Thứ Hai, 8 tháng 4, 2024

ỦY BAN DÂN TỘC CÓ TRÁCH NHIỆM GÌ TRONG VIỆC THỰC HIỆN CÁC CHÍNH SÁCH DÂN TỘC?

Chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành liên quan hoạch định, xây dựng, tổ chức thực hiện chính sách dân tộc; hướng dẫn việc thực hiện chính sách; tiến hành công tác thanh tra, kiểm tra, tổ chức sơ kết, tổng kết, đánh giá việc thực hiện chính sách dân tộc; tổ chức, phối hợp tuyên truyền, vận động về chính sách dân tộc theo quy định.

Chủ trì, phối hợp với các bộ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện quản lý nhà nước về công tác dân tộc và giải quyết những vấn đề có liên quan công tác dân tộc. Định kỳ hàng năm báo cáo Thủ tướng Chính phủ về tình hình thực hiện chính sách dân tộc và công tác dân tộc.

Thực hiện các nhiệm vụ khác liên quan đến thực hiện chính sách dân tộc, công tác dân tộc do Chính phủ giao. 

BỘ MÁY QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CÔNG TÁC DÂN TỘC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY ĐƯỢC TỔ CHỨC NHƯ THẾ NÀO?

Chính phủ là cơ quan quản lý cao nhất trong bộ máy, thống nhất quản lý nhà nước về công tác dân tộc trên mọi lĩnh vực.

Ủy ban Dân tộc có trách nhiệm giúp Chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà nước về công tác dân tộc trong phạm vi cả nước..

Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ thực hiện trách nhiệm quản lý nhà nước về công tác dân tộc theo quy định của pháp luật.

Ủy ban nhân dân các cấp thực hiện quản lý nhà nước về công tác dân tộc ở địa phương theo quy định của pháp luật, có trách nhiệm tổ chức thực hiện chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về công tác dân tộc ở địa phương.

Cơ quan công tác dân tộc được tổ chức từ Trung ương, tỉnh và cấp huyện thuộc vùng đồng bào dân tộc. Đối với cấp tỉnh: Thành lập Ban Dân tộc là cơ quan tham mưu, giúp ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện chức năng quản lý nhà nước về công tác dân tộc khi tỉnh, thành đó có một trong ba tiêu chí: Có trên 20.000 người dân tộc thiểu số sống tập trung thành cộng đồng làng, bản; có dưới 5.000 người dân tộc thiểu số đang cần Nhà nước tập trung giúp đỡ, hỗ trợ phát triển; có đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống ở địa bàn xung yếu về quốc phòng an ninh, địa bàn xen canh, xen cư, biên giới có đông đồng bào dân tộc thiểu số  nước ta và nước láng giềng thường xuyên qua lại. Đối với những tỉnh chưa đáp ứng các điều kiện quy định trên thì tổ chức làm công tác dân tộc theo một trong hai mô hình: 1) Thành lập Ban Dân tộc trực thuộc ủy ban nhân dân cấp tỉnh, chịu sự chỉ đạo trực tiếp của ủy ban nhân dân tỉnh, Văn phòng ủy ban nhân dân tỉnh đảm bảo cơ sở vật chất, kinh phí, phương tiện và điều kiện làm việc. 2) Thành lập sở có chức năng quản lý nhà nước đa ngành, đa lĩnh vực, trong đó có công tác dân tộc và công tác chuyên môn khác có liên quan đến công tác dân tộc trực thuộc ủy ban nhân dân cấp tỉnh.

Đối với cấp huyện, thực hiện theo các tiêu chí: 1) Thành lập Phòng Dân tộc thuộc ủy ban nhân dân cấp huyện khi có một trong hai tiêu chí: Có ít nhất 5.000 người dân tộc thiểu số đang cần Nhà nước tập trung giúp đỡ, hỗ trợ phát triển; Có đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống ở địa bàn xung yếu về an ninh, quốc phòng; địa bàn xen canh, xen cư; biên giới có đông đồng bào dân tộc thiểu số nước ta và nước láng giềng thường xuyên qua lại. Đối với những huyện chưa đủ các tiêu chí trên thì tổ chức làm công tác dân tộc thực hiện theo mô hình: 1) Thành lập phòng quản lý nhà nước đa ngành, đa lĩnh vực. 2) Bố trí cán bộ chuyên trách công tác dân tộc trong Văn phòng hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân hoặc phòng chuyên môn khác.

Đối với cấp xã có đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống trên địa bàn không thành lập tổ chức riêng, nhưng phân công một ủy viên ủy ban nhân dân cấp xã kiêm nhiệm theo dõi tổ chức thực hiện công tác dân tộc. 

NHỮNG LĨNH VỰC CHỦ YẾU CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CÔNG TÁC DÂN TỘC Ở VIỆT NAM LÀ GÌ?

Xây dựng, ban hành các chương trình mục tiêu quốc gia, quy hoạch, kế hoạch, chính sách về lĩnh vực công tác dân tộc; các văn bản quy phạm pháp luật về công tác dân tộc; các chính sách dân tộc, chính sách đặc thù, các chương trình, dự án, đề án phát triển vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn; tiêu chí phân định vùng dân tộc theo trình độ phát triển, tiêu chí xác định thành phần dân tộc, tiêu chí về chuẩn đói nghèo đối với vùng dân tộc thiểu số; xây dựng chính sách đào tạo nguồn nhân lực, nâng cao dân trí, bảo tồn và phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số.

Tuyên truyền, phổ biến, chế độ, chính sách pháp luật về lĩnh vực dân tộc để đồng bào các dân tộc hiểu rõ và chủ động tham gia vào quá trình thực hiện. Tuyên truyền về truyền thống đoàn kết của các dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Tổ chức tốt các phong trào tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau giữa các dân tộc trong cộng đồng. Tổ chức hoạt động kết nghĩa giữa các địa phương nhằm tương trợ giúp nhau cùng phát triển.

Tổ chức thực hiện chính sách, chiến lược, chương trình mục tiêu quốc gia, quy hoạch, kế hoạch, chính sách về lĩnh vực công tác dân tộc và liên quan đến dân tộc. Huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực đầu tư cho vùng dân tộc thiểu số. Thẩm định các chương trình, dự án, đề án, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số.

Xây dựng và tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về công tác dân tộc từ Trung ương đến cơ sở; thực hiện phân công, phân cấp có hiệu quả trong lĩnh vực công tác dân tộc. Quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng, quản lý cán bộ người dân tộc thiểu số trong hệ thống chính trị và cán bộ trong hệ thống cơ quan làm công tác dân tộc.

Xây dựng hệ thống thông tin cơ sở dữ liệu về công tác dân tộc nhằm cung cấp thông tin, dữ liệu về các tộc người, các vùng dân tộc thiểu số, các lĩnh vực quản lý nhà nước về công tác dân tộc cho các tổ chức, cá nhân để nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách, chương trình, dự án; Đồng thời làm cơ sở hoạch định, xây dựng chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật về dân tộc.

Kiểm tra, thanh tra, sơ kết, tổng kết, đánh giá việc thực hiện chính sách, chương trình, dự án ở vùng dân tộc thiểu số; việc chấp hành pháp luật về công tác dân tộc, phòng, chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, giải quyết khiếu nại, tố cáo liên quan đến công tác dân tộc theo quy định. Nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn tình hình công tác dân tộc, chiến lược công tác dân tộc, chính sách dân tộc, quản lý nhà nước về lĩnh vực công tác dân tộc.

Hợp tác quốc tế về công tác dân tộc, phối hợp với các tổ chức, cá nhân nước ngoài, tổ chức quốc tế trong việc nghiên cứu, trao đổi kinh nghiệm về công tác dân tộc; khuyến khích việc giúp đỡ, hỗ trợ đầu tư phát triển vùng dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn thực hiện tốt công tác dân tộc và chính sách dân tộc theo quy định của pháp luật. 

THỰC HIỆN TRỢ GIÚP PHÁP LÝ ĐỐI VỚI NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ GỒM NHỮNG YÊU CẦU VÀ NỘI DUNG NÀO?

Yêu cầu thực hiện trợ giúp pháp lý đối với người dân tộc thiểu số như sau: Bảo đảm người dân tộc thiểu số được trợ giúp pháp lý bằng tiếng của dân tộc mình trong trường hợp đối tượng yêu cầu hoặc không nói được tiếng Việt; đơn giản hóa thủ tục hành chính, cách thức thực hiện trợ giúp pháp lý phù hợp nhằm tạo điều kiện thuận lợi đối với người dân tộc thiểu số tiếp cận và thụ hưởng trợ giúp pháp lý; tạo điều kiện thuận lợi và chủ động gặp người có yêu cầu để thực hiện trợ giúp pháp lý theo quy định của pháp luật trợ giúp pháp lý.

Nội dung gồm:

- Tư vấn pháp luật; tham gia tố tụng; đại diện ngoài tố tụng; các hình thức trợ giúp pháp lý khác theo quy định của pháp luật về trợ giúp pháp lý.

- Đơn giản thủ tục yêu cầu trợ giúp pháp lý: Người dân tộc thiểu số khi yêu cầu trợ giúp pháp lý nếu có khó khăn trong việc xuất trình các giấy tờ theo quy định của pháp luật thì tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý phải tiếp nhận yêu cầu, phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc các tổ chức chính trị - xã hội nơi người đó cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc để xác minh và thực hiện trợ giúp pháp lý theo quy định của pháp luật. Người dân tộc thiểu số có trách nhiệm cung cấp thông tin, tài liệu và phối hợp chặt chẽ với người thực hiện trợ giúp pháp lý trong quá trình trợ giúp pháp lý.

- Tổ chức sinh hoạt Câu lạc bộ trợ giúp pháp lý về những vấn đề pháp luật mà người dân tộc thiểu số thường có vướng mắc; Tổ chức sinh hoạt chuyên đề pháp luật về các vấn đề liên quan trực tiếp đến quyền và nghĩa vụ của người dân tộc thiểu số tại địa phương; Tổ chức trợ giúp pháp lý lưu động để cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho người dân tộc thiểu số; Lồng ghép hoạt động trợ giúp pháp lý tại cơ sở với hoạt động xét xử lưu động của Tòa án, hoạt động của các tổ chức đoàn thể, hoạt động tìm hiểu pháp luật, lễ hội văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số.

- Truyền thông về trợ giúp pháp lý: Biên soạn, in ấn và cung cấp miễn phí tờ gấp pháp luật, cẩm nang pháp luật và các tài liệu pháp luật khác có liên quan bằng tiếng dân tộc thiểu số. Soạn thảo các tài liệu pháp luật, thu và sao băng cát xét bằng tiếng dân tộc thiểu số để phát trên đài phát thanh, truyền hình, hệ thống loa truyền thanh xã. Xây dựng chuyên trang, chuyên mục về trợ giúp pháp lý cho từng vùng, miền phù hợp với đặc điểm của người dân tộc thiểu số. Đặt các Bảng thông tin, Hộp tin về trợ giúp pháp lý đối với người dân tộc thiểu số tại nhà sinh hoạt cộng đồng, nhà văn hóa xã, trụ sở Ủy ban nhân dân xã, Trạm y tế, Đồn Biên phòng, điểm bưu điện văn hóa xã. 

ĐỒNG BÀO CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở NHỮNG VÙNG ĐẶC BIỆT KHÓ KHĂN CÓ ĐƯỢC HƯỞNG CÁC DỊCH VỤ TRỢ GIÚP PHÁP LÝ MIỄN PHÍ NÀO?

Điều 18 của Nghị định số 05/2011/NĐ-CP của Chính phủ ngày 14/01/2011 quy định: Đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn được hưởng các dịch vụ trợ giúp pháp lý miễn phí theo quy định của pháp luật. Chính quyền các cấp có trách nhiệm xây dựng và thực hiện các chương trình, đề án phổ biến, giáo dục pháp luật, trợ giúp pháp lý phù hợp với từng đối tượng và địa bàn vùng dân tộc thiểu số. Sử dụng có hiệu quả các phương tiện thông tin đại chúng, đa dạng hóa các hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật phù hợp với phong tục, tập quán của đồng bào dân tộc thiểu số.

Hướng dẫn thực hiện trợ giúp pháp lý đối với người dân tộc thiểu số bao gồm: các đối tượng được hưởng trợ giúp pháp lý miễn phí đối với người dân tộc thiểu số; các tổ chức và người thực hiện trợ giúp pháp lý; các yêu cầu, thực hiện trợ giúp pháp lý đối với người dân tộc thiểu số; nâng cao năng lực thực hiện trợ giúp pháp lý đối với người dân tộc thiếu số; sự phối hợp và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc thực hiện trợ giúp pháp lý đối với người dân tộc thiểu số. 

Kinh phí thực hiện trợ giúp pháp lý đối với người dân tộc thiểu số được bố trí từ ngân sách nhà nước, các Chương trình giảm nghèo, Quỹ Trợ giúp pháp lý Việt Nam, các Dự án hợp tác quốc tế và các nguồn kinh phí hợp pháp khác theo quy định của pháp luật. 

CHÍNH SÁCH THÔNG TIN, TRUYỀN THÔNG Ở VÙNG DÂN TỘC THIỂU SỐ ĐƯỢC QUY ĐỊNH NHƯ THẾ NÀO?

Đầu tư phát triển thông tin - truyền thông vùng dân tộc thiểu số, cung cấp một số phương tiện thiết yếu nhằm đảm bảo quyền tiếp cận và hưởng thụ thông tin; linh hoạt, chuyển đổi theo các phương thức truyền thông mới.

Xây dựng, củng cố hệ thống thông tin tình hình dân tộc và tổ chức thực hiện chính sách dân tộc. Xây dựng hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia về dân tộc; thực hiện chế độ thông tin, báo cáo định kỳ, đột xuất về tình hình kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng, thiên tai, lũ lụt ở vùng dân tộc thiểu số.

Áp dụng công nghệ thông tin, xây dựng và tổ chức thực hiện trong hệ thống cơ quan công tác dân tộc.

Tăng cường và nâng cao chất lượng sử dụng ngôn ngữ dân tộc trên các phương tiện thông tin đại chúng.

Triển khai nhiều chính sách về phát triển thông tin - truyền thông ở vùng dân tộc thiểu số, chú trọng cả hai phương thức truyền thông trực tiếp (tại hộ gia đình, các buổi hội họp ở thôn, bản, phum, sóc; qua các buổi tọa đàm, hội nghị, các sự kiện văn hóa, thể thao, thông tin lưu động...) và truyền thông gián tiếp (sách, báo, bảng thông báo tại thôn, bản, tranh cổ động, bản tin, áp phích, tờ rơi, phát thanh, truyền hình...). 

Thứ Hai, 1 tháng 4, 2024

PHẢN BÁC NHỮNG LUẬN ĐIỆU CHỐNG PHÁ CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

Trong lịch sử nhân loại, hiếm có học thuyết, tư tưởng nào mà trong suốt quá trình hình thành và phát triển lại chịu nhiều sự đả kích, xuyên tạc, bóp méo của các thế lực thù địch như chủ nghĩa Mác – Lênin. Hành trình gần hai thế kỷ kể từ khi C.Mác, Ph.Ăngghen đặt nền móng đầu tiên tại Đức, V.I.Lênin kế tục và phát triển tại Nga, Chủ tịch Hồ Chí Minh vận dụng sáng tạo vào hoàn cảnh cụ thể của cách mạng Việt Nam, cho đến nay, chủ nghĩa Mác – Lênin vẫn là nền tảng tư tưởng vững chắc của các Đảng Cộng sản cầm quyền, trong đó có Việt Nam.

Vừa qua, trên trang “thongluan-rdp” có đăng tải nội dung “Văn hóa Marx – Lenin độc tài và lừa đảo còn kìm kẹp dân tộc ta bao lâu nữa” của đối tượng Âu Dương Thệ với những luận điệu xuyên tạc chủ nghĩa Mác – Lênin, cho rằng “văn hóa Mác – Lênin rủ ngủ, làm ngu dân”; đồng thời tôn vinh cái gọi là “văn hóa chính trị dân chủ đa nguyên”. Mục đích của chúng nhằm xóa bỏ chủ nghĩa Mác – Lênin, đòi “đa nguyên, đa đảng”. Thực chất đây là những luận điệu xuyên tạc trắng trợn về chủ nghĩa Mác – Lênin. Do đó, cần có nhận thức đúng đắn về những giá trị trường tồn của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đối với cách mạng Việt Nam, là cơ sở để vạch trần những luận điệu sai trái của những kẻ thù địch như Âu Dương Thệ.

Lịch sử dân tộc Việt Nam và lịch sử thế giới đương đại ghi nhận rằng: Không có sự lựa chọn con đường cứu nước đúng đắn theo những bài học kinh nghiệm của Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917 của Nguyễn Ái Quốc; không có việc truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin vào Việt Nam những năm thập niên 1920 thì tất yếu cũng không có một Đảng cách mạng để tập hợp, quy tụ, lãnh đạo các tầng lớp nhân dân đấu tranh và giành thắng lợi trong Cách mạng tháng Tám năm 1945. Và nếu không có thắng lợi của cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền của nhân dân Việt Nam vào mùa Thu năm 1945 thì cũng không có một cuộc đổi đời lịch sử của những người nô lệ trở thành chủ nhân một nước Việt Nam độc lập, tự do trong thế kỷ XX. Bởi rằng, thắng lợi có ý nghĩa thời đại đó đã đưa đất nước Việt Nam trở lại bản đồ chính trị thế giới; đồng thời đưa nhân dân Việt Nam trở thành những người có quyền tự quyết định con đường phát triển của dân tộc mình và thụ hưởng những giá trị đích thực của độc lập, tự do, quyền con người mà trước đó họ chưa bao giờ có được…

Đặc biệt, sau gần 40 năm đổi mới và hội nhập quốc tế sâu rộng, những thành tựu đạt được của đất nước về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng và đối ngoại; kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội dưới ánh sáng chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh được cộng đồng quốc tế đánh giá cao, được nhân dân ghi nhận, tin tưởng và kỳ vọng chính là minh chứng sinh động nhất khẳng định ý nghĩa, giá trị của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Cộng đồng quốc tế bày tỏ ấn tượng trước tốc độ phát triển ngoạn mục của Việt Nam. Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) ghi nhận, kể từ năm 1986 tới nay, tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Việt Nam đã tăng gấp 50 lần, đạt 434 tỷ USD. Các tổ chức quốc tế cũng đánh giá cao việc Việt Nam phát triển kinh tế luôn gắn liền với cải thiện đời sống người dân. Ngân hàng Credit Suisse (Thụy Sỹ) chỉ ra, giá trị tài sản bình quân của một người trưởng thành ở Việt Nam đã đạt 14.569 USD vào năm 2022, vượt xa mốc 1.595 USD hồi năm 2000. Cũng theo truyền thông quốc tế, Việt Nam đang chi khoảng 6% GDP hằng năm cho cải thiện hạ tầng, cao hơn nhiều so với trung bình 2,3% trong khu vực. Trong khi đó, báo cáo “Bước tiến mới: Giảm nghèo và thịnh vượng chung tại Việt Nam” của Ngân hàng Thế giới (WB) cho thấy, đói nghèo ở Việt Nam tiếp tục giảm, đặc biệt là trong các dân tộc thiểu số, với tỷ lệ giảm mạnh tới 13%. Đây là mức giảm lớn nhất trong thập niên vừa qua. Cùng với những điểm sáng về kinh tế, Việt Nam tiếp tục có những đóng góp quan trọng vào đời sống chính trị và quan hệ quốc tế. Việt Nam đã và đang đảm nhiệm cương vị thành viên một số cơ quan của tổ chức quốc tế quan trọng như Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc (hai nhiệm kỳ 2008-2009 và 2020-2021); thành viên Hội đồng nhân quyền Liên hợp quốc (hai nhiệm kỳ 2014-2016 và 2023-2025); thành viên Hội đồng chấp hành Tổ chức Y tế thế giới – WHO (nhiệm kỳ 2016-2019).

Thực tế, những luận điệu của Âu Dương Thệ và các thế lực thù địch, phản động xuyên tạc chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh luôn nhằm hướng tới mục tiêu xóa bỏ hệ tư tưởng, sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội. Do đó, chúng ta cần luôn đề cao cảnh giác, tỉnh táo nhận diện rõ bản chất xấu xa và mục đích đen tối của các thế lực thù địch, kiên quyết đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam trong tình hình mới./.