Hiển thị các bài đăng có nhãn đặc điểm. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn đặc điểm. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 8 tháng 7, 2024

NHẬN DIỆN TRÀO LƯU DÂN TÚY DỰA VÀO NHỮNG ĐẶC ĐIỂM GÌ?

 

Để nhận diện trào lưu dân túy, cần phải dựa vào các đặc điểm sau đây:

Một là, tư tưởng theo đuổi những chính sách trước mắt được dân chúng ủng hộ trong đoản kỳ nhưng không bền vững như trong trường kỳ, thường là những chính sách xã hội, như những chính sách trợ giá hàng hóa, trả tiền lương hưu hậu hĩ hoặc miễn phí chăm sóc y tế, …

Hai là, một khuynh hướng chính trị lấy danh nghĩa “nhân dân” làm căn bản cho tính chính danh của chế độ, tuy nhiên nhiều quan điểm của chủ nghĩa dân túy không coi “nhân dân” là toàn bộ dân số mà thay vì đó chỉ một số nhóm sắc tộc hoặc chủng tộc được coi là nhân dân “thực thụ”.

Ba là, một khuynh hướng chính trị sùng vai trò cá nhân, biểu hiện tuyên bố họ được giao sứ mệnh nắm giữ quyền lực, không phụ thuộc vào các thiết chế như đảng phái chính trị; Phát triển mối quan hệ trực tiếp, không qua trung gian với “nhân dân” mà tự xưng là người đại diện, hướng những niềm hy vọng và nỗi sợ hãi của người dân vào một hành động tức thời. 

Thứ Ba, 5 tháng 12, 2023

ĐẶC ĐIỂM CHÍNH SÁCH DÂN TỘC Ở VIỆT NAM?

Chính sách dân tộc ở Việt Nam hiện nay mang những đặc điểm cơ bản sau:

Chính sách dân tộc  nước ta mang tính tổng hợp, liên ngành, có nội dung toàn diện và cụ thể trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Chính sách dân tộc ở nước ta phản ánh các quan hệ dân tộc đa dạng, nhằm để giải quyết vấn đề dân tộc trên tất cả các lĩnh vực, có sự tham gia của toàn Đảng, toàn dân và hệ thống chính trị các cấp, do đó nó có tính tổng hợp, liên ngành, vừa toàn diện vừa cụ thể từ quá trình hoạch định đến tổ chức thực thi trên thực tế.

Chính sách dân tộc ở  nước ta tác động và ảnh hưởng lớn đến mọi mặt đời sống cộng đồng các dân tộc Việt Nam,nhất là đồng bào dân tộc thiểu số, vùng dân tộc thiểu số. Chính sách dân tộc tác động trực tiếp, toàn diện đến cộng đồng các dân tộc Việt Nam bao gồm cả các tộc người thiểu số và tộc người đa số, cả tộc người trong nước và người Việt Nam ở nước ngoài, cả những người mới nhập quốc tịch Việt Nam hoặc mang hai quốc tịch, cả cộng đồng dân tộc-tộc người và cộng đồng dân tộc-quốc gia gồm các giai tầng, tôn giáo, giới, thế hệ khác nhau.

 Chính sách  dân tộc đúng đắn sẽ tạo động lực cách mạng to lớn, khơi dậy và phát huy được sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, giải quyết vấn đề lực lượng cách mạng; góp phần giữ vững ổn định chính trị - xã hội; tạo điều kiện để phát triển kinh tế - xã hội ở các dân tộc, vùng dân tộc, vùng miền núi và cả nước; đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc để chống phá nước ta. Ngược lại, nếu chính sách dân tộc không đúng đắn, không phù hợp gây ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống mọi mặt của các tộc người, quan hệ tộc người, đến sự phát triển đất nước, thậm chí gây ra khủng hoảng chính trị - xã hội, đẩy đất nước vào xung đột, phá vỡ sự thống nhất quốc gia.

Chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước ta quy định, chi phối điều chỉnh hành vi, hoạt động của toàn bộ hệ thống chính trị trong giải quyết vấn đề dân tộc ở nước ta. Thực hiện chính sách dân tộc ở nước ta là là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, của toàn dân, của đồng bào tất cả các tộc người dưới sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước. Chính sách dân tộc là cơ sở để các cấp, các ngành cần quán triệt sâu sắc, vận dụng linh hoạt và sáng tạo trong thực hiện các nhiệm vụ phù hợp với đặc điểm của tộc người, vùng miền.

Chính sách dân tộc gắn với chính sách tôn giáo, chính sách miền núi. Chính sách dân tộc hướng vào giải quyết vấn đề dân tộc, nhưng có nội dung toàn diện, đề cập đến mọi lĩnh vực của đời sống dân tộc gắn với chính sách tôn giáo và thực tiễn của mỗi địa phương, mỗi dân tộc. Chính sách dân tộc không chỉ là chính sách dành riêng cho đồng bào mỗi dân tộc, mà là cả với vùng có nhiều dân tộc sinh sống, trong đó có dân tộc đa số. Chính sách dân tộc được đặt trong mối quan hệ với chiến lược phát triển miền núi của cả quốc gia, đảm bảo tính thống nhất của cả nước với sự phát triển đa dạnh của địa phương, quan hệ giữa miền núi và miền xuôi, giữa thành thị và nông thôn. 

Thứ Sáu, 1 tháng 12, 2023

CỘNG ĐỒNG CÁC DÂN TỘC Ở VIỆT NAM CÓ NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN NÀO?

Cộng đồng các dân tộc ở Việt Nam có những đặc điểm cơ bản sau:

Một là, Việt Nam là quốc gia đa tộc người; có truyền thống đoàn kết trong đấu tranh dựng nước và giữ nước, xây dựng cộng đồng dân tộc thống nhất. Việt Nam có 54 tộc người, theo 4 ngữ hệ chính: Nam Á, Nam Đảo, Thái, Hán Tạng. Các dân tộc trên đất nước ta có truyền thống đoàn kết trong đấu tranh dựng nước và giữ nước, khối đại đoàn kết dân tộc không ngừng được củng cố, mở rộng và nâng cao. Tính thống nhất quốc gia đa tộc người được thể hiện trên mọi lĩnh vực đời sống của quốc gia dân tộc. Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, lãnh đạo cách mạng, các dân tộc trên đất nước ta đã phát huy cao độ truyền thống đoàn kết; là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng.

Hai là, các dân tộc cư trú đan xen. Do điều kiện tự nhiên, lịch sử chi phối, nhiều tộc người cư trú đan xen trong phạm vi của tỉnh, huyện, xã và cả các ấp, bản, mường, được phân chia thành 05 vùng lớn: đồng bằng trung du là địa bàn cư trú của các tộc người Kinh, Hoa, Chăm, Khơme; vùng núi phía Bắc - Đông Bắc là địa bàn cư trú của tộc người  Tày, Nùng; vùng Tây Bắc là địa bàn cư trú chủ yếu của người  Thái - Hmông, Mường; vùng Trường Sơn Tây Nguyên là địa bàn cư trú của các tộc người ngôn ngữ Nam á, Nam Đảo; vùng Tây Nam Bộ là địa bàn cư trú chủ yếu của tộc người Khơme, Mạ. Đồng bào dân tộc thiểu số chủ yếu ở  các vùng rừng núi, biên giới, có vị trí chiến lược về mọi mặt. Hầu hết, các tộc người thiểu số nước ta có bộ phận đồng tộc ở nước láng giềng, duy trì quan hệ dòng họ, thân tộc hai bên biên giới. Ở Việt Nam không có dân tộc nào có lãnh thổ riêng.

Ba là, các dân tộc có dân số và trình độ phát triển kinh tế - xã hội không đồng đều. Năm 2019, dân tộc Kinh chiếm 85,3%, 53 tộc người thiểu số chiếm 14,7% dân số cả nước, trong đó có 6 dân tộc (Tày, Thái, Mường, Khmer, Nùng và Mông) có dân số trên 1 triệu người, 15 dân tộc  (Cống, Mảng, Pu Péo, Si La, Cờ Lao, Bố Y, La Ha, Ngái, Chứt, Ơ Đu, Brâu, Rơ Măm, Lô Lô, Lự, Pà Thẻn, La Hủ) có dân số dưới 10.000 người, trong đó có 5 dân tộc có dân số dưới 1.000 người gồm: Si La, Pu Péo, Rơ Măm, Brâu, Ơ Đu. Những năm gần đây, nhờ có chính sách khắc phục tình trạng suy giảm dân số đối với một số dân tộc thiểu số rất ít người, nên dân số của các dân tộc này đã tăng lên. Qua hơn 35 năm đổi mới, mặc dù đã đạt được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử, nhưng do nhiều nguyên nhân, các dân tộc thiểu số ở nước ta có trình độ phát triển kinh tế - xã hội không đồng đều, chênh lệch với dân tộc đa số vẫn còn lớn.  

Bốn là, các dân tộc có ngôn ngữ và bản sắc văn hóa riêng, tạo dựng nên một nền văn hóa Việt Nam đa dạng, phong phú, thống nhất, đậm đà bản sắc dân tộc. Mỗi dân tộc đều có ngôn ngữ, văn hóa, phong tục tập quán riêng, tạo nên bản sắc văn hóa tộc người độc đáo, giàu sức sống.Tuy nhiên, do chung điều kiện tự nhiên lớn, chung lịch sử, chung vận mệnh dân tộc và lợi ích quốc gia dân tộc, nên các tộc người cùng nhau sáng tạo nên những giá trị văn hoá chung thống nhất: Mang đậm bản sắc văn hóa nông nghiệp miền nhiệt đới gió mùa dựa trên nền tảng trồng trọt là chính; ứng xử với môi trường sống; truyền thống đoàn kết, cố kết cộng đồng; tinh thần yêu nước; lối sống nhân ái, khoan dung; tinh thần cần cù, kiên cường bất khuất. Các tộc người đều sử dụng song ngữ hay đa ngữ, nhưng đều lấy tiếng Việt làm phương tiện giao tiếp của cả dân tộc - quốc ngữ của dân tộc Việt Nam.

Năm là, các dân tộc thiểu số có các tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau. Hầu hết đồng bào dân tộc thiểu số giữ tín ngưỡng tôn giáo nguyên thủy đa thần, vạn vật hữu linh và thờ cúng theo phong tục tập quán truyền thống. Theo thời gian, các tôn giáo thâm nhập vào vùng dân tộc thiểu số, tạo nên các cộng đồng tộc người - tôn giáo khác nhau ở các vùng dân tộc thiểu số trong cả nước. 

Thứ Hai, 5 tháng 9, 2022

THUỘC TÍNH CƠ BẢN VÀ NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CHỦ YẾU CỦA GIAI CẤP CÔNG NHÂN

C.Mác và Ph.Ăngghen đã xây dựng và sử dụng chủ nghĩa duy vật biện chứng và phương pháp biện chứng vào nghiên cứu lịch sử phát triển của xã hội loài người nói chung và đi sâu nghiên cứu phương thức sản xuất TBCN, nghiên cứu GCCN và SMLS của GCCN nói riêng. Theo C.Mác và Ph.Ăngghen, dù có nhiều bộ phận khác nhau với những tên gọi khác nhau, khi thì nhấn mạnh đến tính chất lao động, khi nhấn mạnh đến sở hữu tư liệu sản xuất nhưng GCVS vẫn mang những thuộc tính cơ bản và những đặc điểm chung chủ yếu của nó. Đây là căn cứ để phân biệt sự khác nhau về chất giữa GCVS với các giai cấp khác trong xã hội. 

Khi bàn về thuộc tính cơ bản của GCCN, Chủ nghĩa Mác đã chỉ rõ, GCCN là những người lao động trực tiếp hay gián tiếp vận hành các công cụ sản xuất có tính chất công nghiệp ngày càng hiện đại và xã hội hóa cao, là lực lượng sản xuất hàng đầu của xã hội hiện đại. Thuộc tính này của GCCN do phương thức lao động, phương thức sản xuất công nghiệp hiện đại quy định. Các ông nhấn mạnh: “Trong công trường thủ công và trong nghề thủ công, người công nhân sử dụng công cụ của mình còn trong công xưởng thì người công nhân phải phục vụ máy móc”.

Về vị trí trong quan hệ sản xuất TBCN, các nhà kinh điển cũng chỉ rõ, GCCN là những người lao động không có tư liệu sản xuất, phải bán sức lao động cho nhà tư bản và bị bóc lột giá trị thặng dư. Trong Tuyên ngôn của Đảng cộng sản, hai ông chỉ rõ: giai cấp công nhân “là giai cấp chỉ có thể sống với điều kiện là kiếm được việc làm, và chỉ kiếm được việc làm nếu lao động của họ làm tăng thêm tư bản. Những công nhân ấy, buộc phải tự bán mình để kiếm ăn từng bữa một, là một hàng hoá… vì thế, họ phải chịu hết mọi sự may rủi của cạnh tranh, mọi sự lên xuống của thị trường”.

Từ việc nghiên cứu và chỉ ra những thuộc tính cơ bản của GCCN, C.Mác và Ph.Ănghen đã phát hiện ra những đặc điểm tiến bộ chung của GCCN (dù GCCN ở thế kỷ XIX với nền công nghiệp cơ khí hóa hay GCCN ở đầu thế kỷ XXI với nền công nghiệp tự động hóa đều có những đặc điểm đó) so với các giai tầng khác trong xã hội. Do làm việc và sống trong xã hội công nghiệp, cho nên GCCN có xu hướng phát triển không ngừng về số lượng và chất lượng cùng sự phát triển của đại công nghiệp. Đồng thời, do bị GCTS bóc lột giá trị thặng dư mà GCCN ngày càng được rèn luyện ý thức, tinh thần, tác phong cách mạng với nhiều phẩm chất tiến bộ như tiên tiến, cách mạng, kỷ luật, đoàn kết quốc tế.

Có thể khẳng định rằng, ngày nay, với sự phát triển của CNTB trong nửa sau của thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI bộ mặt của GCCN hiện đại có nhiều thay đổi so với trước đây. Sự xã hội hóa và phân công lao động xã hội mới, cơ cấu của GCCN hiện đại, các hình thức mới mà GCTS sử dụng để bóc lột giá trị thặng dư,… đã làm cho diện mạo của GCCN hiện đại không còn giống hoàn toàn với những mô tả của C.Mác trong thế kỷ XIX. Thế nhưng GCCN hiện đại vẫn tồn tại, vẫn có SMLS của mình trong xã hội tư bản hiện đại vì những thuộc tính cơ bản và đặc điểm chủ yếu của GCCN mà chủ nghĩa Mác đã phát hiện ra đến hôm nay vẫn còn nguyên giá trị về phương pháp luận cũng như nội dung của nó đối với việc nhận thức GCCN hiện đại và SMLS của nó.

Thứ Ba, 10 tháng 8, 2021

CẦN NHẬN THỨC RÕ ĐẶC ĐIỂM VÀ XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA THỜI ĐẠI

Hiểu biết sâu sắc về thời đại giúp chúng ta tìm thấy xu hướng tất yếu trong vô vàn những hiện tượng phức tạp, mang tính ngẫu nhiên của đời sống xã hội. Đó cũng là cách giúp chúng ta nhìn xa trông rộng, nắm bắt khuynh hướng và quy luật phát triển của nhân loại để vừa có thể lựa chọn được hướng đi phù hợp với sự phát triển của lịch sử; lường trước được những thách đố phức tạp, tránh được những vấp váp sai lệch; từ đó không bị chao đảo hoặc bị cuốn trôi trước phong ba bão táp của đời sống chính trị quốc tế.

Chính vì lẽ đó, khi bàn về những vấn đề lớn của cách mạng, trước đây cũng như bây giờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta bao giờ cũng bắt đầu bằng việc phân tích đặc điểm, nội dung, xu thế phát triển của thời đại; nhận định các mặt của tình hình thế giới để xác định đúng con đường đi của cách mạng Việt Nam và đề ra đường lối đối nội, đối ngoại đúng đắn, sáng tạo. Cả trên phương diện lý luận và thực tiễn là như vậy nhưng hiện nay trước Đại hội XIII của Đảng, một số luận điệu sai trái cho rằng: Thật không tưởng khi nói thời đại ngày nay là quá độ lên chủ nghĩa xã hội (CNXH). Vì vậy, các phần tử phản động, cơ hội chính trị cho rằng: Từ Đại hội XIII trở đi, không nên nói đến CNXH nữa. Họ cho rằng làm gì có thời đại quá độ; nội hàm, đặc điểm, xu thế của thời đại là sự mơ hồ; hai nội dung cốt yếu của thời đại đã bị lịch sử phủ định. Bởi thế, khi không còn Liên Xô và phe xã hội chủ nghĩa (XHCN) nữa thì nước ta làm sao có thể đi lên CNXH được? Luận điệu của họ không có gì mới nhưng cách diễn đạt khác đi. Những luận cứ đấu tranh chống các luận điệu này cần được làm rõ.

Thứ Ba, 19 tháng 1, 2021

VÌ SAO CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH LUÔN LỢI DỤNG TÔN GIÁO CHỐNG PHÁ CÁCH MẠNG NƯỚC TA?

Việt Nam là quốc gia đa tôn giáo. Những năm qua, cùng với đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, Đảng, Nhà nước ta đã thực hiện nhiều chủ trương, chính sách về tôn giáo, được đa số chức sắc, tín đồ các tôn giáo trong nước và các tổ chức quốc tế đồng tình hưởng ứng và thừa nhận. Trong quá trình lãnh đạo, quản lý đất nước, Đảng, Nhà nước ta vừa tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức cho nhân dân về đường lối, chính sách tự do tín ngưỡng, tôn giáo, vừa quan tâm tạo điều kiện, môi trường thuận lợi để các tôn giáo hoạt động, phát triển bình đẳng trong khuôn khổ pháp luật. Trong 15 năm qua, cả nước đã cấp phép xây dựng, sửa chữa, nâng cấp được 7.916 cơ sở thờ tự, v.v. Đồng thời, coi trọng củng cố mối quan hệ đoàn kết lương - giáo, cùng nhau phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng thôn, bản, địa phương vững mạnh, giàu đẹp, văn minh, góp phần phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Thế nhưng, các thế lực thù địch đã không chỉ phủ nhận kết quả đó, mà còn lợi dụng tôn giáo, coi tôn giáo là vũ khí lợi hại để chống phá sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta, với nhiều chiêu thức thâm độc, tinh vi, xảo quyệt; khi thì bí mật, lúc thì trắng trợn, công khai. Vậy tại sao họ lại lợi dụng tôn giáo để chống phá chúng ta? Điều này xuất phát từ bản chất, mục tiêu cao nhất của các thế lực thù địch là lật đổ chế độ chính trị của các nước tiến bộ không đi theo quỹ đạo của chúng, mà trước hết là các nước xã hội chủ nghĩa bằng chiến lược “Diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ. Phương thức của chúng là tập hợp, liên kết lực lượng lấy danh nghĩa tôn giáo, thành lập các tổ chức chính trị đối lập, đối trọng với Đảng Cộng sản Việt Nam, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, chia rẽ lương - giáo, tách tôn giáo ra khỏi sự quản lý của Nhà nước, quốc tế hóa vấn đề tôn giáo để dễ bề can thiệp vào công việc nội bộ của ta.

Qua nghiên cứu thực tiễn cho thấy, việc các thế lực thù địch lợi dụng tôn giáo để chống phá cách mạng nước ta là do tôn giáo nói chung, ở Việt Nam nói riêng có những đặc điểm mà chúng có thể khoét sâu, khai thác.

Trước hết, sự đối lập về thế giới quan của tôn giáo và thế giới quan duy vật biện chứng trong nền tảng tư tưởng của Đảng là cơ sở để chúng lợi dụng, khoét sâu mâu thuẫn giữa chế độ xã hội chủ nghĩa với tôn giáo.

Thứ hai, lợi dụng về đức tin và sự gắn kết cộng đồng của tôn giáo nhằm lôi kéo, tập hợp lực lượng chống phá cách mạng nước ta.

Thứ ba, triệt để tận dụng những bất cập, sơ hở của các cấp chính quyền trong quản lý, tổ chức thực hiện chính sách tôn giáo để kích động quần chúng gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội tại các địa phương.

Thứ tư, dựa vào đặc điểm địa lý; khó khăn về kinh tế, văn hóa, xã hội ở các vùng dân tộc thiểu số, tôn giáo để phát triển tôn giáo, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Trên cơ sở nhận thức rõ những thủ đoạn lợi dụng tôn giáo để chống phá cách mạng nêu trên, thời gian tới, để tiếp tục đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn đó của các thế lực thù địch, chúng ta cần tập trung thực hiện tốt một số nội dung cơ bản sau: (1) Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức cho mọi tầng lớp nhân dân về quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về tôn giáo, nhất là Luật Tín ngưỡng, tôn giáo. (2) Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, hiệu lực quản lý của Nhà nước đối với công tác tôn giáo. (3) Chú trọng phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội gắn với tăng cường quốc phòng - an ninh; xây dựng hệ thống chính trị cơ sở vùng đồng bào dân tộc, tôn giáo vững mạnh về mọi mặt; quan tâm đến đời sống vật chất, tinh thần của bà con giáo dân. (4) Chủ động nhận diện và đấu tranh hiệu quả với âm mưu, thủ đoạn lợi dụng tôn giáo chống phá cách mạng nước ta của các thế lực thù địch.

Những đặc điểm trên, là cơ sở quan trọng để nắm bắt được âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng tôn giáo chống phá cách mạng nước ta; xây dựng, phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết lương - giáo trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc.

Thứ Hai, 7 tháng 12, 2020

MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CHÍNH TRONG CHIÊU TRÒ CHỐNG PHÁ CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

Thứ nhất, các hoạt động chống phá luôn được các thế lực thù địch chủ động tiến hành trên mọi lĩnh vực, mọi cấp độ, dưới nhiều hình thức. Triệt để lợi dụng các phương tiện thông tin đại chúng, mạng xã hội, các thế lực thù địch lập ra các hội nhóm online, tổ chức livestream, hội thảo trực tuyến, đăng tải các bài viết... với nội dung xoay quanh chủ trương, chính sách mới của Đảng, Nhà nước và cố tình vẽ ra các bất cập nảy sinh. Thời điểm tiến hành của chúng luôn gắn với các sự kiện, ngày lễ, các thời điểm chuẩn bị và tổ chức tiến hành đại hội đảng, bầu cử, ban hành luật, nghị định... Cách làm phổ biến của chúng là: Khi các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước (cả với chủ trương ở cấp cơ sở) mới chỉ ở dạng dự thảo thì chúng đưa ra các “kiến nghị” nhằm hướng lái dư luận theo ý đồ của chúng; sau khi ban hành thì chúng kích động biểu tình, phản đối; khi các phần tử vi phạm bị bắt và xử lý theo pháp luật, chúng ra sức tuyên truyền, xuyên tạc và thông qua một số tổ chức, cá nhân để đòi trả tự do cho cái gọi là “tù nhân lương tâm”, đồng thời vu khống Việt Nam đàn áp dân chủ, vi phạm nhân quyền.

Thứ hai, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch diễn ra thường xuyên, liên tục, không ngại bịa đặt, dựng chuyện. Thực hiện phương châm “nói nhiều sẽ tin”, các trang mạng, blog cá nhân, các kênh YouTube... liên tục tiến hành các hoạt động chống phá bằng các bài viết, video clip tuyên truyền xuyên tạc với tần suất và cường độ ngày càng lớn, gần như liên tục, bất kể ngày, đêm. Triệt để lợi dụng tâm lý hiếu kỳ của một số người dân, chúng thường xuyên tung ra những thông tin lập lờ giữa đúng và sai, dựng lên những sự kiện không có thật, thậm chí bịa đặt trắng trợn, để gây hoài nghi trong nhân dân. Khi các thông tin chống phá của chúng bị vạch mặt, bóc trần sự thật, chúng lập tức vu cáo ta “độc đoán”, đàn áp tự do báo chí, che giấu thông tin, hoặc tiếp tục bẻ lái, kích động dư luận chống đối, đi ngược lại quan điểm, chính sách, quy định của Đảng, Nhà nước và các cơ quan chức năng. Hiện nay, nổi lên là việc một số hội nhóm, tổ chức được sự hỗ trợ của các thế lực, tổ chức phản động nước ngoài, tiến hành các hoạt động xuất bản ấn phẩm báo chí, tài liệu, băng hình đòi xét lại các vấn đề lịch sử, một mặt nhằm “rửa tội” cho bè lũ tay sai, bán nước, một mặt thì dọn đường dư luận để tiếp tục đưa ra luận điệu phủ nhận vai trò to lớn của Đảng Cộng sản Việt Nam trong chiến tranh giải phóng dân tộc cũng như trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và phát triển đất nước hiện nay.

Thứ ba, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch diễn ra tinh vi, đa dạng, nhiều chiều. Hiện nay, với sự phát triển mạnh của các mạng xã hội, việc bày tỏ chính kiến với các vấn đề xã hội của nhân dân càng trở nên dễ dàng. Lợi dụng điều đó, để đánh lừa được quần chúng nhân dân, các thế lực thù địch tiếp tục đẩy mạnh hoạt động chống phá toàn diện trên các lĩnh vực của đời sống xã hội với các phương thức, chiêu trò, thủ đoạn ngày càng tinh vi. Chúng ra sức cổ xúy cho cái gọi là “nhận thức đa chiều” hay “nhìn nhận đa chiều” để bới móc, xuyên tạc chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, cả trong lịch sử và hiện tại. Chúng tận dụng tối đa các phương tiện truyền thông xã hội, các loại hình văn hóa, nghệ thuật, các hoạt động nghiên cứu khoa học, giáo dục, đào tạo, các diễn đàn, nhất là triệt để lợi dụng một số văn nghệ sĩ, trí thức bất mãn, có quan điểm chính trị lệch lạc để ngấm ngầm cài cắm, tán phát những quan điểm sai trái, phản động; lợi dụng các hoạt động nhân đạo, từ thiện, tổ chức truyền đạo, lập đạo trái phép để tuyên truyền, lôi kéo những người thiếu hiểu biết, nhẹ dạ cả tin, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa. Bằng mồi nhử kinh tế, thông qua tổ chức các hoạt động “du lịch”, “thăm thân”, “hội nghị đầu tư”, “dự án”... chúng “khéo léo” mua chuộc, lôi kéo đội ngũ cán bộ, hoặc dùng các thủ đoạn ghi âm, ghi hình... để vừa vu khống, nói xấu chế độ, vừa ép buộc cán bộ của ta, từng bước làm họ sa ngã, rơi vào lối sống thực dụng, hưởng thụ, từ đó có lời nói, hành vi đối lập với quan điểm của Đảng.

Để góp phần đấu tranh, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, cùng với việc chủ động tăng cường thông tin tích cực, đi đôi với ngăn chặn có hiệu quả các thông tin xấu độc thì điểm mấu chốt vẫn là phải đẩy mạnh việc siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong Đảng và bộ máy công quyền, làm cơ sở tiếp tục thực hiện có hiệu quả các chủ trương phát triển kinh tế, xã hội, đối ngoại, quốc phòng, an ninh... mà Đảng ta đã xác định. Bên cạnh đó, cần tiếp tục làm tốt công tác thông tin, giáo dục, tuyên truyền, nâng cao cảnh giác và nhận thức cho mọi cán bộ, đảng viên cùng các tầng lớp nhân dân về âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch và tính chất nguy hại của nó. Đặc biệt là phải nâng cao chất lượng việc học tập và nghiên cứu lý luận, không chỉ làm cho cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân thấu suốt, đồng thuận cao với mọi quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước mà còn làm cơ sở tiền đề để các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước ngày càng đi vào thực tiễn một cách mạnh mẽ, hiệu quả.

Chúng ta cũng cần chú ý phân biệt rõ giữa “quan điểm khác” với “quan điểm thù địch”. Nếu “quan điểm khác”, tức là không giống quan điểm của Đảng (do Đảng chưa tính tới, chưa kịp thời cập nhật...) mà không trái với mục tiêu, lý tưởng của Đảng, có lợi cho đất nước và nhân dân, thì cần nghiên cứu tiếp thu. Còn nếu “quan điểm khác” nhưng ngược với mục tiêu, lý tưởng, trái với chủ trương, đường lối của Đảng, đi ngược lại lợi ích của quốc gia, dân tộc thì cần phải kiên quyết lên án và đấu tranh bác bỏ.

Thứ Ba, 26 tháng 11, 2019

QUAN ĐIỂM CỦA V. LÊNIN VỀ ĐẶC ĐIỂM CỦA THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI

V.I. Lênin đã phát triển lý luận về TKQĐ từ chủ nghĩa tư bản lên CNXH.            Theo ông, TKQĐ lên CNXH là tất yếu, khách quan đối với mọi nước xây dựng CNXH, song đối với những nước có lực lượng sản xuất phát triển cao thì TKQĐ lên CNXH có nhiều thuận lợi hơn, có thể ngắn hơn so với những nước đi lên CNXH bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa. V.I.Lênin khái quát đặc điểm của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội:
          - Là thời kỳ xét trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội đều do nhiều thành phần không thuần nhất tạo nên. Đó là thời kỳ có sự đan xen, thâm nhập vào nhau giữa CNTB và CNXH.
          - Là thời kỳ, sự phát triển của cái cũ, của những trật tự cũ đôi khi lấn át những mầm mống của cái mới, của những trật tự mới.
- Là thời kỳ, xét về mọi phương diện đều có sự phát triển của tính tự phát tiểu tư sản, chứa đựng những mâu thuẫn không thể dung hòa được giữa tính kỷ luật nghiêm ngặt của GCCN và tính vô chính phủ, vô kỷ luật của tần lấp tiểu tư sản.
- Là thời kỳ lâu dài, có rất nhiều khó khăn, phức tạp, trải qua nhiều lần thủ nghiệm để rút ra những kinh nghiệm, hướng đi đúng đắn, và trong quá trình đó có thể phải trả giá cho những sai lầm nghiêm trọng.

QUAN ĐIỂM CỦA C. MÁC VÀ PH. ĂNGGHEN VỀ ĐẶC ĐIỂM CỦA THỜI KỲ QUÁ ĐỘ TỪ CHỦ NGHĨA TƯ BẢN LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI

Thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội có những đặc điểm cơ bản sau:
- Xã hội thời kỳ quá độ: xã hội vừa thoát thai từ xã hội TBCN, còn mang nặng dấu ấn của xã hội cũ.
          - Thời kỳ cải biến cách mạng từ xã hội nọ sang xã hội kia. Tương ứng với thời kỳ quá độ về kinh tế - xã hội là TKQĐ về chính trị. Nhà nước của giai đoạn này là nhà nước chuyên chính cách mạng của giai cấp vô sản.
          - Thời kỳ quá độ là thời kỳ “sinh đẻ” lâu dài và “đau đớn”.
          - Thời kỳ quá độ bao gồm nhiều giai đoạn kế tiếp nhau, liên tục và các điều kiện biến đổi không ngừng.
          - Đặc điểm bao trùm: xã hội quá độ, bao gồm trong đó sự hiện diện những dấu vết, những bộ phận của xã hội cũ (TBCN) ở mọi lĩnh vực của đời sống xã hội; đồng thời xuất hiện và hình thành những nhân tố mới của xã hội mới.

Thứ Năm, 14 tháng 2, 2019

ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA TÍN NGƯỠNG DÂN GIAN NGƯỜI VIỆT

Tín ngưỡng dân gian người Việt phổ biến là tín ngưỡng đa thần, gắn chặt với các huyền thoại, truyền thuyết, thần tích. Nơi thờ cúng chủ yếu là ở đình, đền, miếu, tại nhà, vườn, gốc cây, mô đất,… nghi lễ giản đơn…
          Tín ngưỡng dân gian người Việt chủ yếu gắn với cộng đồng nhỏ hẹp trong gia tộc, dòng họ, làng xã “trống làng nào làng ấy đánh, thánh làng nào làng ấy thờ”; gắn bó chặt chẽ với văn hóa dân gian truyền thống của dân tộc, chưa hình thành các thiết chế tổ chức chặt chẽ.
Thế giới thần linh, ma quỷ hòa nhập, gần gũi với con người, thậm chí trong một số tín ngưỡng, con người có thể “giao tiếp” với thần linh mà không cần qua người trung gian như thầy cúng, bà đồng, phù thủy…
Tín ngưỡng dân gian người Việt có khả năng tác động, hòa nhập, bản địa hóa các tôn giáo ngoại nhập, khiến cho tín ngưỡng dân gian thích ứng, biến đổi, tồn tại lâu bền hơn.
Hiện nay, đời sống tín ngưỡng dân gian của người Việt có biến đổi lớn. Hiện nay, nhiều tín ngưỡng và nghi lễ dân gian được phục hồi và tạo nên đời sống tâm linh, tín ngưỡng khá sôi động. Cùng với sự phục hồi này, đời sống văn hóa truyền thống cũng phục hưng tạo nên bức tranh văn hóa Việt phong phú, đa dạng theo hướng kết hợp giữa truyền thống và hiện đại.
Tuy nhiên, trong sự phục hồi các tín ngưỡng dân gian đó, một số hủ tục, mê tín cũng phục hồi, phát sinh, biến tướng. Việc lợi dụng tín ngưỡng để buôn thần bán thánh, phản văn hóa, phi nhân tính vẫn tồn tại.

Thứ Hai, 14 tháng 5, 2018

NHỮNG ĐẶC ĐIỂM NHẬN THẤY TỪ CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH

Về động cơ, mục đích, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị công khai tung ra những quan điểm sai trái, thù địch nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, đả kích chế độ xã hội chủ nghĩa và con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội, nhằm hướng lái đất nước ta đi theo con đường tư bản chủ nghĩa
Về nội dung, các quan điểm sai trái, thù địch thường tập trung vào một số nội dung như: Bác bỏ những nguyên lý cơ bản hoặc toàn bộ nền tảng tư tưởng của Đảng và tư tưởng Hồ Chí Minh; xuyên tạc, bôi đen nền tảng tư tưởng của Đảng; bác bỏ lý tưởng xã hội chủ nghĩa, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, ca ngợi, cổ xúy cho chủ nghĩa tư bản; phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, quy mọi sai lầm, khuyết điểm về cho Đảng hòng kích động, nhằm thay đổi chế độ chính trị ở nước ta...
Về phương pháp, cách thức tiến hành, chúng sẵn sàng bịa đặt, nói xấu một cách trắng trợn, đổi trắng thay đen, suy diễn vô căn cứ, đồng nhất Đảng với một số cán bộ, đảng viên tham nhũng, thoái hóa, biến chất, phủ nhận công lao của Đảng, quy chụp mọi khuyết điểm, sai lầm về cho Đảng, phủ nhận lịch sử cách mạng Việt Nam...
Về hình thức diễn đạt, chúng sử dụng ngôn từ thiếu văn hóa tuyên truyền trên mạng xã hội; xuất bản sách, báo ở nước ngoài, sản xuất băng đĩa hình, in truyền đơn rồi tìm cách chuyển về trong nước, sử dụng các đài truyền hình, phát thanh của nước ngoài để tuyên truyền...
Về thân phận đối tượng, chủ yếu là các thế lực thù địch, tổ chức phản động, phần tử cơ hội, chính trị trong và ngoài nước mang lòng hận thù chế độ, có trường hợp đã từng vi phạm pháp luật Việt Nam; thậm chí có cả một số người trước đây là cán bộ, đảng viên nay trở cờ, trở thành thế lực thù địch./.

Thứ Năm, 12 tháng 4, 2018

ĐẶC ĐIỂM CỦA DÂN TỘC HOA Ở VIỆT NAM

Dân tộc Hoa nước ta có tên gọi khác người Khách, người Hán, người Tàu; gồm các nhóm địa phương từ Quảng Đông, Quảng Tây, Hải Nam, Triều Châu, Phúc Kiến, Sng Phang, Xìa Phống, Thảng Nhằm, Minh Hương, Hẹ... Đồng bào di cư đến Việt Nam vào các thời điểm khác nhau, sớm nhất vào thế k XVI, cuối thời Minh đầu thời Thanh, kéo dài cho đến nửa đầu thế k XX. Hiện nay, dân sô dân tộc Hoa ở nước ta có 823.071 người.
Người Hoa cư trú ở nông thôn chủ yếu sống bằng nghề trồng lúa nước. Ở thành phố, thị xã, thị trấn, họ làm nghề dịch vụ, buôn bán; các nghề tiểu thủ công nghiệp khá phát triển như gốm, giấy, nhang... Một bộ phận cư trú ở ven biển sống làm muối, đánh cá. Đặc biệt, họ có truyền thống buôn bán rất giỏi.
Lương thực chính của người Hoa là gạo, bữa ăn thường có mì xào, hủ tiếu, vằn thắn... Gia đình bình dân, sáng điểm tâm bằng cháo trắng với trứng vịt muối, nhà khá giả là hủ tiếu, bánh bao, xíu mại... Người Hoa nấu ăn giỏi, thích các món xào với gia vị; thức uống là các loại nước thuốc ngoài tác dụng giải khát còn là loại thuốc mát. 
Trang phục truyền thống của người Hoa chỉ còn thấy ở một số người có tuổi hay trong các nghi lễ cưới xin, tang ma. Phụ nữ thường mặc áo cổ viền cao, cài khuy một bên, xẻ tà cao hoặc một chiếc áo “sườn xám” may dài, ôm ngang hông, xẻ tà phần dưới đùi. Đàn ông mặc áo màu đen hay xanh đậm, cài khuy vải một bên, vai liền cổ đứng, xẻ tà hoặc kiểu áo tứ thân, xẻ giữa, cổ đứng, vai liền, có túi.
Làng của người Hoa thường ở ven chân núi, trong cánh đồng, trải dài trên bờ biển, gần nguồn nước, giao thông thuận tiện; nhà ở sát nhau theo dòng họ. Ở thành thị, người Hoa thường sống tập trung, có khu phố riêng. Nhà cửa thường có 3 loại: nhà 3 gian hai chái, nhà chữ Môn và nhà chữ Khẩu. Nổi bật trong nhà ở là các bàn thờ tổ tiên, dòng họ, thờ Phật và các vị thần thánh cùng các câu đối, liễn, các tờ giấy hồng chữ Hán để cầu phúc, lợi, bình yên.
Trước đây, xã hội của họ có phân hóa giai cấp sâu sắc và mang tính phụ quyền cao. Mối quan hệ với những người cùng họ được hết sức coi trọng. Mỗi một dòng họ có một từ đường để thờ cúng. Hằng năm vào một ngày nhất định, người cùng họ làm lễ giỗ họ tại từ đường. Gia đình theo chế độ phụ hệ một vợ một chồng; kết hôn trong cùng một nhóm địa phương. Người kinh doanh, sản xuất thường có các lễ hội nghề nghiệp tương ứng, có một vị tổ và một ngày giỗ tổ nghề trong năm.
Một năm, người Hoa có nhiều ngày lễ tết như Nguyên Đán, Nguyên Tiêu, Thanh Minh, Đoan Ngọ, Trung Thu… Nguyên Tiêu là tết đặc trưng, tín ngưỡng và văn hóa truyền thống được biểu hiện trong dịp này. Nổi bật trong tín ngưỡng dân gian là thờ cúng tổ tiên, gia tộc, dòng họ, các vị thần, thánh, Bồ tát... Hệ thống chùa miếu của người Hoa khá phát triển trong cộng đồng.
Sinh hoạt văn hóa truyền thống của người Hoa có nhiều thể loại như hát, múa, hài kịch với nhiều loại nhạc cụ tiêu, sáo, các loại đàn (tì bà, nhị, nguyệt), chập chõa... Hát “sơn ca” (sán cố) là hình thức được nhiều người ưa chuộng, nhất là tầng lớp thanh niên. Tổ chức văn nghệ dân gian truyền thống mang tính nghiệp dư đã có từ lâu là các “nhạc xã”. Múa lân, sư tử, rồng là những loại hình nghệ thuật mang tính quần chúng được trình diễn vào những ngày lễ tết.

ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA DÂN TỘC HMÔNG Ở VIỆT NAM

Dân tộc Hmông có tên gọi chính thức là Hmông, các tên gọi khác như: Mẹo, Mèo, Miến Hạ, Mán Trắng. Họ có các nhóm địa phương là Hmông Trắng, Hmông Hoa, Hmông Đỏ, Hmông Đen, Hmông Xanh, Na Miẻo. Hiện nay, dân số Hmông ở nước ta có 1.068.215 người, cư trú chủ yếu ở vùng núi các tỉnh phía Bắc, dọc biên giới Việt – Trung, Việt - Lào. Người Hmông vốn có nguồn gốc lâu đời ở miền Nam Trung Quốc. Đồng bào di cư vào Việt Nam làm ba đợt, sớm nhất cách đây khoảng 300 năm.
Dân tộc Hmông chủ yếu làm nương rẫy (định canh hoặc du canh) và một phần ruộng bậc thang, chăn nuôi trâu bò, lợn gà, ngựa (thồ). Cây trồng chính là ngô, lúa mạch, khoai, rau, lạc vừng, lanh, thuốc phiện, cây ăn quả
Trong văn hóa ẩm thực, người Hmông ngày ăn hai bữa, ngày mùa ăn ba bữa; mèn mén (bột ngô đồ), cơm canh là món truyền thống. Bột ngô xúc bằng thìa gỗ, uống rượu, hút thuốc lá bằng điếu cày; mời khách chiếc điếu do tự tay nạp thuốc là biểu hiện thiện cảm quý trọng.
Trang phục người Hmông khá sặc sỡ, đa dạng, mang đặc điểm của các nhóm địa phương rõ rệt. Phụ nữ Hmông Hoa mặc áo thêu hoặc in hoa văn bằng sáp ong, xẻ nách, trên vai và ngực đắp vải màu và thêu. Phụ nữ Hmông Đen mặc váy vải Chàm, in hoa văn bằng sáp ong, áo xẻ ngực. Phụ nữ Hmông Trắng mặc váy màu trắng, áo xẻ ngực, thiêu hoa văn ở cánh tay, yếm sao. Phụ nữ Hmông Xanh mặc váy ống, nếu có chồng thì cuốn tóc lên đỉnh đầu, cài bằng lược móng ngựa, đội khăn ra ngoài tạo thành hình như hai cái sừng. Trang phục đàn ông Hmông mặc quần áo màu chàm, đội mũ nồi.
Mặc dù cư trú ở vùng cao nhưng người Hmông ở nhà trệt, không làm nhà sàn. Nhà có ba gian, hai chái và thường có ba cửa, gian giữa đặt bàn thờ. Lương thực cất trữ trên sàn gác, một số nơi có nhà kho. Bản làng Hmông có nhiều dòng họ, trong đó có một đến hai họ lớn. Quan hệ làng bản được gắn bó chặt chẽ qua thờ cúng chung thổ thần của bản, các sinh hoạt lễ tết, địa giới đất đai. Những người Hmông cùng họ, có cùng tín ngưỡng tổ tiên, dù bất kỳ ở đâu cũng coi nhau là anh em ruột thịt. Người trưởng họ có tiếng nói và vị trí quan trọng đối với cả dòng tộc. Sự cố kết dòng họ không chỉ ở nơi cư trú mà còn mang tính khu vực và xuyên quốc gia.
Người Hmông còn bảo lưu nhiều bản sắc tộc người thể hiện ở nghi lễ vòng đời (sinh đẻ, cưới hỏi, tang ma, cúng vía…) rất khác biệt với các dân tộc khác, các tập tục sinh hoạt gia đình, dòng họ, làng bản. Hàng năm, các dòng họ đều tổ chức lễ cúng chung cả họ (sầu su, thi su), lễ cúng ma bản v.v… Đồng bào có tín ngưỡng đa thần, ảnh hưởng từ Đạo giáo. Trong nhà có nhiều nơi linh thiêng dành riêng cho thờ cúng tổ tiên, ma nhà, ma bếp, ma cửa, bàn thờ tổ sư nghề. Trước đây, tết năm mới của người Hmông từ đầu tháng 12 theo cách tính lịch cổ truyền phù hợp với nông lịch truyền thống, nay đã chuyển sang ăn tết Nguyên Đán. Ngày tết dân làng thường chơi còn, thổi kèn, múa khèn, ca hát nhảy múa ở những bãi ruộng quanh làng.
Từng có nhà nước với lịch sử di cư lâu dài làm cho dân tộc Hmông luôn hướng về thủ lĩnh và khát khao một thủ lĩnh tộc người. Chính những điều đó tạo nên một niềm tin tiềm ẩn ở dân tộc này về một vị vua và tổ quốc riêng của mình. Thực dân Pháp từng dựng lên “Vua Mèo” Vương Trí Sình ở Đồng Văn - Hà Giang, đánh trúng vào tâm lý khát khao thủ lĩnh của người Hmông. Đế quốc Mỹ cũng từng dùng con bài dân tộc Hmông trong cuộc chiến tranh Đông Dương, dựng nên tướng phỉ Vàng Pao tại Lào. Gần đây, các thế lực thù địch tiếp tục lợi dụng một bộ phận đồng bào Hmông để truyền đạo trái pháp luật, kích động “xưng vua”, chia rẽ dân tộc, chống phá cách mạng nước ta.
Hiện nay, được sự quan tâm lớn của Đảng và Nhà nước, đời sống kinh tế-xã hội của người Hmông có nhiều cải thiện. Đại đa số đồng bào tin theo Đảng, Nhà nước, tích cực đóng góp sức mình vào công cuộc xây dựng quê hương, đất nước và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. 

Thứ Tư, 4 tháng 4, 2018

ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA DÂN TỘC KHƠ-ME Ở VIỆT NAM

Người Khơ-me có tên tự gọi là Khơ-me, tên gọi khác là Cur, Cul, Cu, Thổ, Việt gốc Miên, Khơ-me Krôm; dân số hiện nay có 1.260.640 người, đông nhất trong là các tộc người nói ngôn ngữ Môn - Khơ me ở Việt Nam.
Dân tộc Khơ-me thuộc tiểu chủng và ngữ hệ Nam Á, thuộc nhóm ngôn ngữ Môn – Khơ me; hình dáng tầm vóc cao trung bình, da ngăm đen, trán thấp, mũi dẹt, môi dày, tóc đen, xoăn tự nhiên.
Người Khơ-me đã cư trú lâu đời ở phía Nam bán đảo Đông Dương. Từ thế kỷ VII-XVII, nhiều cư dân của Vương quốc Chân Lạp trốn tránh chế độ quân chủ hà khắc đã di cư đến vùng Tây Nam Bộ sinh sống. Đến thế kỷ XVII, khi các Chúa Nguyễn vào xây dựng Đàng Trong thì người Việt cũng đi vào khai phá vùng đất châu thổ sông Cửu Long. Lúc này lại có thêm càng nhiều người Khơ-me đến sinh sống ở Sài Gòn, Đồng Nai.
Người Khơ-me từ xa xưa cho đến nay là dân tộc trồng lúa nước, có nhiều kinh nghiệm trong canh tác. Công cụ canh tác nông nghiệp của họ gần giống với người Kinh. Đồng bào rất thành thạo nghề đánh cá, phát triển nghề đan, dệt chiếu, vải, làm đường thốt nốt, làm gốm.
Trong ăn uống, thức ăn chính của người Khơ-me là cơm tẻ, cơm nếp. Họ biết chế biến nhiều loại mắm, nhất là mắm Bhóc là mắm làm bằng cá lóc, cá sọc, cá trê, tôm tép với thính. Gia vị trong ẩm thực được ưa thích nhất là vị chua (quả me), tiêu, tỏi, sả, ớt, cari. Người Khơ-me mặc Xà rông, thanh niên ngày nay thích mặc âu phục, người đứng tuổi mặc áo bà ba đen, khăn rằn quấn đầu, vắt vai. Nhà ở của họ giống nhà người Kinh trong vùng, nhưng khác nhau ở cách bày trí bên trong.
Gia đình một vợ một chồng là hình thức phổ biến trong cộng đồng Khơ-me, nhưng còn tồn tại tàn dư mẫu hệ. Phụ nữ ưa kín đáo nhưng lại cởi mở, hiếu khách. Hôn nhân thường do cha mẹ xếp đặt, có sự thỏa thuận của con; việc cưới qua ba bước: làm mối, dạm hỏi, lễ cưới. Lễ cưới được tổ chức ở nhà gái, chồng về ở một thời gian, khi có con ra ở riêng bên vợ. Trong tang ma, người chết được hỏa thiêu, tro được giữ trong tháp Pì chét đẩy  xây cạnh ngôi chính điện trong chùa. Hai lễ tết lớn trong năm là của người Khơ-me là Chuôn Chnăm Thmây vào tháng tư dương lịch và Chào mặt trăng vào rằm tháng 10 âm lịch. Dịp này, bà con thường tổ chức đua thuyền giữa các phum, sóc.
Tôn giáo có vai trò quan trọng, chi phối đời sống của người Khơme. Họ thờ Phật, tổ tiên và thực hành các nghi lễ nông nghiệp như cúng thần ruộng, gọi hồn lúa, thần mặt trăng. Con trai Khơ-me khi lớn được gửi vào chùa từ 3-5 năm để học kinh Phật, chữ Khơ-me, sau tu hành và hoàn tục mới được đi học tiếp và lập gia đình. Di sản đặc sắc nhất của văn hóa Khơ-me được thể hiện ở nghệ thuật và kiến trúc chùa tháp.
Trong quá trình cách mạng nước ta, dưới sự lãnh đạo, quản lý của Đảng, Nhà nước, đồng bào Khơ-me đã đoàn kết cùng với các dân tộc anh em, chung tay, đóng góp công sức xứng đáng vào quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Tuy nhiên, các thế lực thù địch đã lợi dụng một số vấn đề phức tạp do lịch sử để lại, khơi lại mâu thuẫn dân tộc, sử dụng luận điệu “đòi lại đất Tây Nam Bộ cho Campuchia”, kích động vấn đề bảo tồn tôn giáo, chữ viết và văn hóa, tạo dựng cái gọi là “nguy cơ đồng hóa dân tộc”; cấu kết giữa bọn phản động trong nước và ngoài nước, nhất là ở Việt Nam và Campuchia để phá hoạt sự đoàn kết, thống nhất dân tộc. 

Thứ Ba, 3 tháng 4, 2018

ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN DÂN TỘC CHĂM Ở VIỆT NAM

Người Chăm có tên tự gọi là người Chăm, tên gọi khác là Chàm, Chiêm, Chiêm Thành, Chăm Pa, Hời…; có các nhóm địa phương là Chăm hroi, Chăm pó ông, Chà và ku, Chăm Châu Đốc. Dân số Chăm hiện nay là 161.729 người, sống chủ yếu ở Ninh Thuận, Bình Thuận, Phú Yên, Bình Định, Tây Ninh, Đồng Nai, An Giang, Tp. Hồ Chí Minh.
Lịch sử người Chăm có nhiều thăng trầm, gắn với sự hình thành, phát triển, suy vong của vương quốc Chăm Pa - vương quốc được hình thành từ sự thống nhất nhiều trung tâm, với hai bộ lạc Dừa và Cau mà dấu ấn còn lưu lại trong văn hóa dân gian. Khoảng đầu Công Nguyên, từ hai bộ lạc này, vương quốc Chăm Pa cổ ra đời. Đến thế kỷ XVII, người Chăm dần trở thành một bộ phận của đại gia đình dân tộc Việt Nam.
Người Chăm sinh sống chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp lúa nước; thủ công nghiệp khá phát triển, hoạt động buôn bán có từ sớm. Người Chăm nấu cơm trong nồi đất nung, có tục ăn trầu cau. Nam nữ đều quấn váy, đàn ông mặc váy cánh ngắn xẻ ngực cài khuy, đàn bà mặc áo chui đầu màu trắng. Nhà ở truyền thống của người Chăm là đất (trệt) xây dựng theo trật tự: nhà khách, nhà của cha mẹ và các con nhỏ, nhà của các con gái đã lập gia đình, nhà bếp trong đó có kho thóc, buồng tân hôn và chỗ ở của cô gái út.
Gia đình người Chăm theo chế độ mẫu hệ, riêng vùng Hồi giáo (Islam) theo phụ hệ, nhưng tập quán mẫu hệ vẫn tồn tại khá đậm nét trong quan hệ gia đình, dòng họ, thờ cúng tổ tiên. Phụ nữ Chăm chủ động trong quan hệ luyến ái, hôn nhân cư trú ở nhà vợ, con mang họ mẹ, gia đình một vợ một chồng. Tang ma của người chăm theo lối địa táng, hỏa táng (theo tục Bàlamôn). Lễ hội Chăm lớn nhất là Bon Ka tê được tổ chức linh đình tại các đền tháp vào tháng mười âm lịch. Văn hóa dân gian Chăm nổi tiếng với trống Paranưng, kèn Karanai, các làn điệu dân vũ trong dịp lễ hội tại đền tháp. Đặc trưng nghệ thuật Chăm tập trung vào các công trình kiến trúc và điêu khắc thờ tự.
Từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, đại đa số đồng bào Chăm tin tưởng theo Đảng, Nhà nước. Năm 1975, sau khi đất nước thống nhất, đồng bào Chăm đoàn kết, thống nhất cùng các dân tộc trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Tuy nhiên, trong quá trình xâm lược, thống trị nước ta, với chính sách “chia để trị”, bè lũ thực dân, đế quốc đã tìm mọi cách nắm lấy dân tộc Chăm, thực hiện âm mưu chia rẽ dân tộc, ngăn chặn phong trào cách mạng do Đảng ta lãnh đạo. Với tài trợ từ nước ngoài, chúng dựng lên “Trung tâm văn hóa Chàm” ở Phan Rang (1971), hòng tập hợp trí thức Chăm và những người có tôn giáo, âm mưu biến một bộ phận người Chăm cực đoan này thành tay sai chống phá cách mạng. Hiện nay, vẫn còn một số đối tượng người Chăm trong các “Văn phòng Chămpa quốc tế”, “Hội Muslim Chămpa”, “Liên minh người Chăm tỵ nạn”... núp dưới hình thức hoạt động hữu ái, tương trợ, bảo tồn văn hóa để tập hợp lực lượng chờ thời cơ gây phản loạn, ly khai, chia rẽ dân tộc.

ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA DÂN TỘC THÁI Ở VIỆT NAM

Người Thái là cư dân sinh sống tập trung ở vùng chân núi thung lũng của các tỉnh miền núi Tây Bắc, gồm hai nhóm địa phương là Thái Đen và Thái Trắng. Các bản người Thái th­ường nằm ở ven đồi, chân núi, nhìn ra cánh đồng, có ít nhất một dòng suối to nhỏ tùy nơi. Những dòng suối còn đóng vai trò quan trọng trong tâm linh của người Thái.
Nhà sàn Thái có mái đầu hồi khum khum hình mai rùa, trên đỉnh đầu hồi ấy có hai vật trang trí, người Thái gọi là "Sừng cuộn" (Khau cút) vì đầu phía trên của nó thường được điêu khắc thành một vòng tròn xoáy trôn ốc, giống như ngọn rau dớn (Phắc cút), một thứ rau rừng rất được đồng bào ưa chuộng.
Văn hóa nông nghiệp trồng lúa nước ở vùng thung lũng của người Thái nổi tiếng với hệ thống tưới tiêu “phai, mương, lái, lịn”. Do chủ động tưới tiêu nên người Thái nuôi cá ngay trong ruộng lúa. Gặt lúa xong là tháo nước bắt cá. Cá nuôi trong ruộng vừa ăn sâu bọ cỏ dại, vừa sục bùn cho tốt lúa. Cho nên, món dâng cúng trong lễ cơm mới bao giờ cũng có xôi và cá nướng.
Canh tác nương rẫy là một bộ phận quan trọng trong sản xuất nông nghiệp của người Thái. Trên nương rẫy, đồng bào trồng lúa, bầu bí, rau cải, đậu, đu đủ, vừng, kê, ớt,.vv... Bông và chàm cũng trồng trên nương.
Đối với người Thái, rừng là môi trường sống, là nơi con người hái rau rừng, lấy thuốc chữa bệnh, săn bắt thú rừng và cung cấp lương thực khi thất bát mùa màng. Luật tục Thái có hàng chục điều quy định về việc khai thác rừng, săn bắn thú, đặc biệt là những quyết định về bảo vệ rừng đầu nguồn, rừng cây ban - biểu tượng văn hóa của quê hương họ.
Người Thái sống chân thật, giản dị và rất hòa thuận. Trong gia đình, trong bản, đồng bào ít to tiếng với nhau. Trẻ con có gì sai sót, người lớn chỉ nhắc nhở nhẹ nhàng. Đồng bào thường tợ giúp nhau trong sản xuất và sinh hoạt, lúc khó khăn, đói kém.
Cũng như các dân tộc trong vùng, người Thái có có tín ngưỡng "vạn vật hữu linh". Đồng bào quan niệm, con người có đến 80 hồn như hồn tóc, hồn lông mày, lông mi, tai, mũi, trán v.v... Người chết không biến mất mà trở về sống ở bản của tổ tiên. Do mọi vật đều có hồn nên cần phải cư xử với chúng như trong quan hệ với người. Có hồn tốt, hồn xấu, hồn ác, hồn lành tùy thuộc vào cách đối xử của người với chúng.
Văn hóa nghệ thuật của người Thái rất phong phú và đủ thể loại, có cả truyện thơ dài hàng ngàn câu như trường ca Tiễn dặn người yêu, có cả truyện thơ lịch sử, kể lại quá trình thiên di của họ vào Tây Bắc như bản sử thi Dõi theo bước đường chinh chiến của ông cha (Táy pú xớc) hay Lịch sử bản mường (Quán tố mướng). Ngay đến lời hát của các mo then (thầy cúng) trong lễ cúng người ốm cũng là một áng du kí ca đầy hình tượng đẹp được diễn tả bằng văn phong trau chuốt. "Xòe" là đặc sản nghệ thuật múa Thái và trở thành biểu tượng văn hóa Tây Bắc. Người Thái có Xòe vòng quanh đốm lửa, quanh hũ rượu cần với sự tham gia đông đảo của già trẻ, gái trai trong tiếng chiêng trống rộn ràng. Nhưng cũng có Xòe điệu của người Thái Trắng ven sông Đà suốt từ vùng Ngọc Chiến, Quỳnh Nhai lên đến Lai Châu, Phong Thổ. Tương truyền, người Thái có đến 32 điệu xòe do các cô thanh nữ múa. 

ĐẶC ĐIỂM VÙNG DÂN TỘC TÂY NAM BỘ Ở VIỆT NAM

Đặc điểm về địa lý và dân số. Tây Nam Bộ là một bộ phận của châu thổ sông Cửu Long, phía Bắc giáp Campuchia, phía Tây Nam là vịnh Thái Lan, phía Đông Nam là Biển Đông; diện tích tự nhiên là 40.548,2 km², gồm 13 tỉnh, thành: Cần Thơ, Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh Long, Hậu Giang, Trà Vinh, An Giang, Kiên Giang, Bạc Liêu, Cà Mau, Sóc Trăng, Đồng Tháp. Năm 2011, dân số vùng dân tộc Tây Nam Bộ là 17,33 triệu người, đa số là người Kinh, còn lại là các dân tộc: Khơ-me, Hoa, Chăm. Khu vực này từng là vùng tập trung lớn nhất của người Khơ-me ở ngoài Campuchia, gọi là Khơ-me Crôm (người Khơ-me ở vùng dưới). Đồng bào Khơ-me cư trú chủ yếu ở Trà Vinh, Sóc Trăng; người Chăm theo đạo Hồi sống ở Tân Châu, An Giang; người Hoa sống ở Kiên Giang và Trà Vinh.
Đặc điểm về lịch sử, văn hóa - xã hội. Người Kinh là những lưu dân từ Bắc và Bắc Trung Bộ đã vượt biển theo chúa Nguyễn đến khai khẩn vùng đất Nam Bộ từ thế kỷ XVII. Năm 1698, chính quyền chúa Nguyễn đến Nam Bộ, xác lập cơ cấu hành chính quản lý vùng đất cực Nam. Những thế hệ cư dân người Việt đã đến Tây Nam Bộ khai khẩn đất đai, tạo lập xóm ấp theo mô hình làng xóm ở Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ. Họ còn tạo nên một đời sống văn hóa phong phú nhưng có những nét riêng ở Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long. Người Khơ-me có mặt khá sớm, nhiều chùa của người Khơ-me ở Trà Vinh, Sóc Trăng được xây dựng từ 4-5 thế kỷ trước.
Vào thế kỷ XVII, người Hoa cũng dần di cư đến miền Nam Việt Nam, sinh sống ở Tây Nam Bộ. Những người Trung Hoa ban đầu đến Nam Bộ với tư cách kiều dân, dần dần định cư, tham dự vào công cuộc khẩn hoang, hội nhập vào cộng đồng cư dân và trở thành công dân Việt Nam. Người Chăm, cư trú tập trung ở một số huyện, thị là: Châu Phú, Tân Châu, Châu Đốc tỉnh An Giang, đầu nguồn sông Hậu. Đầu thế kỷ XVIII, một số người Chăm từ Campuchia theo sông Hậu vào định cư ở Châu Đốc.
Hơn ba thế kỷ qua, các cộng đồng cư dân cùng cộng cư ở vùng Tây Nam Bộ, khẳng định sức sống mãnh liệt của đồng bào trên vùng đất Tây Nam của Tổ quốc. Các dân tộc đoàn kết, giúp đỡ nhau xây dựng cuộc sống, kiến tạo nhiều nét văn hóa phong phú, đặc biệt đã góp phần gìn giữ đất nước trước các cuộc xâm lấn, nô dịch của ngoại bang.

Thứ Ba, 27 tháng 3, 2018

ĐẶC ĐIỂM CỦA VÙNG DÂN TỘC TÂY NGUYÊN Ở VIỆT NAM

Đặc điểm về địa lý và dân số. Tây Nguyên gồm 5 tỉnh: Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc, Đắc Nông, Lâm Đồng; diện tích tự nhiên trên 56.000 km2, chiếm 17% tổng diện tích cả nước; địa bàn cư trú của trên 40 dân tộc, trong đó có 12 dân tộc tại chỗ thuộc hai nhóm ngôn ngữ Môn - Khơme và Nam Đảo. Trước năm 1945, dân số các dân tộc tại chỗ Tây Nguyên có hơn 300.000 người, sau tăng nhanh do các đợt di cư lớn từ đồng bằng lên, từ phía Bắc vào. Các dân tộc tại chỗ Tây Nguyên thường sống khá tập trung, khu vực cư trú được phân chia khá rõ. Đa số người Gia-rai sống ở Gia Lai (trên 90%); người Ê-đê tập trung ở Đắc Lắc; người Mnông ở Đắc Nông; người Mạ, Chu-ru ở Lâm Đồng; người Giẻ - Triêng ở Kon Tum. Hiện nay, dân tộc Kinh chiếm 70% dân số Tây Nguyên, dân tộc thiểu số chiếm 30%. Các dân tộc cơ bản có quan hệ đoàn kết, bình đẳng, tương trợ lẫn nhau.
Đặc điểm về lịch sử - chính trị. Trước đây, vùng Tây Nguyên thường có nhiều biến động trong nhiều thế kỷ do xung đột giữa các bộ tộc, tập đoàn phong kiến của người Việt, Chăm, Lào, Xiêm. Sau này, Tây Nguyên chịu hậu quả nặng nề bởi chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Chính sách cai trị, sự đồng hóa các dân tộc ở Tây Nguyên của các triều đại phong kiến, thế lực thực dân, đế quốc và tay sai để lại những hậu quả chính trị - xã hội khá nặng nề. Trong chiến tranh giải phóng dân tộc, các dân tộc Tây Nguyên luôn một lòng đi theo Đảng. Hiện nay, các dân tộc ở Tây Nguyên cùng đoàn kết tương trợ dưới sự lãnh đạo của Đảng, xây dựng khối đoàn kết toàn dân tộc. Song gần đây, việc di dân tự do, tình hình tôn giáo, dân tộc ở Tây Nguyên có một số diễn biến phức tạp.
Đặc điểm về kinh tế. Trình độ phát triển kinh tế các dân tộc thiểu số Tây Nguyên còn thấp, không đồng đều; kinh tế hàng hóa chưa phát triển rộng khắp. Đồng bào sống chủ yếu bằng nông nghiệp nương rẫy, chăn nuôi gia súc, gia cầm, sản xuất phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên. Một bộ phận nhân dân đã canh tác thuần thục cây công nghiệp (cà phê, cao su, hồ tiêu). Hiện nay, đời sống của đồng bào đã được cải thiện cả về vật chất, tinh thần. Song một bộ phận đời sống còn nhiều khó khăn, chênh lệch giàu nghèo giữa người Kinh với người dân tộc thiểu số còn lớn.
Về văn hóa - xã hội. Tổ chức xã hội các dân tộc thiểu số Tây Nguyên mang nhiều tàn tích của xã hội sơ khai. Buôn làng là cơ sở xã hội phổ biến. Thiết chế xã hội cơ bản vẫn dựa trên luật tục, lễ thức truyền thống. Một số dân tộc như Gia-rai, Ê-đê, Mnông, Xơ-đăng, Giẻ-Triêng còn duy trì chế độ mẫu hệ; vai trò của già làng, trưởng buôn, trưởng dòng họ có vị trí đặc biệt quan trọng trong đời sống cộng đồng. Văn hóa các dân tộc Tây Nguyên đang được nhà nước quan tâm bảo tồn, vẫn giữ được những nét độc đáo. Nền văn nghệ dân gian truyền miệng phong phú, tiêu biểu là trường ca Đam San; dàn công chiêng, đàn đá, các điệu múa dân gian.
Đặc điểm về tôn giáo, tín ngưỡng và lễ hội. Đồng bào thiểu số Tây Nguyên có tín ngưỡng truyền thống với quan niệm vạn vật hữu linh và một số hình thái tôn giáo khác. Lễ tục tâm linh tiêu biểu là: Lễ bỏ mả, lễ tục đâm trâu mừng hội mùa, mừng chiến thắng... Trong quá trình thống trị Tây Nguyên, bọn thực dân, đế quốc đã đưa Công giáo vào vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Vấn đề tôn giáo nổi cộm hiện nay là hoạt động của Tin Lành Đê Ga - tổ chức chính trị phản động của một số đối tượng FULRO cũ, được Mỹ nuôi dưỡng, chỉ đạo để phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc, gây mất ổn định ở Tây Nguyên.
Hiện nay, dù đã đạt được nhiều tiến bộ trong phát triển kinh tế - xã hội, ở Tây Nguyên vẫn còn nổi lên một số vấn đề cần giải quyết: sự gia tăng dân số nhanh, sự phân hóa giàu nghèo, tàn phá tài nguyên thiên nhiên; sự phát triển chưa tương xứng với tiềm năng; chưa có chính sách tổng thể nhằm giải quyết toàn diện vùng dân tộc thiểu số Tây Nguyên...