thần, thánh, Bồ tát... Hệ thống chùa miếu của người Hoa khá phát triển trong cộng đồng.
Sinh hoạt văn hóa truyền thống của người Hoa có nhiều thể loại như hát, múa, hài kịch với nhiều loại nhạc cụ tiêu, sáo, các loại đàn (tì bà, nhị, nguyệt), chập chõa... Hát “sơn ca” (sán cố) là hình thức được nhiều người ưa chuộng, nhất là tầng lớp thanh niên. Tổ chức văn nghệ dân gian truyền thống mang tính nghiệp dư đã có từ lâu là các “nhạc xã”. Múa lân, sư tử, rồng là những loại hình nghệ thuật mang tính quần chúng được trình diễn vào những ngày lễ tết.

ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA DÂN TỘC HMÔNG Ở VIỆT NAM

Dân tộc Hmông có tên gọi chính thức là Hmông, các tên gọi khác như: Mẹo, Mèo, Miến Hạ, Mán Trắng. Họ có các nhóm địa phương là Hmông Trắng, Hmông Hoa, Hmông Đỏ, Hmông Đen, Hmông Xanh, Na Miẻo. Hiện nay, dân số Hmông ở nước ta có 1.068.215 người, cư trú chủ yếu ở vùng núi các tỉnh phía Bắc, dọc biên giới Việt – Trung, Việt - Lào. Người Hmông vốn có nguồn gốc lâu đời ở miền Nam Trung Quốc. Đồng bào di cư vào Việt Nam làm ba đợt, sớm nhất cách đây khoảng 300 năm.
Dân tộc Hmông chủ yếu làm nương rẫy (định canh hoặc du canh) và một phần ruộng bậc thang, chăn nuôi trâu bò, lợn gà, ngựa (thồ). Cây trồng chính là ngô, lúa mạch, khoai, rau, lạc vừng, lanh, thuốc phiện, cây ăn quả
Trong văn hóa ẩm thực, người Hmông ngày ăn hai bữa, ngày mùa ăn ba bữa; mèn mén (bột ngô đồ), cơm canh là món truyền thống. Bột ngô xúc bằng thìa gỗ, uống rượu, hút thuốc lá bằng điếu cày; mời khách chiếc điếu do tự tay nạp thuốc là biểu hiện thiện cảm quý trọng.
Trang phục người Hmông khá sặc sỡ, đa dạng, mang đặc điểm của các nhóm địa phương rõ rệt. Phụ nữ Hmông Hoa mặc áo thêu hoặc in hoa văn bằng sáp ong, xẻ nách, trên vai và ngực đắp vải màu và thêu. Phụ nữ Hmông Đen mặc váy vải Chàm, in hoa văn bằng sáp ong, áo xẻ ngực. Phụ nữ Hmông Trắng mặc váy màu trắng, áo xẻ ngực, thiêu hoa văn ở cánh tay, yếm sao. Phụ nữ Hmông Xanh mặc váy ống, nếu có chồng thì cuốn tóc lên đỉnh đầu, cài bằng lược móng ngựa, đội khăn ra ngoài tạo thành hình như hai cái sừng. Trang phục đàn ông Hmông mặc quần áo màu chàm, đội mũ nồi.
Mặc dù cư trú ở vùng cao nhưng người Hmông ở nhà trệt, không làm nhà sàn. Nhà có ba gian, hai chái và thường có ba cửa, gian giữa đặt bàn thờ. Lương thực cất trữ trên sàn gác, một số nơi có nhà kho. Bản làng Hmông có nhiều dòng họ, trong đó có một đến hai họ lớn. Quan hệ làng bản được gắn bó chặt chẽ qua thờ cúng chung thổ thần của bản, các sinh hoạt lễ tết, địa giới đất đai. Những người Hmông cùng họ, có cùng tín ngưỡng tổ tiên, dù bất kỳ ở đâu cũng coi nhau là anh em ruột thịt. Người trưởng họ có tiếng nói và vị trí quan trọng đối với cả dòng tộc. Sự cố kết dòng họ không chỉ ở nơi cư trú mà còn mang tính khu vực và xuyên quốc gia.
Người Hmông còn bảo lưu nhiều bản sắc tộc người thể hiện ở nghi lễ vòng đời (sinh đẻ, cưới hỏi, tang ma, cúng vía…) rất khác biệt với các dân tộc khác, các tập tục sinh hoạt gia đình, dòng họ, làng bản. Hàng năm, các dòng họ đều tổ chức lễ cúng chung cả họ (sầu su, thi su), lễ cúng ma bản v.v… Đồng bào có tín ngưỡng đa thần, ảnh hưởng từ Đạo giáo. Trong nhà có nhiều nơi linh thiêng dành riêng cho thờ cúng tổ tiên, ma nhà, ma bếp, ma cửa, bàn thờ tổ sư nghề. Trước đây, tết năm mới của người Hmông từ đầu tháng 12 theo cách tính lịch cổ truyền phù hợp với nông lịch truyền thống, nay đã chuyển sang ăn tết Nguyên Đán. Ngày tết dân làng thường chơi còn, thổi kèn, múa khèn, ca hát nhảy múa ở những bãi ruộng quanh làng.
Từng có nhà nước với lịch sử di cư lâu dài làm cho dân tộc Hmông luôn hướng về thủ lĩnh và khát khao một thủ lĩnh tộc người. Chính những điều đó tạo nên một niềm tin tiềm ẩn ở dân tộc này về một vị vua và tổ quốc riêng của mình. Thực dân Pháp từng dựng lên “Vua Mèo” Vương Trí Sình ở Đồng Văn - Hà Giang, đánh trúng vào tâm lý khát khao thủ lĩnh của người Hmông. Đế quốc Mỹ cũng từng dùng con bài dân tộc Hmông trong cuộc chiến tranh Đông Dương, dựng nên tướng phỉ Vàng Pao tại Lào. Gần đây, các thế lực thù địch tiếp tục lợi dụng một bộ phận đồng bào Hmông để truyền đạo trái pháp luật, kích động “xưng vua”, chia rẽ dân tộc, chống phá cách mạng nước ta.
Hiện nay, được sự quan tâm lớn của Đảng và Nhà nước, đời sống kinh tế-xã hội của người Hmông có nhiều cải thiện. Đại đa số đồng bào tin theo Đảng, Nhà nước, tích cực đóng góp sức mình vào công cuộc xây dựng quê hương, đất nước và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. 

Thứ Tư, 4 tháng 4, 2018

ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA DÂN TỘC KHƠ-ME Ở VIỆT NAM

Người Khơ-me có tên tự gọi là Khơ-me, tên gọi khác là Cur, Cul, Cu, Thổ, Việt gốc Miên, Khơ-me Krôm; dân số hiện nay có 1.260.640 người, đông nhất trong là các tộc người nói ngôn ngữ Môn - Khơ me ở Việt Nam.
Dân tộc Khơ-me thuộc tiểu chủng và ngữ hệ Nam Á, thuộc nhóm ngôn ngữ Môn – Khơ me; hình dáng tầm vóc cao trung bình, da ngăm đen, trán thấp, mũi dẹt, môi dày, tóc đen, xoăn tự nhiên.
Người Khơ-me đã cư trú lâu đời ở phía Nam bán đảo Đông Dương. Từ thế kỷ VII-XVII, nhiều cư dân của Vương quốc Chân Lạp trốn tránh chế độ quân chủ hà khắc đã di cư đến vùng Tây Nam Bộ sinh sống. Đến thế kỷ XVII, khi các Chúa Nguyễn vào xây dựng Đàng Trong thì người Việt cũng đi vào khai phá vùng đất châu thổ sông Cửu Long. Lúc này lại có thêm càng nhiều người Khơ-me đến sinh sống ở Sài Gòn, Đồng Nai.
Người Khơ-me từ xa xưa cho đến nay là dân tộc trồng lúa nước, có nhiều kinh nghiệm trong canh tác. Công cụ canh tác nông nghiệp của họ gần giống với người Kinh. Đồng bào rất thành thạo nghề đánh cá, phát triển nghề đan, dệt chiếu, vải, làm đường thốt nốt, làm gốm.
Trong ăn uống, thức ăn chính của người Khơ-me là cơm tẻ, cơm nếp. Họ biết chế biến nhiều loại mắm, nhất là mắm Bhóc là mắm làm bằng cá lóc, cá sọc, cá trê, tôm tép với thính. Gia vị trong ẩm thực được ưa thích nhất là vị chua (quả me), tiêu, tỏi, sả, ớt, cari. Người Khơ-me mặc Xà rông, thanh niên ngày nay thích mặc âu phục, người đứng tuổi mặc áo bà ba đen, khăn rằn quấn đầu, vắt vai. Nhà ở của họ giống nhà người Kinh trong vùng, nhưng khác nhau ở cách bày trí bên trong.
Gia đình một vợ một chồng là hình thức phổ biến trong cộng đồng Khơ-me, nhưng còn tồn tại tàn dư mẫu hệ. Phụ nữ ưa kín đáo nhưng lại cởi mở, hiếu khách. Hôn nhân thường do cha mẹ xếp đặt, có sự thỏa thuận của con; việc cưới qua ba bước: làm mối, dạm hỏi, lễ cưới. Lễ cưới được tổ chức ở nhà gái, chồng về ở một thời gian, khi có con ra ở riêng bên vợ. Trong tang ma, người chết được hỏa thiêu, tro được giữ trong tháp Pì chét đẩy  xây cạnh ngôi chính điện trong chùa. Hai lễ tết lớn trong năm là của người Khơ-me là Chuôn Chnăm Thmây vào tháng tư dương lịch và Chào mặt trăng vào rằm tháng 10 âm lịch. Dịp này, bà con thường tổ chức đua thuyền giữa các phum, sóc.
Tôn giáo có vai trò quan trọng, chi phối đời sống của người Khơme. Họ thờ Phật, tổ tiên và thực hành các nghi lễ nông nghiệp như cúng thần ruộng, gọi hồn lúa, thần mặt trăng. Con trai Khơ-me khi lớn được gửi vào chùa từ 3-5 năm để học kinh Phật, chữ Khơ-me, sau tu hành và hoàn tục mới được đi học tiếp và lập gia đình. Di sản đặc sắc nhất của văn hóa Khơ-me được thể hiện ở nghệ thuật và kiến trúc chùa tháp.
Trong quá trình cách mạng nước ta, dưới sự lãnh đạo, quản lý của Đảng, Nhà nước, đồng bào Khơ-me đã đoàn kết cùng với các dân tộc anh em, chung tay, đóng góp công sức xứng đáng vào quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Tuy nhiên, các thế lực thù địch đã lợi dụng một số vấn đề phức tạp do lịch sử để lại, khơi lại mâu thuẫn dân tộc, sử dụng luận điệu “đòi lại đất Tây Nam Bộ cho Campuchia”, kích động vấn đề bảo tồn tôn giáo, chữ viết và văn hóa, tạo dựng cái gọi là “nguy cơ đồng hóa dân tộc”; cấu kết giữa bọn phản động trong nước và ngoài nước, nhất là ở Việt Nam và Campuchia để phá hoạt sự đoàn kết, thống nhất dân tộc. 

Thứ Ba, 3 tháng 4, 2018

ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN DÂN TỘC CHĂM Ở VIỆT NAM

Người Chăm có tên tự gọi là người Chăm, tên gọi khác là Chàm, Chiêm, Chiêm Thành, Chăm Pa, Hời…; có các nhóm địa phương là Chăm hroi, Chăm pó ông, Chà và ku, Chăm Châu Đốc. Dân số Chăm hiện nay là 161.729 người, sống chủ yếu ở Ninh Thuận, Bình Thuận, Phú Yên, Bình Định, Tây Ninh, Đồng Nai, An Giang, Tp. Hồ Chí Minh.
Lịch sử người Chăm có nhiều thăng trầm, gắn với sự hình thành, phát triển, suy vong của vương quốc Chăm Pa - vương quốc được hình thành từ sự thống nhất nhiều trung tâm, với hai bộ lạc Dừa và Cau mà dấu ấn còn lưu lại trong văn hóa dân gian. Khoảng đầu Công Nguyên, từ hai bộ lạc này, vương quốc Chăm Pa cổ ra đời. Đến thế kỷ XVII, người Chăm dần trở thành một bộ phận của đại gia đình dân tộc Việt Nam.
Người Chăm sinh sống chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp lúa nước; thủ công nghiệp khá phát triển, hoạt động buôn bán có từ sớm. Người Chăm nấu cơm trong nồi đất nung, có tục ăn trầu cau. Nam nữ đều quấn váy, đàn ông mặc váy cánh ngắn xẻ ngực cài khuy, đàn bà mặc áo chui đầu màu trắng. Nhà ở truyền thống của người Chăm là đất (trệt) xây dựng theo trật tự: nhà khách, nhà của cha mẹ và các con nhỏ, nhà của các con gái đã lập gia đình, nhà bếp trong đó có kho thóc, buồng tân hôn và chỗ ở của cô gái út.
Gia đình người Chăm theo chế độ mẫu hệ, riêng vùng Hồi giáo (Islam) theo phụ hệ, nhưng tập quán mẫu hệ vẫn tồn tại khá đậm nét trong quan hệ gia đình, dòng họ, thờ cúng tổ tiên. Phụ nữ Chăm chủ động trong quan hệ luyến ái, hôn nhân cư trú ở nhà vợ, con mang họ mẹ, gia đình một vợ một chồng. Tang ma của người chăm theo lối địa táng, hỏa táng (theo tục Bàlamôn). Lễ hội Chăm lớn nhất là Bon Ka tê được tổ chức linh đình tại các đền tháp vào tháng mười âm lịch. Văn hóa dân gian Chăm nổi tiếng với trống Paranưng, kèn Karanai, các làn điệu dân vũ trong dịp lễ hội tại đền tháp. Đặc trưng nghệ thuật Chăm tập trung vào các công trình kiến trúc và điêu khắc thờ tự.
Từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, đại đa số đồng bào Chăm tin tưởng theo Đảng, Nhà nước. Năm 1975, sau khi đất nước thống nhất, đồng bào Chăm đoàn kết, thống nhất cùng các dân tộc trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Tuy nhiên, trong quá trình xâm lược, thống trị nước ta, với chính sách “chia để trị”, bè lũ thực dân, đế quốc đã tìm mọi cách nắm lấy dân tộc Chăm, thực hiện âm mưu chia rẽ dân tộc, ngăn chặn phong trào cách mạng do Đảng ta lãnh đạo. Với tài trợ từ nước ngoài, chúng dựng lên “Trung tâm văn hóa Chàm” ở Phan Rang (1971), hòng tập hợp trí thức Chăm và những người có tôn giáo, âm mưu biến một bộ phận người Chăm cực đoan này thành tay sai chống phá cách mạng. Hiện nay, vẫn còn một số đối tượng người Chăm trong các “Văn phòng Chămpa quốc tế”, “Hội Muslim Chămpa”, “Liên minh người Chăm tỵ nạn”... núp dưới hình thức hoạt động hữu ái, tương trợ, bảo tồn văn hóa để tập hợp lực lượng chờ thời cơ gây phản loạn, ly khai, chia rẽ dân tộc.

ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA DÂN TỘC THÁI Ở VIỆT NAM

Người Thái là cư dân sinh sống tập trung ở vùng chân núi thung lũng của các tỉnh miền núi Tây Bắc, gồm hai nhóm địa phương là Thái Đen và Thái Trắng. Các bản người Thái th­ường nằm ở ven đồi, chân núi, nhìn ra cánh đồng, có ít nhất một dòng suối to nhỏ tùy nơi. Những dòng suối còn đóng vai trò quan trọng trong tâm linh của người Thái.
Nhà sàn Thái có mái đầu hồi khum khum hình mai rùa, trên đỉnh đầu hồi ấy có hai vật trang trí, người Thái gọi là "Sừng cuộn" (Khau cút) vì đầu phía trên của nó thường được điêu khắc thành một vòng tròn xoáy trôn ốc, giống như ngọn rau dớn (Phắc cút), một thứ rau rừng rất được đồng bào ưa chuộng.
Văn hóa nông nghiệp trồng lúa nước ở vùng thung lũng của người Thái nổi tiếng với hệ thống tưới tiêu “phai, mương, lái, lịn”. Do chủ động tưới tiêu nên người Thái nuôi cá ngay trong ruộng lúa. Gặt lúa xong là tháo nước bắt cá. Cá nuôi trong ruộng vừa ăn sâu bọ cỏ dại, vừa sục bùn cho tốt lúa. Cho nên, món dâng cúng trong lễ cơm mới bao giờ cũng có xôi và cá nướng.
Canh tác nương rẫy là một bộ phận quan trọng trong sản xuất nông nghiệp của người Thái. Trên nương rẫy, đồng bào trồng lúa, bầu bí, rau cải, đậu, đu đủ, vừng, kê, ớt,.vv... Bông và chàm cũng trồng trên nương.
Đối với người Thái, rừng là môi trường sống, là nơi con người hái rau rừng, lấy thuốc chữa bệnh, săn bắt thú rừng và cung cấp lương thực khi thất bát mùa màng. Luật tục Thái có hàng chục điều quy định về việc khai thác rừng, săn bắn thú, đặc biệt là những quyết định về bảo vệ rừng đầu nguồn, rừng cây ban - biểu tượng văn hóa của quê hương họ.
Người Thái sống chân thật, giản dị và rất hòa thuận. Trong gia đình, trong bản, đồng bào ít to tiếng với nhau. Trẻ con có gì sai sót, người lớn chỉ nhắc nhở nhẹ nhàng. Đồng bào thường tợ giúp nhau trong sản xuất và sinh hoạt, lúc khó khăn, đói kém.
Cũng như các dân tộc trong vùng, người Thái có có tín ngưỡng "vạn vật hữu linh". Đồng bào quan niệm, con người có đến 80 hồn như hồn tóc, hồn lông mày, lông mi, tai, mũi, trán v.v... Người chết không biến mất mà trở về sống ở bản của tổ tiên. Do mọi vật đều có hồn nên cần phải cư xử với chúng như trong quan hệ với người. Có hồn tốt, hồn xấu, hồn ác, hồn lành tùy thuộc vào cách đối xử của người với chúng.
Văn hóa nghệ thuật của người Thái rất phong phú và đủ thể loại, có cả truyện thơ dài hàng ngàn câu như trường ca Tiễn dặn người yêu, có cả truyện thơ lịch sử, kể lại quá trình thiên di của họ vào Tây Bắc như bản sử thi Dõi theo bước đường chinh chiến của ông cha (Táy pú xớc) hay Lịch sử bản mường (Quán tố mướng). Ngay đến lời hát của các mo then (thầy cúng) trong lễ cúng người ốm cũng là một áng du kí ca đầy hình tượng đẹp được diễn tả bằng văn phong trau chuốt. "Xòe" là đặc sản nghệ thuật múa Thái và trở thành biểu tượng văn hóa Tây Bắc. Người Thái có Xòe vòng quanh đốm lửa, quanh hũ rượu cần với sự tham gia đông đảo của già trẻ, gái trai trong tiếng chiêng trống rộn ràng. Nhưng cũng có Xòe điệu của người Thái Trắng ven sông Đà suốt từ vùng Ngọc Chiến, Quỳnh Nhai lên đến Lai Châu, Phong Thổ. Tương truyền, người Thái có đến 32 điệu xòe do các cô thanh nữ múa. 

ĐẶC ĐIỂM VÙNG DÂN TỘC TÂY NAM BỘ Ở VIỆT NAM

Đặc điểm về địa lý và dân số. Tây Nam Bộ là một bộ phận của châu thổ sông Cửu Long, phía Bắc giáp Campuchia, phía Tây Nam là vịnh Thái Lan, phía Đông Nam là Biển Đông; diện tích tự nhiên là 40.548,2 km², gồm 13 tỉnh, thành: Cần Thơ, Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh Long, Hậu Giang, Trà Vinh, An Giang, Kiên Giang, Bạc Liêu, Cà Mau, Sóc Trăng, Đồng Tháp. Năm 2011, dân số vùng dân tộc Tây Nam Bộ là 17,33 triệu người, đa số là người Kinh, còn lại là các dân tộc: Khơ-me, Hoa, Chăm. Khu vực này từng là vùng tập trung lớn nhất của người Khơ-me ở ngoài Campuchia, gọi là Khơ-me Crôm (người Khơ-me ở vùng dưới). Đồng bào Khơ-me cư trú chủ yếu ở Trà Vinh, Sóc Trăng; người Chăm theo đạo Hồi sống ở Tân Châu, An Giang; người Hoa sống ở Kiên Giang và Trà Vinh.
Đặc điểm về lịch sử, văn hóa - xã hội. Người Kinh là những lưu dân từ Bắc và Bắc Trung Bộ đã vượt biển theo chúa Nguyễn đến khai khẩn vùng đất Nam Bộ từ thế kỷ XVII. Năm 1698, chính quyền chúa Nguyễn đến Nam Bộ, xác lập cơ cấu hành chính quản lý vùng đất cực Nam. Những thế hệ cư dân người Việt đã đến Tây Nam Bộ khai khẩn đất đai, tạo lập xóm ấp theo mô hình làng xóm ở Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ. Họ còn tạo nên một đời sống văn hóa phong phú nhưng có những nét riêng ở Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long. Người Khơ-me có mặt khá sớm, nhiều chùa của người Khơ-me ở Trà Vinh, Sóc Trăng được xây dựng từ 4-5 thế kỷ trước.
Vào thế kỷ XVII, người Hoa cũng dần di cư đến miền Nam Việt Nam, sinh sống ở Tây Nam Bộ. Những người Trung Hoa ban đầu đến Nam Bộ với tư cách kiều dân, dần dần định cư, tham dự vào công cuộc khẩn hoang, hội nhập vào cộng đồng cư dân và trở thành công dân Việt Nam. Người Chăm, cư trú tập trung ở một số huyện, thị là: Châu Phú, Tân Châu, Châu Đốc tỉnh An Giang, đầu nguồn sông Hậu. Đầu thế kỷ XVIII, một số người Chăm từ Campuchia theo sông Hậu vào định cư ở Châu Đốc.
Hơn ba thế kỷ qua, các cộng đồng cư dân cùng cộng cư ở vùng Tây Nam Bộ, khẳng định sức sống mãnh liệt của đồng bào trên vùng đất Tây Nam của Tổ quốc. Các dân tộc đoàn kết, giúp đỡ nhau xây dựng cuộc sống, kiến tạo nhiều nét văn hóa phong phú, đặc biệt đã góp phần gìn giữ đất nước trước các cuộc xâm lấn, nô dịch của ngoại bang.

Thứ Ba, 27 tháng 3, 2018

ĐẶC ĐIỂM CỦA VÙNG DÂN TỘC TÂY NGUYÊN Ở VIỆT NAM

Đặc điểm về địa lý và dân số. Tây Nguyên gồm 5 tỉnh: Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc, Đắc Nông, Lâm Đồng; diện tích tự nhiên trên 56.000 km2, chiếm 17% tổng diện tích cả nước; địa bàn cư trú của trên 40 dân tộc, trong đó có 12 dân tộc tại chỗ thuộc hai nhóm ngôn ngữ Môn - Khơme và Nam Đảo. Trước năm 1945, dân số các dân tộc tại chỗ Tây Nguyên có hơn 300.000 người, sau tăng nhanh do các đợt di cư lớn từ đồng bằng lên, từ phía Bắc vào. Các dân tộc tại chỗ Tây Nguyên thường sống khá tập trung, khu vực cư trú được phân chia khá rõ. Đa số người Gia-rai sống ở Gia Lai (trên 90%); người Ê-đê tập trung ở Đắc Lắc; người Mnông ở Đắc Nông; người Mạ, Chu-ru ở Lâm Đồng; người Giẻ - Triêng ở Kon Tum. Hiện nay, dân tộc Kinh chiếm 70% dân số Tây Nguyên, dân tộc thiểu số chiếm 30%. Các dân tộc cơ bản có quan hệ đoàn kết, bình đẳng, tương trợ lẫn nhau.
Đặc điểm về lịch sử - chính trị. Trước đây, vùng Tây Nguyên thường có nhiều biến động trong nhiều thế kỷ do xung đột giữa các bộ tộc, tập đoàn phong kiến của người Việt, Chăm, Lào, Xiêm. Sau này, Tây Nguyên chịu hậu quả nặng nề bởi chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Chính sách cai trị, sự đồng hóa các dân tộc ở Tây Nguyên của các triều đại phong kiến, thế lực thực dân, đế quốc và tay sai để lại những hậu quả chính trị - xã hội khá nặng nề. Trong chiến tranh giải phóng dân tộc, các dân tộc Tây Nguyên luôn một lòng đi theo Đảng. Hiện nay, các dân tộc ở Tây Nguyên cùng đoàn kết tương trợ dưới sự lãnh đạo của Đảng, xây dựng khối đoàn kết toàn dân tộc. Song gần đây, việc di dân tự do, tình hình tôn giáo, dân tộc ở Tây Nguyên có một số diễn biến phức tạp.
Đặc điểm về kinh tế. Trình độ phát triển kinh tế các dân tộc thiểu số Tây Nguyên còn thấp, không đồng đều; kinh tế hàng hóa chưa phát triển rộng khắp. Đồng bào sống chủ yếu bằng nông nghiệp nương rẫy, chăn nuôi gia súc, gia cầm, sản xuất phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên. Một bộ phận nhân dân đã canh tác thuần thục cây công nghiệp (cà phê, cao su, hồ tiêu). Hiện nay, đời sống của đồng bào đã được cải thiện cả về vật chất, tinh thần. Song một bộ phận đời sống còn nhiều khó khăn, chênh lệch giàu nghèo giữa người Kinh với người dân tộc thiểu số còn lớn.
Về văn hóa - xã hội. Tổ chức xã hội các dân tộc thiểu số Tây Nguyên mang nhiều tàn tích của xã hội sơ khai. Buôn làng là cơ sở xã hội phổ biến. Thiết chế xã hội cơ bản vẫn dựa trên luật tục, lễ thức truyền thống. Một số dân tộc như Gia-rai, Ê-đê, Mnông, Xơ-đăng, Giẻ-Triêng còn duy trì chế độ mẫu hệ; vai trò của già làng, trưởng buôn, trưởng dòng họ có vị trí đặc biệt quan trọng trong đời sống cộng đồng. Văn hóa các dân tộc Tây Nguyên đang được nhà nước quan tâm bảo tồn, vẫn giữ được những nét độc đáo. Nền văn nghệ dân gian truyền miệng phong phú, tiêu biểu là trường ca Đam San; dàn công chiêng, đàn đá, các điệu múa dân gian.
Đặc điểm về tôn giáo, tín ngưỡng và lễ hội. Đồng bào thiểu số Tây Nguyên có tín ngưỡng truyền thống với quan niệm vạn vật hữu linh và một số hình thái tôn giáo khác. Lễ tục tâm linh tiêu biểu là: Lễ bỏ mả, lễ tục đâm trâu mừng hội mùa, mừng chiến thắng... Trong quá trình thống trị Tây Nguyên, bọn thực dân, đế quốc đã đưa Công giáo vào vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Vấn đề tôn giáo nổi cộm hiện nay là hoạt động của Tin Lành Đê Ga - tổ chức chính trị phản động của một số đối tượng FULRO cũ, được Mỹ nuôi dưỡng, chỉ đạo để phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc, gây mất ổn định ở Tây Nguyên.
Hiện nay, dù đã đạt được nhiều tiến bộ trong phát triển kinh tế - xã hội, ở Tây Nguyên vẫn còn nổi lên một số vấn đề cần giải quyết: sự gia tăng dân số nhanh, sự phân hóa giàu nghèo, tàn phá tài nguyên thiên nhiên; sự phát triển chưa tương xứng với tiềm năng; chưa có chính sách tổng thể nhằm giải quyết toàn diện vùng dân tộc thiểu số Tây Nguyên...

ĐẶC ĐIỂM CỦA VÙNG DÂN TỘC TÂY BẮC Ở VIỆT NAM

Tây Bắc là vùng miền núi phía Tây của miền Bắc Việt Nam, có chung đường biên giới với Lào và Trung Quốc, gồm các tỉnh Hòa Bình, Sơn La, Lai Châu, Điện Biên, Lào Cai, Yên Bái. Nơi đây có địa hình rừng núi hiểm trở. Thời Pháp thuộc đã lập ra xứ Thái tự trị ở Tây Bắc. Năm 1955, khu tự trị Thái - Mèo được thành lập, gồm 3 tỉnh Lai Châu, Sơn La, Nghĩa Lộ; năm 1962 đổi tên thành Khu tự trị Tây Bắc. Tây Bắc là vùng chiến khu cách mạng, giàu truyền thống yêu nước. Thời kháng chiến chống Pháp đã diễn ra nhiều trận đánh, chiến dịch quân sự ác liệt, đỉnh cao là chiến dịch Điện Biên Phủ. Năm 1975, khu tự trị đã giải thể.
Tây Bắc là địa bàn cư trú lâu đời của hơn 30 tộc người như: Thái, Mường, Hmông, Dao, Kinh, Hoa, Khơ-mú, La ha, Xinh-mun, Lào, Lự, Hà Nhì, Kháng, La Hủ, Si La, Phù Lá, Bố Y, Mảng, Giáy... Trong đó, người Thái có dân số lớn nhất. Ngoài ra, còn có một bộ phận người Kinh vốn là con cháu của nghĩa quân Hoàng Công Chất đã sống lâu đời ở đây và một bộ phận người Hoa, vốn là dòng dõi quân Lưu Vĩnh Phúc thời nhà Thanh chạy sang.
Tây Bắc là vùng phân bố dân cư tiêu biểu theo độ cao địa hình rất rõ rệt. Cư dân cổ truyền, những chủ nhân từ xa xưa của Tây Bắc đều làm nông nghiệp với hai loại hình: ruộng nước ở thung lũng và nương rẫy ở sườn núi.
Ở Tây Bắc, mỗi tộc người đều có nền văn hóa mang bản sắc riêng nhưng nổi bật là không gian văn hóa Thái với tiếng Thái làm phương tiện giao tiếp trong vùng, múa xòe, dệt vải, nhà sàn... Người Kháng có tục uống nước bằng mũi (Ta mui), giỏi làm thuyền độc mộc. Người La Ha được coi là chủ nhân trống đồng ở trong vùng, nổi tiếng về hội lễ "Mừng mùa măng mọc". Mỗi dân tộc trong vùng đều có một kho tàng văn hóa dân gian đủ thể loại. Ở một số dân tộc có cả truyện thơ dài hàng ngàn câu như Tiễn dặn người yêu (Thái), Tiếng hát làm dâu (Hmông), Vườn hoa núi Cối (Mường) v.v... Người Hmông nổi tiếng về các điệu múa khèn của nam giới. Người La Ha có điệu múa Tăng bu; người Mường có điệu múa bông... Các dân tộc Tây Bắc có một hệ nhạc cụ hơi được cả nước biết đến như Pí pặp, khèn bè Thái, sáo và khèn Hmông, tính tảu Thái, đống ôi Mường, chưn may Khơ-mú, đàn ba dây Hà Nhì. Việc trang trí trang phục, đồ dùng có nét chung là thích sử dụng các gam màu nóng với họa tiết, bố cục, phối màu phong phú, thể hiện ở chiếc khăn piêu Thái, mặt chăn Mường, điểm màn Kháng, bộ nữ phục Hmông, Lô Lô, Dao Đỏ.
Hiện nay, Tây Bắc chiếm gần 1/3 diện tích cả nước với gần 10 triệu dân, là địa bàn chiến lược đặc biệt quan trọng về kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh; là nơi có nhiều tiềm năng, lợi thế về tài nguyên khoáng sản, du lịch, kinh tế cửa khẩu, thu hút đầu tư, và đang là điểm đầu tư sản xuất, kinh doanh của nhiều nhà đầu tư trong và ngoài nước. 

Thứ Tư, 6 tháng 12, 2017

Đặc điểm kinh tế truyền thống của các tộc người thiểu số ở nước ta

- Các tộc người có trình độ phát triển kinh tế không đồng đều.
Nhóm tộc người thiểu số còn bảo lưu yếu tố kinh tế nguyên thủy, cư trú ở miền núi vùng cao, vùng sâu, vùng xa; gồm những tộc người nói ngôn ngữ Môn - Khơme ở Tây Bắc, Bắc Trung Bộ và Trường Sơn - Tây Nguyên; nhóm Hmông - Dao, Hán - Tạng ở vùng núi phía Bắc. Hoạt động kinh tế của nhóm này cơ bản là sản xuất nương rẫy du canh; công cụ sản xuất khá thô sơ, năng suất thấp. Săn bắn hái lượm đóng vai trò khá quan trọng trong đời sống kinh tế.
Nhóm tộc người cư trú lâu đời ở chân núi, thung lũng như Tày, Nùng, Thái, Mường...; canh tác lúa nước là chính, kết hợp với sản xuất nương rẫy; sản xuất và sinh hoạt định canh định cư, trình độ thâm canh của khá cao, canh tác bằng sức kéo; trao đổi thương mại diễn ra trong cộng đồng và khu vực.
Nhóm các tộc người là cư dân ở đồng bằng như Việt, Chăm, Khơme, Hoa, có nền văn minh lúa nước lâu đời, kỹ thuật thâm canh cao, kinh nghiệm sản xuất phong phú. Các hoạt động chăn nuôi, thủ công, trao đổi thương mại đều sớm phát triển hơn; đời sống kinh tế đa dạng về cơ cấu ngành nghề, vật nuôi cây trồng.
- Kinh tế truyền thống tộc người mang nặng tính tự cung, tự cấp của nền kinh tế tự nhiên.
Các tộc người sản xuất chủ yếu để đáp ứng nhu cầu tự túc lương thực, thực phẩm và phục vụ đời sống sinh hoạt tại chỗ. Trong các hình thái kinh tế - xã hội tiền tư bản, trình độ sản xuất lạc hậu, cơ sở hạ tầng kinh tế yếu kém nên đồng bào các dân tộc sản xuất trước hết nhằm phục vụ nhu cầu của gia đình, làng bản; tập trung vào sản xuất lương thực, chủ yếu là lúa gạo, hoa màu như ngô, khoai, sắn, kê, rau, đậu… nhằm tự túc lương thực, đảm bảo bữa ăn hàng ngày và một phần tích trữ.
Ở miền núi và vùng dân tộc, dù có giao thương nhưng hoạt động kinh tế còn khép kín, mang tính nội bộ làng bản. Các sản phẩm nông nghiệp của các dân tộc nghèo nàn và chất lượng thấp. Giao thông đi lại khó khăn đã hạn chế việc trao đổi và giao lưu kinh tế. Ở miền xuôi, giao lưu kinh tế đã vượt ra ngoài quy mô làng xã, song cũng chỉ ở mức độ nhất định.
- Kinh tế các tộc người dựa trên nền tảng nông nghiệp nhiệt đới gió mùa.
 Các tộc người sống trên lãnh thổ nước ta đều cùng chung hệ sinh thái nhiệt đới, đời sống kinh tế dựa trên nền tảng nông nghiệp nhiệt đới gió mùa, trồng trọt là chính, chăn nuôi là nghề phụ; hái lượm nổi trội hơn so với săn bắn, đánh cá. Mỗi tộc người đã tích lũy được những tri thức sản xuất nông nghiệp thích hợp với điều kiện tự nhiên khu vực nhiệt đới gió mùa. Có nhiều cây trồng, vật nuôi chính giống nhau, kinh nghiệm sản xuất khá tương đồng; lúa là cây trồng chủ đạo. Đồng bào miền núi thường canh tác lúa nương, sáng tạo ra nền văn hóa nương rẫy. Các tộc người ở vùng chân núi và đồng bằng có nền nông nghiệp lúa nước, văn hóa lúa nước phát triển.
- Đời sống kinh tế mang bản sắc văn hóa tộc người độc đáo.

Bản sắc văn hóa tộc người trong đời sống kinh tế thể hiện đa dạng ở tất cả các hoạt động kinh tế của từng tộc người từ phương thức canh tác, kỹ thuật, biện pháp sản xuất, tri thức, kinh nghiệm, cách thức tổ chức sản xuất, công cụ sản xuất, giống cây trồng vật nuôi, các sản phẩm làm ra… Các nghề và sản phẩm thủ công mang dấu ấn tộc người nổi bật: nghề rèn của người Hmông, nghề dệt của người Thái, nghề đan lát của người Khơ mú... Đời sống kinh tế tộc người còn phản ánh sắc thái tộc người trên các lĩnh vực văn hóa; là nền tảng tồn tại và phát triển của tộc người, phản ánh truyền thống tộc người. 

Nguồn gốc và đặc điểm của tiếng Việt

Tiếng Việt là ngôn ngữ của tộc người Việt (Kinh) - tộc người đa số ở Việt Nam, được dùng làm phương tiện giao tiếp chung từ lâu trong lịch sử dân tộc. Đến nay, các nhà khoa học đã thống nhất rằng: Tiếng Việt có nguồn gốc từ nhóm ngôn ngữ Môn - Khơme, chịu ảnh hưởng sâu sắc của tiếng Thái về thanh điệu, ngữ pháp, và vay mượn khoảng 50% vốn từ tiếng Hán, về sau còn chịu ảnh hưởng một phần tiếng Pháp, Nga, Anh.
Tiếng Việt bắt đầu hình thành vào khoảng thiên niên kỷ thứ II tr.CN, có nguồn gốc từ tiếng Môn - Khơme, gọi là tiếng Việt-Mường chung, lúc này tộc người Việt và Mường chưa phân tách ra.  Đến giai đoạn thế kỷ IV - II tr.CN, tiếng Việt-Mường tiếp xúc và chịu ảnh hưởng của nhóm ngôn ngữ Tày-Thái. Thời Bắc thuộc, tiếng Hán là ngôn ngữ hành chính, tiếng Việt vẫn được người dân sử dụng rộng rãi, nhưng bộ phận cư dân đồng bằng đã tiếp thu nhiều vốn từ tiếng Hán.
Thời kỳ độc lập tự chủ từ giữa thế kỷ X trở đi, tiếng Việt tiếp tục phát triển, nhân dân ta tiếp thu chữ Hán để sáng tạo ra chữ Nôm vào thế kỷ XI. Đến đây, cư dân Việt-Mường phân tách ra thành hai tộc người. Tiếng Việt là tiếng của tộc người Việt (Kinh). Chữ Hán và chữ Nôm cùng song hành tồn tại. Thời Pháp thuộc, chữ Hán giảm sút, tiếng Pháp được dùng làm ngôn ngữ hành chính, tiếng Việt bị chèn ép song vẫn tồn tại và phát triển. Chữ quốc ngữ của tiếng Việt bắt đầu xuất hiện vào thế kỷ XVII, là kết quả dùng chữ Latinh và hệ dấu của tiếng Bồ Đào Nha để phiên âm tiếng Việt.
Từ đầu thế kỷ XX đến năm 1945, chữ quốc ngữ đã được sử dụng rộng rãi trong xã hội. Sau Cách mạng Tháng Tám 1945, tiếng Việt trở thành quốc ngữ, sánh vai với ngôn ngữ các quốc gia khác; là tiếng phổ thông của cả nước, công cụ giao tiếp chung của cộng đồng 54 dân tộc Việt Nam.
Các đặc điểm của tiếng Việt:
Thường xuyên tiếp xúc, tiếp thu các yếu tố của ngôn ngữ các dân tộc Việt Nam và tiếng Hán, tiếng Pháp, Nga, Anh để làm giàu thêm tiếng Việt; làm cho sự giao lưu giữa người Việt với các tộc người khác trên lãnh thổ ngày càng gắn bó chặt chẽ với nhau. Chính vì sự giao tiếp thường nhật mà tiếng Việt đã sớm trở thành ngôn ngữ chung của cả nước.
Tiếng Việt luôn phát triển, bổ sung vốn từ để đáp ứng mọi phương diện đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học, kỹ thuật, giáo dục.
Có tính thống nhất cao, không kỳ thị phương ngữ. Bên cạnh các quy tắc chuẩn sử dụng tiếng nói và chữ viết tiếng Việt, ở các địa phương vẫn tồn tại các yếu tố riêng có tính địa phương về âm điệu, một số từ vị...
Tiếng Việt rất giàu sức sống, dù bị tiếng Hán, tiếng Pháp chèn ép trong hàng trăm năm nhưng không mất đi, trái lại đã tiếp thu và làm phong phú thêm để dần dần đấu tranh giành lại vị trí quốc ngữ của mình.

Nguồn gốc nhân chủng của tộc người Việt (Kinh)

Vấn đề nguồn gốc tộc người Việt (Kinh) đã thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều học giả trong và ngoài nước. Hiện nay, các quan điểm đều thống nhất cho rằng, người Việt là kết quả hỗn chủng giữa đại chủng Môngôlôit và  cư dân thuộc loại hình nhân chủng Anhđônêdiêng tại chỗ.
Vào thời kỳ đồ đá mới cách đây 4-5 nghìn năm, qua nghiên cứu nhân chủng di cốt đào được ở các di chỉ Bình Gia, Làng Cườm (Lạng Sơn) cho thấy rằng, loại hình nhân chủng Anhđônêdiêng đã cư trú từ lâu ở Việt Nam. Loại hình này là kết quả hỗn chủng lâu dài giữa tiểu chủng Nam Môngôlôit ở phía Bắc xuống và cư dân tại chỗ thuộc chủng tộc Ôtxtralôit từ thời kỳ đồ đá giữa sang đầu thời kỳ đồ đá mới (8 - 15.000 năm). Họ là chủ nhân của các nền văn hóa Hòa Bình, Bắc Sơn... ở Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ Việt Nam.
Đến thời đại đồ đồng, cách đây khoảng 3,5-4 nghìn năm, các di cốt của loại hình nhân chủng Nam Á cổ đã xuất hiện ở Bắc Việt Nam và là tổ tiên trực tiếp của người Việt. Từ các di chỉ khảo cổ cho thấy, hình dáng người Việt cổ bấy giờ đã khá điển hình cho người Việt hiện nay. Qua đo đạc các di cốt hóa thạch tìm được, các nhà khoa học kết luận, loại hình Nam Á cổ (Việt cổ) là kết quả chuyển biến hình thái của cư dân Anhđônêdiêng tại chỗ, song không phải là quá trình tự động tiến hóa mà bao gồm nhiều giai đoạn, khi thì mang tính nội tại, khi thì pha trộn nhiều yếu tố nhân chủng; và là kết quả hỗn chủng giữa  tiểu chủng Nam Môngôlôit ở phía Bắc di cư xuống với người Anhđônêdiêng đã cư trú lâu dài trước đó. Từ Bắc Đông Dương, loại hình Nam Á cổ tiếp tục phát triển và tác động ngày một sâu đậm ra xung quanh tới tận các vùng hải đảo Đông Nam Á.
Như vậy, người Việt cổ là kết quả hỗn chủng hàng nghìn năm của nhiều loại hình nhân chủng với yếu tố chủng tộc Môngôlôit ngày càng vượt trội. Vào thời đại đồ đồng thau, người Việt cổ đã cư trú ổn định ở Bắc Việt Nam, đã sáng tạo ra văn minh Sông Hồng, Sông Mã với nền văn hóa Đông Sơn nổi tiếng, tạo dựng nền móng vững chắc cho quốc gia dân tộc Việt Nam.

Những đặc điểm cơ bản của các dân tộc ở Việt Nam

Các dân tộc có tỷ lệ số dân và trình độ phát triển kinh tế - xã hội không đồng đều. Các dân tộc có quá trình lịch sử phát triển khác nhau, trong điều kiện tự nhiên, xã hội có nét khác nhau, dẫn đến số dân và trình độ phát triển kinh tế - xã hội của các dân tộc rất không đều nhau. Theo Tổng điều tra năm 2009, dân tộc Kinh chiếm 86,2% dân số, 53 dân tộc thiểu số chiếm 13,8%, trong đó có 12 dân tộc có số dân từ 10 vạn người trở lên; 21 dân tộc có số dân từ 1 vạn đến 10 vạn người; 15 dân tộc có số dân từ 1.000 người trở nên; 5 dân tộc có số dân dưới 1.000 người.
Các tộc người nước ta có trình độ phát triển kinh tế - xã hội không đồng đều. Có những tộc người dân số ít đời sống kinh tế - xã hội còn kém phát triển, dấu ấn nguyên thủy còn khá đậm nét, tỷ lệ đói nghèo cao, dân trí thấp. Ngược lại, các tộc người ở vùng đồng bằng châu thổ có trình độ kinh tế - xã hội vượt trội so với nhóm cư dân vùng cao biên giới. Qua mấy chục năm đổi mới, mặc dù đã thu được những thành tựu quan trọng, nhưng trình độ phát triển kinh tế - xã hội miền núi và vùng tộc người thiểu số so với tộc người đa số vẫn còn chênh lệch lớn.
Các dân tộc ở Việt Nam cư trú đan xen ở tất cả các tỉnh, thành trong cả nước. Dân tộc Kinh cư trú chủ yếu ở đồng bằng, thành phố, các dân tộc thiểu số cư trú chủ yếu là vùng miền núi, biên giới, với diện tích tự nhiên chiếm 3/4 diện tích đất liền quốc gia. Đây là vùng có vị trí địa lý, kinh tế và quốc phòng quan trọng. Hiện nay xu hướng đan xen ngày càng tăng lên.
Các dân tộc ở Việt Nam cùng chung sống gắn bó, đoàn kết tương trợ. Đây là truyền thống quý báu xuất phát từ yêu cầu khách quan trong lao động sản xuất, chinh phục tự nhiên và đấu tranh chống ngoại xâm, phát triển quốc gia dân tộc. Thực tế, sự hình thành đồng bằng Bắc Bộ cùng với hàng ngàn kilômét đê sông, đê biển là chứng tích của một dân tộc đa tộc người hợp sức dựng nên. Trước vận mệnh chung, lợi ích chung, để tồn tại, không bị đồng hóa, các dân tộc ở Việt Nam buộc phải sớm đoàn kết để chống ngoại xâm, bảo vệ sự sống còn của từng tộc người và cả cộng đồng dân tộc.
Mỗi tộc người đều có ngôn ngữ và sắc thái văn hóa riêng, góp phần tạo nên nền văn hoá Việt Nam thống nhất trong đa dạng, đậm đà bản sắc dân tộc. Hầu hết các tộc người đều có ngôn ngữ riêng song các ngôn ngữ đều thuộc trong 4 ngữ hệ lớn ở Đông Nam Á. Do điều kiện sống xen kẽ và nhu cầu giao tiếp nên ở nhiều tộc người thường sử dụng song ngữ hay đa ngữ.  Tiếng Việt là quốc ngữ, được dùng làm phương tiện giao tiếp của tất cả các tộc người. Tiếng mẹ đẻ của tộc người vẫn được tôn trọng, gìn giữ và phát huy. Trên các lĩnh vực: văn hóa sản xuất, kiến trúc, xây dựng, văn hóa ăn, mặc, phong tục tập quán, lối sống của mỗi tộc người đều có những nét riêng, độc đáo. Kho tàng văn hóa dân gian của các dân tộc vô cùng phong phú và có giá trị lớn, bao gồm các làn điệu dân ca, các điệu múa, các bản trường ca, v.v....
Các dân tộc ở Việt Nam có chung những giá trị văn hóa cao đẹp: cần cù chịu khó, thông minh trong sản xuất; gắn bó hoàn đồng với thiên nhiên; không khoan nhượng với kẻ thù; nhân hậu vị tha, khiêm nhường với con người, tuy nhiên các dân tộc vẫn còn các phong tục tập quán lạc hậu.  

Thứ Hai, 6 tháng 11, 2017

Quá trình ra đời của dân tộc học ở Việt Nam như thế nào?

Ở Việt Nam, dân tộc học hình thành muộn hơn so với thế giới nhưng các tài liệu dân tộc học đã được ghi chép trong nhiều tác phẩm từ thời cổ đại, trung đại; được lưu giữ phong phú, đa dạng trong đời sống sinh hoạt của các tộc người. Tư liệu về các nhóm tộc người bắt đầu được ghi chép từ thế kỷ XV trong các sách địa chí, lịch sử, thần phả, văn bia như: Nguyễn Trãi với Dư địa chí (1435), Vân đài loại ngữ của Lê Quý Đôn, Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú…
Những nghiên cứu dân tộc học chỉ thực sự được bắt đầu cùng với quá trình xâm lược và đô hộ của thực dân Pháp ở Việt Nam. Người Pháp đã chú ý nghiên cứu các tộc người Việt Nam có tính hệ thống. Lập ra cơ quan nghiên cứu Viễn Đông bác cổ, xuất bản Tạp chí Đông Dương. Các nghiên cứu của người Pháp và Việt thời này để lại nhiều tư liệu quý như: Người Mường của Quidiniê; Người Tày Đèng ở Lang Chánh - Thanh Hóa của Rôbe, Các dân tộc ở thượng du Bắc Kỳ, từ Phong Thổ đến Lạng Sơn của Côlani... Tuy nhiên, với mục đích sử dụng dân tộc học làm công cụ phục vụ khai thác thuộc địa nên nhiều công trình còn phiến diện và mang đậm màu sắc thực dân.
Sau năm 1954, ở miền Nam, Mỹ - ngụy tiến hành nghiên cứu về các tộc người thiểu số, tập trung vào các tộc người vùng Trường Sơn - Tây Nguyên. Ở miền Bắc, Đảng và Nhà nước ta đã sớm quan tâm đến công tác dân tộc và nghiên cứu dân tộc học. Ngành dân tộc học mác xít nước ta ra đời từ những năm 1950 với nhiệm vụ nghiên cứu khoa học và đào tạo chuyên môn. Lúc đầu, dân tộc học được gộp chung vào khoa học lịch sử. Năm 1958, Tổ nghiên cứu dân tộc học được thành lập trong Viện Sử học. Năm 1960, Nhóm nghiên cứu, giảng dạy dân tộc học được thành lập trong Tổ Dân tộc học - Khảo cổ học thuộc Khoa Lịch sử, Đại học Tổng hợp Hà Nội. Năm 1967, dân tộc học tách ra thành bộ môn riêng thuộc Khoa Lịch sử. Năm 1968, Nhà nước thành lập Viện Dân tộc học, phát hành Tập san Dân tộc học. Năm 1973, giáo trình dân tộc học đầu tiên là Cơ sở Dân tộc học của GS Phan Hữu Dật được xuất bản; đồng thời Tạp chí Dân tộc học ra đời.

Sau năm 1975, ngoài 3 cơ sở đào tạo cử nhân dân tộc học là Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Huế, Đại học Quốc gia Tp. Hồ Chí Minh, dân tộc học là môn học của nhiều học viện, nhà trường trong và ngoài quân đội. Năm 1992, Hội Dân tộc học Việt Nam được thành lập, với cơ quan ngôn luận của là Tạp chí Dân tộc và thời đại. Dân tộc học lần đầu tiên được giảng dạy với tư cách một môn học độc lập tại Trường sỹ quan Chính trị từ năm 1992 và tại Học viện Chính trị từ năm 1993.

Thứ Năm, 27 tháng 4, 2017

Những đặc điểm cơ bản của các dân tộc ở Việt Nam

Các dân tộc có tỷ lệ số dân và trình độ phát triển kinh tế - xã hội không đồng đều. Các dân tộc có quá trình lịch sử phát triển khác nhau, trong điều kiện tự nhiên, xã hội có nét khác nhau, dẫn đến số dân và trình độ phát triển kinh tế - xã hội của các dân tộc rất không đều nhau. Theo Tổng điều tra năm 2009, dân tộc Kinh chiếm 86,2% dân số, 53 dân tộc thiểu số chiếm 13,8%, trong đó có 12 dân tộc có số dân từ 10 vạn người trở lên; 21 dân tộc có số dân từ 1 vạn đến 10 vạn người; 15 dân tộc có số dân từ 1.000 người trở nên; 5 dân tộc có số dân dưới 1.000 người.
Các tộc người nước ta có trình độ phát triển kinh tế - xã hội không đồng đều. Có những tộc người dân số ít đời sống kinh tế - xã hội còn kém phát triển, dấu ấn nguyên thủy còn khá đậm nét, tỷ lệ đói nghèo cao, dân trí thấp. Ngược lại, các tộc người ở vùng đồng bằng châu thổ có trình độ kinh tế - xã hội vượt trội so với nhóm cư dân vùng cao biên giới. Qua mấy chục năm đổi mới, mặc dù đã thu được những thành tựu quan trọng, nhưng trình độ phát triển kinh tế - xã hội miền núi và vùng tộc người thiểu số so với tộc người đa số vẫn còn chênh lệch lớn.
      Các dân tộc ở Việt Nam cư trú đan xen ở tất cả các tỉnh, thành trong cả nước. Dân tộc Kinh cư trú chủ yếu ở đồng bằng, thành phố, các dân tộc thiểu số cư trú chủ yếu là vùng miền núi, biên giới, với diện tích tự nhiên chiếm 3/4 diện tích đất liền quốc gia. Đây là vùng có vị trí địa lý, kinh tế và quốc phòng quan trọng. Hiện nay xu hướng đan xen ngày càng tăng lên.
     Các dân tộc ở Việt Nam cùng chung sống gắn bó, đoàn kết tương trợ. Đây là truyền thống quý báu xuất phát từ yêu cầu khác quan trong lao động sản xuất, chinh phục tự nhiên và đấu tranh chống ngoại xâm, phát triển quốc gia dân tộc. Thực tế, sự hình thành đồng bằng Bắc Bộ cùng với hàng ngàn kilômét đê sông, đê biển là chứng tích của một dân tộc đa tộc người hợp sức dựng nên. Trước vận mệnh chung, lợi ích chung, để tồn tại, không bị đồng hóa, các dân tộc ở Việt Nam buộc phải sớm đoàn kết để chống ngoại xâm, bảo vệ sự sống còn của từng tộc người và cả cộng đồng dân tộc.
    Mỗi tộc người đều có ngôn ngữ và sắc thái văn hoá riêng, góp phần tạo nên nền văn hoá Việt Nam thống nhất trong đa dạng, đậm đà bản sắc dân tộc. Hầu hết các tộc người đều có ngôn ngữ riêng song các ngôn ngữ đều thuộc trong 4 ngữ hệ lớn ở Đông Nam Á. Do điều kiện sống xen kẽ và nhu cầu giao tiếp nên ở nhiều tộc người thường sử dụng song ngữ hay đa ngữ.  Tiếng Việt là quốc ngữ, được dùng làm phương tiện giao tiếp của tất cả các tộc người. Tiếng mẹ đẻ của tộc người vẫn được tôn trọng, gìn giữ và phát huy. Trên các lĩnh vực: văn hoá sản xuất, kiến trúc, xây dựng, văn hoá ăn, mặc, phong tục tập quán, lối sống của mỗi tộc người đều có những nét riêng, độc đáo. Kho tàng văn hoá dân gian của các dân tộc vô cùng phong phú và có giá trị lớn, bao gồm các làn điệu dân ca, các điệu múa, các bản trường ca, v.v....

Các dân tộc ở Việt Nam có chung những giá trị văn hóa cao đẹp: cần cù chịu khó, thông minh trong sản xuất; gắn bó hoàn đồng với thiên nhiên; không khoan nhượng với kẻ thù; nhân hậu vị tha, khiêm nhường với con người, tuy nhiên các dân tộc vẫn còn các phong tục tập quán lạc hậu.   

Thứ Sáu, 14 tháng 4, 2017

Quá trình ra đời của dân tộc học ở Việt Nam

Ở Việt Nam, dân tộc học hình thành muộn hơn so với thế giới nhưng các tài liệu dân tộc học đã được ghi chép trong nhiều tác phẩm từ thời cổ đại, trung đại; được lưu giữ phong phú, đa dạng trong đời sống sinh hoạt của các tộc người. Tư liệu về các nhóm tộc người bắt đầu được ghi chép từ thế kỷ XV trong các sách địa chí, lịch sử, thần phả, văn bia như: Nguyễn Trãi với Dư địa chí (1435), Vân đài loại ngữ của Lê Quý Đôn, Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú…
Những nghiên cứu dân tộc học chỉ thực sự được bắt đầu cùng với quá trình xâm lược và đô hộ của thực dân Pháp ở Việt Nam. Người Pháp đã chú ý nghiên cứu các tộc người Việt Nam có tính hệ thống. Lập ra cơ quan nghiên cứu Viễn Đông bác cổ, xuất bản Tạp chí Đông Dương. Các nghiên cứu của người Pháp và Việt thời này để lại nhiều tư liệu quý như: Người Mường của Quidiniê; Người Tày Đèng ở Lang Chánh - Thanh Hóa của Rôbe, Các dân tộc ở thượng du Bắc Kỳ, từ Phong Thổ đến Lạng Sơn của Côlani... Tuy nhiên, với mục đích sử dụng dân tộc học làm công cụ phục vụ khai thác thuộc địa nên nhiều công trình còn phiến diện và mang đậm màu sắc thực dân.
Sau năm 1954, ở miền Nam, Mỹ - ngụy tiến hành nghiên cứu về các tộc người thiểu số, tập trung vào các tộc người vùng Trường Sơn - Tây Nguyên. Ở miền Bắc, Đảng và Nhà nước ta đã sớm quan tâm đến công tác dân tộc và nghiên cứu dân tộc học. Ngành dân tộc học mác xít nước ta ra đời từ những năm 1950 với nhiệm vụ nghiên cứu khoa học và đào tạo chuyên môn. Lúc đầu, dân tộc học được gộp chung vào khoa học lịch sử. Năm 1958, Tổ nghiên cứu dân tộc học được thành lập trong Viện Sử học. Năm 1960, Nhóm nghiên cứu, giảng dạy dân tộc học được thành lập trong Tổ Dân tộc học - Khảo cổ học thuộc Khoa Lịch sử, Đại học Tổng hợp Hà Nội. Năm 1967, dân tộc học tách ra thành bộ môn riêng thuộc Khoa Lịch sử. Năm 1968, Nhà nước thành lập Viện Dân tộc học, phát hành Tập san Dân tộc học. Năm 1973, giáo trình dân tộc học đầu tiên là Cơ sở Dân tộc học của GS Phan Hữu Dật được xuất bản; đồng thời Tạp chí Dân tộc học ra đời.
Sau năm 1975, ngoài 3 cơ sở đào tạo cử nhân dân tộc học là Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Huế, Đại học Quốc gia Tp. Hồ Chí Minh, dân tộc học là môn học của nhiều học viện, nhà trường trong và ngoài quân đội. Năm 1992, Hội Dân tộc học Việt Nam được thành lập, với cơ quan ngôn luận của là Tạp chí Dân tộc và thời đại. 

Các đặc điểm chủ yếu của quan hệ dân tộc, sắc tộc trên thế giới hiện nay

Một là, quan hệ dân tộc, sắc tộc rất đa dạng, nhạy cảm và ngày càng phong phú, sinh động cùng với sự phát triển của thời đại. Sự đa dạng và phức tạp được biểu hiện trên các lĩnh vực từ nguồn gốc, nội dung của chính các khác biệt giữa các tộc người, dân tộc. Các cộng đồng người khác nhau có nhiều mối quan hệ tác động lẫn nhau, có lợi ích khác nhau về kinh tế, lãnh thổ, văn hóa, chính trị... đòi hỏi phải giải quyết. Các mối quan hệ đó đan xen nhiều chiều, giằng chéo nhau giữa các quan hệ dân tộc biểu hiện phong phú và sinh động trong các quan hệ kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội.
Sự nhạy cảm trong quan hệ dân tộc do động chạm tới tình cảm, tâm lý, ý thức dân tộc, tới quyền và lợi ích; tới bản sắc văn hóa và những sự khác biệt của các tộc người, dân tộc. Các quan hệ đó thường gắn với các vấn đề nảy sinh trong lịch sử và hiện tại, đã in sâu vào tâm lý, ý thức của tộc người, rất dễ bị kích động, bùng nổ và dễ bị lợi dụng, can thiệp.
Hai là, quan hệ dân tộc, sắc tộc còn tồn tại lâu dài. Như V.I. Lênin đã từng nói, khi giai cấp và vấn đề giai cấp mất đi, thì dân tộc và quan hệ dân tộc vẫn còn tồn tại. Trong xã hội có áp bức, bóc lột, các quan hệ dân tộc, đấu tranh dân tộc và đấu tranh giai cấp gắn bó mật thiết với nhau và diễn ra quyết liệt, gay gắt. Song một khi đối kháng giai cấp không, ở xã hội xã hội chủ nghĩa, con người vẫn tồn tại trong các tộc người, các quốc gia dân tộc. Và do đó, quan hệ dân tộc tiếp tục đặt ra những vấn đề cần giải quyết.

Ba là, quan hệ dân tộc, sắc tộc trên thế giới diễn ra nóng bỏng, vừa mang tính toàn cầu, vừa là vấn đề chính trị - xã hội phức tạp, nhức nhối của nhiều quốc gia và khu vực. Mối quan hệ dân tộc, sắc tộc đã và đang bùng nổ thành mâu thuẫn, xung đột, nội chiến và chiến tranh ở những quy mô, phạm vi, cường độ khác nhau; tạo ra các “điểm nóng”, gây nên mất ổn định, khủng hoảng, phá vỡ thống nhất quốc gia, đe dọa nghiêm trọng hòa bình, an ninh quốc gia và quốc tế.

Thứ Ba, 11 tháng 4, 2017

Tình hình quan hệ dân tộc, sắc tộc trên thế giới hiện nay

Hiện nay, mâu thuẫn và xung đột dân tộc, sắc tộc diễn ra khắp các châu lục, mang tính toàn cầu. Từ những năm 80 thế kỷ XX trở lại đây, vấn đề dân tộc, sắc tộc nổi lên khắp nơi, không phụ thuộc vào thể chế chính trị, trình độ phát triển ở các quốc gia, hay vị trí địa lý. Trào lưu ly khai, phân lập dân tộc diễn ra mạnh mẽ đan xen cùng xu hướng liên kết.
Các “điểm nóng” dân tộc xảy ra với nhiều hình thức, cấp độ khác nhau, mang các sắc thái tộc người, dân tộc, tộc người - tôn giáo… Mâu thuẫn và xung đột đa dạng trên mọi lĩnh vực, bằng nhiều phương thức vũ trang, phi vũ trang từ xung đột hòa bình, nội chiến đến chiến tranh khu vực… nhằm tranh giành quyền lực giữa các phe phái, tranh giành lãnh thổ, biển đảo, lợi kinh tế, ảnh hưởng tôn giáo, văn hóa.
Ở châu Âu, mặc dù đang diễn ra quá trình liên minh châu Âu với sự nhất thể hóa về kinh tế, chính trị, tiền tệ... song xung đột dân tộc, sắc tộc vẫn bùng nổ ở nhiều nơi. Điển hình là sự tan vỡ của Liên bang Nam Tư, xung đột sắc tộc ở Ban Căng giữa người Xécbi với người Bôxnhia, Crôatia; sự ly khai của người Anbani ở Côxôvô; sự căng thẳng, xung đột ở Nga và các nước Liên Xô (cũ) như: tranh chấp vùng Nam Ôsêtia giữa Grudia với Nga, vùng Nagorơnưi Karabắc giữa Azecbaigian và Acmênia; Trecnhia đòi ly khai thành lập nhà nước riêng. Xung đột ở Bắc Ai Len giữa người Tin Lành với người Thiên Chúa giáo, và xứ này đòi tách khỏi Liên hiệp Anh. Phong trào ly khai ở xứ Baxcơ (Tây Ban Nha). Hiện mâu thuẫn và xung đột diễn ra gay gắt ở Ucraina.
Ở châu Á, Trung Đông đang là chảo lửa xung đột dân tộc như: phong trào đòi độc lập của người Cuốc ở Irắc, Thổ Nhĩ Kỳ; cuộc chiến hàng thập kỷ nay ở Ápganixtan giữa quân chính phủ với phe Taliban, giữa các phe phái bộ tộc địa phương; cuộc chiến tranh xung đột giữa Ixraen với Palextin và các nước Ảrập về lãnh thổ; đặc biệt là hoạt động tàn bạo của Nhà nước Hồi giáo (IS). Ở Nam Á: phong trào ly khai ở Tây Tạng (Trung Quốc); tranh chấp biên giới giữa Ấn Độ với Pakixtan. Ở Thái Lan, Philippin và Myanma, xung đột dân tộc đòi phân tách, tự trị nổi lên từ nhiều thập kỷ nay chưa được giải quyết. Các tranh chấp lãnh thổ, biển đảo đang diễn gay gắt ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương.
Ở châu Phi, địa bàn đã gia tăng chưa từng thấy các cuộc xung đột dân tộc, sắc tộc. Hàng chục nước châu Phi chìm đắm nhiều thập kỷ trong đói nghèo, lạc hậu và xung đột dân tộc, sắc tộc. Xung đột có tính chất tộc người - tôn giáo ở Nam Xuđăng giữa người Thiên Chúa với người Hồi giáo đi đến thành lập 2 nhà nước riêng. Nội chiến ở Êtiôpia đã đi đến phân tách thành 2 quốc gia là Êtiôpia và Êtơria. Nội chiến giữa các bộ tộc ở Libi; phong trào Hồi giáo cực đoan hoạt động mạnh ở Angiêri, Xuđăng, Ai Cập, Êtiôpia.
Ở châu Mỹ và châu Đại Dương, nổi lên mâu thuẫn, xung đột giữa người dân gốc Âu di cư đến với người thổ dân. Ở Canađa, cộng đồng người nói tiếng Pháp đòi ly khai ở bang Quêbec. Vấn đề dân tộc, sắc tộc mang đặc điểm nổi bật ở châu Mỹ là xung đột tộc người - chủng tộc. Ví dụ, ở Mỹ, sự phân biệt chủng tộc giữa người da trắng và người da màu, nhất là với bộ phận người Mỹ gốc Phi đã và đang diễn ra từ nhiều thập kỷ nay. Ở Mêhicô, các bộ lạc da đỏ bị dồn vào các vùng đất hẻo lánh khô cằn đã nổi dậy ở bang Chiapat đòi ly khai. Căng thẳng trong quan hệ biên giới giữa Côlômbia với Vênêruêla.

Như vậy, các mâu thuẫn, xung đột dân tộc, sắc tộc trên thế giới rất phức tạp, căng thẳng, gây ra nhiều hậu quả hết sức nặng nề; không chỉ làm suy yếu các lực lượng cách mạng và tiến bộ, mà còn làm các quốc gia bị chia rẽ, phân lập, chìm trong nội chiến kéo dài. Hàng triệu người đã bị chết, hàng chục triệu người tị nạn do xung đột, nhất là gây ra làn sóng di cư khủng hoảng nhân đạo từ Trung Đông và Bắc Phi vào châu Âu hiện nay.

Thế nào là quan hệ dân tộc, quan hệ sắc tộc

Quan hệ dân tộc là sự gắn bó, tác động qua lại lẫn nhau giữa các tộc người trong quốc gia đa tộc người và giữa các các quốc gia dân tộc với nhau trong quan hệ quốc tế, diễn ra trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.
Như vậy, quan hệ dân tộc được đề cập trên trên hai phương diện: quan hệ giữa các tộc người trong một quốc gia và quan hệ giữa các quốc gia dân tộc. Các quan hệ đó diễn ra trên các lĩnh vực của đời sống xã hội từ lãnh thổ, ngôn ngữ, văn hóa, kinh tế, chính trị, xã hội, đối ngoại, quốc phòng an ninh đến các quyền và lợi ích. Tính chất của quan hệ tộc người thường được biểu hiện là: Đoàn kết, hòa hợp, tương trợ hay mâu thuẫn, xung đột, nội chiến; quan hệ giữa các quốc gia là tôn trọng, bình đẳng, hợp tác cùng phát triển hay mâu thuẫn, căng thẳng, chiến tranh.
Các loại hình quan hệ dân tộc gồm: quan hệ nội bộ tộc người, quan hệ giữa tộc người thiểu số với đa số, quan hệ giữa các tộc người thiểu số với nhau, quan hệ giữa tộc người với quốc gia, quan hệ giữa các quốc gia dân tộc.
Quan hệ sắc tộc là quan hệ giữa các cộng đồng người có sự khác nhau nào đó về chủng tộc, dân tộc, tộc người, văn hóa, ngôn ngữ, tôn giáo…

Thuật ngữ sắc tộc thường mang ý nghĩa kỳ thị và phân biệt các cộng đồng người, các nhóm người, tộc người. Ban đầu, sắc tộc chỉ những bộ phận người khác nhau về chủng tộc, về sau nó được dùng phổ biến để chỉ các cộng đồng, các nhóm cư dân khác nhau về tộc người, văn hóa, tôn giáo, giáo phái... Ở Việt Nam, chúng ta không sử dụng từ sắc tộc để chỉ các dân tộc thiểu số nước ta.

Các xu hướng cơ bản của quá trình tộc người trên thế giới

Quá trình tộc người có hai xu hướng cơ bản, mang tính quy luật là:
1) Xu hướng liên hợp – là xu hướng các tộc người liên kết, hợp nhất lại để tạo thành cộng đồng người lớn hơn. Xu hướng này đặc trưng cho sự phát triển lớn mạnh của các tộc người, phản ánh quy luật khách quan tồn tại, phát triển của các tộc người trong quá trình lịch sử, thúc đẩy hình thành các quốc gia đa tộc người. Xu hướng này có 3 hình thức:
Cố kết là quá trình hợp nhất các nhóm người, tộc người có quan hệ gần gũi với nhau về nguồn gốc, về tiếng nói, văn hóa để hình thành một cộng đồng người lớn hơn, thành các quốc gia.
Hòa hợp là sự xích lại gần nhau, giao lưu gắn bó giữa các tộc người tuy khác nhau về nguồn gốc lịch sử, ngôn ngữ, bản sắc văn hóa, song do có nhiều mối liên hệ chung, cùng sinh sống đan xen hoặc gần nhau, tương đồng về môi trường sinh thái, địa - kinh tế, địa - chính trị... để đi đến thành lập nên cộng đồng lớn hơn.
Đồng hóa là quá trình tộc người này bị “hòa tan” vào tộc người khác, đánh mất bản sắc văn hóa của mình khi giao lưu, tiếp xúc tộc người. Có đồng hóa tự nhiên và đồng hóa cưỡng bức. Đồng hóa tự nhiên là, trong quá trình tiếp xúc, hội nhập, tộc người có trình độ kinh tế - xã hội thấp hơn, dân số ít hơn, đã tự nguyện hòa nhập vào cộng đồng tộc người có trình độ kinh tế - xã hội cao hơn, dân số đông hơn. Đồng hóa cưỡng bức là quá trình tộc người mạnh hơn, giữ địa vị thống trị (thông qua giao lưu, xâm lược, nô dịch tộc người) đã dùng công cụ hành chính và bạo lực để áp đặt các giá trị văn hóa của mình, bắt buộc các tộc người yếu thế hoặc bị trị phải từ bỏ bản sắc tộc người để hòa tan vào tộc người thống trị.
2) Xu hướng phân tách - là xu hướng từ một cộng đồng tộc người ban đầu, do điều kiện lịch sử - cụ thể mà đi đến chia tách  thành các bộ phận, các nhóm phân tán; đến một lúc nào đó trở thành các tộc người độc lập hoặc đi đến thành lập các quốc gia khác nhau. Sự phân tách có thể do sự phát triển của các tộc người có dân số ngày càng lớn, phải tách ra, di cư đến vùng đất mới, nhưng thường là do bị áp bức và nô dịch dân tộc.
Xu hướng phân tách diễn ra mạnh mẽ vào thời nguyên thủy với sự phân tách của các thị tộc, bộ lạc. Trong xã hội có giai cấp, quá trình phân tách vẫn tiếp diễn, một số tộc người có số dân ít, trình độ kinh tế - xã hội thấp, trước áp lực cạnh tranh của các tộc người lớn, mạnh hơn, phải phân tán đi các nơi. Đến thời kỳ tư bản chủ nghĩa và đế quốc chủ nghĩa, sau Cách mạng tháng Mười Nga 1917, sau thế chiến thứ II năm 1945, ý thức dân tộc của các nước thuộc địa và phụ thuộc ngày càng được thức tỉnh dẫn đến phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc phát triển rộng khắp, hàng loạt các quốc gia mới được thành lập.
Trong thời hiện đại, do những lý do kinh tế, chính trị, xã hội, và với sự thức tỉnh ý thức tộc người, dân tộc, một số tộc người có xu hướng tách khỏi quốc gia dân tộc để hình thành quốc gia độc lập. Xu hướng này nổi lên mấy thập kỷ gần đây, đang là một vấn đề chính trị - xã hội phức tạp ở nhiều quốc gia, khu vực. Nhiều quốc gia mới được thành lập, song nhiều quốc gia đang đứng trước nguy cơ phân tách ở các châu lục, như ở Ucraina, Xyri, Libi...

Hiện cả hai xu hướng vẫn song song tồn tại, biểu hiện dưới các cấp độ và hình thức khác nhau. Tùy từng điều kiện lịch sử - cụ thể mà xu hướng nào nổi trội, song khuynh hướng liên hợp vẫn là chủ đạo.