Hiển thị các bài đăng có nhãn quản lý nhà nước. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn quản lý nhà nước. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 8 tháng 4, 2024

NHỮNG LĨNH VỰC CHỦ YẾU CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CÔNG TÁC DÂN TỘC Ở VIỆT NAM LÀ GÌ?

Xây dựng, ban hành các chương trình mục tiêu quốc gia, quy hoạch, kế hoạch, chính sách về lĩnh vực công tác dân tộc; các văn bản quy phạm pháp luật về công tác dân tộc; các chính sách dân tộc, chính sách đặc thù, các chương trình, dự án, đề án phát triển vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn; tiêu chí phân định vùng dân tộc theo trình độ phát triển, tiêu chí xác định thành phần dân tộc, tiêu chí về chuẩn đói nghèo đối với vùng dân tộc thiểu số; xây dựng chính sách đào tạo nguồn nhân lực, nâng cao dân trí, bảo tồn và phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số.

Tuyên truyền, phổ biến, chế độ, chính sách pháp luật về lĩnh vực dân tộc để đồng bào các dân tộc hiểu rõ và chủ động tham gia vào quá trình thực hiện. Tuyên truyền về truyền thống đoàn kết của các dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Tổ chức tốt các phong trào tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau giữa các dân tộc trong cộng đồng. Tổ chức hoạt động kết nghĩa giữa các địa phương nhằm tương trợ giúp nhau cùng phát triển.

Tổ chức thực hiện chính sách, chiến lược, chương trình mục tiêu quốc gia, quy hoạch, kế hoạch, chính sách về lĩnh vực công tác dân tộc và liên quan đến dân tộc. Huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực đầu tư cho vùng dân tộc thiểu số. Thẩm định các chương trình, dự án, đề án, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số.

Xây dựng và tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về công tác dân tộc từ Trung ương đến cơ sở; thực hiện phân công, phân cấp có hiệu quả trong lĩnh vực công tác dân tộc. Quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng, quản lý cán bộ người dân tộc thiểu số trong hệ thống chính trị và cán bộ trong hệ thống cơ quan làm công tác dân tộc.

Xây dựng hệ thống thông tin cơ sở dữ liệu về công tác dân tộc nhằm cung cấp thông tin, dữ liệu về các tộc người, các vùng dân tộc thiểu số, các lĩnh vực quản lý nhà nước về công tác dân tộc cho các tổ chức, cá nhân để nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách, chương trình, dự án; Đồng thời làm cơ sở hoạch định, xây dựng chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật về dân tộc.

Kiểm tra, thanh tra, sơ kết, tổng kết, đánh giá việc thực hiện chính sách, chương trình, dự án ở vùng dân tộc thiểu số; việc chấp hành pháp luật về công tác dân tộc, phòng, chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, giải quyết khiếu nại, tố cáo liên quan đến công tác dân tộc theo quy định. Nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn tình hình công tác dân tộc, chiến lược công tác dân tộc, chính sách dân tộc, quản lý nhà nước về lĩnh vực công tác dân tộc.

Hợp tác quốc tế về công tác dân tộc, phối hợp với các tổ chức, cá nhân nước ngoài, tổ chức quốc tế trong việc nghiên cứu, trao đổi kinh nghiệm về công tác dân tộc; khuyến khích việc giúp đỡ, hỗ trợ đầu tư phát triển vùng dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn thực hiện tốt công tác dân tộc và chính sách dân tộc theo quy định của pháp luật. 

Thứ Năm, 7 tháng 12, 2023

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CÔNG TÁC DÂN TỘC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY ĐƯỢC HIỂU NHƯ THẾ NÀO?

Quản lý nhà nước về công tác dân tộc là quá trình tác động của nhà nước để điều hành, điều chỉnh các hoạt động kinh tế - xã hội đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số để những tác động đó diễn ra theo đúng quan điểm, đường lối của Đảng và pháp luật của Nhà nước.

Quản lý nhà nước về công tác dân tộc bao gồm các mặt hoạt động sau: Xây dựng, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về lĩnh vực dân tộc; tuyên truyền, phổ biến, chế độ, chính sách pháp luật về lĩnh vực dân tộc; tổ chức thực hiện chiến lược, chính sách và chương trình liên quan đến lĩnh vực dân tộc; xây dựng và tổ chức bộ máy thực hiện; thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực hiện chính sách dân tộc.

Thực chất quản lý nhà nước về công tác dân tộc là thực hiện luật pháp, chính sách và chương trình liên quan đến lĩnh vực dân tộc; đồng thời đây còn là sự kết hợp hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước với sự tham gia của các cộng đồng dân cư ở các vùng dân tộc thiểu số.

Nội dung quản lý nhà nước về công tác dân tộc bao gồm 11 nội dung: Ban hành và chỉ đạo thực hiện chiến lược, chương trình mục tiêu quốc gia, quy hoạch, kế hoạch, chính sách về lĩnh vực công tác dân tộc; kiện toàn tổ chức bộ máy cơ quan làm công tác dân tộc từ Trung ương đến cơ sở; thực hiện phân công, phân cấp có hiệu quả trong lĩnh vực công tác dân tộc; huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực đầu tư cho vùng dân tộc thiểu số; kiểm tra, thanh tra, sơ kết, tổng kết, đánh giá việc thực hiện chính sách, chương trình, dự án ở vùng dân tộc thiểu số; tuyên truyền, giáo dục chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước bằng nhiều biện pháp, hình thức để đồng bào các dân tộc hiểu rõ và chủ động tham gia vào quá trình thực hiện; xây dựng hệ thống thông tin cơ sở dữ liệu về công tác dân tộc; nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn tình hình công tác dân tộc, chiến lược công tác dân tộc, chính sách dân tộc, quản lý nhà nước về lĩnh vực công tác dân tộc và thực hiện hợp tác quốc tế về công tác dân tộc[1].



[1] Xin xem Nghị định Số 05/2011/NĐ-CP của Chính phủ ngày 14/01/2011 về công tác dân tộc 

Thứ Bảy, 28 tháng 11, 2020

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ TÔN GIÁO LÀ YÊU CẦU KHÁCH QUAN

Thực tế cho thấy, không thể có quyền tự do tôn giáo tuyệt đối. Xét về bản chất, tôn giáo là một tổ chức tập hợp những người tin theo một đối tượng tôn thờ, được sắp xếp theo cơ cấu nhất định. Mọi tổ chức tồn tại, hoạt động trong xã hội đều phải chịu sự quản lý, giám sát của Nhà nước, tuân thủ quy định của pháp luật. Do vậy, các tôn giáo phải chịu sự quản lý của Nhà nước, phải chấp hành quy định của pháp luật. Việc ban hành các văn bản pháp luật để tiến hành quản lý nhà nước đối với các tôn giáo là nhu cầu tất yếu, khách quan của mọi quốc gia trên thế giới

Điều 18 Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị quy định: “Quyền tự do bày tỏ tôn giáo hoặc tín ngưỡng chỉ có thể bị giới hạn bởi pháp luật và khi sự giới hạn đó là cần thiết để bảo vệ an ninh, trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức xã hội hoặc để bảo vệ quyền và tự do cơ bản của người khác”.

Ở nhiều nước trên thế giới, hoạt động tôn giáo cũng phải tuân thủ luật pháp như: Điều 26, Luật của Cộng hòa Pháp về tách Giáo hội khỏi Nhà nước quy định: “Việc tụ tập để thực hiện các nghi lễ tôn giáo phải báo cáo và chịu sự kiểm soát của các cơ quan chính quyền có chức năng gìn giữ trật tự công cộng. Ở những nơi chuyên vào việc thờ tự và thực hành nghi lễ tôn giáo cấm việc hội họp có tính chất chính trị”. Điều 27 quy định: “Các nghi lễ, các cuộc rước tôn giáo tiến hành bên ngoài khu vực nhà thờ và việc kéo chuông phải tuân theo những quy định của chính quyền tỉnh, thành phố”.

Luật pháp Cộng hòa Bỉ quy định trách nhiệm hình sự đối với những giáo sĩ có hành vi và lời nói xúc phạm tới Chính phủ, luật pháp, sắc lệnh của nhà vua cũng như đối với các hoạt động của chính quyền.

Ở Cộng hòa Liên bang Đức, giáo sĩ cũng bị truy cứu trách nhiệm hình sự như công dân khác trong trường hợp vi phạm hiến pháp, pháp luật. Cũng ở Đức, các giám mục Thiên chúa giáo khi nhậm chức phải tuyên thệ: “Tôi xin thề và hứa sẽ tôn trọng Chính phủ hợp hiến. Chiểu theo nghĩa vụ phải quan tâm tới lợi ích của Nhà nước Đức trước bất kỳ sự gì khả dĩ tác hại tới lợi ích đó”.

Ở Mỹ, hoạt động của các tổ chức tôn giáo được quản lý theo luật pháp của các bang. Luật của các bang quy định về hoạt động tôn giáo có những điểm khác nhau về chi tiết, song nhìn chung đều dựa trên yêu cầu thống nhất trong toàn liên bang như: Việc đăng ký thủ tục bắt buộc đối với các tổ chức tôn giáo trong toàn liên bang, lệ phí phải nộp cho chính quyền về việc đăng ký là 15 đô la; các cơ quan chính quyền của bang trực tiếp thi hành việc giám sát các hoạt động của các tổ chức tôn giáo trên địa bàn hành chính của bang. Chỉ sau khi được chính quyền xem xét, đồng ý cho phép thành lập thì các tổ chức tôn giáo mới được phép hoạt động và có tư cách pháp nhân.

Ở Nhật Bản, Luật về các tổ chức tôn giáo có tư cách pháp nhân quy định rõ: Các cấp chính quyền quản lý các tổ chức tôn giáo là Bộ Văn hóa, tỉnh, huyện. Các tổ chức tôn giáo đều phải đăng ký ở Bộ Văn hóa và chỉ sau khi đã được đăng ký mới được hoạt động tại nơi đặt văn phòng của tổ chức đó.

Thứ Tư, 19 tháng 8, 2020

NÂNG CAO VAI TRÒ, HIỆU LỰC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC PHÙ HỢP VỚI YÊU CẦU PHÁT TRIỂN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

Kinh tế nhà nước chỉ có thể phát huy được vai trò của mình khi có hệ thống quản lý nhà nước phù hợp và có sức mạnh thật sự của chính mình. Xét đến cùng, sự yếu kém của các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước có nguyên nhân từ phía Nhà nước nhiều hơn từ phía doanh nghiệp nhà nước. Do đó, nâng cao vai trò, hiệu quả quản lý nhà nước đang là một trong các vấn đề lớn, vừa có ý nghĩa cấp bách trước mắt, vừa có ý nghĩa lâu dài. Những biện pháp cần thực hiện là:

Thứ Hai, 8 tháng 6, 2020

TĂNG CƯỜNG SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG, NÂNG CAO HIỆU LỰC, HIỆU QUẢ QUẢN LÝ CỦA NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI QUỐC PHÒNG

Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước đối với quốc phòng. Giữ vững sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với sự nghiệp quốc phòng, tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng “thế trận lòng dân”, nền tảng chính trị, tinh thần là nhân tố quyết định thắng lợi của sự nghiệp quốc phòng. Vì thế, phải tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, nhất là năng lực nắm bắt, đánh giá, dự báo tình hình và ra các quyết định có tính đột phá, vượt trội về quốc phòng; năng lực hoạch định đường lối, thể chế hóa và tổ chức thực hiện chủ trương, nghị quyết về quốc phòng. Để thực hiện được điều đó, Đảng ta phải thực sự trong sạch, vững mạnh, bản lĩnh, trí tuệ, đoàn kết, kỷ cương, gắn bó mật thiết với nhân dân, kiên quyết đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, tham nhũng, v.v. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước và hoạt động của chính quyền các cấp, thực hiện nghiêm Hiến pháp, Luật Quốc phòng, Chiến lược Quốc phòng cả trong thời bình và thời chiến. Thường xuyên củng cố, kiện toàn cơ quan, cán bộ làm công tác quốc phòng ở các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan trực thuộc Chính phủ; coi trọng quản lý Nhà nước về quốc phòng theo pháp luật, kiên quyết đấu tranh chống các nhận thức sai trái, đề cao lợi ích kinh tế, coi nhẹ lợi ích quốc phòng. Ngoài ra, cần phát huy cao độ vai trò của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đặc biệt là trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội và nhân dân trong thực hiện nhiệm vụ quốc phòng. Một Đảng bản lĩnh, trí tuệ, hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, nhân dân đồng lòng, Quân đội trung thành, tin cậy thì không một thế lực nào có thể xâm phạm được, đây là nhân tố bên trong, cơ bản, quan trọng, quyết định đối với quốc phòng.