Hiển thị các bài đăng có nhãn nhân quyền. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn nhân quyền. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 15 tháng 4, 2024

ĐẤU TRANH, NGĂN CHẶN LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC VẤN ĐỀ NHÂN QUYỀN Ở VIỆT NAM

Gần 40 năm qua kể từ khi bước vào thời kỳ đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, trong đó có việc bảo đảm nhân quyền góp phần ổn định và phát triển bền vững đất nước. Việt Nam cũng là thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023-2025 và luôn được đánh giá là thành viên tích cực, có trách nhiệm với cộng đồng quốc tế. Tuy nhiên, nhằm chống phá Đảng, Nhà nước ta, các thế lực thù địch không ngừng đưa ra những luận điệu xuyên tạc về việc bảo đảm nhân quyền ở Việt Nam. Trên trang Facebook: “Việt Nam thời báo”, Quang Nguyên, có bài viết “Đấu tranh bất bạo động” nhằm xuyên tạc bản chất vấn đề nhân quyền ở Việt Nam, mà đặc biệt còn xuyên tạc vị trí vai trò người đứng đầu của Đảng, nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Bằng cách thức “nhai lại” điệp khúc mỉa mai dưới chủ đề “bạo lực cách mạng”. Quang Nguyên đã có nhiều lời nhận xét “hồ đồ” thiếu hiểu biết khi cho rằng: “Cho tới nay chính quyền Việt Nam vẫn dùng bạo lực đối phó với những người bất đồng quan điểm bằng cách đàn áp, bỏ tù, tra tấn hay quản thúc tại gia.”… và “Chính quyền cộng sản Việt Nam vi phạm trầm trọng quyền con người…”. Quang Nguyên cần biết rằng:

Một là, nhân quyền ở Việt Nam là nhân quyền xã hội chủ nghĩa, là nhân quyền văn minh và tiến bộ nhất. Nhân quyền về con người là một trong những thành quả của nền văn minh nhân loại, là giá trị lớn lao mà các quốc gia dân tộc có thể chia sẻ cùng tiến bộ. Dân tộc ta từ trong thế kỷ XX đã có những đóng góp lớn lao, mang tính đột phá về tư tưởng nhân quyền, thể hiện tập trung trong Tư tưởng Hồ Chí Minh và thực tiễn cách mạng do Đảng ta lãnh đạo. Trên bình diện nhân văn, nhân quyền về con người được xem là một phạm trù đạo đức. Hạt nhân của quan niệm này là sự tôn trọng nhân phẩm, và tinh thần nhân đạo, khoan dung đối với con người. Trên bình diện pháp lý, nhân quyền về con người là các nhu cầu, lợi ích (về vật chất và tinh thần) của tất cả mọi người – “không phân biệt chủng tộc, giới tính, tôn giáo… hoặc các điều kiện khác” được quy định trong pháp luật – được pháp luật bảo vệ. Trong tiến trình xây dựng nền văn minh, Việt Nam cũng như các quốc gia trên thế giới đều quản lý xã hội bằng công cụ pháp luật. Những đối tượng vi phạm pháp luật đều phải bị xử lý nghiêm khắc theo quy định của luật pháp. Trong bối cảnh hiện nay xuất hiện những đối tượng có mục đích đen tối, thiếu trách nhiệm với đất nước, với cộng đồng, cố tình lợi dụng quyền tự do, dân chủ để làm tổn hại lợi ích của Nhà nước và các tổ chức, cá nhân; thường xuyên sử dụng chiêu bài tự do, dân chủ, nhân quyền để chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa.

Hai là, trên thực tế, ngay từ khi thành lập, Nhà nước Việt Nam luôn đặt quyền tự do, dân chủ, nhân quyền của công dân lên hàng đầu, và vấn đề này được quy định rõ trong Hiến pháp và pháp luật. Hiến pháp năm 2013 quy định nghĩa vụ, trách nhiệm của mỗi công dân một cách đầy đủ. Cụ thể tại Điều 15, Hiến pháp 2013 quy định rõ: Quyền công dân không tách rời nghĩa vụ công dân; mọi người có nghĩa vụ tôn trọng quyền của người khác; công dân có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước và xã hội; việc thực hiện quyền con người, quyền công dân không được xâm phạm lợi ích quốc gia, dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác. Công dân Việt Nam được đảm bảo về nhân quyền như tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tín ngưỡng, tôn giáo, tự do lập hội, quyền khiếu nại, tố cáo… Pháp luật tôn trọng và bảo vệ những tư tưởng, ý chí, nguyện vọng của mỗi tổ chức và cá nhân nếu phù hợp tinh thần xây dựng và thượng tôn pháp luật, phù hợp chuẩn mực đạo đức và truyền thống văn hóa của dân tộc. Đồng thời, nếu những tổ chức và cá nhân có mục đích xấu, động cơ không trong sáng, viện cớ về quyền tự do dân chủ, nhân quyền nhưng lại chà đạp lên quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và cá nhân, xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước thì đều phải chịu các chế tài xử phạt tương ứng. Với cách tiếp cận lấy con người làm trung tâm, ưu tiên phát triển con người và thúc đẩy bình đẳng trong các chiến lược và kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Việt Nam đã có những nỗ lực không mệt mỏi trong nhiều năm qua để thúc đẩy và bảo đảm nhân quyền. Nhiều thành tựu về bảo đảm quyền con người ở Việt Nam được các tổ chức của Liên hợp quốc đánh giá cao. Việt Nam xứng đáng với vai trò là thành viên của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023-2025. Thời gian qua, Việt Nam tích cực tham gia và chủ trì các nghị quyết đề cao Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền, biến đổi khí hậu và quyền con người… từ đó có nhiều đóng góp thiết thực đối với hoạt động của Liên hợp quốc. Việt Nam luôn cầu thị và nỗ lực làm tốt hơn trong vấn đề bảo đảm nhân quyền cho mọi người dân. Không có chuyện: Chính quyền Việt Nam vẫn dùng bạo lực đối phó với những người bất đồng quan điểm bằng cách đàn áp, bỏ tù, tra tấn hay quản thúc tại gia… như những lời Quang Nguyên bịa đặt.

Vì vậy, để không bị kẻ xấu dẫn dắt, tin nghe theo những luận điệu sai sự thật, mỗi người dân Việt Nam cần nâng cao nhận thức, tỉnh táo và cảnh giác trước những thông tin không chính thống xuyên tạc việc bảo đảm nhân quyền ở Việt Nam. Chủ động đấu tranh, ngăn chặn làm thất bại những âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, phản động./. 

Thứ Hai, 1 tháng 4, 2024

KHÔNG THỂ PHỦ NHẬN THÀNH TỰU BẢO ĐẢM NHÂN QUYỀN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Lợi dụng vấn đề nhân quyền để chống phá sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam là thủ đoạn mà các thế lực thù địch thường xuyên sử dụng với nhiều chiêu trò tinh vi. Chúng thường sử dụng một số vụ việc tiêu cực, những hiện tượng sai lệch mà quy chụp thành bản chất. Những thông tin để làm căn cứ đánh giá, báo cáo, xếp loại nhân quyền Việt Nam của một số tổ chức quốc tế thiếu thiện chí đều khai thác từ số đối tượng thù địch, phản động, bất mãn, cơ hội chính trị, số này luôn có những hành động hủy hoại mọi nỗ lực bảo đảm nhân quyền ở Việt Nam. Khi không có bất kỳ các hoạt động khảo sát, trải nghiệm vấn đề nhân quyền của một quốc gia thì mọi đánh giá về nhân quyền của quốc gia đó đều mang tính chủ quan, thiếu tính thực tiễn, sai lệch.

Quan điểm nhất quán, xuyên suốt của Đảng, Nhà nước Việt Nam là: “Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ cuộc sống, nguyện vọng, quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân, lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân là mục tiêu phấn đấu”; “Phát triển con người toàn diện và xây dựng văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc để văn hóa, con người Việt Nam thực sự trở thành sức mạnh nội sinh, động lực phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc”; “…con người Việt Nam là trung tâm, mục tiêu và động lực phát triển quan trọng của đất nước”. Quan điểm này đã và đang tiếp tục được triển khai thực hiện nghiêm túc trên thực tế.

Trong hệ thống pháp luật ở Việt Nam, vấn đề nhân quyền luôn được quan tâm. Hiến pháp năm 2013 có 11 chương, 120 Điều, trong đó, chương về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân là chương có điều luật nhiều nhất, gồm 36 điều (từ Điều 14 đến Điều 49). Để có cơ sở pháp lý thúc đẩy và bảo vệ, bảo đảm quyền con người, Nhà nước Việt Nam đã có những nỗ lực không ngừng cho việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật về quyền con người. Quốc hội nước ta đã tập trung sửa đổi, bổ sung, ban hành mới và hoàn thiện các văn bản luật, pháp lệnh liên quan đến việc bảo đảm quyền con người, quyền công dân.

Trên thực tế, Việt Nam là một trong những nước tích cực, chủ động tham gia vào hầu hết các công ước quốc tế về quyền con người do Liên hợp quốc và các tổ chức quốc tế khác ban hành. So với nhiều nước trong khu vực và các nước phát triển, Việt Nam không thua kém về số lượng là thành viên các công ước quốc tế về quyền con người. Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn và vững chắc về nhân quyền. Điều đó không chỉ thể hiện ở những nỗ lực của chúng ta trong xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật, mà còn được thể hiện ở việc bảo đảm quyền còn người, quyền công dân trên các lĩnh vực của đời sống xã hội. Thành tựu đảm bảo nhân quyền tại Việt Nam trên các lĩnh vực đời sống văn hóa, kinh tế, xã hội, đặc biệt là những thành tựu của Việt Nam trong việc phòng, chống dịch COVID-19 và bảo đảm quyền sống là quyền cao nhất trong đại dịch COVID-19 là những minh chứng rõ nét nhất trong bảo đảm quyền của con người.

Vì vậy, không thể mượn danh nhân quyền để tung hô cho lối sống tự do “vô pháp” để biện minh việc làm sai trái, quay lưng lại Tổ quốc, dân tộc, để cố tình phủ nhận những nỗ lực không ngừng của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội trong việc bảo đảm ngày càng tốt hơn quyền con người. 

Thứ Hai, 25 tháng 3, 2024

SỰ LỆCH LẠC CỦA CÂU CHUYỆN NHÂN QUYỀN Ở VIỆT NAM

Vừa qua, trên mạng Internet, nhiều diễn đàn phản động phát tán bài viết: Hậu quả của kiểu “ngoại giao đổi chác” của Đài Châu Á Tự do RFA vu cáo nhà nước Việt Nam vi phạm nhân quyền. Bài viết cho rằng, “nhân quyền của Việt Nam năm 2023 tiếp tục tồi tệ đi” bởi “quyền tự do ngôn luận, lập hội, hội họp, đi lại và tôn giáo” bị đàn áp một cách có hệ thống. Đây là nhận định sai lệch, nhằm mục đích hạ uy tín của Đảng, Nhà nước Việt Nam trước cộng đồng thế giới. Mỗi cán bộ, đảng viên và người dân Việt Nam cần hết sức tỉnh táo, đề cao tinh thần cảnh giác, nhận diện đúng bản chất của những luận điệu này, để không bị mắc mưu của các thế lực thù địch.

Thứ nhất, tại điều 25, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 quy định rõ: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”. Luật Báo chí sửa đổi năm 2016 và Luật tiếp cận thông tin năm 2016 đã nêu rõ trách nhiệm của Nhà nước trong việc tạo điều kiện thuận lợi để công dân thực hiện tự do báo chí, tự do ngôn luận trên báo chí; bảo đảm mọi công dân đều bình đẳng, không bị phân biệt đối xử trong việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin; bảo đảm cung cấp thông tin chính xác, đầy đủ, kịp thời, minh bạch, thuận lợi cho công dân.

Điều 11, Luật Báo chí sửa đổi năm 2016 quy định rõ công dân có quyền: “Phát biểu ý kiến về tình hình đất nước và thế giới; tham gia ý kiến xây dựng và thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; góp ý kiến, phê bình, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo trên báo chí đối với các tổ chức và cá nhân”. Những nội dung này hoàn toàn phù hợp với các văn kiện quốc tế về quyền con người, quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí.

Tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do thông tin ở Việt Nam được thể hiện rất rõ qua sự phát triển đa dạng về loại hình, phong phú về nội dung của báo chí. Hiện nay, Việt Nam có khoảng 41.600 nhân sự đang tham gia hoạt động trong lĩnh vực báo chí, 779 cơ quan báo chí (trong đó có 142 báo, 612 tạp chí, 25 cơ quan báo chí điện tử độc lập), 72 cơ quan được cấp phép hoạt động.

Thứ hai, pháp luật Việt Nam với những quy định và chế tài rất rõ ràng, cụ thể để nghiêm trị những hành vi lợi dụng quyền tự do thông tin để chống phá đất nước. Bộ Luật Hình sự với điều 117 “Tội làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”; điều 155 “Tội làm nhục người khác”, điều 156 “Tội vu khống”; điều 331 “Tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân”. Ngoài ra, Luật Báo chí năm 2016, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và Luật An ninh mạng năm 2018, đều quy định rõ những hành vi như đăng tải, phát tán thông tin sai lệch, xuyên tạc, phỉ báng, phủ nhận chính quyền; bịa đặt, gây hoang mang trong nhân dân; xuyên tạc lịch sử; phủ nhận thành tựu cách mạng; xúc phạm dân tộc, anh hùng dân tộc; thông tin sai sự thật, vu khống, xúc phạm uy tín của cơ quan, tổ chức, danh dự, nhân phẩm của cá nhân… đều bị pháp luật xử lý.

Ở Việt Nam, không ai bị xét xử, bắt giữ chỉ vì bày tỏ chính kiến hay bảo vệ nhân quyền. Chỉ có những đối tượng lợi dụng tự do ngôn luận, tự do báo chí để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, vi phạm pháp luật; tung tin giả, tin “xấu độc” hòng gây bất ổn tình hình đất nước, gây mất an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, gây hoang mang dư luận… mới bị xử lý theo pháp luật. Đây cũng là biện pháp của Nhà nước Việt Nam để bảo vệ người dân trước những thông tin bịa đặt, sai sự thật, kích động thù hận…, đồng nghĩa với việc bảo đảm quyền tiếp cận những thông tin chính xác cho công dân. Điều đó phù hợp với luật pháp quốc tế và luật pháp của nhiều nước.

Rõ ràng, bức tranh hiện thực về bảo đảm quyền tự do ngôn luận, lập hội, hội họp, đi lại, tôn giáo và tự do báo chí ở Việt Nam là thực tế khách quan, không ai có thể phủ nhận được. Giọng điệu Đài Á Châu tự do RFA về tình hình nhân quyền và quyền tự do ngôn luận, lập hội, hội họp, đi lại và tôn giáo bị đàn áp là bịa đặt, vu khống nhằm mục đích xấuMỗi cán bộ, đảng viên và người dân Việt Nam cần hết sức tỉnh táo, nhận rõ bản chất, âm mưu, thủ đoạn nham hiểm của các thế lực thù địch, phản động lợi dụng vấn đề dân chủ, nhân quyền để chống phá Việt Nam./. 

THỰC TIỄN NHÂN QUYỀN Ở VIỆT NAM PHẢN BÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC CỦA RFA

Vừa qua trên “Rfavietnam” có bài viết: “Theo dõi nhân quyền: Chính phủ Việt Nam đuối lý khi công kích tổ chức phi chính phủ quốc tế” xuyên tạc, Chính phủ Việt Nam đuối lý khi tổ chức nhân quyền quốc tế đưa ra bằng chứng về việc công dân Việt Nam ngày càng mất nhân quyền; kiểm soát các nhóm xã hội dân sự và công đoàn lao động độc lập. Song, thực tiễn nhân quyền ở Việt Nam đã phản bác luận điệu xuyên tạc này.

1. Đảng, Nhà nước Việt Nam khẳng định, chăm lo cho con người, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mọi người; tôn trọng và thực hiện các điều ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam đã ký kết hoặc tham gia. Quyền con người, quyền công dân là mục tiêu, động lực của sự phát triển, là bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa. Thúc đẩy và bảo vệ quyền con người là nhân tố quan trọng trong phát triển bền vững, bảo đảm thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Quyền con người, quyền công dân được thể hiện trên nhiều lĩnh vực, từ chính trị, tư tưởng, văn hóa đến kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh,… Bản chất của Nhà nước xã hội chủ nghĩa là Nhà nước thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, thực hành dân chủ, bảo đảm quyền con người, quyền công dân và bảo đảm quyền lực của nhân dân. Các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm, thực thi theo Hiến pháp và pháp luật. Các quyền này gồm: Quyền bình đẳng trước pháp luật, quyền bầu cử, quyền ứng cử, quyền có nơi ở hợp pháp, quyền tự do cư trú, tự do kinh doanh, tự do đi lại, tự do tín ngưỡng, tôn giáo, tự do ngôn luận và báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình, tự do nghiên cứu, sáng tác, tự do lựa chọn nghề nghiệp mưu sinh, tự do hôn nhân… Việc thực hiện quyền con người, quyền công dân được bảo đảm bằng Hiến pháp, pháp luật và không được xâm phạm lợi ích quốc gia, dân tộc, quyền, lợi ích hợp pháp của người dân. Bất cứ ai vi phạm các quyền này đều bị xử lý theo quy định của pháp luật. Ngày 11/10/2022 với 145 phiếu ủng hộ, Việt Nam là một trong 14 thành viên trúng cử vào Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc. Đây là lần thứ hai Việt Nam trúng cử vào Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc, điều này khẳng định sự tiến bộ về nhân quyền ở Việt Nam được quốc tế công nhận nên RFA không thể xuyên tạc, phủ nhận.

2. Thực tiễn chứng minh rằng, các thế lực thù địch đã và đang sử dụng “xã hội dân sự” làm công cụ để thực hiện “diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng Việt Nam. Với ý đồ xây dựng “xã hội dân sự” trở thành tổ chức chính trị đối lập với Đảng, Nhà nước, đòi Nhà nước chia sẻ quyền lực chính trị. Chúng sử dụng “xã hội dân sự” để gây sức ép về dân chủ, nhân quyền, can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam, liên kết các tổ chức “xã hội dân sự” để thoát ly khỏi sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước. Từ đó, hình thành tổ chức chính trị đối lập cùng với các thế lực bên ngoài, tìm cách xâm nhập, tác động, chuyển hóa các tổ chức chính trị, xã hội ở Việt Nam hòng “phi chính trị hóa” các tổ chức này; tìm cách tiếp xúc, móc nối, mua chuộc cán bộ, đảng viên trong nội bộ để tuyên truyền, kích động tâm lý bất mãn với Ðảng, Nhà nước; phủ nhận, xét lại lịch sử và giá trị văn hóa dân tộc; kích động tư tưởng vô chính phủ, tuyên truyền các giá trị của văn hóa phương Tây… Tiến tới làm “đổi màu” các tổ chức chính trị – xã hội, các cơ quan do dân bầu trong hệ thống chính trị; thông qua các tổ chức xã hội dân sự để tổ chức các hội thảo, tọa đàm, diễn đàn tạo ra tâm lý phản kháng, kích động quần chúng chống lại Đảng, Nhà nước, nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng và lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

3. Bộ luật Lao động (sửa đổi) đổi có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2021, cho phép thành lập “tổ chức đại diện người lao động” tại doanh nghiệp ngoài tổ chức công đoàn, trên cơ sở phù hợp với các quy định quốc tế về lao động và tuân thủ các hiệp định thương mại tự do mới mà Việt Nam đã tham gia ký kết. Trên thực tế, các thế lực thù địch đã lợi dụng điều này, đứng ra thành lập “Công đoàn độc lập Việt Nam”. Song, không đăng ký, không tiến hành các thủ tục xin phép thành lập, hoạt động trái với quy định pháp luật. Về thành phần tham gia gồm nhiều đối tượng từng có tiền án, tiền sự về các tội xâm phạm an ninh quốc gia, có các hành vi chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ đã bị xử lý hình sự, hành chính. Với mưu đồ biến “Công đoàn độc lập Việt Nam” thành một tổ chức bất hợp pháp, đối lập với Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam. Thực chất, đây là cái cớ để các thế lực thù địch xuyên tạc, nói xấu chế độ chính trị; tiến hành các hoạt động đối lập với các cơ quan của hệ thống chính trị nước ta, chống phá Đảng, Nhà nước, tiến đến xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng. Để thực hiện mục đích đen tối, các thế lực thù địch đang ráo riết đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền, lôi kéo công nhân, người lao tham gia “Công đoàn độc lập” tại Việt Nam.

Việc các thế lực thù địch, lợi dụng vấn đề nhân quyền để bôi nhọ, xuyên tạc chế độ chính trị ở Việt Nam là đi ngược lại chủ trương, đường lối, quan điểm, của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, lợi ích, nguyện vọng chính đáng của Nhân dân ta. Do đó, chúng ta cần kiên quyết đấu tranh, vạch rõ bộ mặt xảo trá của chúng để nhân dân hiểu rõ và cảnh giác. 

Thứ Hai, 26 tháng 2, 2024

VẠCH TRẦN CÁI GỌI LÀ “ DÂN CHỦ”, “NHÂN QUYỀN” CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

Trong giai đoạn hiện nay, các thế lực thù địch đang tăng cường chống phá cách mạng nước ta bằng nhiều thủ đoạn tinh vi và quyết liệt. Dưới chiêu bài "dân chủ, nhân quyền”, họ tự xưng mình là những người có "sứ mệnh" đấu tranh cho dân chủ, nhân quyền Việt Nam. Vậy thực chất quan điểm chính trị của họ là gì? Họ thường xuyên đăng tải những thông tin sai trái, thù địch, bịa đặt những vấn đề "dân chủ, nhân quyền" nhằm nói xấu chế độ ở Việt Nam.

Dân chủ, nhân quyền được xem là giá trị chung của nhân loại. Các dân tộc không phân biệt chế độ chính trị, trình độ phát triển và bản sắc văn hóa đều có đóng góp nhất định vào giá trị chung đó. Về mặt lý luận cũng như thực tiễn đời sống chính trị quốc tế cho thấy, không có mô hình "chuẩn" về dân chủ, nhân quyền, mà chỉ có những mô hình cụ thể dựa trên những giá trị phổ quát được ghi nhận trong các văn kiện quốc tế về quyền con người. Tương tự như quan hệ giữa "cái chung", "cái phổ biến" với "cái đặc thù", "cái đơn nhất" trong triết học, những giá trị phổ quát về dân chủ, nhân quyền chỉ có thể thông qua các mô hình chính trị - xã hội cụ thể để biểu hiện. Nói một cách đơn giản là, dân chủ, nhân quyền có nhiều mô hình, tùy thuộc vào điều kiện lịch sử, truyền thống và văn hóa của mỗi quốc gia, dân tộc. Điều này đã được cộng đồng quốc tế ghi nhận. Thế nhưng, trên mạng xã hội hiện nay, có một số tổ chức, cá nhân tự nhận mình là "nhà dân chủ", sùng bái mô hình dân chủ, nhân quyền của phương Tây, coi đó là "chuẩn", là "mặc định". Từ đó, họ ra sức xuyên tạc, vu cáo, phủ nhận chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước Việt Nam trên lĩnh vực dân chủ, nhân quyền, nhằm hướng sự phát triển của đất nước ta theo mô hình dân chủ, nhân quyền của phương Tây.

Không chỉ phủ nhận chế độ dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam, các thế lực thù địch còn ra sức tô vẽ, sùng bái mô hình "dân chủ, nhân quyền" của phương Tây. Họ tuyệt đối hóa các giá trị phổ quát về quyền con người theo mô hình của phương Tây, cố tình tảng lờ một số quyền con người sẽ bị hạn chế đã được ghi trong Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị (năm 1966). Theo cách nói của họ, Nhà nước Việt Nam đã vi phạm quyền con người ở Điều 18 (Về quyền tự do tư tưởng, tín ngưỡng, tôn giáo), Điều 19 (Về quyền tự do ngôn luận, báo chí), Điều 21, 22 (Về quyền hội họp hòa bình, quyền lập hội...) trong Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị (năm 1966) mà Việt Nam đã ký kết. Tuy nhiên, họ không hề đề cập đến việc thực hiện những quyền nêu trên đều có thể bị hạn chế (trong pháp luật quốc gia) là vì "an ninh quốc gia, an toàn và trật tự công cộng, để bảo vệ sức khỏe hoặc đạo đức của công chúng, hoặc các quyền và tự do của người khác". Gần đây, họ còn có "sáng kiến": Phát triển blog, hình thành "xã hội ảo", "công dân ảo" và sử dụng các trang mạng xã hội nhằm phát tán, thu gom, lưu trữ các bài viết. Qua đó, họ ra "Tuyên bố", lập bản "Kiến nghị", kêu gọi "ký tên"... ủng hộ các quan điểm cực đoan, sai trái. Chẳng hạn như: Tuyên bố 72 ra bản "kiến nghị" về sửa đổi Hiến pháp theo mô hình dân chủ đa nguyên, chế độ cộng hòa tổng thống; Tuyên bố về việc thực thi các quyền dân sự, chính trị, kêu gọi Nhà nước thực thi các quyền tự do, dân chủ theo các "chuẩn mực nhân quyền phổ quát" (không tính tới tính đặc thù, lịch sử và văn hóa của mỗi quốc gia, dân tộc); Tuyên bố 258, kêu gọi xóa bỏ Điều 258 (Về tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, Bộ luật Hình sự 1999 của Nhà nước ta)...

Gắn liền với những hoạt động trên, các nhà tự xưng là "dân chủ, nhân quyền" còn lợi dụng bầu không khí dân chủ của đất nước để thực hiện một số hoạt động "thực", như: Trao văn bản đến lãnh đạo cấp cao của Đảng và Nhà nước, đến các cơ quan chức năng, thậm chí trao văn bản tới các đại sứ quán, lãnh sự quán nước ngoài và tổ chức quốc tế ở Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh... Để tránh sự trừng phạt của pháp luật, họ "lách luật" bằng cách lợi dụng quyền "phản biện" (thực chất là để phản bác, phủ nhận), tuyên bố "chỉ thực hiện các quyền con người về quyền tự do, dân chủ được ghi trong các Công ước quốc tế về quyền con người mà Nhà nước Việt Nam đã tham gia" và chỉ hoạt động "ôn hòa", "bất bạo động"... Thực tiễn đời sống chính trị quốc tế cho thấy, các cuộc bạo loạn, lật đổ chế độ xã hội hiện hữu thường bắt đầu bằng những hành động gọi là "bất bạo động", "ôn hòa" kiểu ấy. Do vậy, những hành vi vi phạm pháp luật của họ sẽ bị pháp luật trừng trị nghiêm minh.

Những hoạt động nói trên của những kẻ lợi dụng "dân chủ", "nhân quyền" cũng như của các thế lực thù địch chẳng qua chỉ là trò bịa đặt, "bóp méo sự thật". Hành động của họ chẳng lừa được ai, chắc chắn sẽ bị lên án, bác bỏ.

Nhìn lại những thành tựu của Việt Nam trong lĩnh vực bảo đảm dân chủ, nhân quyền, có thể khẳng định rằng, đó là những thành tựu to lớn, không thể phủ nhận được. Những "phát biểu", "điều trần" của cá nhân này, tổ chức nọ nhằm bóp méo tình hình nhân quyền ở Việt Nam chỉ là những tiếng nói lạc lõng, xa lạ với cộng đồng quốc tế. Nó đã, đang và tiếp tục bị cộng đồng quốc tế vạch trần, lên án./. 

Thứ Tư, 15 tháng 11, 2023

CƠ CHẾ NHẤT NGUYÊN CHÍNH TRỊ CÓ TẠO NÊN “CHẾ ĐỘ CHUYÊN CHẾ CỘNG SẢN PHI NHÂN QUYỀN”

Tính nhất nguyên chính trị là đặc trưng cơ bản, vốn có và là thuộc tính bản chất của hệ thng chính trị nước ta ngay từ những ngày đầu thành lập đến nay. Trong giai đoạn đầu của hệ thng chính trị dân chủ nhân dân, do điều kiện lịch sử, để đối phó thù trong giặc ngoài, thực hiện sách lược nhân nhượng có nguvên tắc, chúng ta đã chấp nhận sự tham gia của một s đảng phái chính trị vào hệ thng chính trị, nhưng Đảng ta vẫn giữ vai trò lãnh đạo. Khi miền Bắc xây dựng chủ nghĩa xã hội và miền Nam tiếp tục tiến hành cách mạng dân tộc, dân chủ. Trong hệ thng chính trị c ta có sự tham gia của Đảng Dân ch và Đảng Xã hội, nhưng cả hai đảng này đều thừa nhận sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Như vậy, do điều kiện lịch sử cụ thể, hệ thng chính trị ở nước ta luôn luôn mang tính nhất nguyên về chính trị.

Hiện nay, có những luận điểm cho rằng: cơ chế nhất nguyên chính trị ở nước ta làm cho “dân chủ bị bóp nghẹt”, tạo nên “chế độ chuyên chế cộng sản phi nhân quyền”, vì vậy cần thực hiện chế độ đa đảng để có dân chủ, tự do hơn?!. Lại có những thế lực đòi xoá bỏ Điều 4 trong Hiến pháp nước ta vì cho rằng điều đó cản trở việc thực hiện quyền dân chủ?!.

Xuất phát từ việc phân tích một cách khách quan tình hình cụ thể nước ta hiện nay, chúng ta vừa không chấp nhận chế độ đa nguyên về chính trị. vừa không chủ trương thiết lập tr lại chế độ đa đảng. Đó là sự lựa chọn duy nhất đúng đn phù hợp vi đòi hỏi của hiện thực khách quan, đảm bảo sự ổn định chính trị, ổn định xã hội và sự phát triển của đất nưc theo định hướng xã hội chủ nghĩa vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Trong điều kiện nước ta hiện nay, việc thiết lập trở lại chế độ đa đảng cũng đồng nghĩa với việc chấp nhận cơ chế đa nguyên chính trị và đó sẽ thực sự là thảm hoạ của đất nước. Vì vậy, giữ vững và tăng cường tính nhất nguyên trong đổi mới hệ thng chính trị là nguyên tắc bất di, bất dịch cần được nhận thức sâu sắc và thực thi.

Lý luận và thực tiễn đều minh chứng rằng tính nhất nguvên chính trị của hệ thống chính trị nước ta hoàn toàn không đồng nghĩa vi hiện thân của chế độ chuyên chế, mất dân chủ, phản nhân quyền và không phải cứ thực hiện đa đảng thì sẽ dân chủ, tự do hơn. Trái lại, trong điều kiện khách quan cụ th của nước ta thì giữ vững và tăng cường tính nhất nguyên của hệ thống chính trị là điều kiện cốt yếu để giữ vững độc lập dân tộc và đảm bảo quyền lực thực tế, quyền làm chủ thực sự của nhân dân Việt Nam. Đảng không chỉ là sự phản ánh khách quan tương quan lực lượng kinh tế, chính trị, xã hội ở nước ta hiện nay, phản ánh yêu cầu khách quan sự kế thừa và phát triển truyền thống chính trị ở nước ta, sự nối tiếp tất yếu của quá trình hình thành và phát triển các đảng phái chính trị ở nước ta mà còn là sự phản ánh khách quan khả năng và thực thi đúng đắn ý chí, lợi ích cơ bản của nhân dân Việt Nam và của cả dân tộc Việt Nam. 

Thứ Ba, 24 tháng 10, 2023

PHÊ PHÁN QUAN ĐIỂM “Ở VIỆT NAM KHÔNG CÓ NHÂN QUYỀN”

Trong thời gian vừa qua, các thế lực thù địch trong và ngoài nước tiếp tục tăng cường chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Trong đó, tự do ngôn luận, tự do báo chí đang là một mục tiêu xuyên tạc, bôi nhọ. Mới đây, trên trang “Rfavietnam”, Đài RFA đăng bài “Nhiều tổ chức XHDS kêu gọi Quốc hội Châu Âu gây sức ép mạnh hơn lên Việt Nam về vấn đề nhân quyền” và cho rằng: “Nhà nước độc đảng ở Việt Nam đã vi phạm các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, và quyền người lao động”. Nội dung của bài viết là những luận điệu sai trái, thiếu thiện chí, cố tình đưa ra những nhận định, đánh giá sai lệch, thiếu khách quan về tình hình tự do ngôn luận, tự do báo chí để vu cáo Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền hòng hạ thấp uy tín nước ta trên trường quốc tế.

Như chúng ta đã biết, tôn trọng, bảo vệ, thúc đẩy quyền con người, trong đó có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí là quan điểm xuyên suốt, nhất quán của Đảng, Nhà nước ta. Với quan điểm đề cao vai trò của báo chí là diễn đàn của nhân dân, là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với Nhân dân, để nhân dân trình bày những tâm tư, tình cảm, nguyện vọng của mình. Thông qua đó báo chí thực hiện chức năng phản biện xã hội, đề xuất những ý kiến tâm huyết đối với Đảng, Nhà nước, định hướng dư luận trong quá trình xây dựng, thực thi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, trật tự và an toàn xã hội.

Thực hiện quan điểm đó, Nhà nước Việt Nam đặc biệt quan tâm xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật bảo đảm tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do thông tin. Quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, quyền tiếp cận thông tin đã được Hiến pháp (năm 2013), Luật Báo chí (năm 2016), Luật Tiếp cận thông tin (năm 2016), Luật An ninh mạng năm 2018 quy định trách nhiệm của Nhà nước: tạo điều kiện thuận lợi để công dân thực hiện quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận; bảo đảm mọi công dân đều bình đẳng, không bị phân biệt đối xử trong việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin; bảo đảm cung cấp thông tin chính xác, đầy đủ, kịp thời, minh bạch, thuận lợi cho công dân. Việt Nam được đánh giá là quốc gia có lượng người dùng internet cao thứ 12 trên toàn thế giới và đứng thứ sáu trong tổng số 35 quốc gia/vùng lãnh thổ khu vực châu Á. Pháp luật Việt Nam cũng như nhiều quốc gia trên thế giới chỉ cấm báo chí tuyên truyền kích động bạo lực, tuyên truyền cho chiến tranh, gây chia rẽ đoàn kết dân tộc và bài kích chống đối chế độ. Đó là minh chứng sinh động cho việc bảo đảm quyền tự do báo chí ở Việt Nam, phản bác luận điệu vu cáo cho rằng “Tự do báo chí ở Việt Nam ngày càng suy giảm”.

Thực tế cho thấy, ở Việt Nam quyền tự do ngôn luận, bảo đảm nguyên tắc báo chí, nhà báo hoạt động trong khuôn khổ pháp luật và được pháp luật bảo hộ; nghiêm cấm mọi hành vi lạm dụng quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và công dân. Mọi hành vi vi phạm pháp luật đều được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý theo trình tự, thủ tục luật định, bảo đảm công khai, minh bạch, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không làm oan người vô tội, cũng không bỏ lọt tội phạm. Bên cạnh việc bảo đảm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, Nhà nước Việt Nam đã tập trung xử lý các đối tượng lợi dụng phương tiện này để phục vụ cho mưu đồ chống phá, vi phạm quyền và lợi ích của Nhà nước và công dân theo pháp luật Việt Nam, điều này hoàn toàn phù hợp với luật pháp quốc tế. Thực tế đó là minh chứng vạch trần sự phiến diện, xuyên tạc về “Việt Nam gia tăng đàn áp quyền tự do ngôn luận” và “Tự do báo chí ở Việt Nam ngày càng suy giảm”.

Tự do ngôn luận, tự do báo chí đối với các chế độ xã hội và nhà nước là một điều kiện bảo đảm quyền con người. Hơn thế nữa còn là một điều kiện quan trọng để phát triển xã hội trên các mặt, từ tư tưởng, chính trị đến kinh tế, xã hội và văn hóa. Tự do ngôn luận, tự do báo chí của người dân Việt Nam đã được hiến định bảo đảm bằng một hệ thống pháp luật minh bạch. Vì vậy, mọi người cần tỉnh táo, đề cao cảnh giác, đấu tranh phản bác mọi luận điệu xuyên tạc về quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí ở Việt Nam. 

Thứ Sáu, 6 tháng 10, 2023

NHẬN DIỆN LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH, PHẢN ĐỘNG XUYÊN TẠC VIỆT NAM KHÔNG CÓ DÂN CHỦ, NHÂN QUYỀN

Với mưu đồ chính trị đen tối, các thế lực thù địch, phản động, các phần tử cơ hội cực đoan đã cố tình không thừa nhận những thành tựu thực tiễn đó của chúng ta. Chúng liên tục xuyên tạc, bịa đặt, vu khống Đảng và Nhà nước Việt Nam không coi trọng dân chủ, nhân quyền, phớt lờ, chà đạp các quyền cơ bản của người dân, vi phạm thô bạo các quyền con người, quyền công dân chỉ nhằm bảo vệ lợi ích và quyền lực thống trị của Đảng; Nhà nước Việt Nam không phải là Nhà nước của dân, do dân, vì dân mà là chính quyền của quan chức, là công cụ để quan chức thỏa thích hành dân, tự do xâm hại các quyền dân chủ, nhân quyền của công dân để bảo vệ quyền lực và lợi ích của nhóm quan chức.

Những năm gần đây, các hoạt động chống phá, xuyên tạc của các thế lực thù địch phản động còn mạnh mẽ, quyết liệt hơn, thậm chí chúng thổi phồng những hạn chế, khuyết điểm trong lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước. Chúng xuyên tạc kết quả đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí và trong xử lý một số cán bộ thoái hóa biến chất, tham nhũng lãng phí; bóp méo sự thật, xuyên tạc về tình hình nhân quyền thực tế ở Việt Nam; ngụy tạo bằng chứng, dựng lên những vụ việc giả để làm nên cái gọi là “hồ sơ nhân quyền tồi tệ” ở Việt Nam nhằm vu khống Đảng và Nhà nước Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền, từ đó lôi kéo, kích động các tổ chức đưa ra những dự luật, nghị quyết phi lý lên án, Việt Nam vì không coi trọng dân chủ, nhân quyền.

Chúng còn tuyên bố rằng, việc vi phạm dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam là bản chất của chế độ XHCN phi dân chủ, là quá trình có hệ thống và mức độ vi phạm sẽ ngày càng nghiêm trọng hơn mà thôi. Do đó, chúng yêu cầu đưa Việt Nam vào danh sách đen các nước cần được quan tâm, giám sát đặc biệt về dân chủ, nhân quyền, đồng thời phải áp dụng các biện pháp trừng phạt, xử lý mạnh tay để bảo vệ các quyền cho người dân, và đòi xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước XHCN Việt Nam.

Gần đây nhất, khi Việt Nam tham gia ứng cử vào vị trí thành viên của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023 - 2025, các thế lực thù địch càng ráo riết bịa đặt, vu cáo rằng, Việt Nam thường xuyên vi phạm dân chủ, nhân quyền để “chứng minh” Việt Nam hoàn toàn không xứng đáng với vị trí đó. Nực cười hơn cả là khi chúng ta bắt giữ, xét xử một cách công khai, minh bạch, đúng pháp luật các phần tử phản động, cực đoan do thực hiện các hoạt động gây rối, chống phá Đảng và Nhà nước, phá hoại những thành quả phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, làm tổn hại đến quyền và lợi ích chính đáng của dân tộc và nhân dân Việt Nam, cản trở tiến trình xây dựng chế độ XHCN tốt đẹp, tiến bộ, văn minh của Việt Nam, thậm chí xâm phạm, đe dọa cả an ninh chính trị, chủ quyền quốc gia Việt Nam… thì chúng lại rêu rao, vu khống Việt Nam đàn áp, bắt bớ, diệt khẩu, xử lý những người dám đấu tranh cho dân chủ, nhân quyền, dám đấu tranh đòi tự do, công lý, công bằng, dân chủ cho người dân, bảo vệ người dân,…

Không khó để nhận thấy ý đồ chính trị đen tối của “những nhà hoạt động nhân quyền”, “những người nhân danh công lý”, “những nhà đấu tranh cho tự do, nhân quyền”… là muốn bôi xấu, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, phủ nhận những thành quả tốt đẹp của công cuộc xây dựng chế độ XHCN ở Việt Nam hòng thực hiện mưu đồ “hạ bệ” Đảng, xóa bỏ chế độ XHCN ở Việt Nam, lôi kéo Việt Nam đi theo con đường TBCN được tuyên truyền là có dân chủ, nhân quyền cao.

 


Thứ Hai, 25 tháng 9, 2023

THỰC CHẤT VẤN ĐỀ BẢO ĐẢM DÂN CHỦ, NHÂN QUYỀN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Trước hết, cần khẳng định, bảo đảm dân chủ, bảo vệ nhân quyền luôn là vấn đề được Đảng và Nhà nước Việt Nam coÁN  trọng trong suốt quá trình lãnh đạo công cuộc xây dựng và phát triển đất nước. Tôn trọng, bảo đảm dân chủ, bảo vệ nhân quyền không phải chỉ là những khẩu hiệu, những lời tuyên bố mà chính là đặc trưng, bản chất, mục tiêu, nhiệm vụ của chế độ XHCN Việt Nam. Bởi lẽ, chế độ XHCN mà Việt Nam xây dựng là chế độ xã hội tốt đẹp, dân chủ, tiến bộ, văn minh: “Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân(1), một chế độ xã hội luôn coi nhân dân “là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới”(2), luôn “xuất phát từ cuộc sống, nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu”(3).

Để bảo đảm và giữ vững bản chất dân chủ ưu việt, tốt đẹp của chế độ XHCN, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn xác định phải coi trọng việc bảo vệ dân chủ, nhân quyền, chú trọng bảo đảm tốt nhất mọi quyền lợi của nhân dân, hơn thế, không chỉ cần mà còn phải luôn “tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân”(4), “bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân”(5), để nhân dân tham gia quyết định những vấn đề lớn của đất nước theo phương châm "Dân biết, dân  bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng"(6). Sẵn sàng “Xử lý kịp thời, nghiêm minh những tổ chức, cá nhân lợi dụng dân chủ, gây rối nội bộ, làm mất ổn định chính trị - xã hội hoặc vi phạm dân chủ, làm phương hại đến quyền làm chủ của nhân dân”(7).

Mọi chủ trương, chính sách của Việt Nam cũng không ngoài mục đích “bảo đảm cuộc sống bình yên, hạnh phúc của nhân dân”(8), “Không ngừng cải thiện toàn diện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân”(9), “thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống và chỉ số hạnh phúc của con người Việt Nam”(10), “nâng cao phúc lợi xã hội, an sinh xã hội, cố gắng bảo đảm những nhu cầu cơ bản, thiết yếu của nhân dân về nhà ở, đi lại, giáo dục, y tế, việc làm”(11), “Nâng cao chất lượng xây dựng và thực hiện hiệu quả các chính sách về dinh dưỡng, an toàn thực phẩm, bảo vệ, chăm sóc, nâng cao sức khỏe và tầm vóc người Việt Nam, bảo đảm toàn dân đều được quản lý, bảo vệ, chăm sóc sức khỏe”(12) nhằm hướng tới mục tiêu cao đẹp của cả dân tộc là “phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; dân tộc cường thịnh, trường tồn(13).

Mọi nỗ lực, cố gắng không ngừng của Đảng và Nhà nước Việt Nam là để xây dựng thành công chế độ XHCN với mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”(14). Hiến pháp của Việt Nam cũng khẳng định rõ: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật”(15). Mọi chính sách, pháp luật của Nhà nước đều hướng tới việc ghi nhận và bảo đảm, bảo vệ ngày càng tốt hơn, đầy đủ hơn các quyền của mọi người dân...

Như vậy, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ dân chủ, nhân quyền chính là sự thể hiện và khẳng định bản chất dân chủ ưu việt của chế độ XHCN mà Việt Nam xây dựng, đồng thời cũng là mục tiêu, nhiệm vụ, động lực quan trọng của tiến trình xây dựng chế độ XHCN Việt Nam. Không chú trọng bảo đảm, bảo vệ nhân quyền, không coi trọng các quyền và lợi ích chính đáng của mọi người dân thì không phải là chế độ dân chủ thực sự. Một chế độ dân chủ thực sự - chế độ XHCN (dân chủ không phải chỉ trong tuyên bố mà phải trong hiện thực, dân chủ không phải chỉ cho thiểu số giai cấp thống trị, cho những kẻ giàu mà phải cho mọi tầng lớp nhân dân lao động, dân chủ không chỉ riêng trong một lĩnh vực nào đó mà phải trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội…) không thể và không cho phép “phớt lờ”, “chà đạp”, “vi phạm” các quyền dân chủ, vi phạm các quyền của mọi người dân.

Thực tiễn những thành tựu mà Việt Nam đã đạt được trong việc coi trọng, ghi nhận, bảo đảm, thực thi dân chủ, bảo vệ nhân quyền càng là minh chứng sống động để đập tan những luận điệu xuyên tạc, vu khống của các thế lực thù địch về tình hình nhân quyền, thực thi dân chủ ở Việt Nam. Đảng và Nhà nước không chỉ ban hành mà còn nỗ lực hiện thực hóa những chủ trương, chính sách bảo đảm ngày càng tốt hơn các quyền dân chủ, các quyền của mọi người dân. Mọi người dân Việt Nam từ trẻ đến già, từ nông thôn đến thành thị, từ miền núi đến miền xuôi, không phân biệt giới tính, địa vị xã hội, thành phần giai cấp, tôn giáo, dân tộc… đều được ghi nhận, tôn trọng, bảo đảm và bảo vệ đầy đủ các quyền con người, quyền công dân, không chỉ các quyền cơ bản tự nhiên của con người mà toàn bộ các quyền về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội.

Mọi nỗ lực của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong việc chỉ đạo thúc đẩy phát triển kinh tế, bảo đảm ổn định chính trị, giữ vững an ninh, chủ quyền quốc gia, phát triển y tế, giáo dục, văn hóa xã hội, thực hiện an sinh xã hội, phúc lợi xã hội… không ngoài mục đích để mọi người dân Việt Nam có cuộc sống tự do, ấm no, hạnh phúc, được bảo đảm các quyền sống, quyền được giáo dục, quyền được bảo vệ, chăm sóc sức khỏe, được tham gia lao động, cống hiến cho xã hội và được hưởng thụ những thành quả của tiến trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước...

Trong lĩnh vực kinh tế, Đảng và Nhà nước cũng luôn chú trọng hoàn thiện các chính sách kinh tế, chế tài pháp luật, tạo hành lang pháp lý thuận lợi để bảo đảm cho mọi người dân có cơ hội tham gia các hoạt động kinh tế, được tự do kinh doanh, cạnh tranh lành mạnh và được bảo vệ các lợi ích chính đáng của mình.

Mọi người dân cũng được bảo đảm đầy đủ các quyền chính trị, được tham gia bầu cử, ứng cử, được tự do biểu đạt chính kiến, tham gia đóng góp ý kiến vào những công việc của Đảng và Nhà nước, cũng như vào tiến trình phát triển chung của đất nước…

Mọi người dân đều được tự do tham gia các hoạt động văn hóa, xã hội, tôn giáo, tín ngưỡng theo nhu cầu, sở thích, phù hợp với chuẩn mực đạo đức, văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc; được bảo đảm an sinh xã hội, an ninh cuộc sống… Hơn thế, Đảng và Nhà nước luôn có những chủ trương, chính sách đặc thù quan tâm, bảo vệ “bảo đảm trợ giúp cho các nhóm đối tượng yếu thế”(16) trong xã hội, như phụ nữ, trẻ em, người già, hay những đối tượng chính sách, người dân ở những vùng, miền, địa bàn khó khăn, biên giới, hải đảo, miền núi, tạo điều kiện cho mọi người được “tiếp cận bình đẳng nguồn lực, cơ hội phát triển và hưởng thụ công bằng các dịch vụ xã hội cơ bản”(17), bảo đảm không để ai bị bỏ lại phía sau trong tiến trình phát triển đất nước, không để ai bị thua thiệt do bị phân biệt đối xử bất công…

Bên cạnh đó, Việt Nam cũng tích cực tham gia hợp tác, ký kết nhiều công ước quốc tế nhằm bảo đảm, bảo vệ tốt hơn các quyền của người dân trong các mối quan hệ hợp tác toàn cầu. Đặc biệt, trong những thời điểm khó khăn, thiên tai, đại dịch hoành hành, Đảng và Nhà nước đã tích cực triển khai các chính sách bảo đảm, bảo vệ các quyền và lợi ích của người dân, không để người dân mất đi các quyền được sống, được có cơm ăn, áo mặc, được có việc làm, được học tập, được chăm sóc y tế, cuộc sống an toàn…

Thực tế những nỗ lực của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong việc chỉ đạo huy động mọi lực lượng, mọi nguồn lực để chăm lo, hỗ trợ bảo đảm ổn định cuộc sống cho người dân, bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng của người dân, bảo vệ tính mạng, sức khỏe của người dân trong bối cảnh đại dịch Covid-19 là minh chứng đập tan những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động về vấn đề thực thi dân chủ, về tình hình nhân quyền ở Việt Nam.

Việt Nam không phải và chưa bao giờ là quốc gia xem thường dân chủ, nhân quyền của người dân, ngược lại, còn là một trong những điểm sáng trong việc tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ dân chủ, nhân quyền của người dân. Hơn nữa, Việt Nam còn là quốc gia có đóng góp tích cực vào việc bảo vệ dân chủ, nhân quyền trên toàn thế giới; lên án, đấu tranh với những hành động vi phạm nhân quyền, bao gồm không chỉ vi phạm các quyền của người dân, phân biệt đối xử về giới tính, sắc tộc, tôn giáo… mà cả vi phạm chủ quyền, quyền tự quyết, tự chủ của các quốc gia.

Thực tế cũng cho thấy, chính những kẻ “nhân danh công lý”, “các nhà bảo vệ nhân quyền”, “các nhà đấu tranh cho dân chủ, tiến bộ, văn minh”… đang ráo riết “vạch tội”, “lên án” Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền lại đang thực hiện những hành động vi phạm dân chủ, nhân quyền, can thiệp thô bạo vào vấn đề nội bộ, xâm phạm các quyền tự chủ, tự quyết của Việt Nam, cản trở tiến trình phát triển vì mục tiêu đem lại cuộc sống phồn vinh, hạnh phúc, dân chủ, công bằng, văn minh cho người dân Việt Nam.

Thêm nữa, “định hướng” của “các nhà dân chủ, nhân quyền” về đích hướng tới cho nhân loại và Việt Nam là chế độ xã hội tư bản chủ nghĩa dân chủ, tiến bộ, văn minh lại không như những gì họ tuyên bố. Chế độ TBCN vẫn đã và đang thể hiện là chế độ dân chủ chỉ cho 1%, vì lợi ích của 1% những nhà tư bản giàu có khi mà phần lớn của cải do người lao động tạo ra đều về tay 1% những ông chủ tư bản. Chế độ TBCN tạo điều kiện và cơ hội cho 1% những người giàu có làm giàu, thu lợi trên những tấm lưng còng và mồ hôi của những người lao động.

Không khó để có những số liệu như lợi nhuận của các tập đoàn tư bản và lương của các chủ tư sản trong hơn một thế kỷ qua liên tục tăng không ngừng, trong khi thu nhập thực tế của người lao động tăng không đáng kể, thậm chí không đủ để trang trải các chi phí sinh hoạt thiết yếu, không có cơ hội và điều kiện để tiếp cận và hưởng thụ những giá trị vật chất và tinh thần do họ tạo ra. Chỉ tính riêng trong năm 2017 thì 82% số của cải được tạo ra thuộc về 1% những người giàu có nhất, còn của cải của 50% dân số nghèo nhất không hề tăng.

Thậm chí trong bối cảnh đại dịch Covid-19, trong khi hàng tỷ người lao động ở các quốc gia TBCN đang phải vật lộn để kiếm sống và trang trải gánh nặng chi phí sinh hoạt, họ không dám đi xét nghiệm, chữa bệnh vì chi phí y tế quá sức thì nhiều cá nhân, tập đoàn tư bản vẫn tranh thủ thao túng, trục lợi và thu lợi nhuận lớn. Chênh lệch thu nhập giữa giới chủ và người lao động vẫn tiếp tục giãn rộng cùng với lợi nhuận của các ông chủ của các tập đoàn tư bản ngày càng tăng cao và người lao động càng bị bóc lột nhiều hơn...

Nền kinh tế TBCN ngày càng vắt kiệt sức lực của người lao động để mang về những món lợi nhuận kếch xù cho các chủ tư bản. Trong guồng quay của nền đại công nghiệp TBCN, người lao động ngày càng trở thành một cái máy trong dây chuyền sản xuất, họ không có thời gian và điều kiện kinh tế để thỏa mãn đầy đủ những nhu cầu vật chất, tinh thần, chứ chưa nói tới phát triển toàn diện con người.

Tình trạng phân biệt đối xử bất công với người nghèo, người da màu, người nhập cư vẫn luôn tồn tại,... Đó là chưa nói tới việc vì lợi nhuận, nhiều quốc gia TBCN sẵn sàng can thiệp, kích động, tạo nên những cuộc xung đột, chiến tranh giữa các quốc gia để bán được nhiều vũ khí mà không hề quan tâm đến những khổ đau, mất mát, tang thương mà biết bao dân thường phải gánh chịu, vi phạm ngay từ quyền căn bản của con người đó là quyền được sống, được tự do, được có cơm ăn, áo mặc,… Nhiều học giả khi chứng kiến hiện thực đầy rẫy sự bất công, mất dân chủ... ở các quốc gia TBCN đã phải thốt lên rằng nhà nước tư sản không phải là của dân, do dân, vì dân như họ tuyên bố mà chỉ là nhà nước của 1%, do 1% và vì 1%; mọi thành quả của tăng trưởng kinh tế đều chỉ phục vụ cho nhóm những người giàu có và quyền lực chứ không phải cho mọi người dân và vì lợi ích của đông đảo tầng lớp nhân dân lao động.

Vì vậy, nói Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền, hay rêu rao rằng Việt Nam không có dân chủ, nhân quyền... chỉ là những luận điệu xuyên tạc, bịa đặt, vu khống vô căn cứ của các thế lực thù địch, những kẻ phản động, cơ hội cực đoan để thực hiện mưu đồ chính trị xấu là chống phá Đảng, Nhà nước và ngăn cản tiến trình xây dựng CNXH ở Việt Nam mà thôi. Việt Nam luôn kiên định và ngày càng chứng minh con đường XHCN mà chúng ta lựa chọn là hoàn toàn đúng đắn. CNXH không chỉ là đích hướng tới của riêng Việt Nam mà của toàn nhân loại. Ngay cả các nước TBCN dù muốn chối bỏ, phủ nhận, nhưng theo quy luật tất yếu cũng sẽ tới đích đó. Hiện thực ở một số quốc gia TBCN phát triển hiện nay trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân, đáp ứng ngày càng tốt hơn những quyền và lợi ích chính đáng của người dân... chính là những minh chứng cho khẳng định đó.

Để thực hiện mục tiêu xây dựng thành công chế độ XHCN tốt đẹp, tiến bộ, văn minh, Việt Nam đã, đang và sẽ luôn coi trọng, ghi nhận và không ngừng nỗ lực bảo đảm, bảo vệ ngày càng tốt hơn dân chủ, nhân quyền cho mọi người dân, bởi lẽ bảo đảm dân chủ, bảo vệ nhân quyền là bản chất ưu việt của chế độ XHCN Việt Nam, là mục tiêu, động lực, yêu cầu, nhiệm vụ trọng yếu của quá trình xây dựng CNXH ở Việt Nam.


Thứ Bảy, 1 tháng 4, 2023

PHÊ PHÁN QUAN ĐIỂM “Ở VIỆT NAM KHÔNG CÓ NHÂN QUYỀN”

Trong thời gian vừa qua, các thế lực thù địch trong và ngoài nước tiếp tục tăng cường chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Trong đó, tự do ngôn luận, tự do báo chí đang là một mục tiêu xuyên tạc, bôi nhọ. Mới đây, trên trang “Rfavietnam”, Đài RFA đăng bài “Nhiều tổ chức XHDS kêu gọi Quốc hội Châu Âu gây sức ép mạnh hơn lên Việt Nam về vấn đề nhân quyền” và cho rằng: “Nhà nước độc đảng ở Việt Nam đã vi phạm các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, và quyền người lao động”. Nội dung của bài viết là những luận điệu sai trái, thiếu thiện chí, cố tình đưa ra những nhận định, đánh giá sai lệch, thiếu khách quan về tình hình tự do ngôn luận, tự do báo chí để vu cáo Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền hòng hạ thấp uy tín nước ta trên trường quốc tế.

Như chúng ta đã biết, tôn trọng, bảo vệ, thúc đẩy quyền con người, trong đó có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí là quan điểm xuyên suốt, nhất quán của Đảng, Nhà nước ta. Với quan điểm đề cao vai trò của báo chí là diễn đàn của nhân dân, là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với Nhân dân, để nhân dân trình bày những tâm tư, tình cảm, nguyện vọng của mình. Thông qua đó báo chí thực hiện chức năng phản biện xã hội, đề xuất những ý kiến tâm huyết đối với Đảng, Nhà nước, định hướng dư luận trong quá trình xây dựng, thực thi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, trật tự và an toàn xã hội.

Thực hiện quan điểm đó, Nhà nước Việt Nam đặc biệt quan tâm xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật bảo đảm tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do thông tin. Quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, quyền tiếp cận thông tin đã được Hiến pháp (năm 2013), Luật Báo chí (năm 2016), Luật Tiếp cận thông tin (năm 2016), Luật An ninh mạng năm 2018 quy định trách nhiệm của Nhà nước: tạo điều kiện thuận lợi để công dân thực hiện quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận; bảo đảm mọi công dân đều bình đẳng, không bị phân biệt đối xử trong việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin; bảo đảm cung cấp thông tin chính xác, đầy đủ, kịp thời, minh bạch, thuận lợi cho công dân. Việt Nam được đánh giá là quốc gia có lượng người dùng internet cao thứ 12 trên toàn thế giới và đứng thứ sáu trong tổng số 35 quốc gia/vùng lãnh thổ khu vực châu Á. Pháp luật Việt Nam cũng như nhiều quốc gia trên thế giới chỉ cấm báo chí tuyên truyền kích động bạo lực, tuyên truyền cho chiến tranh, gây chia rẽ đoàn kết dân tộc và bài kích chống đối chế độ. Đó là minh chứng sinh động cho việc bảo đảm quyền tự do báo chí ở Việt Nam, phản bác luận điệu vu cáo cho rằng “Tự do báo chí ở Việt Nam ngày càng suy giảm”.

Thực tế cho thấy, ở Việt Nam quyền tự do ngôn luận, bảo đảm nguyên tắc báo chí, nhà báo hoạt động trong khuôn khổ pháp luật và được pháp luật bảo hộ; nghiêm cấm mọi hành vi lạm dụng quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và công dân. Mọi hành vi vi phạm pháp luật đều được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý theo trình tự, thủ tục luật định, bảo đảm công khai, minh bạch, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không làm oan người vô tội, cũng không bỏ lọt tội phạm. Bên cạnh việc bảo đảm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, Nhà nước Việt Nam đã tập trung xử lý các đối tượng lợi dụng phương tiện này để phục vụ cho mưu đồ chống phá, vi phạm quyền và lợi ích của Nhà nước và công dân theo pháp luật Việt Nam, điều này hoàn toàn phù hợp với luật pháp quốc tế. Thực tế đó là minh chứng vạch trần sự phiến diện, xuyên tạc về “Việt Nam gia tăng đàn áp quyền tự do ngôn luận” và “Tự do báo chí ở Việt Nam ngày càng suy giảm”.

Tự do ngôn luận, tự do báo chí đối với các chế độ xã hội và nhà nước là một điều kiện bảo đảm quyền con người. Hơn thế nữa còn là một điều kiện quan trọng để phát triển xã hội trên các mặt, từ tư tưởng, chính trị đến kinh tế, xã hội và văn hóa. Tự do ngôn luận, tự do báo chí của người dân Việt Nam đã được hiến định bảo đảm bằng một hệ thống pháp luật minh bạch. Vì vậy, mọi người cần tỉnh táo, đề cao cảnh giác, đấu tranh phản bác mọi luận điệu xuyên tạc về quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí ở Việt Nam.


Thứ Ba, 14 tháng 2, 2023

NHẬN DIỆN THỦ ĐOẠN LỢI DỤNG TÍNH LIÊN KẾT, QUAN HỆ TƯƠNG HỖ GIỮA CÁC VẤN ĐỀ “DÂN CHỦ”, “NHÂN QUYỀN” VỚI VẤN ĐỀ “TÔN GIÁO”, “DÂN TỘC” ĐỂ TUYÊN TRUYỀN, KÍCH ĐỘNG, GÂY MÂU THUẪN, CHIA RẼ GIỮA ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ VỚI VỚI CHÍNH QUYỀN Ở VIỆT NAM CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH HIỆN NAY

Những năm gần đây, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị thường xuyên lợi dụng tính liên kết, quan hệ tương hỗ giữa các vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền” với vấn đề “tôn giáo”, “dân tộc” để tuyên truyền, kích động, gây mâu thuẫn, chia rẽ giữa đồng bào dân tộc thiểu số với với chính quyền nhằm phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tác động tiêu cực đến tư tưởng của cán bộ, đảng viên và nhân dân, phát tán các luồng tư tưởng phi xã hội chủ nghĩa trong xã hội. Do vậy, nhận diện và đấu tranh bác bỏ các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách hiện nay.

Những năm gần đây, các thế lực thù địch luôn lợi dụng tính liên kết, quan hệ tương hỗ giữa các vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền” với vấn đề “tôn giáo”, “dân tộc” để tuyên truyền, kích động, gây mâu thuẫn, chia rẽ, thậm chí xung đột giữa đồng bào dân tộc thiểu số với với chính quyền và với đồng bào người Kinh, kích động các khuynh hướng “ly khai”, “tự trị” tập hợp lực lượng nhằm gây mất ổn định chính trị - xã hội trong vùng đồng bào có đạo, đồng bào dân tộc thiểu số. Trong đó, tôn giáo và đất đai được sử dụng như một công cụ đắc lực để lôi kéo, khống chế (thậm chí chi phối) một bộ phận quần chúng. Các thế lực thù địch lợi dụng những vụ việc phức tạp nảy sinh trong vùng đồng bào có đạo, vùng dân tộc thiểu số, những hạn chế, yếu kém trong quản lý xã hội ở cơ sở, những sơ hở, thiếu sót của cán bộ, đảng viên, các vụ tranh chấp, khiếu kiện về đất đai liên quan đến tôn giáo để “chính trị hóa” sự việc, kích động tâm lý bức xúc và phản ứng của tín đồ đối với chính quyền, gây chia rẽ giữa chính quyền với tôn giáo.

Một số tổ chức tôn giáo (thực chất là hội, nhóm trái pháp luật đội lốt tôn giáo) như: “Tin Lành Đêga”, Hà Mòn ở khu vực Tây Nguyên, các tổ chức Tin Lành riêng của người Mông ở khu vực Tây Bắc, tổ chức “Liên đoàn Khmers Kampuchea Krom” (KKF) ở khu vực Tây Nam Bộ thường xuyên tuyên truyền, kích động lập “vương quốc riêng”, đòi quyền tự quyết cho dân tộc bản địa ở Tây Nguyên, “đòi đất cho người Khmer”, gây phức tạp về an ninh trật tự. Một số đối tượng cực đoan còn tuyên truyền phát triển một số hình thức tôn giáo mới như: “Hội thánh của Đức Chúa Trời Mẹ”, Pháp Luân Công, Dương Văn Mình, “Nhất quán đạo”, “Thanh Hải Vô Thượng Sư” (thực chất là các “tà đạo)” để lừa mị, lôi kéo, khống chế quần chúng”.

Về thủ đoạn tuyên truyền, các đối tượng dựa vào một số sự kiện đã diễn ra hoặc cố tình dàn dựng, ngụy tạo bối cảnh để thêm bớt, chèn các hình ảnh, tư liệu, số liệu không thể kiểm chứng, bị cắt ghép, chỉnh sửa hoặc quay trực tiếp tại hiện trường (live stream) để thu hút sự tò mò của cư dân mạng, suy diễn, bình luận theo kiểu làm “sáng tỏ vấn đề”, vu cáo Nhà nước “bưng bít thông tin”.

Những thông tin trên được phát tán dày đặc, lặp đi lặp lại trên không gian mạng, được hỗ trợ bởi công nghệ để chủ động tiếp cận người sử dụng mạng, theo kiểu “bôi nhiều sẽ bẩn”, “nói lắm phải tin”, để từng bước hướng cộng đồng đến những suy nghĩ lệch lạc, hoài nghi, thậm chí không tin vào các thông tin do cơ quan chức năng và các phương tiện truyền thông chính thống cung cấp. Vì thế, chúng ta cần nêu cao tinh thần cảnh giác, nhận diện rõ âm mưu, thủ đoạn của chúng để không bị lôi kéo, lừa gặt, góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã xã hội ở địa phương.