Hiển thị các bài đăng có nhãn giai cấp tư sản. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn giai cấp tư sản. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 6 tháng 10, 2023

PHẢI CHĂNG ĐỊA VỊ PHỤ THUỘC CỦA GIAI CẤP CÔNG NHÂN ĐỐI VỚI GIAI CẤP TƯ SẢN TRONG THẾ GIỚI HIỆN ĐẠI ĐÃ THAY ĐỔI

Khi trình bày về bản chất của tích lũy tư bản, nói về địa vị phụ thuộc của giai cấp công nhân đối với giai cấp tư sản, C.Mác đã chỉ rõ người công nhân phụ thuộc vào nhà tư bản trong cả tiêu dùng sản xuất và tiêu dùng cá nhân: “Trong tiêu dùng sản xuất, người công nhân hoạt động với tư cách là một động lực của tư bản và thuộc về nhà tư bản; trong tiêu dùng cá nhân, anh ta thuộc về bản thân mình và thực hiện những chức năng sinh hoạt ở bên ngoài quá trình sản xuất. Kết quả của tiêu dùng thứ nhất là sự sinh tồn của nhà tư bản, kết quả của tiêu dùng thứ hai là sự sinh tồn của bản thân người công nhân”. Phân tích sâu hơn về tiêu dùng cá nhân của người công nhân, C.Mác đi đến kết luận: “người công nhân dùng các tư liệu sinh hoạt chỉ là để giữ cho sức lao động của mình “chạy” được mà thôi,cũng như máy hơi nước ăn than và nước, như bánh xe ăn dầu mỡ. Khi đó, tư liệu tiêu dùng của người công nhân là tư liệu tiêu dùng của một trong những tư liệu sản xuất, sự tiêu dùng cá nhân của anh ta cũng trực tiếp là tiêu dùng sản xuất”(3). C.Mác cũng khẳng định địa vị phụ thuộc của giai cấp công nhân đối với giai cấp các nhà tư bản: “vậy, quá trình sản xuất TBCN, xét trong một liên hệ chung, hay coi như quá trình tái sản xuất, thì không chỉ sản xuất ra hàng hóa, không phải chỉ sản xuất ra giá trị thặng dư, mà còn sản xuất và tái sản xuất ra bản thân quan hệ TBCN - một bên nhà tư bản và bên kia là công nhân làm thuê”(4). Công nhân hoàn toàn lệ thuộc vào giai cấp tư sản cả ở trong và ngoài sản xuất.

Trong thế giới hiện đại, dưới sự tác động của CMCN 4.0 đang phát triển mạnh mẽ, sự chi phối của một bộ phận công nhân tri thức, thậm chí một số ít công nhân 4.0 có thể mang tính quyết định đến sự thành bại của một số tập đoàn công nghệ cao tại các nước tư bản phát triển. Đội ngũ này có cơ sở để gây sức ép đến giới chủ cả trong sản xuất và tiêu dùng, buộc giới chủ phải nhượng bộ trên nhiều phương diện. Dựa vào những hiện tượng đang diễn ra đó, một số người đã tìm cách tấn công, phản bác lý luận tích lũy của C.Mác dưới nhiều hình thức khác nhau.   

Không thể phủ nhận hiện tượng công nhân công nghệ cao ở một số tập đoàn kinh tế lớn trên thế giới gây sức ép với giới chủ trong bối cảnh của nền kinh tế thị trường hiện đại dưới sự tác động trực tiếp của cuộc CMCN 4.0. Bởi lẽ, CMCN 4.0 được hình thành trên nền tảng cải tiến của cuộc cách mạng số, với những công nghệ mới như: Internet vạn vật (IoT), trí tuệ nhân tạo (AI), thực tế ảo (VR), tương tác thực tại ảo (AR), mạng xã hội, điện toán đám mây, di động và phân tích dữ liệu lớn (SMAC)... đã làm thay đổi cách thức kinh doanh truyền thống, chuyển từ trạng thái ảo sang sát đúng với trạng thái thực... Điều này khiến cho sự tương tác giữa chủ và thợ thay đổi: giới chủ phải lắng nghe ý kiến từ người làm thuê, bới chính họ mới là người làm chủ tri thức, công nghệ. Nhưng điều này cũng không phủ nhận được luận điểm mà C.Mác đã nêu trong lý luận tích lũy tư bản về địa vị phụ thuộc của giai cấp công nhân đối với giai cấp tư sản đến nay vẫn không hề thay đổi về bản chất. Lập luận ở đây là:

Thứ nhất, giả định những đòi hỏi của công nhân được chấp thuận sẽ có hai tình huống: Một là, những đề xuất của họ sẽ mang lại lợi ích cho tập đoàn khi đó cả chủ và thợ đều có lợi. Hai là, những đề xuất của họ chỉ có lợi cho công nhân, tất nhiên nhà tư bản phải cân nhắc về việc phân chia lại m, nhưng điều này đã được C.Mác khẳng định: sản xuất giá trị thặng dư là quy luật kinh tế tuyệt đối của CNTB.

Thứ hai, những đòi hỏi của công nhân không được chấp nhận, khi đó họ sẽ bỏ việc. Trường hợp này cũng có hai tình huống: Một là, khi bỏ việc ở tập đoàn này họ sẽ tiếp tục làm việc cho tập đoàn khác và như vậy họ chỉ đổi chủ mà thôi. Hai là, họ tự lập công ty, tức là tham gia vào giới chủ. Khi trở thành người chủ, tất yếu phải có lao động làm thuê, bản chất của mối quan hệ vẫn không thay đổi - trường hợp này rất hiếm. Bởi vì, khi phân tích điều kiện thứ hai để sức lao động trở thành hàng hóa C.Mác đã chỉ ra: “...người chủ sức lao động phải không còn có khả năng bán những hàng hóa trong đó lao động của anh ta được vật hóa”(5) nghĩa là chưa đủ các điều kiện sản xuất cần thiết để sức lao động của anh ta được vật hóa.

Thứ ba, hiện tượng trên không phải là phổ biến, chủ yếu chỉ xuất hiện trong các tập đoàn công nghệ cao, và diễn ra ở một số nước tư bản phát triển. Tóm lại, không thể nhìn vào một số hiện tượng để rút ra những kết luận không thuyết phục.

 


Thứ Tư, 9 tháng 6, 2021

NHẬN DIỆN MỘT SỐ LUẬN ĐIỆU SAI TRÁI, PHẢN ĐỘNG VỀ BẢN CHẤT GIAI CẤP CÔNG NHÂN VÀ VAI TRÒ CỦA TỔ CHỨC CÔNG ĐOÀN VIỆT NAM

Các thế lực thù địch, phản động xuyên tạc rằng, chủ nghĩa Mác - Lê-nin là đúng đắn nhưng chỉ trong điều kiện Cách mạng công nghiệp lần thứ nhất (động cơ hơi nước) gắn với nền sản xuất dựa trên máy móc cơ khí ở thế kỷ thứ XIX; hiện nay, nhân loại đã chuyển mình sang Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, kỷ nguyên của kinh tế tri thức, kinh tế số, toàn cầu hóa, tin học hóa, dữ liệu lớn (big data)…, nên chủ nghĩa Mác - Lê-nin không còn phù hợp nữa; trong nền sản xuất hiện đại, việc đưa rô-bốt (người máy) vào sản xuất ngày càng nhiều, với dây chuyền tự động hóa, việc tuyển dụng và sử dụng người công nhân ngày càng ít đi, cho nên học thuyết về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân không còn phù hợp nữa; trong điều kiện hiện đại, nhà tư bản không còn bóc lột sức lao động của giai cấp công nhân, mà đó là sự thỏa thuận giữa người sử dụng lao động và người lao động; giai cấp công nhân không còn vai trò trong nền sản xuất hiện đại mà chính tầng lớp trí thức mới là người quyết định vận mệnh tương lai của nhân loại (?!)…

Các thế lực thù địch ra sức xuyên tạc, bóp méo rằng, giai cấp công nhân chỉ là những người có học vấn hạn chế nên chỉ có thể lật đổ chế độ cũ, chứ không thể xây dựng được một xã hội mới tốt đẹp, nhất là trong thời đại khoa học phát triển hiện nay. Họ xảo biện rằng, nếu như giai cấp công nhân có sứ mệnh lịch sử là “Người đào huyệt chôn chủ nghĩa tư bản” xây dựng một xã hội mới thì tại sao ở những nước tư bản phát triển có lực lượng công nhân rất đông, chất lượng cao lại không thực hiện vai trò, sứ mệnh lịch sử của mình? Đảng Cộng sản Việt Nam không thể gọi là Đảng của giai cấp công nhân được, vì nó có rất ít tính công nhân mà mang đậm tính nông dân, chịu ảnh hưởng nặng nề của xã hội phong kiến,…, nên giai cấp công nhân Việt Nam và Đảng Cộng sản Việt Nam không thể lãnh đạo thành công sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam (?!).

Họ ngụy biện rằng, giai cấp công nhân đã hoàn thành sứ mệnh của mình trong thời kỳ cách mạng giải phóng dân tộc. Ngày nay, trong điều kiện hòa bình, hội nhập quốc tế, thời kỳ của các cuộc cách mạng khoa học - công nghệ, vai trò đó phải thuộc về đội ngũ trí thức, những nhà khoa học, nhà tư tưởng. Chỉ có những nhà khoa học, trí thức mới có thể đưa đất nước phát triển nhanh được. Rằng, hiện nay chủ nghĩa tư bản đã thay đổi về chất, nhà nước tư bản đã là “nhà nước phúc lợi chung” và theo tự nhiên, nhà nước tư bản sẽ dần “tiệm tiến” lên nhà nước xã hội chủ nghĩa, nó không còn dựa trên sự bóc lột lao động làm thuê nữa; công nhân ở các nước tư bản không còn bị bóc lột, địa vị của họ đã có sự thay đổi căn bản, cho nên không còn sứ mệnh lịch sử nữa (?!)…

Đó là một số trong vô vàn những luận điệu xuyên tạc, mị dân, phản động của “chủ nghĩa chống cộng” và các thế lực thù địch về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân.

Sự thật là, sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân do điều kiện khách quan quy định, không phải do bất kỳ lý do nào khác. Giai cấp công nhân chính là sản phẩm của nền đại công nghiệp và không ngừng phát triển cả về số lượng và chất lượng, họ tự ý thức được vị trí, vai trò của mình trong tiến trình phát triển của lịch sử xã hội loài người. Mặc dù chủ nghĩa tư bản đã và đang có sự điều chỉnh thích nghi do sự đấu tranh quyết liệt của chủ nghĩa xã hội, của giai cấp công nhân và quần chúng nhân dân lao động, song bản chất bóc lột của chế độ tư bản không hề thay đổi, mà nó ngày càng tinh vi, xảo quyệt hơn.

Mưu đồ của các thế lực thù địch với chủ nghĩa xã hội là ra sức tấn công vào nền tảng tư tưởng của các đảng cộng sản, nhằm thay thế bằng tư tưởng của giai cấp tư sản trên phạm vi toàn thế giới. Những luận điệu trên là hết sức phản động, phục vụ cho ý đồ đen tối đó và chúng cố tình không nhận ra rằng, dưới tác động của hội nhập quốc tế, giai cấp công nhân Việt Nam đã có sự phát triển nhanh cả về số lượng và chất lượng, đa dạng về cơ cấu thành phần và ngành, nghề, đời sống vật chất và tinh thần ngày càng được cải thiện. Giai cấp công nhân Việt Nam ngày càng được nâng cao về trình độ chuyên môn nghề nghiệp, hình thành tác phong và kỷ luật lao động theo hướng hiện đại, vì thế, họ có nhiều cơ hội việc làm và đời sống vật chất, tinh thần ngày càng được cải thiện.

Sự điều chỉnh, thích nghi đã làm cho chủ nghĩa tư bản tạm thời chiếm ưu thế; giai cấp công nhân ở các nước tư bản đã có mức sống tốt hơn do năng suất lao động ngày càng cao và bởi sự đấu tranh của tổ chức công đoàn những nơi này đã mang lại lợi ích cho người lao động. Tuy nhiên, đây chỉ là sự phản ánh mức sống của họ trong điều kiện mới, hoàn toàn không phải là sự thay đổi bản chất của chủ nghĩa tư bản và càng không làm thay đổi bản chất cách mạng của giai cấp công nhân. Những mâu thuẫn trong lòng xã hội tư bản không hề giảm đi, mà ngày càng trầm trọng, gay gắt thêm. Trong xã hội tư bản, số người giàu “chỉ là 1% dân số, nhưng lại chiếm giữ phần lớn của cải, tư liệu sản xuất, kiểm soát tới ¾ nguồn tài chính, tri thức và các phương tiện thông tin đại chúng chủ yếu và do đó chi phối toàn xã hội”(9). Điển hình là phong trào chiếm phố Wall ở Mỹ năm 2017; biểu tình chống phân biệt chủng tộc cuối tháng 5, đầu tháng 6-2020 ở Mỹ… Những điều đó là hệ quả của sự phân cực giàu nghèo, phân biệt đối xử… do sự thống trị của chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa.

Về vai trò của tổ chức công đoàn, các thế lực phản động xuyên tạc trắng trợn rằng, công đoàn hiện nay không còn phát huy vai trò là tổ chức bảo vệ quyền lợi cho người lao động; hoạt động của tổ chức công đoàn ở các doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chỉ mang tính hình thức, không dám đấu tranh với lãnh đạo doanh nghiệp, với ông chủ; họ cũng chỉ là người làm thuê và chịu sự quản lý của người sử dụng lao động và thậm chí, có thể bị sa thải nếu làm trái ý chủ doanh nghiệp (?!)...

Sự thật là, vai trò của tổ chức Công đoàn Việt Nam được hiến định trong Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và được cụ thể hóa trong Luật Công đoàn Việt Nam. Luật Công đoàn Việt Nam chỉ rõ: “Công đoàn là tổ chức chính trị - xã hội rộng lớn của giai cấp công nhân và của người lao động, được thành lập trên cơ sở tự nguyện, là thành viên trong hệ thống chính trị của xã hội Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; đại diện cho cán bộ, công chức, viên chức, công nhân và những người lao động khác (sau đây gọi chung là người lao động), cùng với cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội chăm lo và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động…; tham gia quản lý nhà nước, quản lý kinh tế - xã hội, tham gia thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp; tuyên truyền, vận động người lao động học tập nâng cao trình độ, kỹ năng nghề nghiệp, chấp hành pháp luật, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”.

Hoạt động của các tổ chức đảng, tổ chức công đoàn ở các doanh nghiệp thực sự hiệu quả; các tổ chức này luôn đóng vai trò là điểm tựa, động viên, bảo vệ quyền lợi chính đáng, hợp pháp, khuyến khích người lao động hăng say lao động, phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật và là lực lượng nòng cốt trong thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Thông qua nhiều hoạt động đa dạng, phong phú, tổ chức công đoàn giúp cho công nhân hiểu biết về hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp; nâng cao năng suất lao động và chất lượng sản phẩm; nêu cao tinh thần trách nhiệm trong sản xuất và công tác; thi đua giỏi việc nước, đảm việc nhà, lao động sáng tạo; đồng thời, tuyên truyền trong công nhân, viên chức, người lao động về đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; nắm bắt tình hình tư tưởng, tâm tư, nguyện vọng của công nhân, viên chức, người lao động để kịp thời phản ánh, kiến nghị với Đảng, Nhà nước nghiên cứu, giải quyết; đồng thời, tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật về lao động, về tổ chức công đoàn trong công nhân, viên chức, người lao động và người sử dụng lao động thuộc các thành phần kinh tế, nhất là ở khu vực kinh tế ngoài nhà nước và có vốn đầu tư nước ngoài…

Do đó, những luận điệu xuyên tạc trên của các thế lực thù địch là hòng che đậy bản chất bóc lột của giai cấp tư sản hoặc tìm cách xóa nhòa ranh giới giữa giai cấp công nhân với giai cấp tư sản, thủ tiêu đấu tranh giai cấp, hoàn toàn không có cơ sở khoa học và thực tiễn.