Hiển thị các bài đăng có nhãn xây dựng. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn xây dựng. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 4 tháng 3, 2024

CHÍNH SÁCH XÂY DỰNG, PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ CÁN BỘ NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở VIỆT NAM GỒM NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN NÀO?

Tăng cường xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số đi đôi với củng cố, xây dựng hệ thống chính trị các cấp ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi, nhất là cấp cơ sở. Cán bộ người dân tộc thiểu số có năng lực và đủ tiêu chuẩn phù hợp quy định của pháp luật, được bổ nhiệm vào các chức danh cán bộ chủ chốt, cán bộ quản lý các cấp. Ở các địa phương vùng dân tộc thiểu số, nhất thiết phải có cán bộ chủ chốt người dân tộc thiểu số. Đảm bảo tỷ lệ hợp lý cán bộ người dân tộc thiểu số, ưu tiên cán bộ nữ, cán bộ trẻ tham gia vào các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị các cấp.

Thực hiện tốt công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng, đãi ngộ cán bộ là người dân tộc thiểu số nhằm hình thành đội ngũ cán bộ lãnh đạo là người dân tộc thiểu số có năng lực, trình độ, trí tuệ, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong thời kỳ mới; xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số cho từng vùng, từng dân tộc. Ưu tiên đào tạo, bồi dưỡng cán bộ người dân tộc, nâng cao chất lượng cán bộ, nhất là cán bộ lãnh đạo ở các cấp chính quyền, cán bộ quản lý kinh tế. Có chính sách đặc thù trong tuyển dụng, sử dụng, ưu tiên giải quyết việc làm cho học sinh, sinh viên dân tộc thiểu số sau khi tốt nghiệp. Chú trọng bồi dưỡng, tạo nguồn cán bộ, chiến sĩ là người dân tộc thiểu số trong lực lượng vũ trang gắn với tạo nguồn cán bộ cho cơ sở vùng dân tộc thiểu số.

Sắp xếp lại mục tiêu đào tạo của hệ thống các trường đại học, trường dạy nghề ở miền núi phía Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ để tăng cường đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ và nguồn nhân lực người dân tộc thiểu số. Xây dựng Học viện Dân tộc chuyên đào lạo đội ngũ trí thức, cán bộ vùng dân tộc thiểu số, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Coi trọng việc bồi dưỡng, đào tạo thanh niên sau khi hoàn thành nghĩa vụ quân sự làm nguồn cán bộ bổ sung cho cơ sở.

Bổ sung, sửa đổi tiêu chuẩn tuyển dụng, bổ nhiệm và các cơ chế, chính sách đãi ngộ cán bộ công tác ở vùng dân tộc và miền núi, nhất là những cán bộ công tác lâu năm ở miền núi, vùng cao. Trong những năm trước mắt, cần tăng cường lực lượng cán bộ có năng lực, phẩm chất tốt, trí thức trẻ đến công tác ở vùng dân tộc và miền núi, những nơi xung yếu về quốc phòng, an ninh. 

Thứ Hai, 19 tháng 2, 2024

XÂY DỰNG BỘ MÁY TỔ CHỨC, ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHUYÊN TRÁCH VÀ MÔ HÌNH, PHƯƠNG THỨC, BIỆN PHÁP, CƠ CHẾ ĐẤU TRANH PHÙ HỢP SẼ GÓP PHẦN LÀM THẤT BẠI ÂM MƯU CHỐNG PHÁ CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH, PHẢN ĐỘNG

Trong quá trình đấu tranh trên mặt trận tư tưởng lý luận, về mặt tổ chức lực lượng, cơ chế, biện pháp đấu tranh đã bước đầu phát huy hiệu quả. Tuy nhiên, tính thiết thực, tính chiến đấu, tính khoa học của các công trình phản bác, phê phán luận điểm sai trái, thù địch chưa thật thuyết phục. Mô hình tổ chức bộ máy các Ban Chỉ đạo 35 chưa phát huy hết hiệu lực, hiệu quả, thậm chí chồng chéo; việc trao đổi, chia sẻ thông tin, tài liệu còn nhiều bất cập. Vì vậy, cần tiếp tục rà soát, nghiên cứu, sắp xếp kiện toàn bộ máy chỉ đạo, mô hình và cơ chế phương thức lãnh đạo cuộc đấu tranh phù hợp, hiệu quả và thiết thực hơn. Đặc biệt, không nên coi nặng về số lượng công trình, bài viết, cá nhân, đơn vị tổ chức đấu tranh phản bác mà quan trọng hơn là tìm cơ chế, biện pháp, hình thức tổ chức đấu tranh, tuyên truyền phù hợp, tập trung lực lượng mũi nhọn đấu tranh trong từng thời điểm, với từng loại đối tượng, từng vấn đề cụ thể, không để dàn trải, chồng chéo, trùng dẫm, thậm chí trái chiều nhau. Nghiên cứu ban hành quy định phổ biến, tuyên truyền công khai, rộng rãi các công trình nghiên cứu, bài viết phản bác có chất lượng, hàm lượng khoa học cao, sắc sảo, thuyết phục về lý luận và thực tiễn; mang tính hệ thống, toàn diện về mặt học thuật...

Trong quá trình tổ chức cuộc đấu tranh phải hết sức quan tâm chăm lo lựa chọn, bồi dưỡng, đào tạo, xây dựng đội ngũ cán bộ lý luận chuyên nghiệp hoặc kiêm nhiệm có đủ bản lĩnh chính trị, năng lực, trình độ, tâm huyết tham gia cuộc đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng- lý luận. Đây là nguồn lực quan trọng bảo đảm tính chiến đấu, tính Đảng, tính khoa học, tính thuyết phục của cuộc đấu tranh này trên cả bình diện vĩ mô và vi mô. Bên cạnh đó, phải chú trọng phát huy cao độ lợi thế, tính chiến đấu của các công cụ thông tin, truyền thông hiện đại của Đảng, Nhà nước và các cơ quan ban, ngành, địa phương, bảo đảm tính kịp thời, đồng bộ, thiết thực, hiệu quả và tính lan tỏa xã hội./. 

Thứ Sáu, 5 tháng 1, 2024

ĐẤU TRANH TƯ TƯỞNG, LÝ LUẬN HIỆN NAY LÀ PHẢI TĂNG CƯỜNG XÂY DỰNG, CHỈNH ĐỐN ĐẢNG, XÂY DỰNG HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ TRONG SẠCH, VỮNG MẠNH TOÀN DIỆN.

Về bản chất, Đảng Cộng sản Việt Nam là đại diện cho lợi ích của giai cấp công nhân và toàn thể nhân dân lao động. Vì thế, “mọi đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật và hoạt động của Nhà nước đều vì lợi ích của nhân dân, lấy hạnh phúc của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu”(4). Tuy nhiên, đối với bất cứ một đảng cầm quyền nào, nhất là trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay, nguy cơ tham nhũng, quan liêu, thoái hóa... luôn hiện hữu. Do vậy, để giữ vững bản chất, uy tín và năng lực lãnh đạo, Đảng “phải thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn, đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội, chủ nghĩa cá nhân, chống tham nhũng, quan liêu, lãng phí, thoái hóa... trong nội bộ Đảng và trong toàn bộ hệ thống chính trị”(5). Cán bộ, đảng viên cần phát huy tinh thần nêu gương, nâng cao trách nhiệm, kiên quyết chống mọi biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, những biểu hiện bè phái, cục bộ, cá nhân chủ nghĩa... Đây chính là “giặc nội xâm” cực kỳ nguy hại, nếu không chống sẽ làm suy giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng.

Cùng với việc chống giặc “nội xâm”, để bảo đảm “sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản là nhân tố quyết định thắng lợi của công cuộc đổi mới và bảo đảm cho đất nước phát triển theo đúng định hướng xã hội chủ nghĩa”(6), chúng ta cần kiên quyết đấu tranh chống những tư tưởng sai trái, thù địch đòi “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập”, tập trung xây dựng “một hệ thống chính trị mà quyền lực thực sự thuộc về nhân dân, do nhân dân và phục vụ lợi ích của nhân dân, chứ không phải chỉ cho một thiểu số giàu có”(7). Đây chính là cơ sở để giữ vững niềm tin và tạo sự ủng hộ của nhân dân, góp phần củng cố vững chắc vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam với tư cách là một đảng duy nhất cầm quyền. Bởi vậy, từ thực tế “tình trạng tham nhũng, lãng phí, suy thoái về tư tưởng chính trị và đạo đức, lối sống vẫn diễn ra trong một bộ phận cán bộ, đảng viên”(8), Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng phải được coi là “nhiệm vụ then chốt, có ý nghĩa sống còn đối với Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa”./. 

Thứ Năm, 16 tháng 2, 2023

XÂY DỰNG “LÁ CHẮN” TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG

Ngày càng có nhiều người sử dụng internet, nhất là trẻ em, là nạn nhân của các hành vi phạm tội trên không gian mạng. Tội phạm trên mạng diễn ra ngày càng phức tạp ở hàng loạt quốc gia từ châu Á, châu Phi đến châu Âu, trở thành một thách thức không thể coi nhẹ đối với sự phát triển kinh tế-xã hội trong thời đại mới.

Trung tâm Bảo vệ trẻ em trên mạng (COPB) thuộc Bộ An ninh quốc gia Israel vừa gióng lên hồi chuông báo động về số lượng vụ tội phạm mạng xảy ra với đối tượng là trẻ em. Theo đó, trong năm 2022, đường dây nóng của trung tâm này đã xử lý hơn 8.100 sự vụ trên không gian mạng mà nạn nhân chủ yếu là trẻ em. Cụ thể, có 31% số sự vụ liên quan đến tấn công tình dục, 15% số vụ liên quan đến nguy cơ tự tử và đe dọa tính mạng, 14% số vụ là về dọa nạt tinh thần trên internet.

Trong thời đại công nghệ phát triển, trẻ em tiếp cận internet từ khá sớm nhưng thực tế cho thấy, những “tấm lá chắn” để bảo vệ trẻ em trên không gian mạng phức tạp và đầy rẫy nguy hiểm này lại chưa được xây dựng hiệu quả. Theo một khảo sát, hầu hết trẻ em tại các nước thuộc Liên minh châu Âu (EU) sử dụng điện thoại thông minh hằng ngày, cao gấp hai lần so với cách đây 10 năm và bắt đầu từ độ tuổi nhỏ hơn so với trước kia.

Trong khi đó, cơ quan thực thi pháp luật Mỹ thông báo, trong năm 2022 có hơn 7.000 báo cáo về việc trẻ em và thanh thiếu niên bị tống tiền. Nhiều vụ tống tiền xảy ra trên các ứng dụng trò chuyện và trò chơi điện tử trực tuyến. Cơ quan chức năng cho rằng, sự xấu hổ và sợ hãi đã khiến các nạn nhân không tìm kiếm sự trợ giúp từ gia đình.

Công ty giải pháp an ninh mạng CybergymIEC của Israel nhận định, năm 2022 được coi là “năm của tin tặc” với số vụ tấn công mạng tăng nhanh trên khắp thế giới. Chỉ riêng trong sáu tháng đầu năm 2022, các cuộc tấn công mạng trên toàn cầu đã tăng 42% so với cùng kỳ năm trước đó. Y tế đứng đầu danh sách những lĩnh vực thường xuyên bị tấn công mạng.

Không chỉ các cá nhân mà nhiều tổ chức cũng là nạn nhân của tội phạm mạng thời gian qua. Công ty an ninh mạng Kaspersky cho biết, trong năm 2022, có tới 47% số máy tính của các hệ thống điều khiển công nghiệp ở châu Phi đã bị tấn công bằng phần mềm độc hại, cao hơn so với tỷ lệ 40% ở cấp độ toàn cầu. Trong đó, Ethiopia, Algeria, Burundi là những quốc gia thường xuyên hứng chịu hình thái tấn công mạng này.

Còn tại châu Âu, cảnh sát khu vực mới đây đã bắt giữ 42 người, thu được nhiều khẩu súng, ma túy và tiền mặt, sau một chiến dịch nhằm vào dịch vụ tin nhắn trực tuyến mã hóa có tên là Exclu Messenger được các băng nhóm tội phạm sử dụng. Italia gần đây cũng cho biết, hàng nghìn máy chủ trên khắp thế giới đã bị tấn công bằng mã độc tống tiền và khuyến cáo các cơ quan của nước này tiến hành biện pháp bảo vệ các hệ thống máy tính của mình.

Đại dịch Covid-19 đã mở đường cho sự bùng nổ của nền kinh tế kỹ thuật số trên toàn cầu, song kéo theo đó là hàng loạt hình thức tội phạm mạng gia tăng về mức độ, tần suất, như tấn công đòi tiền chuộc, phá hoại cơ sở hạ tầng thiết yếu, đánh cắp tiền kỹ thuật số… Công ty giải pháp an ninh mạng CybergymIEC của Israel nhận định, năm 2022 được coi là “năm của tin tặc” với số vụ tấn công mạng tăng nhanh trên khắp thế giới. Chỉ riêng trong sáu tháng đầu năm 2022, các cuộc tấn công mạng trên toàn cầu đã tăng 42% so với cùng kỳ năm trước đó. Y tế đứng đầu danh sách những lĩnh vực thường xuyên bị tấn công mạng.

Việc nâng cao nhận thức cho cả người lớn và trẻ em về sử dụng internet một cách thông minh, an toàn, có trách nhiệm, cũng như nỗ lực đấu tranh phòng chống các hành vi xâm phạm trẻ em là “tấm lá chắn” hữu hiệu để bảo vệ người dùng trên không gian mạng. Trong bối cảnh các sự cố mạng xảy ra thường xuyên hơn và gây thiệt hại lớn, các công ty, tổ chức… càng cần chú trọng đào tạo để bảo đảm nhân viên được trang bị những kỹ năng và kiến thức cần thiết về an ninh mạng.

Theo: Nam Anh

Thứ Năm, 1 tháng 12, 2022

XÂY DỰNG CHUẨN MỰC ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG CHO CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN TRONG TÌNH HÌNH MỚI

Hiện nay, đất nước đang bước vào thời kỳ mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế sâu, rộng. Tình hình mới đặt ra rất nhiều yêu cầu mới về chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên.

Đã vậy, thực tế công tác xây dựng Đảng cho thấy còn “Một bộ phận cán bộ, đảng viên phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí, ngại khó, ngại khổ, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa””(1). Tình hình này đặt ra cho chúng ta nhiệm vụ phải từng bước xây dựng được chuẩn mực đạo đức cách mạng và chuẩn mực ứng xử đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên.

Theo từ điển Tiếng Việt, chuẩn là “cái được chọn làm căn cứ để đối chiếu, để hướng theo đó mà làm cho đúng”, chuẩn mực là “chuẩn”(2). Chuẩn mực khác với nguyên tắc - “là điều cơ bản định ra, nhất thiết phải tuân theo trong một loạt việc làm”, hoặc nên tránh, không nên làm(3). Chuẩn mực cũng khác với quy tắc - “là những điều quy định mọi người phải tuân theo trong một hoạt động chung nào đó”(4).

Có thể hiểu chuẩn mực đạo đức cách mạng là những tiêu chuẩn đạo đức cách mạng và những tiêu chuẩn ứng xử đạo đức cách mạng có tính khuôn mẫu, mực thước được toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta công nhận dùng làm căn cứ, cơ sở để đánh giá và điều chỉnh hành vi ứng xử của cán bộ, đảng viên, là căn cứ để xác định việc nên làm và việc không nên làm, giúp cán bộ, đảng viên với tư cách chủ thể đạo đức có căn cứ, cơ sở điều chỉnh hành vi ứng xử đạo đức của mình hướng tới chân - thiện - mỹ và phục vụ sự nghiệp cách mạng của Đảng. Khi còn sống, Chủ tịch Hồ Chí Minh dùng khái niệm tư cách đạo đức của cán bộ, đảng viên - về thực chất cũng là chuẩn mực đạo đức của cán bộ, đảng viên.

Chúng tôi cho rằng, những chuẩn mực đạo đức cách mạng mà Hồ Chủ tịch xây dựng vẫn còn nguyên giá trị trong giai đoạn hiện nay. Do vậy, xây dựng chuẩn mực đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên cũng là xây dựng những chuẩn mực đạo đức cách mạng theo tư tưởng Hồ Chí Minh. Đó là:

1. Trung với Tổ quốc, hiếu với nhân dân. Trung với Tổ quốc và hiếu với nhân dân là những chuẩn mực đạo đức đầu tiên cao nhất của người cán bộ cách mạng. Tuy nhiên: “ngày xưa trung là trung với vua. Hiếu là hiếu với cha mẹ mình thôi”; còn ngày nay, “trung là trung với Tổ quốc, hiếu là hiếu với nhân dân”(5). Trung với Tổ quốc là trung thành với lợi ích của Tổ quốc, của dân tộc, của Ðảng, với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam, trung thành với đường lối đổi mới của Đảng. Tiêu chuẩn này cũng đòi hỏi cán bộ, đảng viên phải quán triệt tinh thần “lợi ích của cá nhân nhất định phải phục tùng lợi ích của Đảng... Nghĩa là phải đặt lợi ích của Đảng lên trên hết, lên trước hết. Vì lợi ích của Đảng tức là lợi ích của dân tộc, của Tổ quốc.

Vô luận lúc nào, vô luận việc gì, đảng viên và cán bộ phải đặt lợi ích của Đảng ra trước, lợi ích của cá nhân lại sau”(6).

Hiếu với dân là không chỉ yêu thương cha mẹ mình, “mà còn phải thương cha mẹ người, phải cho mọi người đều biết thương cha mẹ”(7). Trung, Hiếu trong chuẩn mực đạo đức cách mạng gắn bó mật thiết với nhau và nhằm phục vụ mục tiêu độc lập dân tộc, hạnh phúc cho nhân dân.

2. Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư.

Cần, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh “là siêng năng, chăm chỉ, cố gắng dẻo dai”(8); “Cần không phải là làm xổi. Nếu làm cố chết cố sống trong một ngày, một tuần, hay một tháng, đến nỗi sinh ốm đau, phải bỏ việc. Như vậy không phải là cần. Cần là luôn luôn cố gắng, luôn luôn chăm chỉ, cả năm cả đời. Nhưng không làm quá trớn. Phải biết nuôi dưỡng tinh thần và lực lượng của mình, để làm việc cho lâu dài”(9). Tuy nhiên, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng yêu cầu Cần phải gắn với kế hoạch, nghĩa là phải tính toán cẩn thận, sắp đặt gọn gàng khi làm việc thì Cần mới có hiệu quả, lười biếng là kẻ thù to nhất của Cần. Người căn dặn: “Công việc bất kỳ to nhỏ, đều có điều nên làm trước, điều nên làm sau. Nếu không có kế hoạch, điều nên làm trước mà để lại sau, điều nên làm sau mà đưa làm trước, như thế thì sẽ hao tổn thì giờ, mất công nhiều mà kết quả ít”(10). Như vậy thì Cần cũng vô nghĩa. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng yêu cầu “Cần và chuyên phải đi đôi với nhau. Chuyên nghĩa là dẻo dai, bền bỉ. Nếu không chuyên, nếu một ngày cần mà mười ngày không cần, thì cũng vô ích”(11).

Kiệm, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh “Là tiết kiệm, không xa xỉ, không hoang phí, không bừa bãi. CẦN với KIỆM, phải đi đôi với nhau, như hai chân của con người.

CẦN mà không KIỆM, “thì làm chừng nào xào chừng ấy”. Cũng như một cái thùng không có đáy; nước đổ vào chừng nào, chảy ra hết chừng ấy, không lại hoàn không.

KIỆM mà không CẦN, thì không tăng thêm, không phát triển được. Mà vật gì đã không tiến tức phải thoái. Cũng như cái thùng chỉ đựng một ít nước, không tiếp tục đổ thêm vào, lâu ngày chắc nước đó sẽ hao bớt dần, cho đến khi khô kiệt”(12). Kiệm đòi hỏi không chỉ tiết kiệm của cải, tiền bạc, nguyên vật liệu mà còn phải tiết kiệm cả thời giờ, tiết kiệm sức dân, sức người. “Thời giờ cũng cần phải tiết kiệm như của cải.

Của cải nếu hết, còn có thể làm thêm. Khi thời giờ đã qua rồi, không bao giờ kéo nó trở lại được...

Muốn tiết kiệm thời giờ, thì việc gì ta cũng phải làm cho nhanh chóng, mau lẹ. Không nên chậm rãi. Không nên “nay lần mai lữa”.

Tiết kiệm thời giờ là Kiệm, và cũng là Cần”(13).

Nhưng để Kiệm có kết quả thì phải khéo tổ chức công việc. Điều cần lưu ý là điểm mới trong quan niệm về Kiệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh là “Tiết kiệm không phải là bủn xỉn.

Khi không nên tiêu xài thì một đồng xu cũng không nên tiêu. Khi có việc đáng làm, việc ích lợi cho đồng bào, cho Tổ quốc, thì dù bao nhiêu công, tốn bao nhiêu của, cũng vui lòng. Như thế mới đúng là kiệm.

Việc đáng tiêu mà không tiêu, là bủn xỉn, chứ không phải là kiệm.

Tiết kiệm phải kiên quyết không xa xỉ”(14).

Liêm, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh “là trong sạch, không tham lam”(15). “Chữ LIÊM phải đi đôi với chữ KIỆM. Cũng như chữ KIỆM phải đi đôi với chữ CẦN.

Có KIỆM mới LIÊM được. Vì xa xỉ mà sinh tham lam.

Tham tiền của, tham địa vị, tham danh tiếng, tham ăn ngon, sống yên đều là BẤT LIÊM.

Người cán bộ, cậy quyền thế mà đục khoét dân, ăn của đút, hoặc trộm của công làm của tư”(16), người buôn gian, bán lậu, người nhân lúc khó khăn mà bắt chẹt dân,v.v. đều là bất liêm. Người “Gặp việc phải, mà sợ khó nhọc nguy hiểm, không dám làm, là tham vật úy lạo. Gặp giặc mà rút ra, không dám đánh là tham sinh úy tử. Đều làm trái với chữ LIÊM”(17). Do vậy, cán bộ chẳng những phải thực hành CẦN, KIỆM mà còn phải thực hành chữ LIÊM trước để làm kiểu mẫu cho dân.

Chính, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh “là không tà, nghĩa là thẳng thắn, đứng đắn. Điều gì không đứng đắn, thẳng thắn, tức là tà.

CẦN, KIỆM, LIÊM, là gốc rễ của CHÍNH. Nhưng một cây cần có gốc rễ, lại cần có ngành, lá, hoa, quả mới là hoàn toàn. Một người phải Cần, Kiệm, Liêm, nhưng còn phải CHÍNH mới là người hoàn toàn...

Làm việc CHÍNH, là người THIỆN.

Làm việc TÀ, là người ÁC.

Siêng năng (cần), tần tiện (kiệm), trong sạch (liêm), CHÍNH là THIỆN.

Lười biếng, xa xỉ, tham lam, là tà, là ác”(18).

Chí công vô tư, là làm bất cứ việc gì cũng phải nghĩ về Tổ quốc, Dân tộc, Đảng trước hết. Người cán bộ, đảng viên “Đem lòng chí công vô tư mà đối với người, đối với việc”(19). Nếu “Lòng mình chỉ biết vì Đảng, vì Tổ quốc, vì đồng bào thì mình sẽ tiến đến chỗ chí công vô tư. Mình đã chí công vô tư thì khuyết điểm sẽ càng ngày càng ít, mà những tính tốt... ngày càng thêm”(20). Những tính tốt ấy là Nhân, Nghĩa, Trí, Dũng, Liêm.

Với chuẩn mực ứng xử của người cán bộ, đảng viên, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu:

1) Đối với mình, không được tự kiêu, tự đại; luôn luôn cầu tiến bộ; luôn luôn tự kiểm điểm, tự phê bình; “Tự mình phải chính trước, mới giúp được người khác chính. Mình không chính, mà muốn người khác chính là vô lý”(21). “Nếu chính mình tham ô bảo người ta liêm khiết có được không? Không được. Mình trước hết phải siêng năng, trong sạch thì mới bảo người ta trong sạch, siêng năng được”(22).

2) Đối với người, “Chớ nịnh hót người trên. Chớ xem khinh người dưới. Thái độ phải chân thành, khiêm tốn, phải thật thà đoàn kết. Phải học người và giúp người tiến tới. Phải thực hành chữ Bác-Ái”(23).

3) Đối với việc, “Phải để công việc nước lên trên, trước việc tư, việc nhà.

Đã phụ trách việc gì, thì quyết làm cho kỳ được, cho đến nơi, đến chốn, không sợ khó nhọc, không sợ nguy hiểm. Bất kỳ việc to, việc nhỏ, phải có sáng kiến, phải có kế hoạch, phải cẩn thận, phải quyết làm cho thành công. Việc thiện thì dù nhỏ mấy cũng làm. Việc ác thì dù nhỏ mấy cũng tránh. Việc gì dù lợi cho mình, phải xét nó có lợi cho nước không? Nếu không có lợi, mà có hại cho nước thì quyết không làm.

Mỗi ngày cố làm một việc lợi cho nước (lợi cho nước tức là lợi cho mình), dù là việc nhỏ”(24). Như vậy, người cán bộ, đảng viên luôn phải đặt lợi ích của Tổ quốc, dân tộc, của Đảng lên trên hết.

Để xây dựng được những chuẩn mực đạo đức này cho cán bộ, đảng viên cần thực hiện các giải pháp cơ bản sau:

Mỗi cán bộ, đảng viên căn cứ vào vị trí, chức năng nhiệm vụ cụ thể của mình phải cụ thể hóa được các tiêu chí trung với nước, hiếu với dân, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư và thái độ ứng xử với mình, với người và với việc cho phù hợp.

Phát huy vai trò của nhân dân, trong xây dựng chuẩn mực đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên. Bởi lẽ, đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn “so với số nhân dân thì số đảng viên chỉ là tối thiểu, hàng trăm người dân mới có một người đảng viên. Nếu không có nhân dân giúp sức, thì Đảng không làm được việc gì hết… Rời xa dân chúng là cô độc. Cô độc thì nhất định thất bại”(25). Hơn nữa, nếu chúng ta lôi cuốn được nhân dân tham gia kiểm tra, giám sát, phòng, chống những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên thì việc xây dựng chuẩn mực đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên sẽ hiệu quả hơn.

Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng với chủ trương “Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện các quy định, quy chế nhằm giữ nghiêm kỷ luật, kỷ cương, nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát”(26) và bảo đảm đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên.

Phát huy tinh thần tích cực, chủ động và thực hiện nghiêm túc quy định của Đảng về trách nhiệm nêu gương, chức vụ càng cao càng phải gương mẫu, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương trong xây dựng chuẩn mực đạo đức cách mạng. Mỗi đảng viên tự giác nêu gương để khẳng định vai trò tiên phong, gương mẫu, tạo sự lan tỏa những tấm gương sáng về đạo đức cách mạng. Đồng thời, tăng cường đấu tranh chống các quan điểm, hành vi phản đạo đức, phi đạo đức. Cổ vũ, biểu dương các gương sáng đạo đức tạo ảnh hưởng sâu, rộng trong Đảng và ngoài xã hội. Thực hiện tốt các giải pháp này sẽ từng bước xây dựng được chuẩn mực đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên.

GS, TS TRẦN VĂN PHÒNG

Thứ Ba, 6 tháng 9, 2022

MỘT SỐ KHÓ KHĂN, THÁCH THỨC TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Cùng với những thuận lợi, thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam hiện nay cũng đang đứng trước nhiều khó khăn, thách thức. Đảng ta đánh giá: “Tình hình thế giới và trong nước có cả thuận lợi, thời cơ và khó khăn, thách thức đan xen, đặt ra nhiều vấn đề mới, yêu cầu mới nặng nề, phức tạp hơn đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Trước hết, nước ta quá độ đi lên CNXH có xuất phát điểm thấp, từ một nước thuộc địa nửa phong kiến, một xã hội nông nghiệp lạc hậu, chưa trải qua thời kỳ tư bản chủ nghĩa nên hầu như chưa có những tiền đề cơ bản cho sự ra đời của CNXH; tình hình kinh tế - xã hội còn nhiều khó khăn, thiếu thốn, lực lượng sản xuất rất thấp; có không ít tàn dư của chế độ thực dân, phong kiến để lại. Thêm vào đó, mấy chục năm kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ và chiến tranh biên giới đã để lại hậu quả nặng nề cho đất nước, còn ảnh hưởng lâu dài về sau.

Nước ta vẫn đang đối mặt với những nguy cơ, thách thức: “Bốn nguy cơ mà Đảng ta đã chỉ ra còn tồn tại, có mặt còn gay gắt hơn. Nguy cơ tụt hậu, rơi vào bẫy thu nhập trung bình còn lớn. Có biểu hiện chưa quan tâm đúng mức bảo đảm phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa; phát triển văn hoá, bảo đảm phúc lợi xã hội, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội trong phát triển kinh tế thị trường; chưa bảo đảm phát triển tổng thể, đồng bộ các vùng, miền, địa phương theo lợi thế so sánh và phát huy điều kiện kinh tế - xã hội đặc thù”. Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng đạt một số kết quả tích cực nhưng còn những vấn đề đặt ra. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng chỉ rõ: “Tham nhũng, lãng phí, quan liêu, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ cũng như những mâu thuẫn xã hội còn diễn biến phức tạp”. Điều đó đã làm giảm sút niềm tin của một bộ phận nhân dân vào Đảng và Nhà nước và chính quyền các cấp. Chúng ta tiếp tục phải chủ động phòng, chống những biểu hiện xa rời mục tiêu CNXH, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” có thể làm chệch hướng XHCN. Cùng với đó, các thế lực thù địch, phản động đã và đang chống phá cách mạng nước ta cả về nhiều mặt hòng làm suy yếu sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý Nhà nước. Chúng tuyên truyền, kích động tư tưởng ly khai, “tự trị” ở các vùng dân tộc thiểu số nhằm phá vỡ sự thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ nước ta., chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Đảng ta chỉ rõ: Các thế lực thù địch tiếp tục tăng cường chống phá Đảng, Nhà nước và đất nước ta. Bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, giữ vững môi trường hoà bình, ổn định và thích ứng với biến đổi khí hậu là yêu cầu cấp thiết, đồng thời là những thách thức rất lớn đối với nước ta trong thời gian tới.

Trong thời kỷ đổi mới, mặc dù đã đạt được những thành tựu quan trọng nhưng: “Nền kinh tế phát triển chưa bền vững, còn nhiều hạn chế, yếu kém, đứng trước nhiều khó khăn, thách thức mới do tác động của đại dịch Covid-19 và khủng hoảng kinh tế toàn cầu gây ra”. Sức cạnh tranh của nền kinh tế không cao, độ mở ngày càng lớn và đang chịu ảnh hưởng của suy thoái kinh tế toàn cầu. Nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với các nước trong khu vực và trên thế giới còn đặt ra. Cho nên, nước ta cần tranh thủ xu thế hội nhập và toàn cầu hóa, tiếp tục chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, tận dụng các yếu tố tích cực về vốn, công nghệ, xuất khẩu để phát triển kinh tế; gắn tăng trưởng kinh tế với đảm bảo công bằng xã hội.

Trên lĩnh vực văn hóa - xã hội, một số vấn đề bức xúc nảy sinh trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa còn chậm được giải quyết. Tình trạng suy thoái đạo đức xã hội với nhiều tệ nạn diễn biến phức tạp như: nghiện hút chất ma túy, mại dâm, buôn bán phụ nữ và trẻ em, lối sống thực dụng, đề cao đồng tiền... Bản sắc văn hóa dân tộc có nguy cơ bị phai nhạt. Tỷ lệ đói nghèo ở vùng dân tộc thiểu số còn cao. Thực trạng giáo dục, đào tạo, khoa học và công nghệ còn nhiều bất cập, chưa đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Đây là những trở ngại để đất nước có thể phát triển nhanh và bền vững. Cùng với đó là: “Xu hướng già hoá dân số nhanh; tốc độ công nghiệp hoá, đô thị hoá tăng mạnh; đặc biệt biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh gay gắt, phức tạp... ngày càng tác động mạnh đến sự phát triển của đất nước”.

Trên trường quốc tế, thế giới đang trải qua những biến động lớn, diễn biến rất nhanh chóng, phức tạp, khó dự báo, đặt ra nhiều thách thức đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN hiện nay. Phong trào Cộng sản và công nhân quốc tế mới bước đầu phục hồi. Những nước đi theo con đường XHCN, phong trào Cộng sản và cánh tả còn gặp nhiều khó khăn, bị các thế lực thù địch tiếp tục chống phá. Cuộc đấu tranh giai cấp và đấu tranh dân tộc vẫn diễn biến phức tạp. Các nước đang phát triển, chậm phát triển phải tiến hành cuộc đấu tranh khó khăn, phức tạp chống nghèo nàn, lạc hậu, chống mọi sự can thiệp chính trị cường quyền, áp đặt và xâm lược từ bên ngoài để bảo vệ độc lập, chủ quyền quốc gia. Những biến động phức tạp của tình hình thế giới, những khó khăn trong quá trình xây dựng CNXH nước ta, đã tác động đến tư tưởng, tình cảm của một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân, ảnh hưởng tới công cuộc xây dựng CNXH. Một số cán bộ, đảng viên và nhân dân có tâm trạng hoài nghi, hoang mang, dao động.

Các mâu thuẫn cơ bản của thời đại vẫn biểu hiện dưới những hình thức và mức độ khác nhau. Hoà bình, hợp tác và phát triển là xu thế lớn nhưng tình hình thế giới có những diễn biến mới, tiềm ẩn nhiều bất trắc khó lường. Những căng thẳng, xung đột dân tộc, tôn giáo, ly khai, chiến tranh cục bộ, tranh chấp lãnh thổ, biển đảo, can thiệp, lật đổ, khủng bố vẫn gia tăng. Chủ nghĩa tư bản đã có những điều chỉnh, thích nghi và còn tiềm năng phát triển, nhưng những mâu thuẫn cơ bản của chủ nghĩa tư bản, nhất là mâu thuẫn giữa tính chất xã hội hóa ngày càng cao của lực lượng sản xuất với chế độ chiếm hữu tư bản tư nhân ngày càng trở nên sâu sắc. Suy thoái kinh tế, khủng hoảng chính trị - xã hội tiếp tục xảy ra ở nhiều nơi. Trật tự thế giới đa cực ngày càng rõ hơn. Nhiều nước lớn thực thi chính trị cường quyền, đã và đang chi phối các quan hệ quốc tế. Toàn cầu hóa, hội nhập và cách mạng khoa học công nghệ mở ra cơ hội phát triển cho các nước nhưng cũng tạo ra sự cạnh tranh gay gắt trên tất cả các lĩnh vực giữa các nước. Sự cạnh tranh về kinh tế, thương mại, tranh giành các nguồn tài nguyên, năng lượng, thị trường, công nghệ, nguồn vốn, nguồn nhân lực chất lượng cao... giữa các nước ngày càng mạnh mẽ. Khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, trong đó có Đông Nam Á tiếp tục phát triển năng động và gia tăng vị thế kinh tế trên thế giới nhưng tiềm ẩn những yếu tố mất ổn định, như tranh chấp chủ quyền biển, đảo, tài nguyên... ngày càng phức tạp.

Mặt khác, thế giới đang đứng trước những vấn đề toàn cầu và an ninh phi truyền thống phức tạp, liên quan đến vận mệnh loài người và tất cả các quốc gia. Đó là các vấn đề: giữ gìn hòa bình, xóa bỏ chiến tranh và bạo lực, khủng hoảng nhân đạo, khủng bố, đói nghèo, bảo vệ môi trường và biến đổi khí hậu toàn cầu, sự bùng nổ dân số, dịch bệnh hiểm nghèo, an ninh lương thực v.v. Vì thế, đòi hỏi các quốc gia, trong đó có Việt Nam, phải có sự hợp tác và trách nhiệm của tất cả các quốc gia, dân tộc trong giải quyết những vấn đề toàn cầu. Có điều, chế độ chính trị và lợi ích của mỗi nước khác nhau đã chi phối đến việc giải quyết tình hình vì lợi ích quốc gia dân tộc.

Như vậy, nước ta đang quá độ đi lên CNXH với nhiều thời cơ, thuận lợi lớn đan xen với không ít khó khăn, thách thức, đặt ra nhiều vấn đề mới, yêu cầu mới nặng nề, phức tạp hơn đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Do đó, chúng ta cần có nhận thức đúng đắn, kiên định con đường đi lên CNXH, phát huy sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại, sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng trong quá trình đi lên CNXH; tiếp tục đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, bảo vệ vững chắc Tổ quốc XHCN, thực hiện thắng lợi mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH./.

Thứ Hai, 5 tháng 9, 2022

CON ĐƯỜNG, CÁC GIAI ĐOẠN VÀ PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN SỨ MỆNH LỊCH SỬ TOÀN THẾ GIỚI CỦA GIAI CẤP CÔNG NHÂN

Cùng với việc phát hiện ra SMLS của GCVS, các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác đã phát hiện ra con đường để thực hiện SMLS đó - con đường cách mạng XHCN và chứng minh tính tất yếu của cuộc cách mạng đó. C.Mác và Ph.Ăngghen viết: “Cách mạng là tất yếu không những vì không thể lật đổ giai cấp thống trị bằng một phương thức nào khác mà còn vì chỉ có trong cách mạng giai cấp đi lật đổ giai cấp khác mới có thể quét sạch mọi sự thối nát của chế độ cũ đang bám chặt theo mình và trở thành có năng lực xây dựng cơ sở mới cho xã hội”.

Trên nền tảng của chủ nghĩa duy vật lịch sử, một mặt, C.Mác “… coi sự phát triển của những hình thái kinh tế - xã hội là một quá trình lịch sử - tự nhiên”; nhưng, mặt khác, ông lại khẳng định rằng con đường để chuyển HTKT-XH TBCN thành HTKT-XH CSCN lại phải thông qua con đường cách mạng vô sản. Người viết: “Nếu giai cấp vô sản trong cuộc đấu tranh chống giai cấp tư sản, nhất định phải tự tổ chức thành giai cấp, nếu giai cấp vô sản thông qua con đường cách mạng mà trở thành giai cấp thống trị”. Đồng thời, các ông đã phác thảo một cách khái quát về các giai đoạn của quá trình đó. Các ông cho rằng cuộc đấu tranh của GCCN để thực hiện SMLS của mình là một quá trình trải qua nhiều giai đoạn từ thấp đến cao, từ tự phát nhỏ lẻ dần đến ngày càng có tính chất tự giác hơn, cuối cùng là cuộc đấu tranh hoàn toàn có tính tự giác trong phạm vi của từng quốc gia, từng khu vực và trong phạm vi toàn cầu. Con đường này, thực hiện qua các giai đoạn cơ bản kế tiếp nhau.

Giai đoạn thứ nhất, giai đoạn mà GCVS đấu tranh “chống lại người tư sản trực tiếp bóc lột họ”.C.Mác và Ph.Ăngghen đã chỉ rõ: “Thoạt đầu, cuộc đấu tranh được tiến hành bởi những công nhân riêng lẻ; kế đến, bởi những công nhân cùng một công xưởng; và sau đó, bởi những công nhân cùng một ngành công nghiệp, cùng một địa phương, chống lại người tư sản trực tiếp bóc lột họ”.

Giai đoạn thứ hai, giai đoạn đấu tranh có tổ chức của GCCN để giành chính quyền. Chính cuộc đấu tranh chính trị cùng môi trường lao động đại công nghiệp đã rèn luyện GCCN và làm cho nó không chỉ là một lực lượng tiềm tàng, có thể thủ tiêu CNTB mà còn làm chín muồi dần các điều kiện, các yếu tố khách quan và chủ quan để có thể biến khả năng tiềm tàng ấy thành hiện thực. Trong “Tuyên ngôn của Đảng cộng sản”, C.Mác và Ph.Ăngghen  đã viết: Sự tiến bộ của công nghiệp - mà giai cấp tư sản là người đại diện mặc nhiên của nó và không đủ sức chống lại nó - đem sự đoàn kết cách mạng của công nhân do liên hợp lại mà có, thay cho sự chia rẽ của công nhân do cạnh tranh giữa họ gây nên. Như vậy, cùng với sự phát triển của đại công nghiệp, chính cái nền tảng trên đó giai cấp tư sản đã sản xuất và chiếm hữu sản phẩm của nó, đã bị phá sập dưới chân giai cấp tư sản. Trước hết, giai cấp tư sản sản sinh ra những người đào huyệt chôn chính nó. Sự sụp đổ của giai cấp tư sản và thắng lợi của giai cấp vô sản đều là tất yếu như nhau.

Giai đoạn thứ ba là giai đoạn đấu tranh xây dựng, hoàn thiện và sử dụng chính quyền để tiến hành cải tạo triệt để xã hội cũ, xây dựng và bảo vệ chế độ mới-chế độ XHCN (giai đoạn thấp của CNCS) và CSCN (giai đoạn cao của CNCS). Đặc biệt, khi phân tích khó khăn trong cuộc đấu tranh giai cấp của GCCN ở các nước TBCN phát triển kém hơn so với các nước TBCN khác, C. Mác đã viết: “Trong tất cả các lĩnh vực khác thì cũng giống như các nước khác ở lục địa Tây Âu, chúng ta (nước Đức- Người viết chú thích) đau khổ không những vì sự phát triển của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, mà còn đau khổ vì nó phát triển chưa đầy đủ”. Sau này, trong quá trình xây dựng CNXH ở nước Nga, V.I.Lênin lại nhắc lại tư tưởng này để khẳng định những khó khăn khi chưa có CNTB, đồng thời phải tận dụng những thành tựu của CNTB thế giới trong quá trình xây dựng CNXH.

Đặc biệt là, C.Mác, Ph.Ăngghen quan tâm tới sự phong phú của phương pháp cách mạng. Các ông yêu cầu các Đảng Cộng sản phải vận dụng sáng tạo phù hợp với điều kiện lịch sử cụ thể ở trong nước và quốc tế.

Trong bối cảnh châu Âu (nước Anh) vào những năm 40 của thế kỷ XIX, C.Mác và Ph.Ăngghen nhấn mạnh đến vai trò của bạo lực trong cách mạng vô sản. Sau này (1886), khi điều kiện lịch sử nước Anh đã thay đổi thì trong “Lời tựa viết cho bản tiếng Anh” cho tác phẩm “Tư bản –Tập I” của C. Mác, chính Ph.Ăngghen lại nhấn mạnh đến “phương pháp hòa bình và hợp pháp”. Ông viết: Không còn nghi ngờ gì nữa, trong một lúc như vậy, người ta cần phải nghe tiếng nói của một người (tức của Các Mác - giải thích của người trích dẫn) mà toàn bộ học thuyết là kết quả của suốt một đời nghiên cứu lịch sử kinh tế và tình hình kinh tế nước Anh, một người mà việc nghiên cứu ấy đã dẫn đến kết luận nói rằng: ít nhất là ở châu Âu, nước Anh là nước duy nhất mà cuộc cách mạng xã hội tất yếu sẽ có thể hoàn toàn thực hiện được bằng phương pháp hòa bình và hợp pháp. Dĩ nhiên, ông không bao giờ quên nói thêm rằng, vị tất đã có thể mong chờ được các giai cấp thống trị ở nước Anh sẽ chịu khuất phục trước cuộc cách mạng hòa bình và hợp pháp …”. Ngoài sự “mong chờ” đó, Ph.Ăngghen còn gắn khả năng thực hiện cách mạng “bằng phương pháp hòa bình và hợp pháp” với sự trưởng thành về nhận thức và hành động của GCVS trong quá trình thực hiện SMLS của mình.

 Như vậy, Chủ nghĩa Mác không tuyệt đối hóa về con đường giành chính quyền của GCCN bằng bạo lực cách mạng như các thế lực thù địch xuyên tạc, bóp méo. Các ông đã có cái nhìn toàn diện, bao quát dựa trên nền tảng nhân văn cộng sản chủ nghĩa để đưa ra quan điểm về phương thức giành chính quyền của GCCN vừa mang tính khách quan và vừa mang tính khoa học. Vì vậy, dù bối cảnh xã hội hôm nay có nhiều biến đổi, nhưng các quan điểm này vẫn còn nguyên giá trị.

Thứ Hai, 29 tháng 8, 2022

DỰA VÀO DÂN ĐỂ XÂY DỰNG VÀ CHỈNH ĐỐN ĐẢNG

Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã chỉ rõ thực trạng: “Một bộ phận cán bộ, đảng viên phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí, ngại khó, ngại khổ, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”... Cùng với đó, Đảng ta cũng nhận định, cuộc đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi những biểu hiện trên diễn ra rất khó khăn, phức tạp, thực sự là vấn đề cấp bách đối với sự tồn vong của Đảng, Nhà nước và chế độ ta.

Để làm tốt công tác đấu tranh, ngăn chặn sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đòi hỏi phải có nhiều biện pháp cụ thể, kiên trì, với quyết tâm cao của cả hệ thống chính trị. Đặc biệt, cần thấy rõ và phát huy có hiệu quả vai trò quan trọng của Nhân dân trong cuộc đấu tranh này.

Khi nói về mục tiêu, lý tưởng của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Ngoài lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân, Đảng ta không có lợi ích gì khác”. Thực tiễn cách mạng Việt Nam cũng đã chứng minh, muốn hoàn thành mục tiêu, lý tưởng của mình, muốn trường tồn và phát triển vững mạnh, Đảng phải gắn bó máu thịt với Nhân dân. Đảng phải biết dựa vào Nhân dân, phát huy vai trò của Nhân dân.

Những thành tựu to lớn mà Đảng và Nhân dân ta đã giành được 36 năm đổi mới xây dựng và bảo vệ đất nước đã chứng minh rất rõ vai trò to lớn của Nhân dân. Một trong những bài học sâu sắc mà Đảng ta rút ra đó là: Phải luôn quán triệt quan điểm “Dân là gốc”, vì lợi ích của Nhân dân, dựa vào Nhân dân, phát huy vai trò làm chủ, tinh thần trách nhiệm, sức sáng tạo và mọi nguồn lực của Nhân dân, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc.

Cuộc đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ của Đảng ta những năm qua đã đạt được nhiều kết quả quan trọng. Nhiều biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên đã được nhân dân phát hiện, chỉ rõ, đặc biệt là những hành vi tham nhũng, tiêu cực.

Từ thực tiễn trên, có thể khẳng định rằng: Đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ không chỉ là trách nhiệm của các tổ chức đảng, chính quyền, tổ chức chính trị - xã hội, mà là trách nhiệm của toàn dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng khẳng định: “Nhân dân là tai mắt của Đảng”. Đặc biệt, trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch vững mạnh toàn diện nói chung, trong đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nói riêng, Nhân dân đóng vai trò rất quan trọng. Đúng như lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong”.

Với sự giúp đỡ, ủng hộ của nhân dân thì công việc dù khó khăn phức tạp đến mấy, nhất định Đảng ta sẽ vượt qua, và công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng nhất định sẽ đạt được mục tiêu đề ra, để Đảng ta mãi mãi “là đạo đức, là văn minh”, xứng đáng với niềm tin tưởng tuyệt đối của Nhân dân.

VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG CỦA HỒ CHÍ MINH VÀO XÂY DỰNG CON NGƯỜI MỚI XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa bao gồm những nội dung cơ bản toàn diện về các mặt hoạt động của con người, coi con người là nguồn gốc, động lực của sự phát triển. Tư tưởng đó đã được Đảng ta kế thừa, vận dụng một cách linh hoạt, sáng tạo để phát triển toàn diện con người Việt Nam, đang từng bước trở thành trung tâm của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra hiện nay xây dựng nguồn lực con người chất lượng cao, ngăn chặn có hiệu quả sự xuống cấp về đạo đức, lối sống, đẩy lùi tiêu cực và tệ nạn xã hội; từng bước vươn lên khắc phục những hạn chế con người Việt Nam, xây dựng con người Việt Nam thời đại mới gắn kết chặt chẽ giữa truyền thống và hiện đại. Do vậy, cần vận dụng có hiệu quả tư tưởng của Người:

Một là, thực hiện nghiêm túc những di huấn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng con người xã hội chủ nghĩa.

Theo đó, các cấp, các ngành và mỗi người dù ở cương vị, chức trách nào cũng phải đẩy mạnh việc học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; đề cao tinh thần, trách nhiệm của mình đối với nhiệm vụ được giao; đồng thời, cụ thể hóa, thể chế hóa thành những tiêu chuẩn, cụ thể về xây dựng con người phù hợp với đặc điểm, yêu cầu, nhiệm vụ của từng cơ quan, đơn vị, địa phương mình; phải luôn xây dựng tinh thần đoàn kết, thương yêu, giúp đỡ lẫn nhau trong mọi lúc, mọi nơi; nhất là đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên các cấp phải thật sự gương mẫu, trong sạch về đạo đức, lối sống, bám sát cơ sở để động viên, giúp đỡ nhân dân, qua đó cũng để lựa chọn, tuyển dụng những người có đức, có tài vào cơ quan công quyền của nhân dân, góp phần đưa quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước, Chính phủ đi vào thực tiễn cuộc sống.

Hai là, phải không ngừng chăm lo, giáo dục, bồi dưỡng quan tâm về mọi mặt đối với con người.

Muốn vậy, đẩy mạnh giáo dục, đào tạo coi đó là quốc sách hàng đầu, là yếu tố quyết định đến việc thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, thực hiện tiến bộ công bằng xã hội, giao lưu hợp tác quốc tế; chú trọng đào tạo ra những con người có trình độ tay nghề cao, công tác ở những ngành, những lĩnh vực mũi nhọn, có khả năng nắm bắt và ứng dụng nhanh vào điều kiện thực tế của đất nước; xây dựng hệ thống giáo dục quốc dân phù hợp với từng bậc học, chú ý đến việc giáo dục về đạo đức, lối sống cho học sinh; giải quyết thỏa đáng lợi ích cho các giai cấp, tầng lớp trong xã hội thông qua những cơ chế, chính sách đúng đắn, hợp lý đem lại nhiều lợi ích thiết thực cho các tầng lớp nhân dân, nhất là đối với nhân dân ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn, chịu hậu quả do thiên tai, lũ lụt gây ra. Đối với từng giai cấp cụ thể có những chính sách cụ thể không được cào bằng, đánh đồng quyền lợi giữa các giai cấp với nhau.

Ba là, đẩy mạnh các chương trình, chiến lược hợp tác quốc tế và khu vực để đào tạo những con người phát triển toàn diện về đức - trí - thể - mỹ.

 Thực hiện tốt nội dung trên góp phần tạo ra nguồn lực chất lượng cao cho đất nước. Đảng ta khẳng định: “Tiếp tục đổi mới đồng bộ, mục tiêu, nội dung, chương trình, phương thức, phương pháp giáo dục và đào tạo theo hướng hiện đại, hội nhập quốc tế, phát triển con người toàn diện, đáp ứng những yêu cầu mới của phát triển kinh tế - xã hội, khoa học và công nghệ, thích ứng với cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư”. Ứng với từng ngành, từng lĩnh vực đó phải xây dựng cho họ có tinh thần phục hưng dân tộc, đóng góp vào việc dựng xây, kiến thiết đất nước, mở rộng đến các đối tượng lao động trong xã hội; đồng thời, Đảng, Nhà nước và các lực lượng có liên quan có cơ chế, chính sách đúng đắn, hợp lý để khuyến khích, động viên người có đức, có tài để họ có thể cống hiến cho đất nước bằng hết những tài năng và tâm huyết của mình.

Bốn là, phải kết hợp giữa “xây” và “chống” trong quá trình xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay.

Đảng ta khẳng định: “Đấu tranh phê phán, đẩy lùi cái xấu, cái ác, thấp hèn, lạc hậu; chống các quan điểm, hành vi sai trái, tiêu cực ảnh hưởng xấu đến xây dựng nền văn hóa, làm tha hóa con người. Có giải pháp ngăn chặn và đẩy lùi sự xuống cấp về đạo đức xã hội, khắc phục những mặt hạn chế của con người Việt Nam. Theo đó, cần đẩy mạnh cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, phòng, chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên; phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của các tổ chức chính trị - xã hội; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra đối với tổ chức, cá nhân ở các ngành, các lĩnh vực; nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng cho các tầng lớp nhân dân không để cho các phần tử phản động lợi dụng để chống phá, xuyên tạc sự nghiệp cách mạng của Đảng, chia rẽ mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân; tích cực tham gia vào cuộc đấu tranh bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng.

Thứ Hai, 22 tháng 8, 2022

KHÔNG THỜ Ơ VIỆC HỆ TRỌNG CỦA CHI BỘ

Đại hội chi bộ là dịp để mỗi “tế bào” của Đảng thêm một lần được củng cố, kiện toàn, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu toàn diện, thể hiện rõ vị trí, vai trò là cầu nối giữa Đảng với đảng viên ở cơ sở.

Đại hội chi bộ có thành công hay không phụ thuộc rất lớn vào tinh thần, thái độ, trách nhiệm của mỗi đảng viên trong tất cả các khâu, các bước, các nội dung của đại hội.

Tự nguyện đi theo lý tưởng cách mạng và đứng trong hàng ngũ của Đảng, trong đời đảng viên, người nhiều thì đôi chục lần là thành viên chính thức tham dự đại hội chi bộ; người ít thì cũng dăm bảy nhiệm kỳ vinh dự được cầm thẻ đảng viên tham gia biểu quyết thông qua những vấn đề hệ trọng của chi bộ. Nói thế để thấy, tham dự đại hội chi bộ không chỉ là niềm vinh dự, tự hào mà còn là trách nhiệm, bổn phận thiêng liêng của người đảng viên chân chính.

Vậy, mỗi đảng viên phải làm gì trong đại hội để xứng đáng với tư cách là người góp phần quyết định đến chiều hướng phát triển của chi bộ trong nhiệm kỳ mới? Câu hỏi tưởng đơn giản, nhưng không dễ tìm ra lời giải đáp thỏa đáng nếu như đảng viên nào đó coi việc đại hội chi bộ là trách nhiệm của cấp ủy, bí thư, phó bí thư chi bộ, mà không nhận thức thấu đáo rằng, việc hệ trọng này của chi bộ là công việc chung, trách nhiệm chung của tất cả đảng viên trong chi bộ.

Thông thường, trước khi tiến hành đại hội chi bộ, cấp ủy đương nhiệm xây dựng kế hoạch, phân công nhiệm vụ và hướng dẫn cụ thể cho từng đảng viên làm công tác chuẩn bị, từ người làm công tác tổ chức, thư ký, tổ kiểm phiếu đến mỗi đảng viên trên mỗi cương vị, chức trách tham gia phát biểu thảo luận tại đại hội. Thực tiễn cho thấy, cấp ủy chủ động hướng dẫn càng sâu sát bao nhiêu, công tác chuẩn bị càng chu đáo bao nhiêu thì càng tạo điều kiện thuận lợi cho việc tổ chức đại hội chi bộ suôn sẻ bấy nhiêu.

Tuy vậy, cấp ủy, bí thư, phó bí thư chi bộ khó có thể đảm đương và giải quyết hiệu quả mọi công việc trong cùng một lúc, mà cần có sự quan tâm hỗ trợ, đồng hành, chia sẻ trách nhiệm của mỗi đảng viên trong công tác chuẩn bị đại hội. Hơn lúc nào hết, mỗi lần tổ chức đại hội chi bộ là dịp tốt nhất để mỗi đảng viên thể hiện tình cảm, tấm lòng, tinh thần, trách nhiệm của mình với Đảng, với chi bộ.

Thuộc lòng và hát đúng bài Quốc ca, Quốc tế ca; dành thời gian, tâm sức để nghiên cứu các văn bản, tài liệu liên quan đến đại hội; chuẩn bị kỹ lưỡng nội dung phát biểu thảo luận; làm đúng việc, “tròn vai” khi được giao nhiệm vụ; tuân thủ nguyên tắc, kỷ luật phát ngôn; giữ vững tinh thần đoàn kết, thống nhất cao; công tâm lựa chọn những đảng viên đủ phẩm chất, năng lực, uy tín bầu vào cấp ủy nhiệm kỳ mới… là đảng viên thể hiện rõ nhất tính Đảng trong đại hội chi bộ.

Ngược lại, sự thờ ơ, được chăng hay chớ, không dấn thân, lăn xả vào công việc chung của tập thể chi bộ; thái độ “thứ nhất ngồi lì, thứ nhì đồng ý”; lợi dụng dân chủ trong đại hội để phát biểu ý kiến trái nguyên tắc; thể hiện “cái tôi” nhỏ nhen, lệch lạc hay có biểu hiện bè phái, lợi ích nhóm trong công tác bầu cử… đều là những hiện tượng làm giảm vai trò tiên phong, gương mẫu của đảng viên, thậm chí là biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị cần phải kiên quyết phòng ngừa, khắc phục.

Bác Hồ từng khẳng định: “Đảng mạnh là do chi bộ tốt. Chi bộ tốt là do các đảng viên đều tốt”. Người cũng nhấn mạnh: “Đảng là gì? Đảng là mỗi chúng ta. Đảng lớn lên do mỗi chúng ta lớn lên”. Từ lời dạy sâu sắc của Bác, chúng ta càng thấy rõ vai trò rất quan trọng của mỗi đảng viên trong việc chung tay góp sức, hiến kế để góp phần xây dựng chi bộ trong sạch, vững mạnh nói chung, trong việc tổ chức thành công đại hội chi bộ nói riêng.

XÂY DỰNG HÌNH TƯỢNG NGƯỜI ĐẢNG VIÊN TIÊN PHONG, GƯƠNG MẪU THEO TƯ TƯỞNG, ĐẠO ĐỨC, PHONG CÁCH HỒ CHÍ MINH

Chủ tịch Hồ Chí Minh mãi là một tấm gương đạo đức sáng ngời về sự tiên phong, gương mẫu. Ở Người kết tinh chặt chẽ sự thống nhất trong tư tưởng, đạo đức và phong cách, giữa nói và làm, giữa giáo dục đạo đức và nêu gương sáng về đạo đức, đạt tới sự nhất quán giữa công việc và cuộc sống đời tư, giữa đạo đức của bậc vĩ nhân và đạo đức của một người làm cách mạng.

Kể từ khi Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên (tiền thân của tổ chức Đảng Cộng sản Việt Nam) được thành lập, Người đã luôn đề cao vai trò của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Bằng chứng là người đã viết tác phẩm “Đường Kách Mệnh” để làm tư liệu giáo dục những thanh niên yêu nước đi theo con đường cách mạng đúng đắn, có khát vọng và lý tưởng. Người coi “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, “Cán bộ là cái dây chuyền của bộ máy. Nếu dây chuyền không tốt, không chạy thì động cơ dù tốt, dù chạy, toàn bộ máy cũng tê liệt” và đi đến kết luận: “Công việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”. Vì thế, Người rất quan tâm đến đạo đức cách mạng, hình tượng người đảng viên trong lòng quần chúng nhân dân, luôn đề cao việc rèn luyện tính tiên phong, gương mẫu đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng.

Trong giáo dục đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên, Người đặc biệt quan tâm và đề cao tính tiên phong, gương mẫu. Người từng dạy: “Nói miệng ai cũng nói được. Ta cần phải thực hành. Kháng chiến, kiến quốc, ta phải cần kiệm. Nhưng tự mình phải cần và kiệm trước đã. Trước hết, mình phải làm gương, làm gương trong anh em, và khi đi công tác, làm gương cho dân. Làm gương cả về ba mặt: tinh thần, vật chất và văn hóa. Không có gì là khó. Khó như cách mạng mà ta đã làm được và đã thành công. Muốn làm được ta phải: quyết tâm, tín tâm, đồng tâm. Ta nhớ ba chữ ấy, thực hành làm gương nêu ba chữ ấy lên, tất là các đồng chí thành công”. Tính tiên phong, gương mẫu của người đảng viên không thể ngày một, ngày hai mà có được. Đảng viên thể hiện được sự tiên phong, gương mẫu phải gắn chặt việc học tập và làm theo gương Bác từ những việc làm cụ thể hàng ngày trong đời sống xã hội. Phải thực hành tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, tác phong qua mỗi nhiệm vụ được tổ chức đảng giao phó, qua mỗi việc làm cá nhân. Đảng viên phải tự nâng cao đạo đức cách mạng và phẩm chất chính trị của bản thân mỗi ngày. Việc thực hành gương mẫu phải được đề cao, phải biến những phẩm chất tốt đẹp, những hành động tử tế, đúng đắn thành thói quen hàng ngày. Đảng viên phải đóng vai trò thực sự là người tiên phong, đi đầu trong mọi hoạt động, nhận thức được vai trò của người đảng viên trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nhất là trong giai đoạn “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong Đảng ngày càng tăng. Để giữ gìn sự gương mẫu, mỗi đảng viên cần phải xác định vai trò hạt nhân của bản thân, của tổ chức đảng tại đơn vị. Đảng viên phải ra sức củng cố vai trò, vị thế của tổ chức đảng trong thực hiện các nhiệm vụ chính trị mà các cấp bộ đảng giao phó.

Tính gương mẫu của người đảng viên được Người chỉ rõ: để mọi người noi gương thì bản thân cán bộ, đảng viên phải thực hành làm mẫu trong công việc, hết lòng vì công việc, hết sức làm tròn trách nhiệm với công việc được giao: “khi có Đảng, Chính phủ, hoặc cấp trên giao cho ta việc gì, bất kỳ to hay nhỏ, khó hay dễ, ta cũng đưa cả tinh thần, lực lượng ra làm cho đến nơi đến chốn, vượt mọi khó khăn, làm cho thành công.”. Không những vậy, Người còn đề cao tinh thần trách nhiệm, chính tinh thần trách nhiệm của mỗi cá nhân sẽ là tiền đề, là hạt nhân xây dựng nên tính gương mẫu của người đảng viên. Người nói: “Tinh thần trách nhiệm là: Nắm vững chính sách, đi đúng đường lối quần chúng, làm tròn nhiệm vụ... Cán bộ phải nghiên cứu, hiểu suốt, thấm nhuần chính sách ấy. Theo chính sách ấy mà điều tra, nghiên cứu, hiểu suốt hoàn cảnh thiết thực của đơn vị mình, địa phương mình. Rồi đặt kế hoạch rõ ràng, tỉ mỉ, thiết thực, để giải thích, tuyên truyền, cổ động quần chúng, làm cho mọi người hiểu thấu và ủng hộ chính sách của Đảng và Chính phủ như là của họ, rồi thi đua thực hiện đầy đủ chính sách ấy. Như thế là làm tròn nhiệm vụ”. Cán bộ, đảng viên là người tiên phong, là lực lượng nồng cốt dẫn dắt quần chúng, muốn quần chúng làm theo thì bản thân phải “cố gắng làm kiểu mẫu cho quần chúng trong mọi việc”. Chỉ có làm tốt cho quần chúng thấy thì quần chúng mới có thể lấy đó làm tấm gương mà học tập, noi theo. Như thế thì người đảng viên mới thực sự nêu gương và trở thành hình mẫu trong lòng quần chúng.

“Đảng viên đi trước, làng nước theo sau”. Một câu nói rất quen thuộc trong việc giáo dục đạo đức cách mạng của người đảng viên được Người nhiều lần nhắc đến trong các tài liệu, các bài nói. Quan điểm này của Người nhằm mục đích nhấn mạnh sự tiên phong, đi đầu, sự ủng hộ của quần chúng đối với người đảng viên. Nếu đảng viên không hăng hái, tính cực, không có tính tiên phong vậy thì sẽ đánh mất đi vai trò thực sự của tổ chức đảng trong lòng quần chúng. Tổ chức đảng với vai trò lãnh đạo quần chúng nhân dân trong cả kháng chiến và thời bình luôn đề cao tính tiên phong. Đặc biệt hơn, được thể hiện rõ ở các cán bộ lãnh đạo, những hạt nhân đóng vai trò “đầu tàu”, “thuyền trưởng” tại các cơ quan, đơn vị. Người thường căn dặn các cán bộ nòng cốt, lực lượng cốt cán của đảng “đã hứa là phải thực hiện”, “nói thì phải làm”, “lí luận gắn liền với thực tiễn”, người đảng viên không thể chỉ nói suông, không thể chỉ nói mà không nêu gương, không thực hành, không làm mẫu để quần chúng noi theo. Trong thực thi các công việc của đảng, người cũng đã phê bình, phê phán những cán bộ “Chỉ biết nói là nói, nói giờ này qua giờ khác, ngày này qua ngày khác. Nhưng một việc gì thiết thực cũng không làm được”.

Từ những giá trị đạo đức, tư tưởng Người để lại, ta thấy rằng cần thiết phải xây dựng hình tượng người đảng viên tiên phong, gương mẫu trên tất cả các mặt trận kinh tế - xã hội, nhân rộng những gương điển hình tiên tiến trong các phong trào, hoạt động thi đua. Chính họ sẽ là những hình mẫu lan tỏa việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức, tư tưởng, phong cách Hồ Chí Minh ngày càng sâu rộng đến quần chúng nhân dân. Sinh thời, Người chủ trương: “Lấy gương người tốt, việc tốt để giáo dục lẫn nhau là một trong những cách tốt nhất xây dựng Đảng, xây dựng các tổ chức cách mạng, xây dựng con người mới, cuộc sống mới”. Với Người, người tốt việc tốt ở đâu cũng có; ngành nào cũng có. Phải biết phát huy và tuyên dương kịp thời gương người tốt việc tốt để làm động lực cho sự phát triển các mặt trong đời sống xã hội. Từ đó làm nền tảng cho xã hội ngày một phát triển phồn vinh, văn minh, hiện đại và nghĩa tình.

Thứ Tư, 17 tháng 8, 2022

XÂY DỰNG QUAN HỆ ĐỒNG MINH VỚI HOA KỲ TRONG CUỘC ĐẤU TRANH GIÀNH ĐỘC LẬP DÂN TỘC

Trước Cách mạng tháng Tám, Mặt trận Việt Minh đã thiết lập quan hệ với Hoa Kỳ, quốc gia giữ vai trò chủ chốt trong phe Đồng Minh. Đó là lý do để Chủ tịch Hồ Chí Minh khảng khái tuyên bố trong Tuyên ngôn Độc lập: "Một dân tộc đã gan góc đứng về phe đồng minh mấy năm nay"…

Ngoài tiếp xúc và thiết lập quan hệ với Trung Hoa dân quốc, một trong những lực lượng Đồng Minh mà Việt Minh quan tâm là Hoa Kỳ.

Các hoạt động tình báo của Hoa Kỳ nhắm đến Đông Dương thực sự bắt đầu ở Trung Quốc vào tháng 5/1942 khi Đại úy Hải Quân Mỹ Milton Edward Miles đã đến Trung Quốc với nhiệm vụ thiết lập cơ sở tình báo, chuẩn bị những điều kiện cho các cuộc đổ bộ của Hải quân Hoa Kỳ những năm sau đó.

Về phía Việt Minh, sự quan tâm đến Hoa Kỳ được đẩy lên một bước mới từ cuối năm 1942, khi Chiến tranh thế giới thứ hai có những biến chuyển hết sức nhanh chóng, nhất là khi chiến tranh tại khu vực Thái Bình Dương đang ngày càng khốc liệt.

Việt Minh nhận thấy đây là cơ hội tốt cho việc tranh thủ sự ủng hộ của Hoa Kỳ đối với công cuộc giải phóng dân tộc. Đặc biệt, nắm bắt nhu cầu tin tức của Hoa Kỳ về tình hình trên bán đảo Đông Dương, Hồ Chí Minh và Việt Minh chủ trương chủ động bắt liên lạc và đứng hẳn về phía Hoa Kỳ và phe Đồng Minh, thể hiện quyết tâm chống quân phiệt Nhật.

Mùa Đông năm 1944, một chiếc phi cơ của không quân Mỹ bị quân Nhật bắn rơi trên địa phận xã Đề Thám (huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng, Trung úy phi công William Shaw phải nhảy dù xuống một vùng núi gần đó.

Trong khi đang bị cả quân đội Nhật Bản và Pháp lùng bắt, phi công Shaw đã được một người dân địa phương giúp đỡ và dẫn đường thoát ra khỏi vùng nguy hiểm, đến ấn náu ở một hang núi.

Dưới sự sắp xếp của một cán bộ Việt Minh, Trung úy Shaw được đưa tới gặp Phạm Văn Đồng và ông lập tức cử người đưa Trung úy Shaw đi gặp Hồ Chí Minh (lúc này đang ở tại biên giới Việt Nam- Trung Quốc).

Đầu tháng 3/1945, Hồ Chí Minh thực hiện chuyến đi tới Côn Minh (Vân Nam, Trung Quốc), giúp đưa phi công W. Shaw trở về Tập đoàn không quân số 14 của Hoa Kỳ (ở Côn Minh lúc đó có Bộ Tổng tham mưu lục quân của Tướng Hà Ứng Khâm, Bộ Tư lệnh Không Quân Hoa Kỳ, phái đoàn quân sự Anh và một phái đoàn quân sự Pháp).

Hoa Kỳ đã bày tỏ lòng biết ơn đối với Việt Minh và Hồ Chí Minh, ngỏ ý tặng thuốc men, tiền bạc giúp đỡ Việt Minh.

Sau khi Nhật tiến hành chiến dịch Meigo, đảo chính Pháp vào ngày 9/3/1945, kiểm soát hoàn toàn Đông Dương, Hoa Kỳ chủ trương ủng hộ việc duy trì mối quan hệ tốt đẹp với bất kỳ tổ chức nào tại Đông Dương thuộc Pháp giúp đỡ một cách hiệu quả việc giải thoát lính Mỹ. Theo đánh giá của OSS thì “Việt Minh như một bộ máy kháng chiến hiệu quả duy nhất ở Việt Nam”[1], là một lực lượng có thể tin cậy được trong cuộc chiến đấu chống chủ nghĩa phát xít.

Tại Côn Minh, các tháng 3 và 4/1945, nhân danh Việt Minh, Hồ Chí Minh tích cực tiếp xúc với cơ quan cứu trợ không quân Hoa Kỳ (AGAS), Trung úy Charles Fenn, Tướng Chenault và Thiếu tá tình báo Hoa Kỳ A. Patti …, vận động công nhận tổ chức Việt Minh như một thành viên trong lực lượng chống phát xít.

Tiếp xúc với những nhân vật này, Hồ Chí Minh chuyển cho họ những thông tin về những cuộc chuyển quân mới nhất của quân đội Nhật Bản ở vùng núi phía Bắc Việt Nam, khẳng định những hoạt động quân sự dọc theo biên giới Việt - Trung là âm mưu mới của Nhật, nhằm phòng ngừa một cuộc đổ bộ của quân Đồng Minh vào Đông Dương.

Hồ Chí Minh cam kết Việt Minh sẽ sẵn sàng làm việc và cộng tác chặt chẽ với lực lượng không quân, tình báo của tướng Claire Chennault, với OSS, Cơ quan thông tin chiến tranh Hoa Kỳ (OWI) để cung cấp tin tức về quân đội Nhật Bản và các mục tiêu hoạt động của họ.

Hồ Chí Minh cũng giải thích cho Hoa Kỳ hiểu rằng, Việt Minh là một tổ chức đa năng, vừa là tổ chức chính trị, vừa là lực lượng vũ trang. Lực lượng này đã tổ chức thành những đơn vị du kích và đã tích cực tiến hành một cuộc chiến đấu không cân sức chống lại quân phiệt Nhật.

Hồ Chí Minh khẳng định: Ở Đông Dương, không còn lực lượng nào khác chống lại quân phiệt Nhật ngoài Việt Minh; nêu rõ quan điểm nhất quán của Việt Minh là ủng hộ và đứng về phía Đồng Minh chống quân phiệt Nhật.

Trước thiện chí của Việt Minh và nhu cầu nắm bắt thông tin về quân Nhật ở Đông Dương, OSS và OWI có nhu cầu thiết lập mối liên hệ với Việt Minh. Do tác động của những yếu tố nói trên, cuối tháng 4/1945, mối quan hệ hợp tác giữa Việt Minh và OSS đã được thiết lập.

Sau khi quan hệ được thiết lập, Mặt trận Việt Minh và lực lượng Hoa Kỳ có mặt ở Đông Dương đã phối hợp hành động, cùng hợp tác khá chặt chẽ. Người Mỹ nhận cung cấp các phương tiện thông tin liên lạc, người sử dụng các phương tiện ấy và huấn luyện người của Việt Minh có thể sử dụng chúng thành thạo. Ban không trợ mặt đất của Mỹ đã lập một mạng lưới vô tuyến điện từ Hà Nội đến Sài Gòn. Trung úy C. Fenn, phụ trách nhóm tình báo Đồng Minh hoạt động ở Việt Nam được giao nhiệm vụ làm liên lạc giữa OSS và Việt Minh.

Về phía Việt Minh, một mặt, tăng cường lực lượng du kích, mở rộng phạm vi hoạt động của lực lượng này; mặt khác, cung cấp những tin tức tình báo và khí tượng cho không quân Mỹ hoạt động trên chiến trường chống Nhật ở Đông Dương...

Nhờ sự giúp đỡ của Việt Minh, Hoa Kỳ dễ dàng thiết lập được một hệ thống tình báo và hệ thống này hoạt động khá hiệu quả, thu thập thông tin về Đông Dương và quân đội Nhật Bản chuyển về cho các cơ quan liên quan xử lý, ra quyết sách.

Các cán bộ Việt Minh ở Côn Minh đã in 8 vạn tờ truyền đơn tiếng Việt nhờ Không quân Mỹ đem rải ở miền Bắc Việt Nam nhằm khuếch trương thanh thế của Việt Minh, góp phần nhanh chóng nâng cao uy tín của Việt Minh như một lực lượng của phe Đồng Minh chống phát xít.

Ngày 9/5/1945, Hồ Chí Minh viết một lá thư gửi Charles Fern và Berna, cảm ơn sự giúp đỡ của Hoa Kỳ đối với Việt Minh.

Giữa tháng 5/1945, Hồ Chí Minh yêu cầu Trung uý John, báo vụ của OSS, điện về Côn Minh đề nghị thả dù một quyển Tuyên ngôn độc lập của Hoa Kỳ.

Trong tháng 5/1945, một mặt, Hồ Chí Minh gửi A Patti một bức thư cùng hai tài liệu đề nghị chuyển cho phái đoàn Hoa Kỳ ở Hội nghị Liên Hợp Quốc, kêu gọi ủng hộ nền độc lập của Việt Nam; mặt khác, từ Tân Trào, Hồ Chí Minh phái giao liên trao cho A. Patti (lúc này đang ở tại Côn Minh) một thông báo về việc quân đội Nhật Bản xây dựng công sự ở Cao Bằng và trên đường về Hà Nội.

Đầu tháng 6/1945, Hồ Chí Minh điện báo cho A. Patti rằng Việt Minh đã chuẩn bị sẵn sàng hơn 1.000 quân du kích được huấn luyện tốt, tập trung ở Chợ Chu, Định Hóa.

Tháng 6/1945, khi OSS đề nghị Việt Minh bố trí cho một sân bay để máy bay cỡ nhỏ có thể lên xuống, Hồ Chí Minh giao nhiệm vụ này cho Võ Nguyên Giáp thực hiện và chuẩn bị địa điểm cho sân bay tại xã Minh Thanh, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang. Sau khi sân bay được hoàn tất, chiều 16/7/1945, biệt đội “Con Nai” (The Deer Team)[2] của Cục tình báo chiến lược Hoa Kỳ do Thiếu tá Thomas chỉ huy đã nhảy dù xuống làng Kim Lũng (chiến khu Tân Trào), mang theo một số vũ khí, đạn dược cùng, thuốc men, khí tài thông tin liên lạc...ủng hộ Việt Minh.

Ngày 29/7/1945, biệt đội Con Mèo (Cat Team)[3] do Đại úy Holland chỉ huy nhảy dù xuống Kim Lũng và đến ngày 31/7/1945, Đội này lên đường đến khu vực khác lập căn cứ; tuy nhiên, thành viên đội Con Mèo đã bị người Nhật bắt vào giữa tháng 8/1945. Một thành viên đã trốn thoát và được người của Việt Minh đưa đến Biệt đội Con Nai. Hai thành viên khác là Đại úy Holland và Trung sĩ John Burrowes sau đó được người Nhật phóng thích tại Hà Nội và trơ thành những người Mỹ chứng kiến nền độc lập của Vệt Nam.

Để tiện cho việc tiếp tế vũ khí, đạn dược, biệt đội “Con Nai” đã cố vấn cho Việt Minh xây dựng một sân bay dã chiến ở Lũng Cò (cách Tân Trào khoảng 8 km về hướng Tây Bắc).

Qua một số lần trao đổi với A. Patti, Hồ Chí Minh đã tự mình đến xóm Lũng Cò (xã Minh Thanh, huyện Sơn Dương) khảo sát địa hình và và tìm hiểu tình hình mọi mặt, chọn địa điểm làm sân bay để đón quân Đồng Minh.

Sau khi được xây dựng, sân bay Lũng Cò đã tiếp nhận thành công một số chuyến bay của không quân Hoa Kỳ cùng vũ khí, đạn dược... tiếp tế cho Việt Minh chống quân phiệt Nhật. Trong lúc Việt Minh còn hết sức khó khăn cùng với Việt Nam giải phóng quân vừa mới thành lập đang thiếu thốn vũ khí trầm trọng thì số lượng vật chất được Hoa Kỳ tiếp tế tuy không lớn nhưng có ý nghĩa thiết thực. Về phía Việt Minh, thời gian này, Việt Minh nỗ lực giúp Hoa Kỳ tìm những người Mỹ đang lẩn trốn khỏi sự bắt bớ của Nhật ở khu tam giác Tuyên Quang- Thái Nguyên-Bắc Cạn.

Đầu tháng 8/1945, Việt Minh tuyển lựa 200 du kích để Đội “Con Nai” huấn luyện sử dụng súng cácbin, M.A.S, tiểu liên Thomson, bazoka, cối và lựu đạn...

Từ ngày 1 đến ngày 6/8/1945, lực lượng Đồng Minh phối hợp với Việt Minh dựng trại huấn luyện và đã huấn luyện khoảng 40 du kích, đồng thời, cùng lực lượng của Việt Minh thành lập “Đại đội Việt - Mỹ” do ông Đàm Quang Trung chỉ huy, Thiếu tá A.K.Thomas làm cố vấn (Hồ Chí Minh đã gọi đội quân này là “bộ đội Việt - Mỹ”).

Đội “Con Nai” tiếp tục huấn luyện du kích Việt Minh cho đến ngày 15/8/1945, khi Tokyo tuyên bố chính thức chấp nhận đầu hàng Đồng Minh.

Sau khi Quân lệnh số 1 về Tổng khởi nghĩa được phát đi, đơn vị này đã tham dự lễ xuất quân từ cây đa Tân Trào, cùng Việt Nam giải phóng quân tiến về giải phóng Thái Nguyên.

Sau khi Hội nghị toàn quốc của Đảng Cộng sản Đông Dương (ngày 14 và 15/8/1945) bế mạc, thay mặt Việt Minh, Hồ Chí Minh nhờ Trung úy John gửi về Bộ Tổng hành dinh của Mỹ bức điện với nội dung khẳng định Việt Minh đã đứng về phía Đồng Minh chống phát xít và mong muốn Đông Dương có được nền độc lập như mong đợi.

Tranh thủ thời cơ do thắng lợi của phe Đồng Minh mang lại, Việt Minh quyết định phát động nhân dân vùng dậy tổng khởi nghĩa giành chính quyền.

Sau khi Việt Minh giành được chính quyền vào tháng 8/1945, quan hệ hợp tác giữa Hoa Kỳ với Việt Minh thay đổi theo chiều hướng đi xuống do Hoa Kỳ muốn để ngỏ cửa cho Pháp trở lại xâm lược Việt Nam.

Mặc dù vậy, ngày 18/8/1945, Hồ Chí Minh một lần nữa viết thư cho Charles Fern, bày tỏ tình cảm với những người bạn Hoa Kỳ và ẩn sâu trong đó là những hy vọng về một mối bang giao Việt- Mỹ. Bức thư có đoạn: “Chiến tranh đã kết thúc. Đấy là điều tốt cho mọi người. Tôi cảm thấy áy náy khi những người bạn Mỹ phải rời chúng tôi quá nhanh. Việc ra đi của họ khỏi đất nước này có nghĩa là mối quan hệ giữa ông và chúng tôi sẽ khó khăn hơn. Chiến tranh đã kết thúc thắng lợi. Nhưng chúng tôi, những nước nhỏ và phụ thuộc, không có phần đóng góp hoặc đóng góp rất ít vào thắng lợi của tự do, của dân chủ. Nếu muốn đóng góp một phần xứng đáng chúng tôi phải tiếp tục chiến đấu. Tôi tin rằng ông và nhân dân Mỹ vĩ đại sẽ luôn luôn ủng hộ chúng tôi”[4].

Tuy nhiên, trước những yêu cầu của Chính phủ Việt Minh, Hoa Kỳ đã im lặng.

Cuối tháng 8/1945, Tổng thống H.S.Truman chính thức tuyên bố với Tổng thống Pháp Charles de Gaulle đang thăm Washington rằng, Hoa Kỳ ủng hộ sự trở lại Đông Dương của Pháp.

Không lâu sau ngày giành được độc lập, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phải đương đầu với cuộc tái xâm lược của thực dân Pháp.