Hiển thị các bài đăng có nhãn giai cấp công nhân. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn giai cấp công nhân. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 20 tháng 8, 2024

SỰ RA ĐỜI CỦA GIAI CẤP CÔNG NHÂN VIỆT NAM NHƯ THẾ NÀO?

 

Vào cuối thế kỷ thứ XIX, sau khi cơ bản hoàn thành quá trình xâm lược nước ta thực dân Pháp tiến hành thực hiện kế hoạch khai thác thuộc địa ở Việt Nam. Dưới tác động của những cuộc khai thác thuộc địa, giai cấp công nhân đã ra đời ở ngành khai thác mỏ than, thiếc… Tuy chưa phải công nhân hiện đại, sản xuất trong dây chuyền công nghiệp, nhưng đây là mầm mống để phát triển hình thành giai cấp công nhân Việt Nam.

Thực dân Pháp đẩy nhanh quá trình khai thác thuộc địa, nhiều khu công nghiệp được xây dựng tập trung ở Hà Nội, Sài Gòn, Hải Phòng, Nam Định, Vinh - Bến Thủy, Hòn Gai,... đã làm cho số công nhân tăng nhanh. Nhiều xí nghiệp tập trung đông công nhân như: Xi măng Hải Phòng có 1.500 người, 4 nhà máy dệt ở Nam Định, Hải Phòng, Hà Nội cũng có 1.800 người, các nhà máy xay xát ở Sài Gòn có tới 3.000 người. Riêng trên các tuyến đường sắt Vân Nam - Hải Phòng đã thu hút tới 6 vạn người. Ngành mỏ (năm 1914) có tới 4.000 thợ, đó là chưa kể số “thợ theo mùa”. Tổng công nhân Việt Nam tính đến trước chiến tranh thế giới lần thứ nhất có khoảng 10 vạn người.

Sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất kết thúc, thực dân Pháp tiến hành cuộc khai thác thuộc địa lần thứ II (1919 - 1929) nhằm tăng cường vơ vét, bóc lột nhân dân thuộc địa để bù đắp những tổn thất trong chiến tranh. Sự phát triển của một số ngành công nghiệp khai khóang, dệt, giao thông vận tải…. dẫn đến số lượng công nhân tăng nhanh. Đến cuối năm 1929, tổng số công nhân làm việc trong các doanh nghiệp của tư bản Pháp là hơn 22 vạn người, trong đó có 5,3 vạn thợ mỏ, 8,6 vạn công nhân các ngành công thương nghiệp. Như vậy, cùng với công cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp dẫn tới sự ra đời giai cấp công nhân ở Việt Nam.

Thứ Ba, 11 tháng 6, 2024

VAI TRÒ CỦA GIAI CẤP CÔNG NHÂN QUA PHONG TRÀO HIẾN CHƯƠNG Ở ANH (1835-1848) LÀ GÌ?

 

Vào những năm 30 của thế kỷ XIX, chủ nghĩa tư bản ở Anh phát triển tương đối mạnh mẽtạo nên cảnh bần cùng về đời sống vật chất lẫn tinh thần của công nhân. Cho nên, lúc này giai cấp công nhân cần nhu cầu tham gia chính quyền để có tiếng nói, nhằm cải thiện đời sống của mình và góp phần cải tạo chế độ xã hội.

Năm 1835, một nhóm thợ thủ công đã lập ra Hội công nhân Luân Đôn, nhằm đấu tranh cho quyền phổ thông đầu phiếu của mình. Tháng 5 năm 1835 những người lãnh đạo Hội đã soạn thảo bản Hiến chương với nội dung đề xuất việc thi hành quyền phổ thông đầu phiếu, bãi bỏ tiêu chuẩn tài sản để được bầu làm nghị sĩ, bỏ phiếu kín phân đều các khu vực bầu cử… Dần dần phong trào có nhiều lực lượng khác trong xã hội xã hội cùng tham gia hưởng ứng. Từ năm 1837 đến năm 1838, xuất hiện thêm các tổ chức chính trị của công nhân như: Hội dân chủ Luân Đôn và Đại liên minh miền Bắc. Những tổ chức này cũng hoạt động theo các mục tiêu của phong trào Hiến chương. Năm 1839 phong trào có thêm sự ủng hộ đông đảo của công nhân ở Anh và Xcốtlen.

Đại hội Đại biểu lần thứ nhất Phong trào Hiến chương ở Anh khai mạc vào ngày 4 tháng 2 năm 1839 đã thông qua bản kiến nghị về cải cách bầu cử. Kết quả, đến tháng 5 năm 1839 đã thu được 1,28 triệu chữ ký vào bản kiến nghị đòi chính phủ phải thực hiện những yêu sách, nếu không sẽ tổ chức đấu tranh bằng bạo lực. Bản kiến nghị của giai cấp vô sản đưa ra đã bị Quốc hội bác bỏ. Do đó, giai cấp vô sản đã tổ chức phát động đấu tranh bằng bạo lực.

Ngày 17 tháng 7 năm 1839, khởi nghĩa đã chính thức nổ ra ở Bớcminham, nhưng 2 ngày sau đã bị giai cấp tư sản dập tắt, cuối năm ấy phong trào Hiến chương tạm thời lắng xuống. Đến năm 1842, Phong trào Hiến chương lại được tiếp tục dấy lên mạnh mẽ và đã tổ chức lấy được 3,5 triệu chữ ký vào bản kiến nghị, nhưng cũng không đạt được kết quả. Từ năm 1847 đến 1848, một cao trào mới của phong trào Hiến chương lại nổi lên rầm rộ khắp nơi. Lần này bản kiến nghị đòi cải cách quyền bầu cử và thu được nhiều chữ ký nhất, có tới hơn 5 triệu người đã ký vào bản kiến nghị, một lần nữa nghị viện tư sản lại bác bỏ. Những kiến nghị chỉ là những yêu cầu của giai cấp công nhân, trên thực tế các nội dung đó đều không được giai cấp tư sản đáp ứng.

Những thất bại trong việc đưa kiến nghị đã làm cho Phong trào Hiến chương bị suy yếu, nội bộ nảy sinh mâu thuẫn, bất đồng, vì vậy đến đầu những năm 50 của thế kỷ XIX phong trào chính thức tan rã.

Thứ Hai, 1 tháng 4, 2024

CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC LÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN KHOA HỌC TRỰC TIẾP CHO GIAI CẤP CÔNG NHÂN, NHÂN DÂN LAO ĐỘNG TIẾN HÀNH CÁCH MẠNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

Chủ nghĩa Mác - Lênin là khoa học, cách mạng và nhân văn, tính lôgic, biện chứng của chủ nghĩa xã hội khoa học ở chỗ, nếu như ở mỗi nội dung của triết học là hạt nhân thế giới quan, phương pháp luận; kinh tế chính trị học luận bàn mối quan hệ của con người trong sản xuất và phân phối…thì chủ nghĩa xã hội khoa học là lý luận trực tiếp cho giai cấp công nhân, nhân dân lao động tiến hành tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa. Khẳng định vấn đề này, C.Mác khẳng định “…lý luận cũng sẽ trở thành lực lượng vật chất, một khi nó thâm nhập vào quần chúng”[1]. Thật vậy, phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân trong lịch sử diễn ra với nhiều hình thức từ đấu tranh kinh tế, đấu tranh tư tưởng và cao nhất là đấu tranh chính trị. Để đấu tranh có kết quả, giành thắng lợi thì cần có lý luận soi đường, dẫn lối, xác định mục tiêu, phương hướng, phương pháp cách mạng để làm chuyển biến cách mạng từ hình thái kinh tế - xã hội tư bản chủ nghĩa lên hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa mà giai đoạn đầu là xã hội chủ nghĩa được chia ra các giai đoạn của thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội.

Vì thế, chủ nghĩa xã hội khoa học thống nhất giữa lý luận với thực tiễn, giữa lý luận với phong trào, giữa lý tưởng với hiện thực. Lịch sử thế giới tự so sánh, Công xã Paris chỉ tồn tại 72 ngày (18/3 đến 28/5/1871) và thất bại khi phong trào chưa được truyền bá lý luận cách mạng sâu rộng trong giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Vượt lên, Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 là sự hội tụ kết hợp nhuần nhuyễn giữa lý luận và thực tiễn, giữa chủ nghĩa xã hội khoa học với phong trào cách mạng của giai cấp công nhân nhằm giải quyết những mâu thuẫn cơ bản của thời đại, hội tụ ở nước Nga, một nước tư bản trẻ. Ở đó, V.I.Lênin - người học trò xuất sắc của C.Mác, Ph.Ăngghen đã bảo vệ, bổ sung, phát triển, hoàn thiện, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa xã hội khoa học vào thực tiễn cách mạng. Cách mạng Tháng Mười đã làm cho chủ nghĩa xã hội từ lý luận trở thành hiện thực, mở ra thời đại mới quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội. Đánh giá về sự vĩ đại, tầm vóc của cuộc cách mạng này, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận xét: “Giống như mặt trời chói lọi, Cách mạng Tháng Mười chiếu sáng khắp năm châu, thức tỉnh hàng triệu, hàng triệu người bị áp bức, bóc lột trên trái đất. Trong lịch sử loài người chưa từng có cuộc cách mạng nào có ý nghĩa to lớn và sâu xa như thế”[2].

Đối với các nước chưa tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa, chủ nghĩa xã hội khoa học đã trực tiếp chỉ ra đối tượng cách mạng, giai cấp công nhân được trang bị lý luận khoa học, cách mạng sẽ hoàn toàn có thể nhận diện được những mâu thuẫn vốn có trong lòng các nước tư bản chủ nghĩa mà tập trung là mâu thuẫn giữa giai cấp công nhân và giai cấp tư sản dù chúng có điều chỉnh, thích nghi, “ứng xử” với lao động làm thuê thế nào thì “về bản chất vẫn là một chế độ áp bức, bóc lột và bất công”[3], để thấy hết khả năng, tiềm năng của cách mạng xã hội chủ nghĩa, sự thay thế lẫn nhau về hình thái kinh tế - xã hội ngay trong lòng xã hội tư bản chủ nghĩa là một tất yếu, sự tự thân từ động lực tự nó trong xã hội để giai cấp công nhân nhận thấy rõ vai trò lịch sử của mình rằng, “giải phóng giai cấp công nhân là sự nghiệp của bản thân công nhân”[4] mà V.I.Lênin đã nhấn mạnh trong đề cương bài viết đăng trên tạp chí Giáo dục, số 3, tháng Ba 1913: “Ba nguồn gốc và ba bộ phận cấu thành của chủ nghĩa Mác”[5]. Đối với các nước đã tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa, đang quá độ lên chủ nghĩa xã hội vừa kiên định với chủ nghĩa Mác - Lênin, vừa vận dụng sáng tạo vào thực tiễn, vừa cần tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận để bổ sung, phát triển chủ nghĩa xã hội khoa học, làm cho lý luận, thực tiễn thống nhất với nhau, gắn bó mật thiết, lý luận chỉ đạo thực tiễn cách mạng xã hội chủ nghĩa và đến lượt nó, cách mạng xã hội chủ nghĩa là minh chứng sinh động, là tiêu chuẩn để kiểm nghiệm lý luận. Và cũng là cương lĩnh đanh thép đối với các thế lực chống cộng, cơ hội chính trị xuyên tạc chống phá phong trào cách mạng xã hội chủ nghĩa.

Như vậy, vừa có sự thống nhất vừa có sự khác biệt với triết học Mác - Lênin, kinh tế chính trị học Mác - Lênin, tính thống nhất đó thể hiện ở sự “chụm lại” của một học thuyết cách mạng và khoa học là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động của giai cấp công nhân và nhân dân lao động tiến bộ trên thế giới. Nhưng, chủ nghĩa xã hội khoa học với đối tượng nghiên cứu của mình là cơ sở lý luận khoa học trực tiếp nhất về thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội để giai cấp công nhân, đội tiền phong là các đảng cộng sản vận dụng sáng tạo, phù hợp với thực tiễn để thực hiện cuộc cách mạng xã hội đi đến thành công.

Ở Việt Nam, từ khi ra đời, Đảng ta kiên định, trung thành “Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động”[6], đúng như Hồ Chí Minh khẳng định “Bây giờ chủ nghĩa nhiều, học thuyết nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin”[7]. Trong đó, lý luận trực tiếp của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta đã soi sáng con đường, mô hình, đặc trưng xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới”[8].



[1] C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, t.1, tr.580.

 

[2] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, t.15, tr.387.

[3] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb.Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.68.

[4] V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, t.23, tr.559.

[5] V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, t.23, tr.559.

[6] Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI thông qua ngày ngày 19 tháng 1 năm 2011, Nxb.Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2016, tr.4.

[7] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, t.2, tr.289.

[8] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb.Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.70. 

Thứ Hai, 26 tháng 2, 2024

PHẢI CHĂNG GIAI CẤP CÔNG NHÂN KHÔNG BỊ BÓC LỘT?

* Có quan điểm cho rằng: Thời đại ngày nay khi cách mạng khoa học - công nghệ phát triển, sản phẩm làm ra nhiều, đời sống công nhân đã được cải thiện, một bộ phận công nhân đã trung lưu hóa, không bị bóc lột. Cá biệt có quan điểm cho rằng giai cấp công nhân cũng bóc lột các giai cấp khác?

* Chúng ta hiểu vấn đề này như thế nào:

- Công nhân một số nước có cổ phần, cũng được chia lợi nhuận từ cổ phiếu nhưng họ vẫn là công nhân, vẫn bị bóc lột (5% nhà tư bản chiếm 80% thu nhập toàn nước Mỹ).

- Một bộ phận công nhân trung lưu hóa, đời sống đã được cải thiện, nhưng vẫn còn một bộ phận công nhân rất khổ cực (chủ nghĩa Mác - Lênin không lấy sự nghèo khổ để đánh giá tính chất cách mạng của giai cấp công nhân).

Như vậy, thời đại ngày nay khi cách mạng khoa học - công nghệ phát triển, sản phẩm làm ra nhiều, đời sống công nhân đã được cải thiện, một bộ phận công nhân đã trung lưu hóa, nhưng giai cấp công nhân vẫn bị bóc lột.

Do đó, mọi quan điểm, nhận thức cho rằng, giai cấp công nhân không bị bóc lột là hoàn toàn sai lầm. Phủ nhận bản chất cách mạng của giai cấp công nhân, phủ nhận sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân./.  

PHẢI CHĂNG GIAI CẤP CÔNG NHÂN HIỆN NAY ĐANG BỊ "TEO" ĐI?

Hiện nay, nhiều người vẫn có cách hiểu sai về GCCN, họ quan niệm công nhân là người lao động chân tay, là người làm việc trong nhà máy, xí nghiệp, vất vả, "lấm lem". Đó là cách hiểu sai, hoặc chưa đầy đủ về GCCN hiện đại, và cũng là lý do khiến họ nghĩ rằng GCCN hiện nay đang bị "teo" đi.

Ngày nay trong điều kiện mới, khoa học công nghệ hiện đại phát triển mạnh mẽ, lực lượng sản xuất ngày càng phát triển, giai cấp công nhân không chỉ bao gồm những người lao động chân tay mà còn cả trong các lĩnh vực khác. Theo số liệu thống kê của Tổ chức lao động thế giới(ILO) cho thấy: Năm 1900, trên thế giới mới có 80 triệu công nhân, năm 1990 có 615 triệu thì đến năm 2003 con số đó đã lên đến 800 triệu người. Như vậy, GCCN vẫn liên tục phát triển chứ không "teo" đi. Cùng với sự biến đổi về cơ cấu và thành phần, trong nội bộ GCCN cũng nảy sinh sự phân hóa không chỉ về thu nhập, mức sống, mà còn cả về lập trường, quan điểm chính trị do thay đổi nhu cầu về lợi ích, quan niệm, hệ giá trị. Điều này đặt ra những vấn đề mới cần phải giải quyết cho các Đảng Cộng sản, đồng thời xuất hiện xu hướng nổi bật – sự đa dạng của các hình thức đấu tranh mới.

Tuy cơ cấu GCCN biến động mạnh mẽ, nhưng nó không xóa bỏ sự phân chia cơ bản về giai cấp xã hội trong chủ nghĩa tư bản – bán sức lao động vẫn là phương thức tồn tại của GCCN hiện đại. Đồng thời, GCCN vẫn luôn là người trực tiếp sản xuất, tham gia vào quá trình tạo ra những giá trị vật chất, những của cải to lớn của xã hội hiện nay, bao gồm những người lao động trong lĩnh vực công nghiệp, dịch vụ, những nhà nghiên cứu, sáng chế, áp dụng những thành tựu khoa học công nghệ phục vụ cho sản xuất, những kỹ sư, kỹ thuật viên. GCCN có mặt trong các ngành kinh tế: Công nghiệp, Nông nghiệp, Lâm nghệp, Ngư nghiệp, Giao thông vận tải, trong đó công nhân công xưởng, nhà máy sản xuất công nghiệp hiện đại là bộ phận nòng cốt.

Trong giai đoạn hiện nay, GCCN vẫn đang tiếp tục phát triển mạnh mẽ cả về số lượng và chất lượng, là lực lượng sản xuất cơ bản, tiên tiến, trực tiếp sản xuất ra của cải vật chất và cải tạo các quan hệ sản xuất. Họ vẫn là lực lượng chủ yếu của tiến trình lịch sử xã hội quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, với sứ mệnh lịch sử là xóa bỏ chế độ người bóc lột người, giải phóng giai cấp, giải phóng nhân loại, xây dựng thành công chủ nghĩa cộng sản trên phạm vi toàn thế giới. 

Thứ Sáu, 23 tháng 2, 2024

CÓ ĐÚNG LÀ GIAI CẤP CÔNG NHÂN HIỆN NAY KHÔNG CÒN SỨ MỆNH LỊCH SỬ?

Sự thật không phải là như vậy. Bởi, sự vận động tất yếu của lịch sử thế giới trong gần một thế kỷ qua chính là bằng chứng chân thật để phủ nhận tuyên bố đó. Chủ nghĩa xã hội hiện thực vẫn tồn tại và ngày càng phát triển trong cải cách, đổi mới. Ngược dòng lịch sử, việc phát hiện ra sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là công lao của các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác-Lênin và thắng lợi của cách mạng Tháng Mười Nga (năm 1917), cùng với sự phát triển phong trào cách mạng thế giới thế kỷ XX đã chứng minh một tất yếu không thể phủ nhận vai trò sứ mệnh lịch sử thế giới của giai cấp công nhân.

Trong khi đó, bước vào đầu thập niên 1970, thế kỷ XX chủ nghĩa tư bản đã có những bước phát triển mới do tận dụng được những thành tựu mới của cách mạng khoa học-công nghệ vào phát triển sản xuất tư bản chủ nghĩa. Nhưng bản chất bóc lột giá trị thặng dư của người lao động làm thuê trong nền sản xuất tư bản không hề thay đổi va ngày càng khắc nghiệt hơn, làm cho giai cấp công nhân ngày càng bần cùng hóa cùng với mỗi bước phát triển của chủ nghĩa tư bản. Do vậy, cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân chống lại giai cấp tư sản cũng bắt đầu ngay từ lúc họ mới ra đời chống lại “sự bóc lột công nhân, vô sĩ, trực tiếp, tàn nhẫn” của giai cấp tư sản.

Hiện nay, thế giới đang có nhiều diễn biến phức tạp, nhưng học thuyết C.Mác vẫn sáng ngời, khẳng định giá trị của nó trong nhận thức chủ nghĩa tư bản hiện đại. Với niềm tin vững chắc vào tính tất yếu thắng lợi của sứ mệnh lịch sử thế giới của giai cấp công nhân, của chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản. Đảng ta đã chỉ rõ “Chủ nghĩa xã hội trên thế giới từ những thành công và thất bại cũng như từ khát vọng và sự thức tỉnh của các dân tộc, có điều kiện và khả năng tạo ra những bước phát triển mới, theo quy luật tiến hoá của lịch sử loài người nhất định sẽ tiến tới chủ nghia xã hội.” 

Thứ Sáu, 6 tháng 10, 2023

PHẢI CHĂNG ĐỊA VỊ PHỤ THUỘC CỦA GIAI CẤP CÔNG NHÂN ĐỐI VỚI GIAI CẤP TƯ SẢN TRONG THẾ GIỚI HIỆN ĐẠI ĐÃ THAY ĐỔI

Khi trình bày về bản chất của tích lũy tư bản, nói về địa vị phụ thuộc của giai cấp công nhân đối với giai cấp tư sản, C.Mác đã chỉ rõ người công nhân phụ thuộc vào nhà tư bản trong cả tiêu dùng sản xuất và tiêu dùng cá nhân: “Trong tiêu dùng sản xuất, người công nhân hoạt động với tư cách là một động lực của tư bản và thuộc về nhà tư bản; trong tiêu dùng cá nhân, anh ta thuộc về bản thân mình và thực hiện những chức năng sinh hoạt ở bên ngoài quá trình sản xuất. Kết quả của tiêu dùng thứ nhất là sự sinh tồn của nhà tư bản, kết quả của tiêu dùng thứ hai là sự sinh tồn của bản thân người công nhân”. Phân tích sâu hơn về tiêu dùng cá nhân của người công nhân, C.Mác đi đến kết luận: “người công nhân dùng các tư liệu sinh hoạt chỉ là để giữ cho sức lao động của mình “chạy” được mà thôi,cũng như máy hơi nước ăn than và nước, như bánh xe ăn dầu mỡ. Khi đó, tư liệu tiêu dùng của người công nhân là tư liệu tiêu dùng của một trong những tư liệu sản xuất, sự tiêu dùng cá nhân của anh ta cũng trực tiếp là tiêu dùng sản xuất”(3). C.Mác cũng khẳng định địa vị phụ thuộc của giai cấp công nhân đối với giai cấp các nhà tư bản: “vậy, quá trình sản xuất TBCN, xét trong một liên hệ chung, hay coi như quá trình tái sản xuất, thì không chỉ sản xuất ra hàng hóa, không phải chỉ sản xuất ra giá trị thặng dư, mà còn sản xuất và tái sản xuất ra bản thân quan hệ TBCN - một bên nhà tư bản và bên kia là công nhân làm thuê”(4). Công nhân hoàn toàn lệ thuộc vào giai cấp tư sản cả ở trong và ngoài sản xuất.

Trong thế giới hiện đại, dưới sự tác động của CMCN 4.0 đang phát triển mạnh mẽ, sự chi phối của một bộ phận công nhân tri thức, thậm chí một số ít công nhân 4.0 có thể mang tính quyết định đến sự thành bại của một số tập đoàn công nghệ cao tại các nước tư bản phát triển. Đội ngũ này có cơ sở để gây sức ép đến giới chủ cả trong sản xuất và tiêu dùng, buộc giới chủ phải nhượng bộ trên nhiều phương diện. Dựa vào những hiện tượng đang diễn ra đó, một số người đã tìm cách tấn công, phản bác lý luận tích lũy của C.Mác dưới nhiều hình thức khác nhau.   

Không thể phủ nhận hiện tượng công nhân công nghệ cao ở một số tập đoàn kinh tế lớn trên thế giới gây sức ép với giới chủ trong bối cảnh của nền kinh tế thị trường hiện đại dưới sự tác động trực tiếp của cuộc CMCN 4.0. Bởi lẽ, CMCN 4.0 được hình thành trên nền tảng cải tiến của cuộc cách mạng số, với những công nghệ mới như: Internet vạn vật (IoT), trí tuệ nhân tạo (AI), thực tế ảo (VR), tương tác thực tại ảo (AR), mạng xã hội, điện toán đám mây, di động và phân tích dữ liệu lớn (SMAC)... đã làm thay đổi cách thức kinh doanh truyền thống, chuyển từ trạng thái ảo sang sát đúng với trạng thái thực... Điều này khiến cho sự tương tác giữa chủ và thợ thay đổi: giới chủ phải lắng nghe ý kiến từ người làm thuê, bới chính họ mới là người làm chủ tri thức, công nghệ. Nhưng điều này cũng không phủ nhận được luận điểm mà C.Mác đã nêu trong lý luận tích lũy tư bản về địa vị phụ thuộc của giai cấp công nhân đối với giai cấp tư sản đến nay vẫn không hề thay đổi về bản chất. Lập luận ở đây là:

Thứ nhất, giả định những đòi hỏi của công nhân được chấp thuận sẽ có hai tình huống: Một là, những đề xuất của họ sẽ mang lại lợi ích cho tập đoàn khi đó cả chủ và thợ đều có lợi. Hai là, những đề xuất của họ chỉ có lợi cho công nhân, tất nhiên nhà tư bản phải cân nhắc về việc phân chia lại m, nhưng điều này đã được C.Mác khẳng định: sản xuất giá trị thặng dư là quy luật kinh tế tuyệt đối của CNTB.

Thứ hai, những đòi hỏi của công nhân không được chấp nhận, khi đó họ sẽ bỏ việc. Trường hợp này cũng có hai tình huống: Một là, khi bỏ việc ở tập đoàn này họ sẽ tiếp tục làm việc cho tập đoàn khác và như vậy họ chỉ đổi chủ mà thôi. Hai là, họ tự lập công ty, tức là tham gia vào giới chủ. Khi trở thành người chủ, tất yếu phải có lao động làm thuê, bản chất của mối quan hệ vẫn không thay đổi - trường hợp này rất hiếm. Bởi vì, khi phân tích điều kiện thứ hai để sức lao động trở thành hàng hóa C.Mác đã chỉ ra: “...người chủ sức lao động phải không còn có khả năng bán những hàng hóa trong đó lao động của anh ta được vật hóa”(5) nghĩa là chưa đủ các điều kiện sản xuất cần thiết để sức lao động của anh ta được vật hóa.

Thứ ba, hiện tượng trên không phải là phổ biến, chủ yếu chỉ xuất hiện trong các tập đoàn công nghệ cao, và diễn ra ở một số nước tư bản phát triển. Tóm lại, không thể nhìn vào một số hiện tượng để rút ra những kết luận không thuyết phục.

 


Chủ Nhật, 17 tháng 9, 2023

CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN LÀ SỰ THỐNG NHẤT GIỮA BẢN CHẤT GIAI CẤP CÔNG NHÂN VỚI TÍNH NHÂN VĂN VÀ TINH THẦN DÂN TỘC

Chủ nghĩa Mác - Lênin là khoa học nghiên cứu về bản chất và điều kiện giải phóng giai cấp công nhân và nhân dân lao động trên phạm vi toàn thế giới khỏi mọi ách áp bức, bóc lột, bất công; khỏi mọi tình trạng nghèo nàn, lạc hậu và khỏi mọi sự phân chia giai cấp và đấu tranh giai cấp. Chủ nghĩa Mác - Lênin, hệ tư tưởng của giai cấp mang bản chất quốc tế, đồng thời mang tính nhân dân và tính dân tộc sâu sắc, vì muốn giải phóng mình trên phạm vi toàn thế giới thì "giai cấp sản mỗi nước trước hết phải giành lấy chính quyền phải tự vươn lên thành giai cấp dân tộc, phải tự mình trở thành dân tộc, tuy hoàn toàn không phải theo cái nghĩa như giai cấp tư sản hiểu". Khi chủ nghĩa tư bản chuyển sang chủ nghĩa đế quốc, vấn đề dân tộc trở thành vấn đề dân tộc thuộc địa thì cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân chống giai cấp tư sản ở chính quốc và cuộc đấu tranh của nhân dân các dân tộc thuộc địa chống chủ nghĩa đế quốc gắn bó hữu cơ với nhau. Từ đó, Lênin đã nêu ra Cương lĩnh dân tộc với ba nội dung: "Các dân tộc hoàn toàn bình đẳng; các dân tộc được quyền tự quyết; liên hợp công nhân tất cả các dân tộc lại: đó là cương lĩnh dân tộc mà chủ nghĩa Mác, kinh nghiệm toàn thế giới và kinh nghiệm của nước Nga dạy cho công nhân". Cũng từ đó Lênin nêu ra khẩu hiệu: "Vô sản tất cả các nước và các dân tộc bị áp bức, đoàn kết lại!".

Chủ nghĩa Mác - Lênin không chỉ mang bản chất giai cốp công nhân quốc tế mà còn mang tính nhân dân và tính dân tộc sâu sắc, là sự thống nhất giữa chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân và chủ nghĩa yêu nước. Đó là cơ sở lý luận và thực tiễn thời đại hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa giai cấp công nhân và dân tộc, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

Vì vậy quan điểm cho rằng chủ nghĩa Mác -Lênin chi nói đến đấu tranh giai cấp bỏ quên lợi ích các dân tộc không phù hợp với thực tiễn Việt Nam là quan điểm sai lầm, cần phải phê phán.


Chủ Nhật, 13 tháng 8, 2023

CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC LÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN KHOA HỌC TRỰC TIẾP CHO GIAI CẤP CÔNG NHÂN, NHÂN DÂN LAO ĐỘNG TIẾN HÀNH CÁCH MẠNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

Chủ nghĩa Mác - Lênin là khoa học, cách mạng và nhân văn, tính lôgic, biện chứng của chủ nghĩa xã hội khoa học ở chỗ, nếu như ở mỗi nội dung của triết học là hạt nhân thế giới quan, phương pháp luận; kinh tế chính trị học luận bàn mối quan hệ của con người trong sản xuất và phân phối…thì chủ nghĩa xã hội khoa học là lý luận trực tiếp cho giai cấp công nhân, nhân dân lao động tiến hành tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa. Khẳng định vấn đề này, C.Mác khẳng định “…lý luận cũng sẽ trở thành lực lượng vật chất, một khi nó thâm nhập vào quần chúng”. Thật vậy, phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân trong lịch sử diễn ra với nhiều hình thức từ đấu tranh kinh tế, đấu tranh tư tưởng và cao nhất là đấu tranh chính trị. Để đấu tranh có kết quả, giành thắng lợi thì cần có lý luận soi đường, dẫn lối, xác định mục tiêu, phương hướng, phương pháp cách mạng để làm chuyển biến cách mạng từ hình thái kinh tế - xã hội tư bản chủ nghĩa lên hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa mà giai đoạn đầu là xã hội chủ nghĩa được chia ra các giai đoạn của thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội.

Vì thế, chủ nghĩa xã hội khoa học thống nhất giữa lý luận với thực tiễn, giữa lý luận với phong trào, giữa lý tưởng với hiện thực. Lịch sử thế giới tự so sánh, Công xã Paris chỉ tồn tại 72 ngày (18/3 đến 28/5/1871) và thất bại khi phong trào chưa được truyền bá lý luận cách mạng sâu rộng trong giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Vượt lên, Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 là sự hội tụ kết hợp nhuần nhuyễn giữa lý luận và thực tiễn, giữa chủ nghĩa xã hội khoa học với phong trào cách mạng của giai cấp công nhân nhằm giải quyết những mâu thuẫn cơ bản của thời đại, hội tụ ở nước Nga, một nước tư bản trẻ. Ở đó, V.I.Lênin - người học trò xuất sắc của C.Mác, Ph.Ăngghen đã bảo vệ, bổ sung, phát triển, hoàn thiện, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa xã hội khoa học vào thực tiễn cách mạng. Cách mạng Tháng Mười đã làm cho chủ nghĩa xã hội từ lý luận trở thành hiện thực, mở ra thời đại mới quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội. Đánh giá về sự vĩ đại, tầm vóc của cuộc cách mạng này, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận xét: “Giống như mặt trời chói lọi, Cách mạng Tháng Mười chiếu sáng khắp năm châu, thức tỉnh hàng triệu, hàng triệu người bị áp bức, bóc lột trên trái đất. Trong lịch sử loài người chưa từng có cuộc cách mạng nào có ý nghĩa to lớn và sâu xa như thế”.

Đối với các nước chưa tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa, chủ nghĩa xã hội khoa học đã trực tiếp chỉ ra đối tượng cách mạng, giai cấp công nhân được trang bị lý luận khoa học, cách mạng sẽ hoàn toàn có thể nhận diện được những mâu thuẫn vốn có trong lòng các nước tư bản chủ nghĩa mà tập trung là mâu thuẫn giữa giai cấp công nhân và giai cấp tư sản dù chúng có điều chỉnh, thích nghi, “ứng xử” với lao động làm thuê thế nào thì “về bản chất vẫn là một chế độ áp bức, bóc lột và bất công”, để thấy hết khả năng, tiềm năng của cách mạng xã hội chủ nghĩa, sự thay thế lẫn nhau về hình thái kinh tế - xã hội ngay trong lòng xã hội tư bản chủ nghĩa là một tất yếu, sự tự thân từ động lực tự nó trong xã hội để giai cấp công nhân nhận thấy rõ vai trò lịch sử của mình rằng, “giải phóng giai cấp công nhân là sự nghiệp của bản thân công nhân”, mà V.I.Lênin đã nhấn mạnh trong đề cương bài viết đăng trên tạp chí Giáo dục, số 3, tháng Ba 1913: “Ba nguồn gốc và ba bộ phận cấu thành của chủ nghĩa Mác”. Đối với các nước đã tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa, đang quá độ lên chủ nghĩa xã hội vừa kiên định với chủ nghĩa Mác - Lênin, vừa vận dụng sáng tạo vào thực tiễn, vừa cần tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận để bổ sung, phát triển chủ nghĩa xã hội khoa học, làm cho lý luận, thực tiễn thống nhất với nhau, gắn bó mật thiết, lý luận chỉ đạo thực tiễn cách mạng xã hội chủ nghĩa và đến lượt nó, cách mạng xã hội chủ nghĩa là minh chứng sinh động, là tiêu chuẩn để kiểm nghiệm lý luận. Và cũng là cương lĩnh đanh thép đối với các thế lực chống cộng, cơ hội chính trị xuyên tạc chống phá phong trào cách mạng xã hội chủ nghĩa.

Như vậy, vừa có sự thống nhất vừa có sự khác biệt với triết học Mác - Lênin, kinh tế chính trị học Mác - Lênin, tính thống nhất đó thể hiện ở sự “chụm lại” của một học thuyết cách mạng và khoa học là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động của giai cấp công nhân và nhân dân lao động tiến bộ trên thế giới. Nhưng, chủ nghĩa xã hội khoa học với đối tượng nghiên cứu của mình là cơ sở lý luận khoa học trực tiếp nhất về thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội để giai cấp công nhân, đội tiền phong là các đảng cộng sản vận dụng sáng tạo, phù hợp với thực tiễn để thực hiện cuộc cách mạng xã hội đi đến thành công.

Ở Việt Nam, từ khi ra đời, Đảng ta kiên định, trung thành “Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động”. đúng như Hồ Chí Minh khẳng định “Bây giờ chủ nghĩa nhiều, học thuyết nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin”. Trong đó, lý luận trực tiếp của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta đã soi sáng con đường, mô hình, đặc trưng xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới”.


Thứ Ba, 4 tháng 4, 2023

THẾ GIỚI ĐÃ ĐỔI THAY, NHƯNG LUẬN THUYẾT SỨ MỆNH LỊCH SỬ GIAI CẤP CÔNG NHÂN CỦA C.MÁC, PH.ĂNGGHEN, V.I.LÊNIN VẪN CÒN SỐNG MÃI

Hiện nay, Giai cấp công nhân đã, đang biến đổi mạnh mẽ về cơ cấu cả số lượng, chất lượng, ngành nghề, nhưng địa vị kinh tế - xã hội của họ không hề thay đổi. Trước sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ, sự hiện diện ngày càng lớn của kinh tế tri thức, toàn cầu hóa, quốc tế hóa... đã làm thay đổi sâu sắc các yếu tố nội tại của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Giai cấp công nhân tăng nhanh về số lượng: Vào cuối thế kỷ XIX số lượng công nhân trên thế giới chỉ có khoảng trên 10 triệu, đầu thế kỷ XX là 119 triệu, đến cuối thế kỷ XX đã tăng lên đến trên 660 triệu và đến năm 2003 khoảng trên 800 triệu. Tỷ trọng công nhân trong tổng số lao động chung của xã hội tăng lên; tỷ lệ công nhân trong ngành dịch vụ, công nghệ cao tăng lên: ở Mỹ hơn 71%, Nhật hơn 59%, Đức hơn 58%, Anh hơn 69%, Pháp hơn 66%.

Chủ nghĩa tư bản còn khả năng phát triển, nhưng những mâu thuẫn cơ bản vốn có không được khắc phục mà còn tăng lên, tất yếu sẽ bị thay thế bằng chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản. Các mâu thuẫn cơ bản: Mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất, giai cấp tư sản với giai cấp công nhân và nhân dân lao động, chủ nghĩa đế quốc với chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa đế quốc với những nước phụ thuộc ngày càng tăng lên. Đặc biệt, nhiều nước tư bản, bình quân tỷ suất chiếm đoạt lợi nhuận là 300%, cá biệt có những nơi lên tới 700% - 800%. Ở Mỹ, 1% người giàu nhất đã làm chủ 40% tài sản, trong khi 80% người dân ở mức thấp nhất làm chủ chỉ có 7% tài sản nước Mỹ. Trong năm 2017, 1% dân số thế giới sở hữu 82% tổng tài sản được tạo ra trên toàn cầu. Trong khi đó 3,7 tỉ người (chiếm một nửa dân số nghèo nhất thế giới) đã không hề tăng thêm chút tài sản nào. Thực chất sự phát triển của chủ nghĩa tư bản những năm qua chỉ hướng tới phục vụ cho một bộ phận giàu có nhất. Những điều chỉnh đó của chủ nghĩa tư bản chỉ làm dịu đi những mâu thuẫn xã hội, chứ không làm thay đổi bản chất của chế độ tư bản chủ nghĩa. Mặc dù, hiện nay ở nhiều nước tư bản phát triển, đời sống của giai cấp công nhân và người lao động đã được cải thiện, một bộ phận công nhân số lượng cổ phiếu trong công ty và trở thành tầng lớp trung lưu trong xã hội. Nhưng so với tài sản mà giai cấp tư sản có được tài sản của công nhân và người lao động cũng chỉ tựa như giọt nước trong đại dương lợi nhuận mà nhà tư bản thu được. Điều đó đã làm cho mâu thuẫn xã hội ngày càng gay gắt, làm bùng phát nhiều cuộc đấu tranh quyết liệt của giai cấp công nhân và người lao động chống lại giới chủ tư sản như phong trào đấu tranh của công nhân từ “phố Wall” (nổ ra vào ngày 14 tháng 9 năm 2012), sau đó, lan rộng ra hàng chục thành phố của Mỹ và các nước thuộc Liên minh châu Âu để phản đối các biện pháp khắc khổ và tỉ lệ thất nghiệp, đói nghèo đang ngày càng gia tăng. Sự phản kháng xã hội mạnh mẽ càng làm bộc lộ bản chất của các thể chế chính trị tư bản chủ nghĩa trên thực tế vẫn là sự chuyên chế của các tập đoàn tư bản, không đảm bảo quyền lực thực sự thuộc về nhân dân. Đó là bản chất phản tiến bộ, phản nhân văn và không bền vững của chủ nghĩa tư bản. Đúng như C.Mác đã từng nói, chủ nghĩa tư bản đang huỷ hoại chính ngay những nhân tố làm nên sự giàu có của nó là lao động và tài nguyên. Các mâu thuẫn giữa cơ bản trong chủ nghĩa tư bản vẫn tồn tại và ngày càng gay gắt, tất yếu chế độ tư bản chủ nghĩa sẽ bị xã hội chủ nghĩa, chủ nghĩa cộng sản thay thế trong tương lai.

Các nước xã hội chủ nghĩa còn lại đã và đang đổi mới, cải cách thành công, tiếp tục vững bước đi lên xã hội chủ nghĩa. Ở Trung Quốc, sau hơn 40 năm cải cách mở cửa (1979- 2018) đã thu được những kỳ tích. Năm 2018, tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Trung Quốc tăng 33,5 lần, ước khoảng 12.300 tỷ USD, chiếm 15% GDP toàn cầu, trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới, sau Mỹ. Giai đoạn 1978 - 2017, tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hằng năm đạt 9,5%, cao hơn nhiều so với mức tăng trưởng trung bình hằng năm của nền kinh tế thế giới là 2,9%. Trong giai đoạn 2012 - 2016, hằng năm, kinh tế Trung Quốc đóng góp 34% vào tăng trưởng kinh tế toàn cầu. Năm 1978, GDP bình quân đầu người ở Trung Quốc mới chỉ ở mức 156 USD, là một trong những nước nghèo nhất thế giới, nhưng đến năm 2017, GDP bình quân đầu người đã đạt 8.800 USD, được xếp vào nhóm nước có thu nhập trung bình cao. Số người nghèo ở Trung Quốc giảm từ 770 triệu người năm 1978 xuống còn 30,46 triệu người năm 2017, tức tỷ lệ người nghèo giảm từ 97,5% năm 1978 xuống mức 3,1% năm 2017. Trong tương lai không xa, có thể dự đoán các chỉ số GDP, PPP theo GDP của nước này sẽ vượt Mỹ và Liên minh châu Âu (EU) cộng lại. Trung Quốc hiện có 317 tỷ phú và hiện đứng thứ hai thế giới sau Mỹ về chỉ số này.

Ở Việt Nam, công cuộc đổi mới, đã thu được những thành tựu to lớn, toàn diện: Nền kinh tế phát triển liên tục với tốc độ tương đối cao trong suốt 35 năm qua với mức tăng trưởng trung bình khoảng 7% mỗi năm. Quy mô GDP năm 2020 đạt 342,7 tỉ đô la Mỹ (USD), trở thành nền kinh tế lớn thứ tư trong ASEAN. Thu nhập bình quân đầu người tăng khoảng 17 lần, lên mức 3.512 USD; Việt Nam đã ra khỏi nhóm các nước có thu nhập thấp từ năm 2008. Tỉ trọng công nghiệp và dịch vụ liên tục tăng và hiện nay chiếm khoảng 85% GDP. Dự trữ ngoại hối tăng mạnh, đạt 100 tỉ USD vào năm 2020. Tỉ lệ hộ nghèo trung bình mỗi năm giảm khoảng 1,5%; giảm từ 58% năm 1993 xuống còn 5,8% năm 2016 theo chuẩn nghèo của Chính phủ và dưới 3% năm 2020 theo chuẩn nghèo đa chiều. Năm 2019, chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam đạt mức 0,704, thuộc nhóm nước có HDI cao của thế giới. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng khẳng định, qua 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội: “Chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện hơn so với những năm trước đổi mới. Với tất cả sự khiêm tốn, chúng ta vẫn có thể nói rằng: Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay"

Thực tế, các thế lực thù địch càng điên cuồng tiến công hòng phủ nhận, sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, thì càng chứng tỏ giá trị và sức sống của học thuyết Mác - Lênin. Quy luật tồn tại, phát triển của chủ nghĩa Mác - Lênin đòi hỏi, trong suốt quá trình tồn tại, phát triển của mình phải thường xuyên đấu tranh chống lại các trào lưu tư tưởng phản khoa học, phản động đó. Thay cho lời kết xin trích khẳng định của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Không có lực lượng gì ngăn trở được mặt trời mọc. Không có lực lượng gì ngăn trở được lịch sử loài người tiến lên. Cũng không có lực lượng gì ngăn trở được chủ nghĩa xã hội phát triển”. Và khẳng định của Đảng ta: “Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử”.


CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC LÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN KHOA HỌC TRỰC TIẾP CHO GIAI CẤP CÔNG NHÂN, NHÂN DÂN LAO ĐỘNG TIẾN HÀNH CÁCH MẠNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

Chủ nghĩa Mác - Lênin là khoa học, cách mạng và nhân văn, tính lôgic, biện chứng của chủ nghĩa xã hội khoa học ở chỗ, nếu như ở mỗi nội dung của triết học là hạt nhân thế giới quan, phương pháp luận; kinh tế chính trị học luận bàn mối quan hệ của con người trong sản xuất và phân phối…thì chủ nghĩa xã hội khoa học là lý luận trực tiếp cho giai cấp công nhân, nhân dân lao động tiến hành tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa. Khẳng định vấn đề này, C.Mác khẳng định “…lý luận cũng sẽ trở thành lực lượng vật chất, một khi nó thâm nhập vào quần chúng”. Thật vậy, phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân trong lịch sử diễn ra với nhiều hình thức từ đấu tranh kinh tế, đấu tranh tư tưởng và cao nhất là đấu tranh chính trị. Để đấu tranh có kết quả, giành thắng lợi thì cần có lý luận soi đường, dẫn lối, xác định mục tiêu, phương hướng, phương pháp cách mạng để làm chuyển biến cách mạng từ hình thái kinh tế - xã hội tư bản chủ nghĩa lên hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa mà giai đoạn đầu là xã hội chủ nghĩa được chia ra các giai đoạn của thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội.

Vì thế, chủ nghĩa xã hội khoa học thống nhất giữa lý luận với thực tiễn, giữa lý luận với phong trào, giữa lý tưởng với hiện thực. Lịch sử thế giới tự so sánh, Công xã Paris chỉ tồn tại 72 ngày (18/3 đến 28/5/1871) và thất bại khi phong trào chưa được truyền bá lý luận cách mạng sâu rộng trong giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Vượt lên, Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 là sự hội tụ kết hợp nhuần nhuyễn giữa lý luận và thực tiễn, giữa chủ nghĩa xã hội khoa học với phong trào cách mạng của giai cấp công nhân nhằm giải quyết những mâu thuẫn cơ bản của thời đại, hội tụ ở nước Nga, một nước tư bản trẻ. Ở đó, V.I.Lênin - người học trò xuất sắc của C.Mác, Ph.Ăngghen đã bảo vệ, bổ sung, phát triển, hoàn thiện, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa xã hội khoa học vào thực tiễn cách mạng. Cách mạng Tháng Mười đã làm cho chủ nghĩa xã hội từ lý luận trở thành hiện thực, mở ra thời đại mới quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội. Đánh giá về sự vĩ đại, tầm vóc của cuộc cách mạng này, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận xét: “Giống như mặt trời chói lọi, Cách mạng Tháng Mười chiếu sáng khắp năm châu, thức tỉnh hàng triệu, hàng triệu người bị áp bức, bóc lột trên trái đất. Trong lịch sử loài người chưa từng có cuộc cách mạng nào có ý nghĩa to lớn và sâu xa như thế”.

Đối với các nước chưa tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa, chủ nghĩa xã hội khoa học đã trực tiếp chỉ ra đối tượng cách mạng, giai cấp công nhân được trang bị lý luận khoa học, cách mạng sẽ hoàn toàn có thể nhận diện được những mâu thuẫn vốn có trong lòng các nước tư bản chủ nghĩa mà tập trung là mâu thuẫn giữa giai cấp công nhân và giai cấp tư sản dù chúng có điều chỉnh, thích nghi, “ứng xử” với lao động làm thuê thế nào thì “về bản chất vẫn là một chế độ áp bức, bóc lột và bất công”; để thấy hết khả năng, tiềm năng của cách mạng xã hội chủ nghĩa, sự thay thế lẫn nhau về hình thái kinh tế - xã hội ngay trong lòng xã hội tư bản chủ nghĩa là một tất yếu, sự tự thân từ động lực tự nó trong xã hội để giai cấp công nhân nhận thấy rõ vai trò lịch sử của mình rằng, “giải phóng giai cấp công nhân là sự nghiệp của bản thân công nhân”mà V.I.Lênin đã nhấn mạnh trong đề cương bài viết đăng trên tạp chí Giáo dục, số 3, tháng Ba 1913: “Ba nguồn gốc và ba bộ phận cấu thành của chủ nghĩa Mác”. Đối với các nước đã tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa, đang quá độ lên chủ nghĩa xã hội vừa kiên định với chủ nghĩa Mác - Lênin, vừa vận dụng sáng tạo vào thực tiễn, vừa cần tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận để bổ sung, phát triển chủ nghĩa xã hội khoa học, làm cho lý luận, thực tiễn thống nhất với nhau, gắn bó mật thiết, lý luận chỉ đạo thực tiễn cách mạng xã hội chủ nghĩa và đến lượt nó, cách mạng xã hội chủ nghĩa là minh chứng sinh động, là tiêu chuẩn để kiểm nghiệm lý luận. Và cũng là cương lĩnh đanh thép đối với các thế lực chống cộng, cơ hội chính trị xuyên tạc chống phá phong trào cách mạng xã hội chủ nghĩa.

Như vậy, vừa có sự thống nhất vừa có sự khác biệt với triết học Mác - Lênin, kinh tế chính trị học Mác - Lênin, tính thống nhất đó thể hiện ở sự “chụm lại” của một học thuyết cách mạng và khoa học là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động của giai cấp công nhân và nhân dân lao động tiến bộ trên thế giới. Nhưng, chủ nghĩa xã hội khoa học với đối tượng nghiên cứu của mình là cơ sở lý luận khoa học trực tiếp nhất về thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội để giai cấp công nhân, đội tiền phong là các đảng cộng sản vận dụng sáng tạo, phù hợp với thực tiễn để thực hiện cuộc cách mạng xã hội đi đến thành công.

Ở Việt Nam, từ khi ra đời, Đảng ta kiên định, trung thành “Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động”; đúng như Hồ Chí Minh khẳng định “Bây giờ chủ nghĩa nhiều, học thuyết nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin”. Trong đó, lý luận trực tiếp của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta đã soi sáng con đường, mô hình, đặc trưng xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới”

 




Thứ Tư, 12 tháng 10, 2022

MỘT SỐ BIỂU HIỆN MỚI VỀ CƠ CẤU CỦA GIAI CẤP CÔNG NHÂN THẾ GIỚI HIỆN NAY

Cơ cấu của giai cấp công nhân hiện nay khá đa dạng, đang chuyển biến mạnh theo hướng hiện đại hóa và được tiếp cận theo những tiêu chí đánh giá sau:

Một là, cơ cấu nghề nghiệp của công nhân hiện nay vô cùng đa dạng và chưa ngừng lại ở những nghề hiện có. Theo một nghiên cứu, hiện nay trên thế giới có khoảng 23.000 nghề nghiệp liên quan đến máy móc và phương thức lao động công nghiệp; và dự đoán rằng, đến giữa thế kỷ XXI sẽ có thêm khoảng 10.000 nghề nghiệp mới, chủ yếu là ở lĩnh vực dịch vụ(4). Một nghiên cứu gần đây của Ê-ríc Ô-lin Rai (Erik Olin Wright) một nhà xã hội học mác-xít (1947  - 2019) đã lập một mô hình cơ cấu giai cấp theo nghề nghiệp, gồm 9 nhóm khác nhau, dựa vào trình độ, kỹ năng và thẩm quyền.

Hai là, cơ cấu công nhân theo lĩnh vực hoạt động. Giai cấp công nhân hiện nay lao động trên 3 lĩnh vực cơ bản là nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ. Mặc dù đang có sự dịch chuyển lao động giữa các lĩnh vực nhưng xu hướng chung là nhóm lao động ở lĩnh vực dịch vụ tăng mạnh, số lượng lao động trong lĩnh vực công nghiệp và nông nghiệp giảm nhẹ. Ở các nước phát triển, chẳng hạn ở Bắc Âu, xu hướng này có nhỉnh hơn: Trong cơ cấu kinh tế, tỷ trọng lao động dịch vụ chiếm khoảng 70%; công nghiệp khoảng 25% và nông nghiệp từ 3% đến 5% lao động. Cơ cấu lao động của Đan Mạch: 4% số dân làm việc trong khu vực nông - lâm nghiệp, 24% trong công nghiệp và xây dựng, 72% số dân làm việc trong lĩnh vực dịch vụ, trong đó 31% là dịch vụ công và 41% là dịch vụ tư nhân.

Ba là, cơ cấu của giai cấp công nhân  xét theo trình độ công nghệ hiện nay được nhìn nhận là đa dạng và không đồng đều. Các nghiên cứu về trình độ công nghệ của công nhân thường xét theo khả năng tiếp cận các cuộc cách mạng công nghiệp, cách tính toán thường là công nghiệp 2.0; 3.0 hoặc tiệm cận 4.0. Cũng có những đánh giá trình độ công nghệ của công nhân theo đặc tính của kỹ thuật của từng ngành công nghiệp mà họ đang hoạt động, ví dụ: “công nghệ in offset” và “công nghệ in kỹ thuật số”. Nhìn chung, công nghệ mà công nhân trên thế giới hiện đang sử dụng là một “dải khá rộng” được mô tả bằng “cây phả hệ công nghệ đa tầng”, hàm ý là ở nhiều trình độ, phát triển vốn theo quy luật không đều và sự phát triển của GCCN hiện nay cũng vẫn tuân theo quy luật đó.

Bốn là, cơ cấu giai cấp công nhân dựa theo trình độ phát triển kinh tế thường được giới nghiên cứu phân tích theo 2 nhóm nước là nước phát triển và nước đang phát triển. Hiện có 408 triệu công nhân trong các nước phát triển và số còn lại (khoảng hơn 1.100 triệu) là ở các nước đang phát triển. Trình độ phát triển kinh tế, trình độ công nghệ thường tỷ lệ thuận với năng suất lao động đạt được. Công nhân của các nước phát triển có năng suất lao động cao hơn so với các nước đang phát triển. Năm 2017, ILO xếp hạng năng suất lao động thông qua so sánh việc tạo ra giá trị mới của 1 lao động/năm ở một số nước phát triển: Công nhân Mỹ tạo ra 63.885USD/người/năm; công nhân Ai-len là 55.986USD/người/năm; công nhân Bỉ là 55.235 USD/người/năm; công nhân Pháp là 54.609USD/người/năm...

Năm là. cơ cấu giai cấp công nhân theo chế độ xã hội là cách tiếp cận theo chế độ chính trị. Theo quan niệm của chủ nghĩa Mác, có mối quan hệ biện chứng giữa công nhân, công nghiệp và chủ nghĩa xã hội (chế độ chính trị). Chế độ chính trị cũng có thể tác động đến sự phát triển của công nhân và công nghiệp. Lịch sử cận đại, hiện đại xác định điều đó. Thống kê về giai cấp công nhân các nước xã hội chủ nghĩa năm 2019 cho thấy: Việt Nam có khoảng 15 triệu; Lào có khoảng gần 0,8 triệu; Cu-ba có gần 3 triệu, Trung Quốc có khoảng 300 triệu công nhân và 270 triệu “nông dân - công” (nhóm xã hội tham gia 2 phương thức và 2 lĩnh vực lao động, có 2 nơi cư trú; là trung giới của quá trình chuyển biến từ nông dân sang công nhân, nhưng chưa hoàn toàn sống bằng thu nhập từ lao động công nghiệp). Đặc thù của cơ cấu công nhân ở các nước xã hội chủ nghĩa là có một bộ phận công nhân thuộc thành phần kinh tế nhà nước. Tính đến năm 2019, bộ phận công nhân ở thành phần kinh tế nhà nước ở tất cả các nước xã hội chủ nghĩa đều có tỷ lệ nhỏ hơn so với số lượng công nhân ở những thành phần kinh tế khác; Trung Quốc hiện có 120 triệu, Việt Nam có hơn 2 triệu công nhân thuộc nhóm này. “Công nhân nhà nước” gắn liền với thực tiễn của chế độ công hữu xã hội chủ nghĩa và trong thời gian gần đây, họ tương tác với nền kinh tế thị trường, công nhân ở thành phần kinh tế khác.

Thứ Hai, 5 tháng 9, 2022

LUẬN THUYẾT MÁC – LÊNIN VỀ SỨ MỆNH LỊCH SỬ CỦA GIAI CẤP CÔNG NHÂN MANG TÍNH KHOA HỌC, CÁCH MẠNG

Sự ra đời, phát triển của giai cấp công nhân và sứ mệnh lịch sử của nó là kết quả tất yếu, khách quan của quá trình phát triển xã hội loài người; các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác - Lênin là những người phát hiện ra, truyền bá, giác ngộ giai cấp công nhân để họ đấu tranh, hiện thực hóa sứ mệnh lịch sử đó.

Thực tế, giai cấp công nhân là “con đẻ” của đại công nghiệp, phát triển cùng đại công nghiệp. “Trong tất cả các giai cấp đang đối lập với giai cấp tư sản thì chỉ có giai cấp vô sản là giai cấp thực sự cách mạng. Tất cả các giai cấp khác đều suy tàn và tiêu vong cùng với sự phát triển của đại công nghiệp, còn giai cấp vô sản lại là sản phẩm của bản thân nền đại công nghiệp”.  

Giai cấp công nhân là giai cấp duy nhất có sứ mệnh lịch sử lãnh đạo nhân dân đấu tranh xoá bỏ chế độ tư bản chủ nghĩa, xóa bỏ chế độ người bóc lột người, giải phóng giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn thể nhân loại khỏi mọi sự áp bức, bóc lột, nghèo nàn lạc hậu, xây dựng xã hội cộng sản chủ nghĩa văn minh. “Thực hiện sự nghiệp giải phóng thế giới ấy, - đó là sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản hiện đại”.

Sứ mệnh lịch sử đó do địa vị kinh tế - xã hội khách quan của giai cấp công nhân quy định. Giai cấp công nhân là giai cấp gắn với lực lượng sản xuất tiên tiến nhất dưới chủ nghĩa tư bản, nên nó là lực lượng quyết định phá vỡ quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, xây dựng xã hội mới với kiểu quan hệ sản xuất mới. Giai cấp công nhân được rèn luyện trong nền sản xuất công nghiệp tiến bộ, đoàn kết và tổ chức lại thành một lực lượng xã hội hùng mạnh. Họ là giai cấp trực tiếp đối kháng với giai cấp tư sản, và xét về bản chất họ là giai cấp cách mạng triệt để nhất chống lại chế độ áp bức, bóc lột đó. Điều kiện sinh hoạt khách quan của họ quy định rằng, họ chỉ có thể tự giải phóng bằng cách giải phóng toàn xã hội khỏi chế độ tư bản chủ nghĩa. Trong cuộc cách mạng ấy, họ không mất gì ngoài xiềng xích và được cả thế giới về mình. Đúng như C.Mác, Ph.Ăng-ghen đã chỉ rõ: “Giai cấp tư sản không những đã rèn những vũ khí sẽ giết mình, nó còn tạo ra những người sử dụng vũ khí ấy chống lại nó, đó là những người công nhân hiện đại”. “Sự sụp đổ của giai cấp tư sản và thắng lợi của giai cấp vô sản đều là tất yếu như nhau”.

Trung thành chủ nghĩa Mác, V.I.Lênin khẳng định, bổ sung: “Tất cả các dân tộc đều sẽ đi đến chủ nghĩa xã hội, đó là điều không tránh khỏi, nhưng tất cả các dân tộc đều tiến tới chủ nghĩa xã hội không phải một cách hoàn toàn giống nhau; mỗi dân tộc sẽ đưa đặc điểm của mình vào hình thức này hay hình thức khác của chế độ dân chủ; vào loại này hay loại khác của chuyên chính vô sản, vào nhịp độ này hay nhịp độ khác của việc cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với các mặt khác nhau của đời sống xã hội”.

 Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là tất yếu khách quan, song, để hiện thực hóa sứ mệnh đó, phải thông qua những nhân tố chủ quan - bản thân giai cấp công nhân và chính đảng của nó.

Cùng với sự phát triển của đại công nghiệp, số lượng, tỷ trọng công nhân ngày càng tăng nhanh ở tất cả các nước, đa dạng hơn về cơ cấu; chất lượng, trình độ học vấn, khoa học công nghệ và tay nghề ngày càng được nâng cao. Trong quá trình phát triển, với sự thâm nhập của chủ nghĩa Mác vào phong trào công nhân tất yếu hình thành chính đảng của giai cấp công nhân - bộ tham mưu chiến đấu của giai cấp công nhân sẽ nâng phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân từ tự phát lên tự giác. Việc thành lập ra đảng cộng sản trung thành với sự nghiệp, lợi ích của giai cấp công nhân là yếu tố quyết định nhất, đảm bảo cho giai cấp công nhân có thể hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình.

Lịch sử thế giới đã chứng minh tính đúng đắn về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân của chủ nghĩa Mác - Lênin. Năm 1871, Công xã Pari  nổ ra, giành thắng lợi - nhà nước vô sản đầu tiên được thành lập, tuy chỉ là mô hình nhà nước vô sản sơ khai, chỉ tồn tại trong 72 ngày nhưng bước đầu đã chứng minh khả năng cách mạng của giai cấp công nhân và bản chất tốt đẹp của mô hình xã hội XHCN. Thắng lợi vĩ đại của Cách mạng Tháng Mười Nga (1917), đã sáng lập nên một chế độ xã hội mới - xã hội XHCN. Lần đầu tiên trong lịch sử, khát vọng thoát khỏi áp bức, bóc lột, bất công, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc của nhân loại cần lao đã trở thành hiện thực sinh động trên một đất nước rộng lớn bằng một phần sáu trái đất và đã mở ra thời đại mới - thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên CNXH trên phạm vi toàn thế giới. “Cách mạng Tháng Mười đã mở ra con đường giải phóng cho các dân tộc và cả loài người, mở đầu một thời đại mới trong lịch sử, thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên toàn thế giới”.

Nước Nga Xô viết, tiếp sau là Liên Xô đã sáng tạo nên những giá trị Xô viết vĩ đại, ưu việt hơn hẳn các chế độ xã hội đã tồn tại trong lịch sử. Trong hơn 70 năm (1917 - 1991) xây dựng và phát triển, từ một nước Nga lạc hậu, Liên Xô đã trở thành một cường quốc kinh tế đứng thứ 2 thế giới (sau Mỹ). Chính trị, văn hóa, khoa học giáo dục đều có sự phát triển vượt bậc, ảnh hưởng lớn đến các nước trên thế giới. Liên-Xô đã giải phóng hàng trăm dân tộc thiểu số ra khỏi nước Nga Sa hoàng - nhà tù của các dân tộc, đem đến cho họ cuộc sống mới. Đời sống mọi mặt của các dân tộc được nâng cao. Quần chúng công nông được hưởng đầy đủ các quyền chính trị kinh tế văn hóa xã hội bảo vệ sức khoẻ, chữa bệnh và nhiều giá trị khác nữa như  quyền nhà ở, quyền được học hành, quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tín ngưỡng tôn giáo…Đó chính là những giá trị xã hội xã hội chủ nghĩa ưu việt do Liên Xô tạo nên, buộc chủ nghĩa tư bản phải tự điều chỉnh, tự tô vẽ lại bộ mặt của mình theo hướng nhân văn hơn, tiến bộ hơn.

Năm 1972, tổng sản lượng công nghiệp Liên Xô đã tăng 321 lần so với năm 1922, thu nhập quốc dân tăng 112 lần. Năm 1975, tổng sản lượng kinh tế của Liên Xô đã đạt 943,5 tỷ USD (đứng thứ 2 thế giới và bằng 62% so với Hoa Kỳ) và chỉ cần 2 ngày rưỡi, Liên Xô đã sản xuất ra lượng sản phẩm bằng cả năm 1913 (năm cao nhất của Đế quốc Nga cũ). 

Liên Xô đã tích cực, chủ động giúp đỡ phong trào Cộng sản và công nhân quốc tế và phong trào giải phóng dân tộc hiệu quả, thiết thực. Liên Xô đã góp phần chủ yếu cứu loài người khỏi thảm hoạ phát xít, thực sự là thành trì của hoà bình, an ninh quốc tế. Với sự ủng hộ nhiệt tình, to lớn của Liên Xô, phong trào giải phóng dân tộc, độc lập dân tộc phát triển như vũ bão; phong trào cộng sản- công nhân quốc tế, phong trào đấu tranh cho hoà bình, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới lớn mạnh không ngừng. Nhờ đó, trong những năm 1960, có khoảng 100 quốc gia giành được độc lập dân tộc ở các mức độ khác nhau, một số nước trong đó lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Chủ nghĩa xã hội từ một nước phát triển thành một hệ thống thế giới, tạo thế cân bằng với chủ nghĩa tư bản, góp phần to lớn vào sự nghiệp đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội, làm thay đổi sâu sắc bộ mặt hành tinh. Đó là sự hiện thực hóa sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân mà C. Mác, Ph. Ăng ghen đã tiên đoán từ năm 1848.

Thế nhưng, sau 70 năm tồn tại,  phát triển, chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô đã sụp đổ. Nguyên nhân sâu xa của sự sụp đổ đó do sự vận dụng giáo điều chủ nghĩa Mác - Lênin, duy trì quá lâu mô hình kinh tế - xã hội tập trung, quan liêu, bao cấp; nguyên nhân trực tiếp là do sai lầm của những người lãnh đạo đứng đầu của đảng cộng sản; thêm vào đó, là sự phản bội của một số kẻ cơ hội bên trong kết hợp với sự chống phá của các thế lực thù địch từ bên ngoài. Sự sụp đổ hệ thống XHCN hoàn toàn không phải là sự sụp đổ của lý tưởng cộng sản, càng không phải là sự phá sản học thuyết Mác - Lênin về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, không phải là sự diệt vong tất yếu của CNXH hiện thực mà là sự đổ vỡ của một mô hình CNXH còn nhiều khuyết tật, không tôn trọng quy luật khách quan, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin…

XUYÊN TẠC, PHỦ NHẬN SỨ MỆNH LỊCH SỬ CỦA GIAI CẤP CÔNG NHÂN LÀ BẢN CHẤT KHÔNG BAO GIỜ THAY ĐỔI CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

Điều đó không có gì đáng ngạc nhiên, bởi chủ nghĩa Mác - Lênin nói chung, luận thuyết về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân nói riêng mang tính khoa học, cách mạng, là hệ tư tưởng dẫn đường cho giai cấp công nhân đấu tranh xóa bỏ sự áp bức, bóc lột “ngồi mát ăn bát vàng” - lợi ích căn bản của giai cấp tư sản trong chế độ tư bản; xây dựng chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản trên toàn thế giới.

Thực tế, ngay từ khi chủ nghĩa Mác ra đời - 1848, các thế lực thù địch run sợ và đã tìm trăm phương ngàn kế hòng tiêu diệt, trừ khử “bóng ma cộng sản” đang ám ảnh châu Âu. Từ cuối thế kỷ XX đến nay, trước sự biến động quanh co, phức tạp của thế giới, nhất là từ sau khi chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, phong trào cách mạng thế giới lâm vào thoái trào, … các thế lực chống cộng, cơ hội, xét lại càng tăng cường xuyên tạc, phủ nhận học thuyết Mác - Lênin, trực tiếp phủ nhận sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân. Chúng sử dụng nhiều chiêu trò, hình thức đa dạng, thâm độc, nguy hiểm khác nhau như: Nào là “chủ nghĩa xã hội là quái thai của lịch sử”, là “ý muốn ngông cuồng” của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin; sự sụp đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu là tất yếu khách quan, loài người quay lại chủ nghĩa tư bản là hợp quy luật…

Cùng với đó, chúng ra sức ngợi ca, cổ vũ rằng; chủ nghĩa tư bản đã phát triển lên một bước mới, đã thay đổi về chất; “chủ nghĩa tư bản nhân dân, nhân đạo”, “Nhà nước phúc lợi chung”; giai cấp công nhân đã được trung lưu hóa, trở thành “giai cấp hữu sản” nên không còn sứ mệnh lịch sử như C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin khẳng định, sứ mệnh đó thuộc về tầng lớp trí thức, “hãy đi dưới tấm biển chỉ đường của trí tuệ…

Với cách mạng Việt Nam, các phần tử chống cộng, cơ hội xét lại cho rằng, chủ nghĩa Mác - Lênin ra đời từ thế kỷ XIX, ở châu Âu không phù hợp với thực tế Việt Nam, Việt Nam  vẫn nghèo, lạc hậu vì theo hệ tư tưởng đó … Chúng vu khống, xuyên tạc, đổ tội cho Đảng Cộng sản sai lầm trong lựa chọn hệ tư tưởng, đường lối cách mạng, tập hợp lực lượng, vi phạm dân chủ, nhân quyền… hòng làm dao động lý tưởng xã hội chủ nghĩa, gây mơ hồ, ảo tưởng về một chế độ xã hội tư bản tốt đẹp, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, phủ nhận mục tiêu, lý tưởng, xu hướng phát triển độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội…