Hiển thị các bài đăng có nhãn đấu tranh giai cấp. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn đấu tranh giai cấp. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 21 tháng 2, 2022

NHẬN DIỆN THỦ ĐOẠN CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH CHỐNG PHÁ CÁCH MẠNG VIỆT NAM THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG NGOẠI GIAO

Trong tình hình quốc tế hiện nay, việc mở rộng và tăng cường quan hệ đối ngoại là yêu cầu khách quan của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội. Các thế lực thù địch lợi dụng triệt để việc quan hệ đối ngoại của chúng ta để thực hiện mưu đồ “diễn biến hoà bình”, nhất là trên lĩnh vực chính trị tư tưởng. Biểu hiện trên một số nội dung chủ yếu như:

Thông qua con đường ngoại giao tác động nhằm làm thay đổi đường lối chiến lược cả về chính trị, kinh tế, quân sự của Đảng ta với phương châm: cấp nào tác động ở cấp đó, ngành nào tác động ở ngành đó.

Thông qua con đường ngoại giao phê phán Đảng ta vi phạm nhân quyền, dân chủ gây sức ép hòng buộc chúng ta thực hiện quan điểm tự do, dân chủ, nhân quyền tư sản; hỗ trợ cho các thế lực chống Đảng, chống chế độ xã hội chủ nghĩa như đòi thả hết tù chính trị, đòi Việt Nam tự do ngôn luận, tự do báo chí, tách hoạt động văn học nghệ thuật khỏi sự lãnh đạo của Đảng.

Một số sứ quán nước ngoài đã can thiệp tới các cơ quan chức năng của Việt Nam để gây sức ép đề nghị cho văn nghệ sĩ cực đoan ra nước ngoài

Trong chiến lược “ngoại giao thân thiện”, các thế lực thù địch chủ trương mời các nhà ngoại giao Việt Nam hoạt động từ thiện tăng cường các hoạt động giúp đỡ cơ quan tương ứng của Việt Nam. Tổ chức nhiều cuộc hội thảo khoa học giữa các nhà khoa học giữa các nhà khoa học và sự tài trợ của nước ngoài; đồng thời thông qua các hoạt động đó sẽ trao tặng các danh hiệu khoa học và các danh hiệu khác cho các nhà lãnh đạo Việt Nam nhằm đánh những đòn tâm lý lung lay đến tư tưởng, tính cảm các các nhà lãnh đạo, xóa nhòa danh giới thù hận, quên đi quá khứ và bản chất xấu xa của chủ nghĩa đế quốc, làm lu mờ đi đấu tranh cách mạng, chỉ biết hưởng thụ, đòi hỏi là mục đích và động cơ thấp hèn của chúng.

Tất cả các hoạt động đó đều nhằm mục đích xoá đi một nguyên lý vô cùng quan trọng của lịch sử xã hội loài người là cuộc đấu tranh giai cấp giữa giai cấp công nhân và giai cấp tư sản, giữa lợi ích của giai cấp tư sản và giai cấp công nhân, xóa nhòa đi mục tiêu mà chủ nghĩa xã hội cần phải hướng tới. Vì vậy, cần phải cảnh giác đối với các thế lực thù địch hiện nay, đặc biệt là thông qua ngoại giao, cùng với sự thâm hiểm của chúng./.


Thứ Tư, 9 tháng 6, 2021

NHẬN DIỆN MỘT SỐ LUẬN ĐIỆU SAI TRÁI, PHẢN ĐỘNG VỀ BẢN CHẤT GIAI CẤP CÔNG NHÂN VÀ VAI TRÒ CỦA TỔ CHỨC CÔNG ĐOÀN VIỆT NAM

Các thế lực thù địch, phản động xuyên tạc rằng, chủ nghĩa Mác - Lê-nin là đúng đắn nhưng chỉ trong điều kiện Cách mạng công nghiệp lần thứ nhất (động cơ hơi nước) gắn với nền sản xuất dựa trên máy móc cơ khí ở thế kỷ thứ XIX; hiện nay, nhân loại đã chuyển mình sang Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, kỷ nguyên của kinh tế tri thức, kinh tế số, toàn cầu hóa, tin học hóa, dữ liệu lớn (big data)…, nên chủ nghĩa Mác - Lê-nin không còn phù hợp nữa; trong nền sản xuất hiện đại, việc đưa rô-bốt (người máy) vào sản xuất ngày càng nhiều, với dây chuyền tự động hóa, việc tuyển dụng và sử dụng người công nhân ngày càng ít đi, cho nên học thuyết về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân không còn phù hợp nữa; trong điều kiện hiện đại, nhà tư bản không còn bóc lột sức lao động của giai cấp công nhân, mà đó là sự thỏa thuận giữa người sử dụng lao động và người lao động; giai cấp công nhân không còn vai trò trong nền sản xuất hiện đại mà chính tầng lớp trí thức mới là người quyết định vận mệnh tương lai của nhân loại (?!)…

Các thế lực thù địch ra sức xuyên tạc, bóp méo rằng, giai cấp công nhân chỉ là những người có học vấn hạn chế nên chỉ có thể lật đổ chế độ cũ, chứ không thể xây dựng được một xã hội mới tốt đẹp, nhất là trong thời đại khoa học phát triển hiện nay. Họ xảo biện rằng, nếu như giai cấp công nhân có sứ mệnh lịch sử là “Người đào huyệt chôn chủ nghĩa tư bản” xây dựng một xã hội mới thì tại sao ở những nước tư bản phát triển có lực lượng công nhân rất đông, chất lượng cao lại không thực hiện vai trò, sứ mệnh lịch sử của mình? Đảng Cộng sản Việt Nam không thể gọi là Đảng của giai cấp công nhân được, vì nó có rất ít tính công nhân mà mang đậm tính nông dân, chịu ảnh hưởng nặng nề của xã hội phong kiến,…, nên giai cấp công nhân Việt Nam và Đảng Cộng sản Việt Nam không thể lãnh đạo thành công sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam (?!).

Họ ngụy biện rằng, giai cấp công nhân đã hoàn thành sứ mệnh của mình trong thời kỳ cách mạng giải phóng dân tộc. Ngày nay, trong điều kiện hòa bình, hội nhập quốc tế, thời kỳ của các cuộc cách mạng khoa học - công nghệ, vai trò đó phải thuộc về đội ngũ trí thức, những nhà khoa học, nhà tư tưởng. Chỉ có những nhà khoa học, trí thức mới có thể đưa đất nước phát triển nhanh được. Rằng, hiện nay chủ nghĩa tư bản đã thay đổi về chất, nhà nước tư bản đã là “nhà nước phúc lợi chung” và theo tự nhiên, nhà nước tư bản sẽ dần “tiệm tiến” lên nhà nước xã hội chủ nghĩa, nó không còn dựa trên sự bóc lột lao động làm thuê nữa; công nhân ở các nước tư bản không còn bị bóc lột, địa vị của họ đã có sự thay đổi căn bản, cho nên không còn sứ mệnh lịch sử nữa (?!)…

Đó là một số trong vô vàn những luận điệu xuyên tạc, mị dân, phản động của “chủ nghĩa chống cộng” và các thế lực thù địch về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân.

Sự thật là, sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân do điều kiện khách quan quy định, không phải do bất kỳ lý do nào khác. Giai cấp công nhân chính là sản phẩm của nền đại công nghiệp và không ngừng phát triển cả về số lượng và chất lượng, họ tự ý thức được vị trí, vai trò của mình trong tiến trình phát triển của lịch sử xã hội loài người. Mặc dù chủ nghĩa tư bản đã và đang có sự điều chỉnh thích nghi do sự đấu tranh quyết liệt của chủ nghĩa xã hội, của giai cấp công nhân và quần chúng nhân dân lao động, song bản chất bóc lột của chế độ tư bản không hề thay đổi, mà nó ngày càng tinh vi, xảo quyệt hơn.

Mưu đồ của các thế lực thù địch với chủ nghĩa xã hội là ra sức tấn công vào nền tảng tư tưởng của các đảng cộng sản, nhằm thay thế bằng tư tưởng của giai cấp tư sản trên phạm vi toàn thế giới. Những luận điệu trên là hết sức phản động, phục vụ cho ý đồ đen tối đó và chúng cố tình không nhận ra rằng, dưới tác động của hội nhập quốc tế, giai cấp công nhân Việt Nam đã có sự phát triển nhanh cả về số lượng và chất lượng, đa dạng về cơ cấu thành phần và ngành, nghề, đời sống vật chất và tinh thần ngày càng được cải thiện. Giai cấp công nhân Việt Nam ngày càng được nâng cao về trình độ chuyên môn nghề nghiệp, hình thành tác phong và kỷ luật lao động theo hướng hiện đại, vì thế, họ có nhiều cơ hội việc làm và đời sống vật chất, tinh thần ngày càng được cải thiện.

Sự điều chỉnh, thích nghi đã làm cho chủ nghĩa tư bản tạm thời chiếm ưu thế; giai cấp công nhân ở các nước tư bản đã có mức sống tốt hơn do năng suất lao động ngày càng cao và bởi sự đấu tranh của tổ chức công đoàn những nơi này đã mang lại lợi ích cho người lao động. Tuy nhiên, đây chỉ là sự phản ánh mức sống của họ trong điều kiện mới, hoàn toàn không phải là sự thay đổi bản chất của chủ nghĩa tư bản và càng không làm thay đổi bản chất cách mạng của giai cấp công nhân. Những mâu thuẫn trong lòng xã hội tư bản không hề giảm đi, mà ngày càng trầm trọng, gay gắt thêm. Trong xã hội tư bản, số người giàu “chỉ là 1% dân số, nhưng lại chiếm giữ phần lớn của cải, tư liệu sản xuất, kiểm soát tới ¾ nguồn tài chính, tri thức và các phương tiện thông tin đại chúng chủ yếu và do đó chi phối toàn xã hội”(9). Điển hình là phong trào chiếm phố Wall ở Mỹ năm 2017; biểu tình chống phân biệt chủng tộc cuối tháng 5, đầu tháng 6-2020 ở Mỹ… Những điều đó là hệ quả của sự phân cực giàu nghèo, phân biệt đối xử… do sự thống trị của chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa.

Về vai trò của tổ chức công đoàn, các thế lực phản động xuyên tạc trắng trợn rằng, công đoàn hiện nay không còn phát huy vai trò là tổ chức bảo vệ quyền lợi cho người lao động; hoạt động của tổ chức công đoàn ở các doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chỉ mang tính hình thức, không dám đấu tranh với lãnh đạo doanh nghiệp, với ông chủ; họ cũng chỉ là người làm thuê và chịu sự quản lý của người sử dụng lao động và thậm chí, có thể bị sa thải nếu làm trái ý chủ doanh nghiệp (?!)...

Sự thật là, vai trò của tổ chức Công đoàn Việt Nam được hiến định trong Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và được cụ thể hóa trong Luật Công đoàn Việt Nam. Luật Công đoàn Việt Nam chỉ rõ: “Công đoàn là tổ chức chính trị - xã hội rộng lớn của giai cấp công nhân và của người lao động, được thành lập trên cơ sở tự nguyện, là thành viên trong hệ thống chính trị của xã hội Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; đại diện cho cán bộ, công chức, viên chức, công nhân và những người lao động khác (sau đây gọi chung là người lao động), cùng với cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội chăm lo và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động…; tham gia quản lý nhà nước, quản lý kinh tế - xã hội, tham gia thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp; tuyên truyền, vận động người lao động học tập nâng cao trình độ, kỹ năng nghề nghiệp, chấp hành pháp luật, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”.

Hoạt động của các tổ chức đảng, tổ chức công đoàn ở các doanh nghiệp thực sự hiệu quả; các tổ chức này luôn đóng vai trò là điểm tựa, động viên, bảo vệ quyền lợi chính đáng, hợp pháp, khuyến khích người lao động hăng say lao động, phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật và là lực lượng nòng cốt trong thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Thông qua nhiều hoạt động đa dạng, phong phú, tổ chức công đoàn giúp cho công nhân hiểu biết về hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp; nâng cao năng suất lao động và chất lượng sản phẩm; nêu cao tinh thần trách nhiệm trong sản xuất và công tác; thi đua giỏi việc nước, đảm việc nhà, lao động sáng tạo; đồng thời, tuyên truyền trong công nhân, viên chức, người lao động về đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; nắm bắt tình hình tư tưởng, tâm tư, nguyện vọng của công nhân, viên chức, người lao động để kịp thời phản ánh, kiến nghị với Đảng, Nhà nước nghiên cứu, giải quyết; đồng thời, tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật về lao động, về tổ chức công đoàn trong công nhân, viên chức, người lao động và người sử dụng lao động thuộc các thành phần kinh tế, nhất là ở khu vực kinh tế ngoài nhà nước và có vốn đầu tư nước ngoài…

Do đó, những luận điệu xuyên tạc trên của các thế lực thù địch là hòng che đậy bản chất bóc lột của giai cấp tư sản hoặc tìm cách xóa nhòa ranh giới giữa giai cấp công nhân với giai cấp tư sản, thủ tiêu đấu tranh giai cấp, hoàn toàn không có cơ sở khoa học và thực tiễn.

Thứ Bảy, 16 tháng 11, 2019

QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM RA ĐỜI - SẢN PHẨM TẤT YẾU CỦA CUỘC ĐẤU TRANH GIAI CẤP, ĐẤU TRANH DÂN TỘC Ở VIỆT NAM

Quân đội nhân dân Việt Nam từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu; sinh ra và lớn lên từ phong trào cách mạng của quần chúng nhân dân ở một nước thuộc địa, nửa phong kiến, nhưng Quân đội nhân dân Việt Nam thuộc phạm trù quân đội vô sản - quân đội kiểu mới - quân đội xã hội chủ nghĩa. Sự ra đời, tồn tại và phát triển của Quân đội nhân dân Việt Nam, một mặt, xuất phát từ những nguyên lý, quy luật của chủ nghĩa Mác - Lênin về sự ra đời, tồn tại và phát triển của quân đội vô sản - quân đội kiểu mới - quân đội xã hội chủ nghĩa; mặt khác, xuất phát từ yêu cầu khách quan của cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc ở Việt Nam.

Thứ Tư, 23 tháng 11, 2016

Cần nhận rõ cuộc đấu tranh giai cấp hiện nay

          Trước xu thế hoà bình - hợp tác, toàn cầu hóa, khu vực hóa và quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng, nhiều người dường như lãng quên vấn đề giai cấp và đấu tranh giai cấp. Ai nói đến đấu tranh giai cấp liền bị quy là "bảo thủ", "giáo điều". Ai nhắc nhở phải cảnh giác với âm mưu "diễn biến hòa bình" thì cho là "thiếu thức thời", "tư duy cũ". Nhất là sau sự sụp đổ chế độ XHCN ở các nước Đông Âu và Liên Xô, một lần nữa, nhiều nhân vật chống cộng và không ít kẻ "ăn theo" càng được thể lu loa đủ điều, hí hửng rằng: CNXH đã chết, lý tưởng cộng sản đã hết thời; rằng chủ nghĩa Mác - Lê-nin đã cáo chung! Họ cố tình đồng nhất việc Liên Xô đổ vỡ với việc chấm dứt CNXH và chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Tại sao có chuyện rùm beng như thế? Nếu như vấn đề giai cấp không còn nữa; nếu đấu tranh giai cấp không còn nữa, thì lẽ gì họ phải quá hằn học với CNXH và lý tưởng cộng sản làm vậy? Hóa ra là, vấn đề giai cấp vẫn còn nguyên đó. Nó tồn tại tới khi nào không còn giai cấp đối kháng về lợi ích kinh tế và lập trường chính trị.
           Vấn đề giai cấp thể hiện ra ở tất cả các khía cạnh: kinh tế, chính trị và xã hội; thể hiện trong các cuộc đấu tranh tư tưởng, trong chính sách và hành động trước các sự kiện diễn ra trên thế giới.   Hiện nay cũng như trước đây, vì lợi ích của bản thân, giai cấp tư sản luôn dùng mọi thủ đoạn để loại bỏ công cụ soi sáng các biến cố của xã hội có giai cấp; đó là: lợi ích giai cấp và đấu tranh giai cấp. Quan hệ giai cấp là yếu tố quan trọng nhất để phân tích một cách khoa học mâu thuẫn và sự vận động, phát triển của xã hội có giai cấp.
             Thực tế cho thấy, cuộc đấu tranh giai cấp vẫn tiếp tục diễn ra theo đúng quy luật phát triển của xã hội loài người; vẫn là cuộc đấu tranh "ai thắng ai" trên bình diện quốc tế, cũng như trong điều kiện cụ thể của từng nước. Với tầm nhìn chiến lược, toàn diện và lâu dài về cuộc đấu tranh giai cấp, bài học về sự sụp đổ chế độ XHCN ở các nước Đông Âu và Liên Xô trước đây vẫn luôn mới mẻ đối với người cách mạng. Bất kì ở đâu, bất kể thời điểm nào, khi cố tình coi nhẹ hoặc không đếm xỉa đến tính phức tạp của cuộc đấu tranh giai cấp trên mặt trận tư tưởng; trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội, tư tưởng và văn hóa, thì chính lúc đó, cách mạng sẽ phải trả giá đắt. Cho dù sự sụp đổ chế độ XHCN ở Đông Âu và Liên Xô đã xảy ra, thì những học thuyết về giai cấp, vai trò của giai cấp lãnh đạo cách mạng vẫn không thay đổi. Gần 20 năm qua, nhân dân các nước Đông Âu và Liên Xô (trước đây) bắt đầu nhận ra rằng, họ đã bị mất đi một thể chế xã hội tốt đẹp gắn liền với lợi ích và hạnh phúc của con người, đó là: chữa bệnh, giáo dục không mất tiền, lương hưu bảo đảm chắc chắn, xã hội bình đẳng, không có bóc lột, không có áp bức giai cấp... 
               Có thể nói, trong thời đại ngày nay, cuộc đấu tranh giai cấp vẫn diễn ra ở tất cả các chế độ xã hội, biểu hiện ra nhiều mức độ khác nhau. Với chế độ tư bản chủ nghĩa, đấu tranh giai cấp vẫn tiềm ẩn với sự bất công, phân cực giàu nghèo ngày càng sâu sắc; thất nghiệp ngày càng đông; tính mạng, an ninh và trật tự xã hội luôn bị đe dọa; sự phá hủy và suy đồi đạo đức xã hội ngày càng gia tăng vì cơn lốc của lợi nhuận. Nếu đi sâu thêm, ta thấy rằng, nguồn gốc của sự xung đột giai cấp trong xã hội tư bản là do lô-gích phát triển trong điều kiện bất bình đẳng, đa số phải phục tùng lợi ích và quyền lực của thiểu số; đồng thời, đó là sự vận hành trên cơ sở quan hệ bóc lột và bị bóc lột giữa giai cấp tư sản và người lao động.
             Ở các nước phương Tây hiện nay, đi đôi với việc phát triển khoa học-công nghệ và tăng năng suất lao động, mức độ bóc lột của giai cấp tư sản (thể hiện ở tỷ suất giá trị thặng dư) vẫn tăng đáng kể. Chẳng hạn ở Mỹ, tỷ suất giá trị thặng dư trong các ngành sản xuất công nghiệp mấy thập kỷ qua đã tăng như sau: năm 1950: 241%; năm 1960: 247,6%; năm 1970: 255%; năm 1980: 289%; những năm 1990: khoảng 300%; những năm đầu thế kỷ XXI: khoảng 307%.... Không chỉ ở các nước đang phát triển, mà ngay trong lòng các nước TBCN giàu có nhất, luôn đồng thời tồn tại một thế giới của những người nghèo khó (số người sống dưới mức nghèo khổ hiện nay ở Mỹ khoảng 30 triệu, ở Tây Âu khoảng 40 triệu). Mặc dù giai cấp tư sản đã có sự mềm dẻo nhất định trong việc làm dịu mâu thuẫn giữa tư bản và lao động, nhưng đấy vẫn chỉ là ở từng nơi, từng lúc, còn về cơ bản, mâu thuẫn giữa tư bản và lao động vẫn ngày càng gay gắt; thuế khóa, thất nghiệp, các tệ nạn xã hội luôn đeo đẳng người nghèo. Điều đó, sẽ đẩy những mâu thuẫn xã hội lên đỉnh điểm, dẫn đến bùng nổ xã hội. Cuộc sống ngày càng chứng minh dự báo của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác - Lê-nin là hoàn toàn đúng đắn: mâu thuẫn giữa tính chất xã hội hoá của lực lượng sản xuất với hình thức chiếm hữu tư nhân TBCN về tư liệu sản xuất sẽ được giải quyết theo hướng công cộng hóa hình thức sở hữu cho phù hợp với tính chất xã hội hoá của lực lượng sản xuất, và điều đó không phải cái gì khác mà chính là CNXH. Từ tự do cạnh tranh, CNTB phát triển tới độc quyền, độc quyền nhà nước; trong phạm vi, rồi ra ngoài phạm vi quốc gia và trở thành CNTB toàn cầu. Cùng với quá trình toàn cầu hóa ngày càng tăng, những biện pháp điều chỉnh các quan hệ kinh tế và sở hữu theo hướng công cộng hóa cũng ngày càng tăng; bảo đảm cho các cổ đông, các tổ chức công đoàn và người lao động ngày càng trực tiếp hoặc gián tiếp tham gia quản lý kinh tế-xã hội. Những biến đổi trên, vô hình dung đã trở thành những tiền đề của chế độ xã hội mới trong lòng CNTB.       
            Mặc dù các nhà kinh doanh tư sản hiện đại đã biết linh hoạt và đôi khi ứng phó có hiệu quả trước diễn biến của tình hình kinh tế-xã hội, nhưng các lực lượng dân chủ, đội ngũ đông đảo những người làm công ăn lương ở các nước TBCN hiện nay cũng đã khác trước. Họ hiểu biết và có nhiều hình thức đấu tranh linh hoạt hơn, nhưng không kém phần mạnh mẽ, hiệu quả, tạo ra trong lòng xã hội tư bản những cơ cấu mới và những quan hệ mới, không mang tính chất tư sản. Cuộc đấu tranh giai cấp của những người lao động chống bóc lột và bất công ở các nước TBCN hiện nay diễn ra không chỉ trong khuôn khổ cấu trúc thượng tầng mà cả ở cơ sở hạ tầng, làm thay đổi nền móng xã hội, làm biến dạng chế độ tư sản. Để có thể thích nghi với thời đại, CNTB đã cố gắng tự điều chỉnh trên mọi lĩnh vực, nhưng cũng chính vì thế đã tự làm nảy sinh những vấn đề mới, ngoài ý muốn của giai cấp tư sản. Nó sẽ bị hút dần một cách không tự giác vào một trật tự xã hội; mà ở đó, những mầm mống và yếu tố mới phát sinh trong lòng xã hội tư bản sẽ là những điều kiện dẫn tới sự thay thế chế độ tư hữu bằng chế độ công hữu trên cơ sở cuộc đấu tranh giai cấp diễn ra theo một cách thức mới.    
            Với các nước trong thế giới thứ ba, cuộc đấu tranh giai cấp cũng diễn ra không kém phần quyết liệt. Có lẽ trên thế giới, nhiều người vẫn chưa quên nỗi đau về cái chết của Tổng thống A-gien-đê với chế độ xã hội mà ông định xây dựng ở Chi-lê; về sự thất bại ở Ni-ca-ra-goa, En Xan-va-đo, những đảo lộn ở Mô-dăm-bich, Dim-ba-bu-ê, Ăng-gô-la, Xéc-bi, Áp-ga-ni-xtan,... Người ta cũng không quên những gì đã và đang diễn ra xung quanh việc bao vây, cấm vận đối với nước Cu-ba dũng cảm và kiên cường, cùng các điểm nóng khác ở một số nước thuộc Liên Xô (cũ)... Tất cả những sự việc trên cho thấy: cuộc đấu tranh giai cấp ở mọi nơi chưa hề ngưng nghỉ, kể cả sau chiến tranh lạnh. Cũng vì lẽ đó, mà lịch sử đã diễn ra với nhiều sự kiện chưa từng thấy ở các nước thế giới thứ ba; phong trào cánh tả Mỹ La tinh - nơi các dân tộc ngày càng thức tỉnh, không cam phận phụ thuộc vào Mỹ. Một sự thật mà ai cũng biết là, ở Mỹ, hết đời tổng thống này đến đời tổng thống khác, chính sách đối ngoại đều có một điểm chung: đối phó với cuộc đấu tranh giai cấp ở các nước thế giới thứ ba. Và cũng vì thế, trên thế giới đã xuất hiện những nhân vật nổi tiếng, đại diện cho lương tri của các dân tộc: A-rơ-ben, Hồ Chí Minh, Lu-mum-ba, Phi-đen Ca-xtơ-rô, A-gien-đê... Trên quy mô toàn cầu, các lực lượng chống cộng và chống cách mạng vẫn tiếp tục các đòn tiến công, không chỉ bằng các vũ khí hủy diệt con người, mà bằng mọi vũ khí có thể sử dụng, như: kinh tế, tư tưởng, văn hóa, truyền thông... Điều đó càng chứng tỏ, CNTB lo sợ sức mạnh ngày càng tăng của các dân tộc kiên quyết đấu tranh xoá bỏ xiềng xích nô lệ, thực hiện bằng được chân lý "Không có gì quý hơn độc lập, tự do". Sức mạnh của CNTB ở cuối thập kỷ đầu tiên của thế kỷ XXI đang bị lung lay, không còn như trong thế kỷ XX.  
              Các thế lực đế quốc hiếu chiến và các lực lượng thù địch bao giờ cũng coi sự tồn tại của CNXH là sự uy hiếp đối với chúng. Vì thế, chúng không chấp nhận sự hiện diện của CNXH và phong trào đấu tranh vì sự tiến bộ, công bằng xã hội trên thế giới. Âm mưu phá bỏ Liên Xô, làm tan rã CNXH hiện thực ở Đông Âu, lật đổ lãnh đạo của các đảng cộng sản, phủ định hình thái ý thức XHCN là mục tiêu nhất quán trong kế hoạch, cũng như trong hành động của chủ nghĩa đế quốc. Thực hiện hàng loạt chiến lược qua nhiều thập kỷ "chiến tranh lạnh", mà đặc biệt là cuộc chạy đua vũ trang vô cùng tốn kém làm suy yếu và kiệt sức Liên Xô, chủ nghĩa đế quốc tới nay vẫn chưa từ bỏ âm mưu làm suy yếu các nước XHCN còn lại. Ở mỗi giai đoạn khác nhau, tùy theo sự phát triển tình hình của mỗi nước, chúng đều tiến hành điều chỉnh chiến lược chống phá cách mạng và các lực lượng tiến bộ trên thế giới cho thích hợp.     
              "Diễn biến hòa bình", tiếp đến là “cách mạng nhung”, “cách mạng màu”... là những chiến lược tổng thể của chủ nghĩa đế quốc, nhằm thực hiện mục tiêu nói trên. Thế giới gọi đó là "cuộc chiến tranh không có khói súng". Đây thực chất là kế sách phá vỡ thành lũy của CNXH từ bên trong, là chiến thuật "mối xông nhà", nhằm phá ruỗng cơ cấu kinh tế - chính trị - xã hội của các nước XHCN. Các chính trị gia đề xuất chiến lược "Diễn biến hòa bình" đã tổng kết: muốn xoá bỏ chế độ XHCN, không thể dùng vũ lực tấn công từ bên ngoài. Thực tiễn đã diễn ra đúng như vậy. Chủ nghĩa đế quốc từng bị thất bại liên tiếp trong những cuộc xâm lược vũ trang chống các nước XHCN, như: đối với Liên Xô sau Cách mạng Tháng Mười; đối với Cộng hoà Dân chủ nhân dân Triều Tiên đầu những năm 50; đối với Cu-ba đầu những năm 60; và nổi bật nhất, đối với Việt Nam từ cuối những năm 40 đến giữa thập kỷ 70 của thế kỷ XX... Do vậy, họ chuyển hướng sang chống phá các nước XHCN bằng cách làm tan rã các đảng cộng sản cầm quyền-hạt nhân lãnh đạo ở các nước đó. Để thực hiện điều đó, họ đã tìm mọi thủ đoạn phá hoại các đảng đó về mặt tư tưởng và tổ chức. Nhằm phá hoại đảng cộng sản cầm quyền về tư tưởng, họ lấy tư tưởng xã hội-dân chủ thay cho chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Những chuyên gia chống cộng của Mỹ đánh giá rằng: chủ nghĩa xã hội-dân chủ và nhà nước phúc lợi là biện pháp hữu hiệu để đấu tranh với sự hấp dẫn của chủ nghĩa cộng sản. Từ đó, họ đưa ra những cách lựa chọn dân chủ khác nhau cho mô hình cộng sản chủ nghĩa. Đây là cơ sở phương pháp luận cho việc đa nguyên hóa về tư tưởng, tiến tới thay thế lập trường tư tưởng của chủ nghĩa Mác bằng ý thức hệ tư sản. Từ việc phá hoại về tư tưởng, bài bản "diễn biến" tiếp theo là phá hoại đảng cộng sản về mặt tổ chức: cổ vũ đa nguyên chính trị và đa đảng đối lập trong chế độ XHCN; đòi huỷ bỏ nguyên tắc tập trung dân chủ, hạ thấp yếu tố "tập trung", nhấn mạnh vai trò của nhân tố "dân chủ", hô hào dân chủ tư sản... Một khi đã chấp nhận đa nguyên chính trị và đa đảng đối lập, thì làm sao tránh khỏi tình trạng trong đảng thì có các "phái", bên ngoài thì có các đảng khác? Để thực hiện "diễn biến hòa bình" ở các nước không theo con đường TBCN, các thế lực chống cộng còn dùng thủ đoạn từng bước mua chuộc, lôi kéo các phần tử dao động, bất mãn, gây dựng các tổ chức chống cộng ngay trong nội bộ đảng cộng sản và các tổ chức xã hội ở các nước đó.      
        Thực tế cho thấy, phương Tây không chỉ nuôi dưỡng, mà còn ủng hộ, thúc đẩy phe đối lập chính trị đoạt quyền lãnh đạo của đảng cộng sản. Để làm được điều đó, các thế lực chống cộng thường dùng các hình thức sau: 
        1. Vạch kế hoạch gây rối trong xã hội để dễ bề giành quyền lực. Hoặc, lợi dụng khó khăn về kinh tế, phối hợp bên trong với bên ngoài để thực hiện âm mưu chính trị.
         2. Thông qua bầu cử hợp pháp (sau khi bằng nhiều thủ đoạn tinh vi gây sức ép về kinh tế và chính2. Thông qua bầu cử hợp pháp (sau khi bằng nhiều thủ đoạn tinh vi gây sức ép về kinh tế và chính trị), buộc đảng cộng sản cầm quyền phải thực hiện đa nguyên chính trị và đa đảng đối lập trong xã hội. 
          3. Phát động đảo chính quân sự khi đảng cộng sản cầm quyền suy yếu, mất tín nhiệm và sự ủng hộ trong quần chúng do đường lối, chính sách sai lầm. Tất cả những thủ đoạn mà các thế lực đế quốc đã và đang sử dụng đối với các nước XHCN cũng như đối với giai cấp những người lao động trên toàn thế giới cho thấy, cuộc đấu tranh giai cấp hiện nay so với trước đây không kém phần gay go, quyết liệt, phức tạp. Đối với các nước XHCN, nó thể hiện cả trong việc bảo vệ lý tưởng cộng sản, chủ nghĩa Mác - Lê-nin và trong việc giữ vững định hướng XHCN. Trong điều kiện mở cửa và hội nhập với thế giới, sử dụng công cụ kinh tế của CNTB để xây dựng CNXH, đảng cộng sản cầm quyền càng phải đề cao cảnh giác, mài sắc ý chí cách mạng, kiên định lập trường giai cấp, nhận dạng thật rõ các hành động và âm mưu thù địch để có biện pháp đấu tranh có hiệu quả.