Hiển thị các bài đăng có nhãn bản chất. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn bản chất. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 17 tháng 6, 2023

NHẬN DIỆN THỦ ĐOẠN CHỐNG PHÁ QUEN THUỘC – TỪ HIỆN TƯỢNG CÁ BIỆT QUY KẾT THÀNH BẢN CHẤT

Chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta đang xây dựng là mục tiêu lâu dài, xuyên suốt của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị. Để thực hiện mục tiêu đó, các thế lực chống phá thường theo dõi rất sát diễn biến về tình hình chính trị, kinh tế, xã hội của nước ta. Do vậy, mỗi khi có vấn đề nào đó xảy ra hay có hiện tượng nào đó phát sinh, các thế lực nhanh chóng quy kết, chụp mũ để nâng cao quan điểm, thổi phồng, bóp méo sự thật. Đó là bản chất của thủ đoạn quy kết các hiện tượng cá biệt thành bản chất rồi lớn tiếng quy chụp, rêu rao nhằm tạo sự chú ý của dư luận, dọn đường cho các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị thực hiện các mưu đồ chống phá.

Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, hiện tượng là phạm trù chỉ sự biểu hiện ra bên ngoài của các sự vật; còn bản chất là phạm trù chỉ sự tổng hợp tất cả những mặt, những mối liên hệ tất nhiên, tương đối ổn định bên trong sự vật, quy định sự vận động và phát triển của sự vật. Hiện tượng và bản chất là một cặp phạm trù có mối quan hệ biện chứng, trong đó bản chất luôn luôn được bộc lộ qua hiện tượng, còn hiện tượng nào cũng là sự biểu hiện của bản chất ở mức độ nhất định; không có bản chất tồn tại thuần túy ngoài hiện tượng, đồng thời cũng không có hiện tượng nào mà không biểu hiện bản chất. Vì bản chất là cái tất nhiên, tương đối ổn định bên trong sự vật, quy định sự vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng là cái không ổn định, không quyết định sự vận động, phát triển của sự vật.

Do vậy, nhận thức không chỉ dừng lại ở hiện tượng, mà phải tiến đến bản chất của sự vật. Điều này cũng được V.I. Lê-nin chỉ rõ như sau: Cái không bản chất, cái bề ngoài, cái trên mặt, thường biến mất, không bám “chắc”, không “ngồi vững” bằng bản chất. Luận điểm này có ý nghĩa phương pháp luận quan trọng trong việc nhận thức bản chất của sự vật. Đó là, không thể xuất phát từ những hiện tượng cá biệt, đơn lẻ mà quy kết là bản chất của sự vật bởi đây là biểu hiện của bệnh chủ quan, duy ý chí của chủ thể nhận thức.

Ấy vậy mà, thời gian qua, những kẻ phản động, cơ hội chính trị hoặc do thiếu hiểu biết, hoặc cố tình lờ đi những nguyên tắc phương pháp luận trong nhận thức bản chất của sự vật nên thường xuyên dùng chiêu bài quy chụp hiện tượng cá biệt thành bản chất. Điển hình như những sự việc sau:

Một là, xuất phát từ sự sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô mà quy kết cho sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội với tính cách là một học thuyết khoa học. Năm 1991, chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô sau hơn 74 năm ra đời đã sụp đổ, kéo theo sự sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội ở các nước Đông Âu. Đây được coi là “chấn động chính trị khủng khiếp nhất thế kỷ XX” và là cái cớ để các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị lên tiếng quy chụp, phủ nhận lý luận về chủ nghĩa xã hội của chủ nghĩa Mác - Lê-nin là ảo tưởng, sai lầm. Họ rêu rao rằng, sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu là do sự lạc hậu, lỗi thời của bản thân chủ nghĩa Mác vì: Chủ nghĩa xã hội mà Mác nêu ra chỉ là một lý tưởng, một chủ nghĩa xã hội “không tưởng”, không bao giờ thực hiện được; “chủ nghĩa Mác - Lê-nin đưa ra các nguyên tắc “đấu tranh giai cấp”, “tập trung dân chủ” là cổ vũ cho bạo lực, cho chiến tranh, cho độc quyền, độc đoán, thủ tiêu dân chủ”... Những luận điệu nguy hiểm đó được tung ra khắp nơi trên thế giới với mưu mô phủ nhận lý luận về chủ nghĩa xã hội của chủ nghĩa Mác, từ đó kêu gọi các nước không nên đi theo con đường phát triển chủ nghĩa xã hội.

Đối với Việt Nam, một số thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị ở nước ngoài đã lên tiếng quy chụp Việt Nam đang bế tắc không chỉ về kinh tế, mà còn về tinh thần. Không ai còn tin vào chủ nghĩa Mác nữa hay con đường xã hội chủ nghĩa mà nhân dân Việt Nam đang xây dựng chính là “một khúc cong của lịch sử, là đoạn vòng vèo đầy đau khổ đi lên chủ nghĩa tư bản”. Từ đó, các phần tử cơ hội chính trị lên tiếng kêu gọi Việt Nam cần “tránh chỗ tối, tìm chỗ sáng”, “tránh con đường đau khổ” mà các nước xã hội chủ nghĩa, như Liên Xô, Đông Âu đã đi qua để phát triển theo con đường tư bản chủ nghĩa!

Hai là, từ tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên mà quy kết cả đội ngũ cán bộ, đảng viên “thoái hóa”, “biến chất”. Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên cũng được coi là một cái cớ để các thế lực nắm lấy nhằm thổi phồng, quy chụp đội ngũ cán bộ, đảng viên ở nước ta. Từ hiện tượng một số cán bộ, đảng viên có biểu hiện vi phạm, bị xử lý kỷ luật, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị lớn tiếng quy chụp rằng đội ngũ cán bộ, đảng viên ở Việt Nam hiện nay đã “thoái hóa về tư tưởng, suy đồi về phẩm chất đạo đức, lối sống, không giữ được “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư” như lời dạy của Bác Hồ”.

Gần đây, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị còn triệt để lợi dụng tình trạng tham nhũng của một bộ phận cán bộ, đảng viên để quy chụp đó là một “quốc nạn không có thuốc chữa”. Họ hàm hồ cho rằng, tình trạng đó bắt nguồn từ nguyên nhân tất yếu là chế độ một đảng duy nhất ở Việt Nam và cáo buộc tham nhũng là “căn bệnh nan y, kinh niên của chế độ độc Đảng cầm quyền”. Ngoài ra, các thế lực phản động còn đồng nhất toàn bộ Đảng Cộng sản với một số đảng viên, cán bộ tham nhũng, thoái hóa, biến chất và lên tiếng rêu rao “Đảng không còn là Đảng do Hồ Chí Minh sáng lập, Đảng không còn mang bản chất cách mạng của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động, của dân tộc”.

Từ những lập luận kiểu quy chụp hiện tượng thành bản chất nêu trên, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị còn rêu rao rằng: “Đảng Cộng sản Việt Nam không thể đấu tranh chống tham nhũng, suy thoái thành công vì Đảng cũng suy thoái, tham nhũng”. Những phần tử phản động đã ra sức bài xích chế độ một đảng của Việt Nam, lên tiếng kêu gọi Việt Nam phải đi theo con đường đa đảng, tam quyền phân lập vì “Chỉ có thể chống tham nhũng khi thực hiện thể chế “tam quyền phân lập” để kiểm soát quyền lực”. Nguy hại hơn, các thế lực thù địch còn võ đoán bằng những luận điệu hết sức thâm hiểm: “Trước tình hình cai trị độc tài, không hiệu quả của Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam, nhân dân không thể chịu đựng được nữa, đang đứng lên để chống đối những sai lầm đó, đứng lên đòi nhân phẩm, nhân quyền dân chủ. Càng ngày càng có nhiều người đấu tranh, người trước, kẻ sau, càng ngày càng đông”.

Ba là, xuất phát từ những hạn chế trong phát triển kinh tế - xã hội của đất nước mà quy kết Đảng Cộng sản Việt Nam “mất hết vai trò lãnh đạo”. Trong thời gian qua, từ những hạn chế của công cuộc đổi mới, nhất là mục tiêu cơ bản trở thành nước công nghiệp vào năm 2020 mà Việt Nam đặt ra cách đây nhiều năm đã không đạt được, các thế lực thù địch lên tiếng đổ lỗi cho Đảng ta lãnh đạo đất nước không hiệu quả. Trên nhiều diễn đàn, nhất là mạng xã hội, với danh nghĩa đứng về phía nhân dân, các phần tử cơ hội chính trị đã lớn tiếng rêu rao “Đảng Cộng sản Việt Nam đã hết vai trò lãnh đạo” và lên tiếng khuyên Việt Nam cần phải đi theo mô hình “xã hội dân chủ”, thực hiện chính sách “đa nguyên chính trị”, “đa đảng đối lập”!

Đặc biệt, lợi dụng tình hình dịch bệnh COVID-19 có nhiều diễn biến phức tạp, trên các kênh truyền thông và mạng xã hội của lực lượng phản động nước ngoài quy chụp rằng “Việt Nam đã mất khả năng phòng, chống dịch” hay “Đảng Cộng sản Việt Nam đã không thể chống đỡ trước cơn bão dịch”... Những luận điệu này được rêu rao khắp nơi hòng làm giảm sút uy tín và phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, làm xói mòn niềm tin của nhân dân vào vai trò, vị thế và uy tín của Đảng. Thực chất của thủ đoạn chống phá từ hiện tượng cá biệt quy kết thành bản chất và giải pháp đấu tranh

Từ hiện tượng cá biệt quy kết thành bản chất tuy là thủ đoạn không mới, nhưng vô cùng nguy hiểm. Những thế lực sử dụng thủ đoạn này hoặc là thiếu hiểu biết về việc xem xét bản chất của sự việc hoặc là cố tình lờ đi nguyên tắc xem xét, đánh giá bản chất của sự việc từ những hiện tượng đơn lẻ. Do đó, họ đã quy kết, đồng nhất hiện tượng với bản chất. Đây thực chất là thủ đoạn xuyên tạc, thổi phồng kiểu “vơ đũa cả nắm” với mưu đồ chống phá. Dễ dàng nhận thấy mục đích đằng sau thủ đoạn này là các thế lực thù địch muốn quy chụp, vu cáo những sai lầm, hạn chế của Đảng và Nhà nước ta từ những vụ, việc cụ thể, cá biệt thành hiện tượng phổ biến, có tính quy luật nhằm làm trầm trọng hơn vấn đề, khoét sâu thêm những khuyết tật đã có. Mục đích sâu xa của thủ đoạn này là nhằm hạ thấp năng lực lãnh đạo, quản lý của Đảng và Nhà nước ta, cổ xúy và thúc đẩy tình trạng phản đối, khiếu kiện, chống phá Đảng, Nhà nước, chính quyền của một bộ phận nhân dân kém hiểu biết, bản lĩnh chính trị không vững vàng; từ đó mưu toan hướng lái sự phát triển của Việt Nam theo con đường mà các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị cho là “tối ưu nhất” - con đường phát triển tư bản chủ nghĩa.

Có thể thấy rõ sự phiến diện, sai lầm trong cách quy kết đó. Chúng ta không phủ nhận những sai lầm, hạn chế, khuyết điểm từ những hiện tượng mà các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị đã đưa ra, song điều nguy hại là ở chỗ nó đã bị xuyên tạc, bóp méo qua lăng kính chủ quan với mưu đồ chống phá nguy hiểm. Ví như, từ sự quy chụp sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và các nước Đông Âu mà quy kết là sự “cáo chung” của lý luận về chủ nghĩa xã hội của chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Mặc dù Liên Xô và các nước Đông Âu là những nước tiêu biểu về xây dựng chủ nghĩa xã hội hiện thực ở thế kỷ XX, nhưng sự sụp đổ không phải là sụp đổ chế độ xã hội chủ nghĩa với tính cách là hình thái kinh tế - xã hội mà loài người hướng đến. Nguyên nhân của sự sụp đổ đó không phải là do những sai lầm cố hữu của chủ nghĩa Mác mà “bắt nguồn từ chủ nghĩa giáo điều và xét lại trong đường lối chính trị, tư tưởng và tổ chức của Đảng cầm quyền, cùng sự phản bội của một số người lãnh đạo cao nhất ở đó đối với những nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lê-nin”.

Hơn nữa còn do cả sự phản bội của một số lãnh đạo cấp cao của Đảng Cộng sản Liên Xô lúc bấy giờ đúng như lời thú nhận của M.X. Goóc-ba-chốp được A.P. Sê-vi-a-kin công bố trong cuốn sách nổi tiếng “Bí ẩn diệt vong của Liên Xô - lịch sử những âm mưu và phản bội năm 1945 - 1991”. Đó là: “Mục tiêu của toàn bộ cuộc đời tôi là tiêu diệt chủ nghĩa cộng sản. Chính vì, để đạt được mục tiêu này, tôi đã sử dụng địa vị của mình trong Đảng và trong Nhà nước. Khi trực tiếp làm quen với phương Tây, tôi đã hiểu rằng tôi không thể từ bỏ mục tiêu chống cộng sản đặt ra. Và để đạt được nó, tôi đã phải thay đổi toàn bộ Ban Chấp hành Đảng Cộng sản Liên Xô và Xô-viết tối cao cũng như Ban Lãnh đạo ở tất cả các nước Cộng hòa. Tôi đã tìm kiếm những người ủng hộ để hiện thực hóa mục tiêu đó, trong số này đặc biệt có A.Ya-kốp-lép, Sê-vát-nát-de...”(14).

Từ tình trạng suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên, nhất là tình trạng tham nhũng mà các thế lực thù địch, phản động quy kết cả đội ngũ cán bộ, đảng viên của nước ta thoái hóa, biến chất hay Đảng ta không có khả năng đấu tranh chống tham nhũng, Đảng chỉ dám đánh “con tôm, con tép”. Thực tiễn cho thấy, chúng ta không thể phủ nhận tình trạng suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên trong những năm gần đây có những biểu hiện ngày càng nghiêm trọng, nhưng số cán bộ, đảng viên vi phạm chỉ chiếm tỷ lệ rất nhỏ trong tổng số cán bộ, đảng viên trên cả nước. Ngoài những cán bộ có biểu hiện tiêu cực, có rất nhiều cán bộ, đảng viên luôn vững vàng về bản lĩnh chính trị, nêu cao trách nhiệm cống hiến vì xã hội, vì cộng đồng và có đóng góp to lớn cho sự phát triển của đất nước, được nhân dân tin tưởng, yêu mến và tôn vinh. Những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử của đất nước, thời gian qua không thể không kể đến sự đóng góp của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong cả nước. Họ không chỉ lãnh đạo, quản lý đất nước, mà thực sự còn là cầu nối giữa nhân dân với Đảng, Nhà nước, là nơi gửi gắm niềm tin yêu, sự tôn trọng của nhân dân.

Trước tình trạng phát triển kinh tế - xã hội của đất nước còn nhiều hạn chế, tăng trưởng kinh tế còn chậm, các thế lực thù địch quy kết rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam đã mất vai trò lãnh đạo, đường lối đổi mới của Việt Nam không thành công. Đó thực chất là những luận điệu chủ quan, duy ý chí, thể hiện rõ mưu đồ quy chụp. Để đánh giá đúng vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam hay kết quả của công cuộc đổi mới đất nước, cần có cái nhìn khách quan, công tâm, trên tinh thần khoa học, biện chứng mới thấy rõ hết được. Chúng ta không phủ nhận rằng, hiện nay Việt Nam vẫn còn là một nước đang phát triển, mức độ tăng trưởng thấp hơn so với các nước trong khu vực và trên thế giới, nhưng nhìn lại cả chặng đường đã đi qua, nhất là từ khi đổi mới đến nay, chúng ta mới thấy hết được những bước phát triển vượt bậc của đất nước. Điều này đã được đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: “Việc thực hiện đường lối đổi mới đã đem lại những chuyển biến rõ rệt, hết sức sâu sắc và tích cực ở Việt Nam: kinh tế phát triển, lực lượng sản xuất được tăng cường; nghèo đói giảm nhanh, liên tục; đời sống nhân dân được cải thiện, nhiều vấn đề xã hội được giải quyết; chính trị, xã hội ổn định, quốc phòng, an ninh được bảo đảm; đối ngoại và hội nhập quốc tế ngày càng được mở rộng; thế và lực của quốc gia được tăng cường; niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng được củng cố”. Đó là những bằng chứng thuyết phục để khẳng định vai trò lãnh đạo to lớn của Đảng Cộng sản Việt Nam, khẳng định đường lối đổi mới của Việt Nam là hoàn toàn đúng đắn, vừa phù hợp với quy luật khách quan, vừa đáp ứng yêu cầu, nguyện vọng chính đáng của nhân dân. Đây cũng chính là căn cứ thực tiễn sinh động để phản bác những thủ đoạn chống phá tinh vi của các thế lực thù địch, trong đó có thủ đoạn quy kết những hiện tượng đơn lẻ, cá biệt thành bản chất.

Thủ đoạn chống phá quy kết những hiện tượng cá biệt thành bản chất tuy không mới, nhưng cũng không thể xem nhẹ, coi thường vì nó dễ khiến người khác hiểu sai, gây tâm lý hoang mang, mất niềm tin. Do đó, cần có những biện pháp hợp lý để đấu tranh ngăn chặn.

Một là, cần nâng cao tinh thần cảnh giác cho nhân dân trước các luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động và cơ hội chính trị. Các tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể phải không ngừng tuyên truyền, giúp nhân dân nhận diện rõ thủ đoạn tinh vi, nguy hiểm của các thế lực thù địch khi quy kết những hiện tượng cá biệt thành bản chất để tránh bị các thế lực lôi kéo, mua chuộc, kích động. Ngoài ra, cần động viên, khích lệ, hướng dẫn nhân dân tham gia đấu tranh phản bác những âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch bằng điều kiện, khả năng của mình nhằm nâng cao “sức đề kháng” trước những hoạt động chống phá tinh vi của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị.

Hai là, tiếp tục phát huy vai trò của báo chí, truyền thông trong việc tuyên truyền, lan tỏa những kết quả tích cực trong phát triển kinh tế - xã hội của đất nước để, một mặt, “lấy cái đẹp dẹp cái xấu”; mặt khác, từng bước pha loãng những thông tin xấu, độc, có nội dung xuyên tạc, quy chụp, võ đoán để các thông tin tích cực chiếm ưu thế trên báo chí, truyền thông, mạng xã hội. Ngoài ra, trước những vụ, việc có dấu hiệu bị quy chụp, xuyên tạc, các cơ quan báo chí, truyền thông cần phát huy vai trò trong việc định hướng tư tưởng cho nhân dân theo những luồng thông tin chính thống, tránh để các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị chiếm lĩnh thông tin, dẫn dắt dư luận theo ý muốn chủ quan để dễ bề thực hiện mưu đồ chống phá.

Ba là, cần chủ động có những biện pháp phù hợp để đấu tranh nhằm vô hiệu hóa các thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch. Căn cứ vào vai trò, nhiệm vụ của các lực lượng chuyên trách, nòng cốt để xây dựng những phương án đấu tranh phù hợp với thủ đoạn quy chụp từ những hiện tượng cá biệt thành bản chất. Với lực lượng tuyên giáo các cấp, cần phát huy vai trò trong việc tuyên truyền, vận động nhân dân nâng cao tinh thần cảnh giác trước các luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch. Với đội ngũ chuyên gia, cần đẩy mạnh nghiên cứu, cung cấp các luận cứ khoa học sắc bén, thuyết phục để phản bác những âm mưu, thủ đoạn chống phá. Với lực lượng xung kích (công an, quân đội, thanh niên...) cần thực hiện đồng bộ, quyết liệt các biện pháp kỹ thuật để bóc gỡ, ngăn chặn, xử lý những thủ đoạn chống phá; đồng thời, tăng cường đấu tranh trên không gian mạng, mở rộng mạng lưới đấu tranh trong nhân dân để quy tụ và phát huy sức mạnh tổng lực.

Từ hiện tượng cá biệt quy kết thành bản chất là một trong những thủ đoạn tinh vi mà các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị thường xuyên thực hiện nhằm chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta đang xây dựng. Nhận diện bản chất của thủ đoạn đó để nâng cao tinh thần cảnh giác, ý thức trách nhiệm là cách mỗi chúng ta đấu tranh với những thủ đoạn chống phá đó, góp phần bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ, củng cố niềm tin của nhân dân vào sự nghiệp đổi mới và phát triển đất nước trong giai đoạn hiện nay.


Thứ Năm, 16 tháng 2, 2023

PHẢN BÁC LUẬN ĐIỆU: “MỘT ĐẢNG CẦM QUYỀN, ĐẤT NƯỚC RƠI VÀO TRÌ TRỆ”(?!)

Đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đã 93 năm, lãnh đạo đất nước vượt qua muôn vàn khó khăn, thách thức và đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Tuy nhiên, trên nhiều diễn đàn, các thế lực thù địch, phản động vẫn “nhắm mắt làm ngơ” và cố tình cho rằng: “Chế độ một đảng khiến Việt Nam rơi vào trì trệ kéo dài nhiều năm”(?!) Do đó, cần nhận diện đúng bản chất của luận điệu xuyên tạc tráo trở này và có những luận cứ đấu tranh phản bác xác đáng.

Nhận diện

Thời gian qua, trên nhiều diễn đàn khác nhau, các thế lực thù địch luôn rêu rao rằng hiện nay Việt Nam vẫn còn là một nước chậm phát triển. Một trong những nguyên nhân là do “Đảng đã hết vai trò lịch sử, không còn đủ khả năng để lãnh đạo đất nước” (?!). Ngoài ra, chúng còn vu cáo rằng Đảng Cộng sản Việt Nam tuy có đạt được một số kết quả trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc nhưng hiện đường lối lãnh đạo của Đảng đã không còn phù hợp nữa, đường lối đổi mới của Việt Nam là “sự chắp vá kiểu đầu Ngô mình Sở” nên không thể có thành công được (?!).

Ở góc độ khác, có thế lực còn khoét sâu vào những hạn chế, khuyết điểm của Việt Nam trong thời gian qua, nhất là tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên để công kích Đảng ta, đòi xóa bỏ điều 4 trong Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về quyền lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng. Luận điệu của chúng là: “Tình trạng khủng hoảng và đói nghèo ở Việt Nam hoàn toàn là hệ quả của chính sách cai trị độc tài dựa theo chủ nghĩa Mác - Lênin mà Đảng Cộng sản Việt Nam áp đặt trên đất nước Việt Nam”(?!). Đây là một sự cáo buộc có tính suy diễn, quy chụp trắng trợn nhằm mục tiêu chống phá Đảng và chế độ ta.

Trong những dịp Đảng, Quốc hội xin ý kiến rộng rãi các tầng lớp nhân dân về dự thảo các văn kiện, nghị quyết, luật…, các hoạt động chống phá lại càng quyết liệt và tinh vi hơn. Dưới hình thức “Thư ngỏ”, nhiều thế lực thù địch bao gồm các lực lượng phản động ở nước ngoài, các phần tử cơ hội chính trị trong nước đã gửi “tâm thư” kêu gọi Đảng ta phải thay đổi để “cứu vớt” đất nước. Thực chất của những luận điệu trên là nhằm xỏa bỏ chế độ một đảng duy nhất lãnh đạo của Việt Nam với lý lẽ “Từ bỏ độc quyền lãnh đạo là vấn đề căn bản vì đó là then chốt của một chế độ dân chủ”; đòi “đa nguyên chính trị”, “đa đảng đối lập”. Sâu xa hơn, các thế lực thù địch còn muốn Việt Nam phải từ bỏ con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, đi theo sự sắp đặt của các nước phương Tây, tạo ra các mối hằn thù với các nước xã hội chủ nghĩa còn lại. Lập luận của chúng là: “Đánh đổi chế độ xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo lấy sự cam kết của một số cường quốc phương Tây, làm đối trọng với Trung Quốc”(?!).

Những luận điệu xuyên tạc chế độ một đảng lãnh đạo duy nhất của Việt Nam là mũi dùi chống phá trực diện, tấn công vào vấn đề có tính căn cốt trong nền tảng tư tưởng của Đảng. Mục tiêu của các thế lực là nhằm xóa bỏ chế độ một đảng duy nhất lãnh đạo, thực hiện chế độ đa đảng lãnh đạo, đa nguyên chính trị nhằm hướng lái sự phát triển của Việt Nam theo quỹ đạo khác. Đây là một thủ đoạn chống phá rất nguy hiểm vì có liên quan trực tiếp đến sự tồn vong của Đảng, của chế độ nên cần phải có luận cứ đấu tranh xác đáng, thuyết phục nhằm nâng cao nhận thức, củng cố niềm tin, bồi đắp lý tưởng cho cán bộ, đảng viên và nhân dân.

Luận cứ đấu tranh

Sau hơn 35 năm đổi mới, mặc dù còn nhiều khó khăn, thách thức nhưng Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử khiến cho cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế của nước ta ngày càng được củng cố và nâng cao. Đánh giá về những thành tựu này, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã từng khẳng định: “việc thực hiện đường lối đổi mới đã đem lại những chuyển biến rõ rệt, hết sức sâu sắc và tích cực ở Việt Nam: kinh tế phát triển, lực lượng sản xuất được tăng cường; nghèo đói giảm nhanh, liên tục; đời sống nhân dân được cải thiện, nhiều vấn đề xã hội được giải quyết; chính trị, xã hội ổn định, quốc phòng, an ninh được bảo đảm; đối ngoại và hội nhập quốc tế ngày càng được mở rộng; thế và lực của quốc gia được tăng cường; niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng được củng cố”. Những thành tựu đó chính là bằng chứng giàu sức thuyết phục để khẳng định nhờ đường lối lãnh đạo đúng đắn, nhờ chế độ chính trị phù hợp mà Việt Nam không những giải quyết được khủng hoảng toàn diện mà còn đạt được những thành tựu to lớn trên tất cả các lĩnh vực, góp phần cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân; gia tăng niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, vào chế độ.

Những thành tựu đó không phải tự nhiên mà có và cũng không phải dễ dàng có được. Đó chính là kết quả của quá trình nhận thức về tính tất yếu của đổi mới đất nước, đồng thời xuất phát từ sự thôi thúc của bản thân Đảng ta với mong muốn ngày càng mang lại sự phát triển phồn vinh cho đất nước, mang lại ấm no, hạnh phúc cho nhân dân.

Những thành tựu đó là bằng chứng thuyết phục để khẳng định năng lực lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam - một đảng duy nhất cầm quyền và lãnh đạo cả dân tộc trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và phát triển đất nước; đồng thời cũng làm cho nhân dân ngày càng thêm tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, đồng thuận để Đảng trở thành một lực lượng xã hội duy nhất lãnh đạo toàn xã hội. Do đó, không thể cố tình lờ đi những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của Việt Nam qua hơn 35 đổi mới để cáo buộc rằng chế độ một đảng duy nhất lãnh đạo đã khiến Việt Nam rơi vào tình trạng trì trệ, kém phát triển.

Khi mà xuất phát điểm của chúng ta thấp, Việt Nam lại đang trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, các cơ chế, chính sách quản lý phát triển xã hội đang trong quá trình hoàn thiện nên những hạn chế, thiếu sót là không tránh khỏi. Đó cũng chính là động lực để Đảng ra không ngừng hoàn thiện về chủ trương, đường lối lãnh đạo qua mỗi kỳ Đại hội; không ngừng tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận về đường lối đổi mới để lãnh đạo đất nước từng bước vượt qua những khó khăn, thách thức, sớm hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

Chế độ một đảng duy nhất lãnh đạo ở Việt Nam không chỉ xuất phát từ đặc thù về tình hình cách mạng của nước ta, về tương quan lực lượng và mối quan hệ giữa giai cấp công nhân nước ta với các giai cấp, tầng lớp khác trong xã hội mà còn xuất phát từ bản chất của Đảng ta - một đảng đại diện cho lợi ích của toàn dân tộc, luôn lấy mục tiêu phát triển đất nước, đem lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân làm mục tiêu phấn đấu. Do đó, luận điệu cho rằng “một đảng cầm quyền, đất nước rơi vào yếu thế, lạc hậu do sự lãnh đạo sai lầm của Đảng” là phiến diện, có tính quy chụp, lộ rõ ý đồ chống phá Đảng, chống phá chế độ. Vì thế, chúng ta cần nhận diện rõ bản chất sai trái của luận điệu này để luôn tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, luôn kiên định vào con đường mà Đảng đã lựa chọn. Đó là xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

Theo: Chiên Lê


Thứ Hai, 29 tháng 8, 2022

KHÔNG ĐƯỢC PHÉP XUYÊN TẠC, BỊA ĐẶT VỀ NỖI ĐAU, SỰ HI SINH, MẤT MÁT CỦA DÂN TỘC

Dân tộc Việt Nam đã phải trải qua rất nhiều cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại mới có được sự độc lập, tự do và cơ đồ như ngày hôm nay. Nhân dân ta đã phải anh dũng đấu tranh, chấp nhận mọi hi sinh, mất mát, đau thương mới có được cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc. Vì vậy, mỗi người dân Việt Nam cần tỉnh táo trước các luận điệu xuyên tạc, bịa đặt, phủ nhận lịch sử; cần gìn giữ hòa bình, chung tay xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

Lịch sử cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta đã lùi xa. Dấu mốc ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975) đến nay đã hơn 47 năm. Vậy nhưng những kẻ chống cộng cực đoan ở hải ngoại và một số đối tượng từng được hưởng lợi dưới chế độ Việt Nam cộng hòa, hoặc một số đối tượng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ở trong nước vẫn không thôi xuyên tạc về cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Luận điệu họ đưa ra là do sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam mà dẫn đến “cuộc nội chiến huynh đệ tương tàn”, “Nồi da xáo thịt” hoặc “miền Bắc xâm lược miền Nam”… Thực chất, đây chỉ là giọng điệu của những kẻ “mong muốn” được làm tay sai cho ngoại bang để có lợi lộc, hoặc “ước mơ hão huyền” về danh phận nếu âm mưu diễn biến hòa bình của các thế lực thù địch thành công. Họ hết lời ca ngợi chế độ Việt Nam cộng hòa, họ bị đồng đô la che mắt nên sẵn sàng chấp nhận thân phận “con rối”, “chú hề”. Đó là những luận điệu dối trá, khơi gợi hận thù, kích động mâu thuẫn nhằm gây mất ổn định, phá hoại sự đoàn kết, thống nhất của dân tộc. Về bản chất của chế độ Việt Nam cộng hòa, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã từng thừa nhận: “Mỹ còn viện trợ, thì chúng tôi còn chống Cộng. Nếu Hoa Kỳ mà không viện trợ cho chúng tôi nữa thì không phải là một ngày, một tháng hay một năm mà chỉ sau ba giờ, chúng tôi sẽ rời khỏi Dinh Độc Lập”.

Những kẻ bị đồng tiền làm tha hóa, biến chất, sẵn sàng làm tay sai cho các thế lực thù địch để họ thực hiện âm mưu diễn biến hòa bình ở Việt Nam phải biết rằng: đằng sau đồng đô la “nhơ bẩn” mà họ thụ hưởng ấy chính là máu và nước mắt của đồng bào ta. Họ phải biết rằng, hành động “Rước voi về giày mả tổ”, “Cõng rắn cắn gà nhà” từ xưa trong lịch sử luôn luôn bị lên án. Thời kỳ 1954 - 1975, họ đã tiếp tay cho Mỹ đưa sang Việt Nam hàng triệu lượt quân nhân (có thời điểm cao nhất hơn nửa triệu quân Mỹ cùng có mặt) cùng lính đánh thuê ở nhiều nước khác; đã rải gần 8 triệu tấn bom đạn, gần 80 triệu lít chất độc hóa học cùng nhiều loại vũ khí tối tân khác…

Bom đạn, vũ khí của Mỹ đã gây nên những hậu quả hết sức thảm khốc cho dân tộc ta. Theo thống kê, có khoảng hơn 4 triệu dân thường ở cả miền Nam và miền Bắc bị chết và bị thương tật suốt đời; có khoảng 850.000 quân nhân hy sinh, 600.000 quân nhân bị thương hoặc bị bệnh; có hơn 200.000 hài cốt liệt sỹ vẫn chưa tìm thấy, khoảng 300.000 hài cốt liệt sỹ chưa xác định được danh tính tại các nghĩa trang; có trên 312.000 người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học; có hơn 3.000 nghĩa trang liệt sĩ trên cả nước… Trong đó, tỉnh Quảng Nam có hơn 65.000 liệt sỹ (là tỉnh có số liệt sỹ nhiều nhất cả nước), trong đó huyện Điện Bàn (tỉnh Quảng Nam) có hơn 19.800 liệt sỹ (là huyện có số liệt sỹ nhiều nhất cả nước). Nước ta hiện có gần 140.000 Bà mẹ Việt Nam Anh hùng, trong đó Quảng Nam có hơn 15.000 mẹ (là tỉnh có nhiều Mẹ Việt Nam Anh hùng nhất cả nước). Ngoài ra, còn rất nhiều hậu quả của chiến tranh vẫn còn tồn tại cho tới ngày nay, tiêu biểu như những di chứng của thương tật, của chất độc màu da cam, bom mìn còn sót lại... Đó là những sự mất mát, hi sinh, là xương máu, là nỗi đau mà dân tộc ta đã phải trải qua mới có được thắng lợi, thống nhất, hòa bình và độc lập như ngày hôm nay.

Những mất mát, hi sinh, nỗi đau to lớn còn hiện hữu, mỗi người chúng ta đều có thể nhận thức rõ. Vì vậy, tháng 7 hàng năm chúng ta tổ chức các hoạt động nhân Ngày Thương binh liệt sĩ (ngày 27/7) là khoảng thời gian cao điểm thể hiện sự tri ân sâu sắc đối với công lao to lớn của những thương binh, liệt sĩ trong cuộc chiến giành độc lập, bảo vệ Tổ quốc. Đó là những nỗ lực của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân nhằm đền ơn đáp nghĩa, nhằm xoa dịu một phần nỗi đau không gì bù đắp được của những gia đình liệt sỹ, thương binh, những người có công với cách mạng.

Không được phép đem những mất mát, hi sinh, nỗi đau to lớn đó của nhân dân, của dân tộc ra để mà xuyên tạc và bịa đặt. Những kẻ sống như “thân tầm gửi” thiếu gốc rễ, như “con rối” bị giật dây, phải bám vào các thế lực thù địch ở nước ngoài để tìm nguồn sống cho bản thân liệu có sớm tỉnh ngộ!?. Họ đã mù quáng mà vô tình xúc phạm biết bao anh linh của các thế hệ tiền nhân, làm tổn hại tình đoàn kết và tương lai của đất nước.

Họ không biết rằng, ngay cả người Mỹ và nhân dân yêu chuộng hòa bình trên khắp thế giới đã có nhiều hành động ủng hộ Việt Nam trong cuộc chiến chống Mỹ, cứu nước. Điều đó được thể hiện trong thời gian Mỹ tham chiến tại Việt Nam, đã có 50 quốc gia có phong trào ủng hộ Việt Nam, hơn 200 tổ chức, ủy ban, phong trào đoàn kết ủng hộ Việt Nam, hơn 160 triệu người ở nhiều nước ghi tên tình nguyện sang Việt Nam đánh Mỹ, 83 cơ quan đại diện của Mỹ ở các nước bị nhân dân sở tại đập phá… Ngay trong nội bộ nước Mỹ, cũng có hơn 200 tổ chức chống chiến tranh Việt Nam trên khắp các bang; thậm chí, có những công dân Mỹ tự thiêu để phản đối cuộc chiến… Đó là những bằng chứng hùng hồn cho thấy tính chất chính nghĩa của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc Việt Nam; ngược lại, cho thấy tính chất phi nghĩa của cuộc chiến tranh mà Mỹ tiến hành ở Việt Nam.

Vì vậy, người Việt Nam chúng ta, nhất là lớp trẻ hãy cảnh giác với những luận điệu xuyên tạc, bịa đặt của những kẻ phản quốc, những kẻ bán rẻ lương tâm, xem thường đạo lý dân tộc. Chúng ta - những con người Việt Nam chân chính, một mặt cần nhận thức đúng đắn về bản chất của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước; mặt khác,quan trọng hơn, cần xác định rõ trách nhiệm của mỗi người trong việc tri ân, đền đáp công lao đối với các thế hệ tiền nhân đã cống hiến, đã hy sinh để gìn giữ sự thống nhất, sự độc lập và tự do cho Tổ quốc. Đặc biệt,cùng nhau nỗ lực phấn đấu để xây dựng một nước Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc.

Thứ Tư, 17 tháng 8, 2022

BẢN CHẤT CỦA CHỦ NGHĨA TƯ BẢN TRONG CUỐN SÁCH CỦA TỔNG BÍ THƯ NGUYỄN PHÚ TRỌNG

Trong cuốn sách “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”, khi nói về bản chất của chủ nghĩa xã hội và lí do tại sao Việt Nam lại lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã so sánh với chủ nghĩa tư bản. Qua đó, cuốn sách của Tổng Bí thư đã đánh giá rất toàn diện, sâu sắc về chủ nghĩa tư bản.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đánh giá khách quan những thành tựu và hạn chế của chủ nghĩa tư bản. Tổng Bí thư cho rằng, chế độ tư bản chủ nghĩa là một bước tiến lớn trong lịch sử nhân loại, đồng thời khẳng định: “Chúng ta thừa nhận rằng, chủ nghĩa tư bản chưa bao giờ mang tính toàn cầu như ngày nay và cũng đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, nhất là trong lĩnh vực giải phóng và phát triển sức sản xuất, phát triển khoa học-công nghệ. Nhiều nước tư bản phát triển, trên cơ sở các điều kiện kinh tế cao và do kết quả đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, đã có những biện pháp điều chỉnh, hình thành được không ít các chế độ phúc lợi xã hội tiến bộ hơn so với trước”.

Trong cuốn sách của mình, Tổng Bí thư không chỉ khẳng định vai trò rất quan trọng của chủ nghĩa tư bản trong việc phát triển nhanh lực lượng sản xuất mà trong một chừng mực nhất định chủ nghĩa tư bản đã góp phần giải phóng con người với chế độ phúc lợi xã hội tiến bộ hơn nhiều so với tất cả các chế độ xã hội trước đó. Tuy nhiên, Tổng Bí thư cũng khẳng định những phúc lợi xã hội đối với người lao động mà chủ nghĩa tư bản đang thực hiện không phải là mục đích tự thân của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa mà trên cơ sở trình độ lực lượng sản xuất phát triển cao và là kết quả đấu tranh kiên trì, bền bỉ qua rất nhiều năm của giai cấp công nhân, nhân dân lao động ở các nước tư bản phát triển.

Bên cạnh việc thừa nhận những giá trị của chủ nghĩa tư bản, nội dung cuốn sách của Tổng Bí thư khẳng định do đặc trưng nội tại vốn có của chính phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, nên đây là một mô hình phát triển không bền vững về kinh tế, xã hội và môi trường sinh thái: “Các cuộc khủng hoảng đang diễn ra một lần nữa chứng minh tính không bền vững cả về kinh tế, xã hội và môi trường sinh thái của nó”. Bởi lẽ, “Đó là hậu quả của một quá trình phát triển kinh tế – xã hội lấy lợi nhuận làm mục tiêu tối thượng, coi chiếm hữu của cải và tiêu dùng vật chất ngày càng tăng làm thước đo văn minh, lấy lợi ích cá nhân làm trụ cột của xã hội. Đó cũng chính là những đặc trưng cốt yếu của phương thức sản xuất và tiêu dùng tư bản chủ nghĩa”.

Mục đích của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa là tạo ra nhiều giá trị thặng dư cho nhà tư bản nên nhà tư bản có xu hướng hạn chế tiền công của người công nhân, trả tiền công cho người công nhân thấp hơn so với số hàng hóa mà họ tạo ra. Để thực hiện được lợi nhuận thì nhà tư bản phải bán được nhiều sản phẩm song chính việc hạn chế tiền công của công nhân đã hạn chế khả năng tiêu thụ hàng hóa của tư bản, đó chính là mâu thuẫn trong xã hội tư bản dẫn đến khủng hoảng kinh tế. Thực tế lịch sử của chủ nghĩa tư bản đã chứng minh những cuộc khủng hoảng kinh tế luôn gắn liền với phương thức sản xuất này. “Các cuộc khủng hoảng vẫn tiếp tục diễn ra. Đặc biệt là, năm 2008-2009 chúng ta đã chứng kiến cuộc khủng hoảng tài chính, suy thoái kinh tế bắt đầu từ nước Mỹ, nhanh chóng lan rộng ra các trung tâm tư bản chủ nghĩa khác và tác động đến hầu hết các nước trên thế giới”.

Mô hình phát triển của chủ nghĩa tư bản không những không bền vững về kinh tế mà còn không bền vững về xã hội. Do đặc trưng của phương thức sản xuất này là chạy theo lợi nhuận của một số cá nhân nên người lao động vẫn là đối tượng bị bóc lột của quá trình sản xuất: “Kinh tế suy thoái đã làm phơi bày sự thật của những bất công xã hội trong các xã hội tư bản chủ nghĩa: đời sống của đa số dân cư lao động bị giảm sút nghiêm trọng, thất nghiệp gia tăng; khoảng cách giàu – nghèo ngày càng lớn, làm trầm trọng thêm những mâu thuẫn, xung đột giữa các sắc tộc”. Mô hình phát triển của chủ nghĩa tư bản còn không bền vững về môi trường sinh thái: “Cùng với khủng hoảng kinh tế – tài chính là khủng hoảng năng lượng, lương thực, sự cạn kiệt của các nguồn tài nguyên thiên nhiên, sự suy thoái của môi trường sinh thái,… đang đặt ra những thách thức vô cùng lớn cho sự tồn tại và phát triển của nhân loại”. Để thu lợi nhuận nhiều thì phải kích thích xã hội tiêu dùng, hưởng thụ, phải tiêu dùng nhiều và phải sản xuất nhiều hơn so với khả năng thực tế của người nghèo so với nhu cầu của người giàu. Càng sản xuất nhiều càng khai thác, bóc lột thiên nhiên, tài nguyên nhiều đã dẫn tới tình trạng suy thoái môi trường trầm trọng mà loài người đang phải trả giá.

Tống Bí thư cũng đã khẳng định hệ thống chính trị của các nước tư bản chỉ phục vụ cho lợi ích của một thiểu số người đang nắm giữ tư liệu sản xuất chủ yếu của xã hội chứ không phải bảo vệ lợi ích của đông đảo quần chúng nhân dân lao động như họ luôn rêu rao: “Hệ thống quyền lực đó vẫn chủ yếu thuộc về thiểu số giàu có và phục vụ cho lợi ích của các tập đoàn tư bản lớn. Một bộ phận rất nhỏ, thậm chí chỉ là 1% dân số, nhưng lại chiếm giữ phần lớn của cải, tư liệu sản xuất, kiểm soát tới 3/4 nguồn tài chính, tri thức và các phương tiện thông tin đại chúng chủ yếu và do đó chi phối toàn xã hội. Đây chính là nguyên nhân sâu xa dẫn đến phong trào “99 chống lại 1” diễn ra ở Mỹ đầu năm 2011 và nhanh chóng lan rộng ở nhiều nước tư bản”.

Chính trong khủng hoảng kinh tế, nhân dân lao động càng nhận thấy rõ hơn những bất công xã hội trong chủ nghĩa tư bản. Trong cuộc khủng hoảng 2008, những tập đoàn tư bản và những ngân hàng thương mại, những người trực tiếp gây ra tình trạng tồi tệ của nền kinh tế và gián tiếp bần cùng hóa người lao động thì không phải trả giá cho những việc họ đã làm. Chỉ có người lao động đang trực tiếp nếm trải những khó khăn của nền kinh tế. Cuộc khủng hoảng này làm cho hàng triệu người mất nhà cửa khi họ không còn đủ khả năng trả các khoản nợ cho ngân hàng. Cuộc khủng hoảng này làm cho đời sống nhân dân vô vùng khó khăn, đáng lẽ ra Chính phủ phải có những chính sách hỗ trợ người lao động thì Chính phủ các nước tư bản lại rót tiền vào cứu trợ cho các ngân hàng, những thủ phạm gây ra cuộc khủng hoảng này. Chính phủ Mỹ đã chi khoảng tiền 1500 tỉ USD, Chính phủ Anh tung ra gói cứu trợ 790 tỉ USD, Đức thông qua gói cứu trợ 667 tỉ uSD, Pháp 500 tỉ USD. Khi rót một số tiền lớn làm cho tỷ lệ nợ công ở các nước này tăng lên, tỷ lệ nợ công trên GDP ở các nước phát triển đã tăng từ 44% năm 2007 lên 71% năm 2009[9], vì vậy họ phải thực hiện chính sách “thắt lưng buộc bụng”, cắt giảm chi tiêu mà hậu quả đè lên vai người dân. Và quyết định cắt giảm đầu tiên bao giờ cũng đánh vào những người về hưu như ở Anh và Pháp, vào những người làm công ăn lương nhà nước, cắt giảm các chính sách an sinh xã hội của người lao động. Thực tế này một lần nữa khẳng định hệ thống chính trị ở các nước tư bản không phải là quyền lực của nhân dân thực sự mà do các tập đoàn tư bản chi phối nên hoạt động của nó là để phục vụ cho các tập đoàn này, thực tế đã phơi bày đầy đủ bản chất của nền dân chủ tư sản: “Sự rêu rao bình đẳng về quyền nhưng không kèm theo sự bình đẳng về điều kiện để thực hiện các quyền đó đã dẫn đến dân chủ vẫn chỉ là hình thức, trống rỗng mà không thực chất”.

Cuốn sách của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng không chỉ là sự khẳng định đanh thép cho sự lựa chọn con đường phát triển của dân tộc Việt Nam mà còn giúp chúng ta nhìn một cách sâu sắc, thấu đáo về bản chất của chủ nghĩa tư bản ngày nay, đập tan những luận điệu tô hồng, ca ngợi một chiều chế độ này để cổ xúy đi theo con đường tư bản chủ nghĩa./.

Thứ Tư, 15 tháng 6, 2022

KHÔNG THỂ PHỦ NHẬN BẢN CHẤT KHOA HỌC, CÁCH MẠNG VÀ SỨC SỐNG TRƯỜNG TỒN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN

Từ sau khi hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ đến nay, các thế lực thù địch điên cuồng tìm mọi thủ đoạn để xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin. Chú cho rằng, Chủ nghĩa Mác-Lênin sai lầm, là không phù hợp, từ đó lớn tiếng cho rằng, Việt Nam đã chọn đường sai, cần phải đi con đường khác. Thế nhưng, thực tiễn đã cho thấy, những người lãnh đạo Đảng Cộng sản, đảng viên ở Liên Xô và các nước Đông Âu đã tiếp thu giáo điều, nửa vời, xa rời những nguyên tắc căn bản của lý luận Mác-Lênin. Chính điều này đã dẫn đến sự sụp đổ đau đớn, làm băng hoại một chế độ tốt đẹp. Đó là sự sụp đổi của một mô hình nhà nước cụ thể không toàn vẹn do áp dụng không đúng lý luận mác-xít về nhà nước, về xây dựng chế độ, về đảng cầm quyền chứ không phải là sự sai lầm của một học thuyết khoa học, không phải sai lầm của lý luận mác-xít. Cũng chính sự kiện đó đã là lời cảnh tỉnh xương máu cho tất cả chúng ta.

Thực tiễn cách mạng Việt Nam từ khi đất nước chìm trong bóng đêm nô lệ đến nay đã chứng minh tính đúng đắn, tính khoa học, tính cách mạng, tính nhân văn và sự trường tồn của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Dưới ách đô hộ của thực dân, đế quốc, dân tộc ta khi đó không thiếu những anh hùng, không thiếu những cuộc khởi nghĩa, phong trào cách mạng với mong muốn giải phóng dân tộc. Nhưng tất cả đều thất bại vì không có đường lối đúng, không có lý luận cách mạng dẫn đường. Chỉ đến khi Nguyễn Ái Quốc tiếp cận Chủ nghĩa Mác-Lênin, tìm ra con đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc Việt Nam, từng bước đưa lý luận vào thực tiễn, soi sáng con đường giải phóng dân tộc, đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi to lớn này đến thắng lợi to lớn khác. Thực tiễn cách mạng thế giới cũng như cách mạng Việt Nam đã chỉ rõ, nếu coi thường, xa rời bản chất cách mạng và khoa học của Chủ nghĩa Mác-Lênin, nếu vận dụng nó một cách máy móc, nếu không chịu tìm tòi, nghiên cứu, đúc rút, tổng kết và phát triển hệ lý luận ấy cho phù hợp với sự vận động không ngừng của thực tiễn thì rất dễ dẫn đến phải trả giá bằng sự thất bại. Trước những biến đổi to lớn của thời đại, cần nhận thức đúng đắn, sâu sắc và vận dụng sáng tạo những nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn; tuyệt đối không mơ hồ, mất cách giác trước các luận điệu xuyên tạc, phủ nhận bản chất khoa học, cách mạng và sức sống trường tồn của chủ nghĩa Mác - Lênin.

GIỮ VỮNG VAI TRÒ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

Suốt mấy chục năm qua, nhất là những năm gần đây, các thế lực thù địch không ngừng tấn công vào Đảng Cộng sản Việt Nam, cổ vũ cho con đường phát triển "kinh tế thị trường tự do", "đa nguyên, đa đảng", tìm mọi cách thủ tiêu, hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng... nhưng đều nhận lấy sự thất bại và không bao giờ hiện thực được những mưu đồ, tâm địa xấu xa. Bài học xương máu được Đảng ta rút ra sau hơn 35 năm đổi mới là, để giữ vững định hướng và kiên định con đường đã chọn là độc lập dân tộc gắn liền với CNXH thì Đảng phải giữ vững vai trò lãnh đạo, cầm quyền của mình. Đây nguyên tắc bất di bất dịch, bởi sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố bảo đảm định hướng XHCN của nền kinh tế thị trường và mọi hoạt động xã hội. Trong nhịp điệu và tiến trình của công cuộc đổi mới, vai trò lãnh đạo của Đảng rất quan trọng, ở những bước chuyển giai đoạn thì vai trò lãnh đạo của Đảng càng đặc biệt được khẳng định. Để giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng, cần thực hiện tốt một số giải pháp sau:

Trước hết, mỗi cấp ủy, tổ chức đảng và từng đảng viên cần giữ vững bản chất giai cấp và tính tiên phong của Đảng. Bản chất giai cấp của Đảng thể hiện trước hết ở mục tiêu, lý tưởng của Đảng. Khi định ra đường lối, chính sách, Đảng phải luôn luôn đứng vững trên lập trường cách mạng của giai cấp công nhân, tuyệt đối trung thành với lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Đảng kiên định lập trường có tính nguyên tắc của mình là lãnh đạo nhân dân xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh theo con đường XHCN. Trong bất cứ hoàn cảnh nào, tình hình trong nước và thế giới dù khó khăn, phức tạp đến đâu, Đảng cũng vững vàng, không xa rời mục tiêu, lý tưởng của mình, đấu tranh không mệt mỏi cho lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động.

Hai là, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng. Đại hội VII của Đảng chính thức khẳng định nền tảng tư tưởng của Đảng là Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Theo quan điểm của Đảng ta, cho đến nay tuy có những vấn đề cần bổ sung và phát triển, nhưng Chủ nghĩa Mác-Lênin luôn là học thuyết cách mạng và khoa học nhất, tiên tiến nhất, không thể bác bỏ, phủ nhận (cả về phương pháp luận cũng như hệ thống những luận điểm cơ bản). Tư tưởng Hồ Chí Minh là sản phẩm của sự vận dụng và phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin vào thực tiễn Việt Nam, kế thừa và phát huy những giá trị văn hóa của dân tộc và nhân loại. Đó là một hệ thống những luận điểm về cách mạng Việt Nam gắn liền với những biến động của thế giới, có quan hệ đến đời sống của giai cấp và dân tộc, xã hội và con người, quốc gia và quốc tế.

Ba là, giữ vững và bảo vệ các nguyên tắc tổ chức sinh hoạt Đảng. Đảng là một tổ chức chặt chẽ, thống nhất ý chí và hành động, lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản, thực hiện tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, thương yêu đồng chí, kỷ luật nghiêm minh. Sức mạnh của Đảng là ở tính thống nhất, đoàn kết chặt chẽ "trăm người tiến đánh chỉ như một người". Xa rời hoặc không thực hiện nghiêm túc tập trung dân chủ thì Đảng không thể có được sức mạnh. Bên cạnh đó, thực hiện các nguyên tắc: Tự phê bình và phê bình, đoàn kết trên cơ sở Cương lĩnh chính trị và Điều lệ Đảng, gắn bó mật thiết với nhân dân, Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.

Bốn là, thường xuyên đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng. Bác Hồ khẳng định, Đảng ta là đảng cầm quyền, Đảng có trách nhiệm lãnh đạo tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, lo đến cả "tương cà, mắm muối” và những thứ cần thiết cho đời sống thường ngày của nhân dân. Phải giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, đồng thời phải cải tiến, đổi mới phương thức lãnh đạo, bảo đảm nâng cao chất lượng và hiệu quả lãnh đạo của Đảng; phát huy mạnh mẽ vai trò của Nhà nước và các đoàn thể nhân dân. Đảng không phải là cơ quan quyền lực nhà nước; Đảng lãnh đạo hệ thống chính trị, đồng thời là một bộ phận của hệ thống chính trị.

Quán triệt và thực hiện tốt những vấn đề đó, chúng ta sẽ từng bước đổi mới, chỉnh đốn Đảng có kết quả, đồng thời tăng cường bản chất giai cấp công nhân và tính tiên phong của Đảng, xây dựng Đảng ta thực sự vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ; làm cho Đảng có đủ trình độ trí tuệ, năng lực lãnh đạo, phẩm chất đạo đức, đoàn kết thống nhất, có sức chiến đấu cao, đảm đương sứ mệnh lãnh đạo sự nghiệp cách mạng đi đến thắng lợi cuối cùng, như Chủ tịch Hồ Chí Minh hằng mong mỏi.

Thứ Hai, 9 tháng 5, 2022

XUYÊN TẠC TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH - ÂM MƯU NGOAN CỐ, THÂM ĐỘC CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH, PHẢN ĐỘNG

Chủ tịch Hồ Chí Minh là lãnh tụ cách mạng, nhà văn hóa kiệt xuất, nhà tư tưởng vĩ đại của dân tộc Việt Nam. Người đã để lại cho chúng ta một sự nghiệp chính trị cao cả, một di sản tư tưởng lý luận đồ sộ, vô giá và trở thành một biểu tượng văn hóa của dân tộc. Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định, cùng với chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng của Đảng và đã kiên trì vận dụng sáng tạo tư tưởng của Người vào công cuộc đổi mới, đưa đất nước ta đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử.

Với dã tâm chống phá cách mạng Việt Nam, các thế lực thù địch, phản động không từ thủ đoạn thâm độc nào, điên cuồng xuyên tạc, phủ nhận tư tưởng Hồ Chí Minh. Dã tâm đó bắt đầu từ sớm, được thực hiện bởi chủ nghĩa thực dân câu kết với chủ nghĩa chống cộng, âm mưu thủ tiêu vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, hòng dập tắt phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân ta. Khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, thì sự xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động chống Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày càng được gia tăng, gắn liền với những hoạt động nhằm lật đổ chính quyền cách mạng còn non trẻ và xóa bỏ nền độc lập mà nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng mới giành được. Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, các thế lực thù địch, phản động tập trung xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối của Đảng ta trong lãnh đạo cách mạng Việt Nam đấu tranh giải phóng dân tộc, sau đó từ năm 1954 thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược là cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, thống nhất nước nhà.

Khi cuộc đời và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh trở thành biểu tượng văn hóa, tinh thần của dân tộc, là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động cách mạng của Đảng, nhất là khi Việt Nam tiến hành công cuộc đổi mới, trong bối cảnh chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ, thì các thế lực thù địch, phản động càng điên cuồng tìm mọi cách chống phá với nhiều thủ đoạn thâm độc, phương thức tinh vi, xảo quyệt hơn. Chúng không từ bất cứ thủ đoạn nào, từ bóp méo sự thật lịch sử, bôi nhọ nhân cách và phẩm giá, đến đánh giá phiến diện, sai trái; thậm chí, nguy hiểm hơn, chúng còn ca tụng một cách cực đoan, hòng tách rời tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác – Lê-nin và với Đảng Cộng sản Việt Nam…

Tất cả những âm mưu và thủ đoạn thâm độc đó của các thế lực thù địch, phản động đều nhằm phủ nhận giá trị và cống hiến to lớn từ cuộc đời và sự nghiệp của Người đối với dân tộc, từ đó phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng, làm xói mòn niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Bác Hồ; mưu đồ gây ra những bất ổn chính trị, tạo cớ cho sự can thiệp từ bên ngoài để xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Trong chiến lược chống cộng, chiến lược “diễn biến hòa bình”, các nước đế quốc và các thế lực phản động rắp tâm tìm mọi cách “hạ bệ thần tượng” Hồ Chí Minh, bài bác, phủ nhận tư tưởng của Người, phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng ta, âm mưu “lật đổ” trên lĩnh vực tư tưởng, mở đường cho cuộc lật đổ về chính trị.

Phương thức hoạt động chủ yếu hiện nay của các thế lực phản động quốc tế là tiến hành chiêu dụ, cấp tiền, o bế các tổ chức phản động lưu vong, lập nhiều quỹ với danh nghĩa “phi chính phủ”, “từ thiện” để thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”. Chúng sử dụng nhiều công cụ, phương tiện, hình thức tuyên truyền từ bên ngoài tác động vào bên trong, nhất là qua các trang thông tin quốc tế có xu hướng cực hữu chính trị, chống cộng, các phương tiện truyền thông xã hội, các đài phát thanh, kênh truyền hình… của một số đối tượng phản động, lưu vong, tổ chức phi chính phủ ở một số nước phương Tây.

Bên cạnh đó, ở trong nước, một số đối tượng cơ hội, bất mãn chính trị được hậu thuẫn của tổ chức phản động nước ngoài, cũng ráo riết thực hiện hành vi tuyên truyền xuyên tạc thân thế và sự nghiệp vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh, bằng nhiều chiêu trò, nhất là sử dụng kỹ thuật, công nghệ chỉnh sửa, cắt ghép tư liệu lịch sử, tranh ảnh, phim tư liệu… để xuyên tạc, ngụy tạo những câu chuyện hoang đường, không có thật về Người. Thâm độc hơn, chúng cố tình “lập lờ đánh lận con đen”, đan cài thật – giả lẫn lộn, hòng làm vấy bẩn, bóp méo, xuyên tạc bản chất mác-xít, tính cách mạng, khoa học, nhân văn của tư tưởng Hồ Chí Minh.

Thứ Hai, 28 tháng 2, 2022

SÁNG RÕ TÍNH ƯU VIỆT CỦA CHẾ ĐỘ TA

Nghiên cứu cuốn sách của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, tôi rất tâm đắc về tư tưởng xuyên suốt, nhất quán, kiên định và sự phát triển sáng tạo, hoàn thiện tư duy lý luận, nhận thức về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn. Tổng Bí thư đã có cái nhìn thấu đáo về bản chất của chủ nghĩa tư bản qua “các phong trào phản kháng xã hội bùng nổ mạnh mẽ”; những giá trị lợi ích cá nhân, kinh tế luôn được đặt lên hàng đầu và “thực tế là các thiết chế dân chủ theo công thức “dân chủ tự do” mà phương Tây ra sức quảng bá, áp đặt lên toàn thế giới không hề bảo đảm để quyền lực thực sự thuộc về nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân-yếu tố bản chất nhất của dân chủ”. Đồng thời, khẳng định những giá trị đích thực của CNXH là mục tiêu, là con đường mà Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta và nhân dân ta đã lựa chọn: “Lý luận cách mạng, khoa học của Chủ nghĩa Mác-Lênin, Hồ Chí Minh đã đưa ra kết luận sâu sắc rằng, chỉ có CNXH và chủ nghĩa cộng sản mới có thể giải quyết triệt để vấn đề độc lập cho dân tộc, mới có thể đem lại cuộc sống tự do, ấm no và hạnh phúc thực sự cho tất cả mọi người, cho các dân tộc”.

Những bài viết trong cuốn sách là sự đúc rút, khẳng định tính đúng đắn, hiện thực hóa hệ thống lý luận Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh vào các giai đoạn cách mạng Việt Nam. Theo đó, trên mọi lĩnh vực từ kinh tế, văn hóa, xã hội, nội bộ tổ chức đảng đến xây dựng giai cấp, xây dựng sức mạnh đoàn kết... Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đều đưa ra cách nhìn khách quan trên mọi phương diện cả thành công và tồn tại, hạn chế, cũng như những nguy cơ tiềm ẩn; tìm ra những nguyên nhân khách quan, chủ quan và đề ra được những biện pháp để phát triển đất nước về mọi mặt: Kinh tế, văn hóa, xã hội phù hợp với tình hình mới, giai đoạn cách mạng mới, theo con đường CNXH mang đậm nét truyền thống văn hóa, đậm đà tính cách và đạo đức của dân tộc Việt Nam-một dân tộc kiên cường, yêu chuộng hòa bình và tràn đầy tình hữu nghị, bác ái.

Thứ Tư, 16 tháng 2, 2022

BỘ MẶT THẬT CỦA NHỮNG KẺ XUYÊN TẠC CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN

Trước sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa theo mô hình Xôviết ở Liên Xô và các nước Đông Âu; sự đổi mới, thích ghi của chủ nghĩa tư bản hiện đại, cộng với những biểu hiện tiêu cực trong quá trình đổi mới đất nước, một số người đã dao động, giảm lòng tin vào chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam. Với cái gọi là “kiến nghị tâm huyết” với Đảng, Nhà nước, một số người nhân danh “cấp tiến” đề xuất giải pháp nhằm thay máu cho hệ tư tưởng” và “sửa lại chủ nghĩa Mác - Lênin” cho hợp thời và sát với thực tế Việt Nam. Có kẻ còn “sám hối” rằng, cả đời mình đã tin theo một học thuyết sai lầm, đi theo một con đường không đúng nên “rơi vào tình cảnh éo le, bế tắc”, “cùng đường”,… Vì vậy, phải “giã từ chủ nghĩa xã hội để đi theo chủ nghĩa tư bản (!). Thực chất đây là quan điểm phản động, nhằm xuyên tạc phủ nhận đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước. Điều hết sức nguy hiểm là các quan điểm sai trái này bằng nhiều hình thức đã được tán phát, lan truyền rất nhanh gây hoang mang, hoài nghi cho nhiều người, để lại những hậu quả không thể xem thường. Do đó, cần đấu tranh lên án, vạch trần luận điệu xuyên tạc của chúng, để bảo vệ chủ nghĩa Mác – Lênnin, Bảo vệ Đảng và bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa.

Thứ Năm, 11 tháng 11, 2021

BẢN CHẤT LUẬN ĐIỆU “PHI CHÍNH TRỊ HÓA QUÂN ĐỘI” CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

Để chống phá Đảng, Nhà nước ta, các thế lực thù địch, đối tượng phản động tập trung chống phá nền tảng tư tưởng chính trị, trọng tâm là học thuyết lý luận Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh mà Đảng ta đã xác định là nền tảng tư tưởng, là “kim chỉ nam” cho mọi hành động. Tận dụng những sai lầm, khuyết điểm trong quá trình xây dựng Đảng, Nhà nước, nhất là tệ nạn tham ô, tham nhũng, vi phạm đạo đức của một số cán bộ các cấp, từ đó, xuyên tạc, bôi nhọ, nói xấu, đổ đồng đội ngũ cán bộ, tạo sự nghi ngờ trong bất cứ việc tổ chức thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, từng bước gây mất niềm tin của nhân dân vào Đảng.

Cùng với các mục tiêu chống phá trên, bọn chúng ra sức tuyên truyền quan điểm “phi chính trị hóa” quân đội. Đây là thủ đoạn rất xảo quyệt và cực kỳ nguy hiểm. Như chúng ta đã biết, Quân đội là lực lượng nòng cốt bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ nhân dân, là “thanh bảo kiếm” bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ xã hội chủ ngh. Một khi quân đội và các lực lượng vũ trang khác bị “phi chính trị hóa”, đánh mất nền tảng tư tưởng, cái cốt lõi để tạo nên sức mạnh thì chắc chắn sẽ suy yếu. Khi đó, sức mạnh tư tưởng đã suy yếu, dẫn đến không còn khả năng ngăn chặn các cuộc bạo động, bạo loạn từ bên trong cũng như khả năng tấn công từ bên ngoài của các thế lực thù địch. Một khi, nền tảng chính trị không được giữ vững, sự bất ổn định trong quản lý đất nước xảy ra, các hoạt động chống đối, phá hoại có cơ hội lộ diện. Lúc đó, sức mạnh chuyên chính không được thực thi, khả năng ngăn chặn sự tấn công từ bên trong và bên ngoài sẽ bị vô hiệu hóa. Đất nước sẽ dẫn đến tình trạng mất an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, từng bước dẫn đến bạo loạn, lật đổ chính quyền. Bản chất của cái gọi là “quân đội phi chính trị”, “quân đội phi giai cấp” chỉ là thứ ngôn ngữ hoa mỹ nhằm che đậy âm mưu toan tính lật đổ chế độ, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng với cách thức, thủ đoạn rất tinh vi, thâm độc của các thế lực thù địch và đối tượng phản động mà thôi.

Quân đội của chúng ta là quân đội của nhân dân, từ nhân dân mà ra, được nhân dân chăm lo nuôi dưỡng, với mục tiêu xuyên suốt, bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ, bảo vệ nhân dân, bảo vệ nền độc lập dân tộc mà biết bao thế hệ ông cha đã dày công, đổ xương máu xây đắp, dựng nên. Quân đội ấy được đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện về mọi mặt của Đảng, cùng có chung lợi ích dân tộc, đất nước, giai cấp và nhân dân. Xây dựng quân đội kiên định về chính trị, vững mạnh về tư tưởng, chặt chẽ, trong sạch về tổ chức, có đủ sức mạnh đánh trả bất cứ hành động xâm lược nào cũng như hoạt động làm tổn hại đến sự ổn định của đời sống xã hội. Đây không chỉ là yêu cầu của Đảng mà đó là nhiệm vụ của toàn dân tộc, của nhân dân, của mọi thành phần trong xã hội và của chính quân đội.

Nhận thức đúng bản chất, âm mưu thủ đoạn, cách thức hoạt động của các thế lực thù địch, đối tượng phản động đối với quân đội cũng là biện pháp quan trọng để tăng cường bản chất giai cấp công nhân và sức mạnh chiến đấu của quân đội, bảo đảm cho quân đội luôn luôn sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu thắng lợi trong mọi tình huống.

Thứ Hai, 1 tháng 11, 2021

KIÊN ĐỊNH ĐỔI MỚI NHƯNG KHÔNG THAY ĐỔI BẢN CHẤT CHẾ ĐỘ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

Trước hết, cần khẳng định bản chất và nhiệm vụ của công cuộc đổi mới. Đổi mới là một cuộc vận động mang tính cách mạng không ngừng để thay cái cũ bằng cái mới tốt hơn. Đổi mới vừa là sự thay thế cái cũ, vừa là sự chọn lựa cái cũ, cái hiện đang còn tác dụng để cải biến cho nó trở nên thích dụng hơn. Đổi mới có thể coi là một sự phủ định biện chứng: Không bao giờ phủ định sạch trơn và không bao giờ quay lại cái cũ. Đổi mới đồng bộ, hài hòa giữa kinh tế và chính trị với mục tiêu giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

Có người khuyên Việt Nam: “Muốn phát triển thì cần tư nhân hóa nhanh hơn, hội nhập thương mại nhanh hơn, phá giá đồng tiền mạnh hơn”. Lời khuyên đó dẫu có chân thành thì chúng ta cũng không thể làm như thế. Bởi vì, hơn ai hết, chúng ta hiểu rõ tình hình thực tế của đất nước mình và chúng ta thực hiện đổi mới nhưng có nguyên tắc, đổi mới nhưng không thay đổi bản chất chế độ xã hội. Đổi mới là thực hiện bước chuyển từ cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp sang cơ chế thị trường, nhưng trong khi thực hiện cơ chế thị trường, Nhà nước phải quản lý và điều hành theo định hướng xã hội chủ nghĩa, khắc phục tình trạng thả nổi thị trường; đổi mới để phát triển kinh tế, nhưng sự phát triển đó phải đi đôi với thực hiện công bằng xã hội, khắc phục tình trạng phân hóa giàu-nghèo. Đổi mới có yêu cầu và gắn với mở cửa, hội nhập. Đổi mới có yêu cầu và gắn với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Toàn bộ công cuộc hội nhập-mở cửa, đẩy mạnh công nghiệp hóa-hiện đại hóa đất nước là để thực hiện chiến lược phát triển nhanh và bền vững; là để xây dựng và tăng cường lực lượng sản xuất, củng cố và phát triển quan hệ sản xuất phù hợp; là để nâng tầm đất nước lên trình độ mới, tầm cao mới. Vậy nên đổi mới chính là để hướng tới chủ nghĩa xã hội, để hiện thực quá độ lên chủ nghĩa xã hội ngày càng được xác lập rõ ràng hơn. Đổi mới và cải cách có cùng nội dung hướng tới cái mới, cái tốt đẹp hơn. Nhưng cải cách thường được hiểu là những hành động nhất định, những cuộc vận động nhất định nhằm những mục tiêu nhất định. Khi những hành động cải cách ấy, những cuộc vận động cải cách ấy đã đạt tới mục tiêu đề ra thì phải có hành động cải cách mới, cuộc vận động cải cách mới. Còn đổi mới, theo cách hiểu của chúng ta, tuy cũng nhằm những mục tiêu nhất định trong những thời kỳ nhất định, song do bản chất và tính tất yếu của nó, lại là một quá trình lâu dài. Đổi mới như một dòng chảy liên tục, vận động liên tục của cả guồng máy xã hội do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng, phát động và lãnh đạo, tổ chức thực hiện. Các Đại hội VII, VIII, IX, X, XI, XII và XIII của Đảng đều khẳng định tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới để đưa đất nước đi lên. Lời hiệu triệu đó rất phù hợp với yêu cầu của thực tiễn và ý nguyện của nhân dân.

Thứ Hai, 18 tháng 10, 2021

ĐỪNG ĐỂ BỊ KẺ XẤU LỢI DỤNG

 Trong xã hội hiện nay, chúng ta không khó để nhận ra có những người rất hay than trách cuộc sống, nghi ngờ mọi thứ xung quanh, cho rằng mọi thứ đều xấu xa, tự cảm thấy mình chịu nhiều bất công, từ đó oán trách chế độ xã hội. Họ nhìn xã hội qua lăng kính màu đen nên mọi thứ xung quanh đều trở nên đen tối. Khi kinh tế phát triển họ nói rằng phát triển không thực chất, phải đánh đổi môi trường, lợi ích vào túi một số ít người. Khi một số cán bộ, đảng viên bị kỷ luật, một số vụ tham nhũng bị phát giác, xử lý nghiêm theo pháp luật, thì họ cho rằng như thế là chưa đủ, mà thậm chí phải "đập chế độ này đi xây lại vì cả hệ thống tham nhũng". Khi một vài trường học xảy ra bạo lực học đường, thì họ kết luận cả nền giáo dục là bỏ đi. Thậm chí khi bóng đá Việt Nam giành được nhiều thành tích, nhiều chiến thắng vinh quanh ở tầm châu lục và vươn lên đứng đầu khu vực Đông Nam Á, họ cũng cho rằng đó là may mắn, rồi chỉ là thành tích của một lứa cầu thủ, một huấn luyện viên, còn cả nền bóng đá vẫn tồi tệ...

 Thực tế trong bất cứ xã hội nào cũng tồn tại những người bi quan và bất mãn. Điều này là kết quả, là ảnh hưởng từ xuất phát điểm của mỗi người; từ quá trình giáo dục, từ những kết quả công việc và cuộc sống cho đến cách tiếp nhận, phân tích thông tin của mỗi người và quan trọng là cách tự xác định tâm thế, vị trí của mỗi người đối với cuộc sống. Chúng ta có thể gặp không ít người có đời sống vật chất đủ đầy, có nhà lầu, xe hơi... nhưng vẫn bất mãn với cuộc sống, vẫn thấy nhiều người hơn mình, vẫn thấy mình thiệt thòi. Từ những bất mãn so bì đó, thay vì nỗ lực để mang lại cuộc sống tốt đẹp hơn nữa cho bản thân như mong muốn, thì họ lại quay ra oán trách, thậm chí chửi bới, bôi nhọ chế độ xã hội.

 Những lúc bình thường thì tâm thế của kiểu người nêu trên gây tiêu cực cho chính bản thân họ và xã hội. Nhưng khi mà cuộc đấu tranh tư tưởng, đấu tranh chống "diễn biến hòa bình" diễn ra rất quyết liệt, có nhiều sắc thái mới thì việc tồn tại trong xã hội kiểu người nói trên sẽ là cơ hội để các thế lực thù địch hướng tới, lôi kéo, nhằm đạt được mục đích là gây bất ổn xã hội, thậm chí gây rối loạn xã hội, tiến tới lật đổ chế độ.

 Để nói về điều này, cần phải nhìn lại giai đoạn vừa qua của lịch sử thế giới đã chứng kiến những kết cục đau lòng từ sự ngộ nhận, lầm tưởng của một lớp người trong xã hội. Năm 2011, các cuộc biểu tình có cái tên rất mỹ miều là "Mùa xuân Ả Rập" đồng loạt nổ ra tại một số quốc gia Bắc Phi, Trung Đông, như: Tunisia, Algerie, Ai Cập, Yemen, Libya, Iraq, Syria...  Các cuộc biểu tình này đã dẫn tới bạo động chống chính phủ, lan nhanh như một bệnh dịch khiến chính phủ ở một loạt nước như Ai Cập, Libya, Tunisia, Yemen bị lật đổ, xã hội hỗn loạn...

 Các nước Syria, Yemen chìm trong nội chiến. Theo ước tính đến năm 2016, "Mùa xuân Ả Rập" và các cuộc nội chiến từ hậu quả của nó đã làm Syria, Lybia, Iraq bị tàn phá, khoảng 500.000 người chết, hàng chục triệu người bị mất nhà cửa, phải chạy tị nạn sang các quốc gia khác.

 Nguyên nhân dẫn tới biểu tình và bạo động là những vấn đề xã hội đã tồn tại trong các quốc gia nêu trên chậm được cải thiện, những vấn đề tư tưởng, những ấm ức, bất mãn, tâm lý bị thiệt thòi của một bộ phận người dân không sớm được giải tỏa và tìm biện pháp khắc phục. Cùng với đó là sự can dự, giật dây của các nước phương Tây, tiếp sức bằng tiền và vũ khí cho các nhóm chống đối, kích động, lôi kéo người dân xuống đường biểu tình. Đó là vì các nước phương Tây muốn thay đổi các chế độ trái mắt họ, vì lợi ích của họ. Kết quả của "Mùa xuân Ả Rập" là một thứ mùa xuân chết chóc, hỗn loạn, tan vỡ, ly tán, vợ mất chồng, cha mất con, người dân mất nhà cửa, đất nước tan hoang. Những nhà lãnh đạo bị phương Tây gọi là những “nhà độc tài” đã bị lật đổ, để rồi thay thế vào đó là nhiều nhóm quyền lực mới nổi lên bắn giết nhau, bất chấp mạng sống của người dân để giành quyền lực. Nhiều người dân Ả rập đã hối tiếc, muốn mọi thứ trở lại giai đoạn “tiền Mùa xuân Ả Rập”.

Nhìn người để nghĩ tới ta. Đất nước Việt Nam hiện được đánh giá nằm ở nhóm quốc gia có tốc độ phát triển nhanh hàng đầu thế giới. Chúng ta có thể cảm nhận thấy rõ đời sống của người dân đang đi lên theo thời gian. Theo báo cáo của Ngân hàng Thế giới (WB) năm 2018, 70% người dân Việt Nam đã được bảo đảm về mặt kinh tế, trong đó 13% thuộc tầng lớp trung lưu theo chuẩn thế giới. Tính từ năm 2014 tới nay, trung bình mỗi năm có 1,5 triệu người Việt Nam gia nhập vào tầng lớp trung lưu toàn cầu, cho thấy các hộ gia đình đang tiếp tục leo lên bậc thang kinh tế cao hơn sau khi thoát nghèo. Tất cả vấn đề xã hội, vấn đề về môi trường, phát triển bền vững đều được Đảng, Nhà nước quan tâm. Công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên được đặc biệt quan tâm và thực hiện thực chất, quyết liệt. Thế nhưng tất cả những thực tế rõ ràng đó, những con người có con mắt thiếu khách quan vẫn cố tình không thừa nhận.