Thứ Sáu, 8 tháng 9, 2023

THỰC TIỄN ĐÃ CHỨNG MINH CHỦ TRƯƠNG XẮP SẾP ĐƠN VỊ HÀNH CHÍNH CỦA ĐẢNG LÀ ĐÚNG ĐẮN

Trái với quan điểm chống phá nêu trên, thực tế, việc sắp xếp tổ chức, bộ máy, đơn vị hành chính trong hệ thống chính trị, trong đó có việc sắp xếp một số đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã nhằm phù hợp hơn với yêu cầu thực tiễn, đặt trong tổng thể nhiều chủ trương, giải pháp về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, hoàn thiện, phát triển Nhà nước pháp quyền XHCN, phục vụ giai đoạn phát triển mới. Sắp xếp tổ chức, bộ máy trong hệ thống chính trị tinh, gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả là chủ trương lớn. Quá trình thực hiện sắp xếp đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã giai đoạn 2019 – 2021 bám sát mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ đề ra tại Nghị quyết số 18-NQ/TW, ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XII và Nghị quyết số 37-NQ/TW, ngày 24/12/2018 của Bộ Chính trị về sắp xếp đơn vị hành chính. Nghị quyết của Quốc hội chỉ rõ: Sau khi đất nước hoàn toàn thống nhất năm 1975 đến nay, đơn vị hành chính các cấp ở nước ta đã được điều chỉnh, sắp xếp lại phù hợp với từng giai đoạn lịch sử và đã đạt được một số kết quả tích cực góp phần phát huy nguồn lực thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội.

Bên cạnh đó, Đảng, Nhà nước cũng thẳng thắn nhìn nhận, việc chia, tách đơn vị hành chính các cấp thời gian qua đã nảy sinh một số bất cập và hạn chế. Nhiều đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã quy mô quá nhỏ, không gian phát triển bị chia cắt, gây ra nhiều khó khăn, cản trở trong công tác lập kế hoạch, quy hoạch dài hạn, định hướng phát triển kinh tế – xã hội tầm vĩ mô cũng như quy hoạch, kế hoạch phát triển vùng; nguồn lực của địa phương và Trung ương cho phát triển kinh tế – xã hội bị phân tán, nhất là trong điều kiện Trung ương đang đẩy mạnh phân cấp, trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho chính quyền địa phương. Việc tăng số lượng đơn vị hành chính các cấp đã dẫn đến tổ chức bộ máy, biên chế của các cơ quan, đơn vị trong hệ thống chính trị ở địa phương tăng; ngân sách nhà nước chi cho hoạt động của bộ máy, xây dựng trụ sở, mua sắm mới trang thiết bị làm việc tăng; đại đa số các đơn vị cấp huyện, cấp xã thu ngân sách tại địa phương không đủ cân đối chi thường xuyên, chủ yếu Trung ương phải hỗ trợ.

Sắp xếp đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã nhằm tổ chức hợp lý đơn vị hành chính các cấp phù hợp với thực tiễn và xu thế phát triển của đất nước; bảo đảm hoàn thiện thể chế về đơn vị hành chính, bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; góp phần phát huy mọi nguồn lực thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội, nâng cao đời sống nhân dân; bảo đảm quốc phòng, an ninh; giữ vững an ninh chính trị và trật tự, an toàn xã hội. Phấn đấu đến năm 2030, các đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã được sắp xếp cơ bản phù hợp chiến lược phát triển kinh tế – xã hội; đáp ứng yêu cầu xây dựng nước ta trở thành một nước công nghiệp hiện đại, theo định hướng XHCN.

Sắp xếp đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã để bảo đảm tính tổng thể, đồng bộ; thực hiện theo từng giai đoạn, mỗi giai đoạn có trọng tâm, phù hợp, chặt chẽ, thận trọng, hiệu quả, chắc chắn, phù hợp với quy hoạch tổng thể, yêu cầu phát triển; bảo đảm ổn định chính trị – xã hội. Thông qua sắp xếp các đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã để từng bước đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, tinh giản biên chế, cải cách chế độ tiền lương, cơ cấu lại và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức. Phát huy hiệu quả nguồn lực của Nhà nước và xã hội cho phát triển kinh tế – xã hội trong từng địa phương và trên phạm vi toàn quốc; nâng cao đời sống nhân dân; giữ vững quốc phòng, an ninh chính trị và trật tự, an toàn xã hội. Việc sắp xếp phải đảm bảo không ảnh hưởng nhiều đến hoạt động sản xuất, kinh doanh và cuộc sống của nhân dân.

Quan điểm chỉ đạo chung là mỗi một đơn vị hành chính cụ thể được sáp nhập phải chú trọng, cân nhắc kỹ các yếu tố đặc thù về lịch sử, truyền thống, văn hóa, dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng, phong tục, tập quán, điều kiện địa lý – tự nhiên, cộng đồng dân cư… như một số quận nội thành Hà Nội. Việc sắp xếp đơn vị hành chính là việc khó, nhạy cảm, phức tạp, liên quan đến nhiều người, nhiều ngành, tác động đến người dân, doanh nghiệp và các chủ thể khác. Trước vấn đề mang tính khó khăn, phức tạp, việc người dân có ý kiến góp ý, xây dựng, đề xuất những giải pháp là hoàn toàn cần thiết, được Đảng, Nhà nước khuyến khích, trân trọng. Tuy nhiên, lợi dụng vào đó để xuyên tạc, đưa ra những quan điểm sai trái, thậm chí xuyên tạc với động cơ, mục đích xấu, tạo nhận thức lệch lạc hòng làm suy giảm niềm tin của nhân dân vào chủ trương, đường lối, cũng như vai trò lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước cần phải được vạch trần, đấu tranh phản bác.

 


Thứ Ba, 5 tháng 9, 2023

TRỒNG NGƯỜI LÀ NGHỀ CAO QUÝ, THIÊNG LIÊNG NHẤT

Ở Việt Nam, từ ngàn đời nay, người thầy giáo và người thầy thuốc luôn được xã hội trân trọng, coi đó là nghề cao quý nhất. Một nghề để dạy người, còn một nghề để cứu người. Rất nhiều người coi thầy giáo-thầy thuốc cũng như người cha, người mẹ sinh ra mình. "Cô giáo như mẹ hiền" và "Lương y như từ mẫu". Trong xã hội phát triển, khi ai đó xưng hô, gọi người khác là thầy thì đó là hàm chứa sự trân quý, nể trọng những người đã chỉ bảo, dạy dỗ mình .

Nói đến thầy giáo, đó là thể hiện đạo hiếu, sự biết ơn sâu nặng “không thầy đố mày làm nên”. Tôn sư trọng đạo là cốt cách, là truyền thống văn hóa của dân tộc. Sự trưởng thành của một con người về cơ bản gắn với 3 thành tố gồm sức khỏe-trí tuệ-nhân cách, tương ứng với 3 môi trường là gia đình-nhà trường-xã hội. Nhà trường là người thầy đã giáo dục, trang bị cho mỗi cá nhân hành trang quan trọng nhất, vô giá nhất đó là tri thức. Nhà trường cũng là nơi giáo dục, rèn luyện, hình thành nhân cách của mỗi người. Xã hội tốt đẹp, đất nước giàu mạnh là do có những con người tốt, tài giỏi, nhân cách tốt. Những con người ấy được vun trồng nên bởi một nền giáo dục tốt, một xã hội tốt nuôi dưỡng.

Ở nước ta, ngày khai giảng năm học mới luôn là một dấu ấn khó phai mờ trong tâm thức mỗi người đi học. Đó là sự háo hức, bồi hồi khi học trò được gặp lại thầy cô, bạn bè: Háo hức bởi có những em lần đầu được cắp sách đến trường, được thầy cô đón vào lớp 1; bồi hồi bởi sẽ có những em lần cuối cùng được dự khai giảng cùng thầy cô... Và nỗi nhớ về thầy cô, mái trường, nơi có những bạn bè cùng trang lứa luôn thiêng liêng trong tiềm thức.

Đất nước đổi thay, xã hội phát triển, mức lương giáo viên từng bước có sự cải thiện nhưng chưa cao, đời sống của nhiều thầy cô, nhất là ở vùng sâu, vùng xa còn nhiều khó khăn, vất vả. Sự tác động của mặt trái trong xã hội cũng diễn ra hằng ngày, hằng giờ, trong khi đó nghề giáo cũng chịu nhiều áp lực. Dù vậy, những trở ngại ấy không làm giảm nhiệt huyết của thầy cô trong sự nghiệp trồng người. Trên khắp đất nước, những bông hoa sáng đẹp-là tấm gương các thầy cô nỗ lực hết mình cho sự nghiệp trồng người-vẫn hằng ngày tỏa sáng. Vẫn đang có hàng vạn thầy cô xung phong đến những vùng khó khăn nhất để dạy chữ, truyền thụ tri thức, lòng nhiệt huyết cho các em học sinh cắp sách tới trường.

Sinh thời, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nói:“Nghề dạy học là nghề cao quý nhất trong những nghề cao quý, nghề sáng tạo nhất trong những nghề sáng tạo vì nó đã sáng tạo ra những con người sáng tạo”. Giữ gìn sự cao quý ấy phụ thuộc lớn vào mỗi thầy cô, vào ngành giáo dục và của cả xã hội. Thầy cô tâm huyết, trọn đời cống hiến để trăm năm nối tiếp liên tục có những chuyến đò đầy đặn tri thức và đạo đức. Nhưng mỗi học sinh, gia đình, mỗi người Việt Nam cũng phải luôn thể hiện lòng biết ơn, trách nhiệm trong sự nghiệp chung để nghề trồng người đẹp mãi


HIỆN THỰC SINH ĐỘNG PHẢN BÁC NHỮNG TRÒ XẢO BIỆN TRONG DỊP QUỐC KHÁNH

Xuyên tạc, bôi lem về giá trị, ý nghĩa lịch sử Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9 của dân tộc Việt Nam vốn là chiêu bài “truyền thống” của các thế lực xấu, cứ đến dịp lại khui lên kiểu “bình cũ, rượu mới”.

Song, có những luận điệu ngay từ cách đặt vấn đề đến lý giải cho thấy sự ngô nghê của người viết, dường như họ cố tình không nhìn thấy gì cả, không nghe thấy gì cả, cứ phết lên đó gam màu càng đen, càng xám là được, bất chấp sự thể ra làm sao. Chẳng hạn, bài viết trên trang mạng của tổ chức Việt Tân đặt câu hỏi khôi hài “Ngày 2/9 nên gọi là ngày gì?”. Bằng việc đưa ra những hiện tượng tiêu cực trong xã hội rồi người viết đả kích rằng “dân chỉ là bầy cừu làm thuê mà không hề có một tổ chức nào bảo vệ”; “đừng nhìn dân như một bầy cá thể yếu ớt”! Trong một bài viết khác về suy ngẫm ngày 2/9, cũng bằng việc phân tích kiểu đánh tráo khái niệm, bản chất, dẫn dắt với những lý lẽ sai lệch, người viết đả kích “vậy sau khi giành được chính quyền, chính quyền đó có về tay nhân dân không?”! Thậm chí, bài viết này còn xuyên tạc rằng: “Đến ngày hôm nay, nhân dân Việt Nam chẳng có một quyền gì”! Từ đó, đánh lái thành “cuộc cách mạng giành chính quyền về tay nhân dân, hơn 70 năm qua vẫn chưa xong”…

Đọc những câu chữ trên cho thấy rõ tư duy của những người cố tình viết lấy được, nói lấy được, kiểu như đã nhận đặt bài của tổ chức, cá nhân nào đó, cầm “xèng” rồi thì phải “trả bài” sao cho càng lộng ngôn, càng xuyên tạc, miệt thị cay độc càng có tiền. Cổ suý tư tưởng chống phá nói trên, một số mạng hải ngoại phân tích kiểu râu ông cắm cằm bà, tiếp cận các vụ án, vụ việc tham nhũng, tiêu cực hiện nay trong bộ máy cơ quan Đảng, Nhà nước rồi phán rằng, hiện thực đất nước là “gam màu xám xịt”. Họ cho rằng, 77 năm sau Quốc khánh 2/9/1945, Việt Nam vẫn trì trệ, lạc hậu vì “sự bảo thủ của Đảng”, coi Việt Nam “cũng chẳng có vị thế gì” trên bản đồ quốc tế, thậm chí còn cho rằng, ngày nay các nước không muốn kết bạn với Việt Nam vì “sợ cộng sản”! Rõ ràng, với cái cách xảo biện như thế, một mặt cho thấy động cơ chống phá đến cùng của một số cá nhân, tổ chức, song cũng phơi bày sự thật là họ cũng đã “hết cách”, xoay đi xoay lại chỉ bài vở cũ, kiểu như “cứ rượu xong là chửi”!

Ở đây, cần thấy rằng:

Thứ nhất, về ý nghĩa, bản chất của Cách mạng Tháng Tám, Quốc khánh 2/9, bất cứ nhìn từ góc độ nào cũng phải tôn trọng sự thật khách quan của lịch sử và điều này đã được sử sách nước ta cũng như thế giới ghi nhận. Với Cách mạng Tháng Tám, chính quyền về tay nhân dân, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa – Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á ra đời, nhân dân Việt Nam từ thân phận nô lệ trở thành người dân của một nước độc lập, làm chủ vận mệnh của mình. Nước Việt Nam từ một nước thuộc địa nửa phong kiến trở thành một nước độc lập, tự do và dân chủ. Từ đây, đất nước, xã hội và con người Việt Nam bước vào kỷ nguyên mới – kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với CNXH.

Thứ hai, từ thành quả của Cách mạng Tháng Tám, nước Việt Nam đã phấn đấu, đạt được những thành tựu hết sức to lớn. Hiện thực đó được thể hiện bằng bức tranh sống động trong giai đoạn đổi mới hiện nay, điều mặc nhiên ai cũng thấy rõ. Các quyền con người được khẳng định trong Hiến pháp và cụ thể hoá từ thực tiễn và chính người dân ghi nhận, hưởng thụ, không thể bôi lem, biến tấu kiểu “đến ngày hôm nay, nhân dân Việt Nam chẳng có một quyền gì”!

Thứ ba, vị thế Việt Nam trên trường quốc tế và quốc tế đánh giá, coi Việt Nam như thế nào, hãy để sự thật khách quan lên tiếng, không thể tẩy trắng kiểu “không có vị trí gì”!

Sự thực là, cũng trong những ngày đầu tháng 9 này, phái đoàn Việt Nam đang tham dự Hội nghị thượng đỉnh Cảnh sát Liên hợp quốc lần thứ ba (UNCOPS), diễn ra tại trụ sở Liên hợp quốc tại New York từ 30/8-3/9, gửi đi thông điệp Việt Nam sẵn sàng tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình quốc tế. Tại khóa họp 50 Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc diễn ra tháng 6 vừa qua, Việt Nam cùng Bangladesh và Philippines đã đồng tổ chức phiên thảo luận chuyên đề về đảm bảo quyền của các nhóm dễ bị tổn thương trong bối cảnh biến đổi khí hậu, đồng thời giới thiệu dự thảo Nghị quyết năm 2022 về biến đổi khí hậu và quyền con người, tập trung vào quyền lương thực và biến đổi khí hậu. Đó chỉ là hai trong rất nhiều hoạt động quốc tế mà Việt Nam đã, đang và sẽ tiếp tục tham gia, thể hiện rõ nét Việt Nam là một đối tác tích cực, có trách nhiệm với các vấn đề chung của cộng đồng quốc tế.

Cũng trong dịp Quốc khánh này, các nước đã chúc mừng, đánh giá cao thành tựu, vị thế của Việt Nam. Tổng Thư ký Liên hợp quốc Antonio Guterres khẳng định, Việt Nam là nhân tố quan trọng đóng góp vào hòa bình, ổn định trong khu vực. Theo người đứng đầu Liên hợp quốc, “Việt Nam cho thấy những cam kết mạnh mẽ của một quốc gia luôn tích cực nỗ lực xây dựng lòng tin và đối thoại, làm cầu nối tìm kiếm giải pháp hòa bình cho các cuộc xung đột trên thế giới”. Đánh giá của Tổng Thư ký Liên hợp quốc phản ánh sự tin tưởng, kỳ vọng vào những đóng góp trách nhiệm của Việt Nam đối với hòa bình, an ninh khu vực và quốc tế, đồng thời cũng cho thấy vai trò và vị thế quốc tế ngày càng cao của Việt Nam.

Việc Việt Nam hoàn thành tốt nhiệm kỳ ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc 2020-2021 là một trong những minh chứng điển hình. Việt Nam được đánh giá đã thể hiện vai trò chủ động, cân bằng, trách nhiệm khi đưa ra những đề xuất, đóng góp thiết thực vào hoạt động của Hội đồng Bảo an, chung tay giải quyết những thách thức toàn cầu. Nổi bật là việc khi đại dịch COVID-19 bùng phát và lây lan trên toàn cầu, Việt Nam chủ trì đề xuất, thương lượng và thúc đẩy để Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua Nghị quyết thành lập Ngày Quốc tế phòng, chống dịch bệnh vào 27/12 hằng năm; cùng với Đức khởi xướng và trở thành nước sáng lập Nhóm Bạn bè của Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS) năm 1982, ra mắt cuối tháng 6/2021. Tại buổi lễ kỷ niệm 1 năm ngày thành lập Nhóm diễn ra ở New York tháng 6 vừa qua, đại diện nhiều nước đã hoan nghênh sáng kiến của Việt Nam cũng như các nước đồng sáng lập nhóm, góp phần đề ra cam kết của đông đảo thành viên Liên hợp quốc, các nước thành viên UNCLOS đối với Công ước vốn lâu nay được coi là “Hiến pháp của đại dương”.

Từ tháng 6/2014 đến tháng 8/2022, có 512 lượt sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp Việt Nam được cử đi làm nhiệm vụ ở phái bộ Nam Sudan, Cộng hòa Trung Phi, khu vực Abyei… Phó Tổng Thư ký Liên hợp quốc phụ trách các hoạt động hòa bình Jean-Pierre Lacroix đã cảm ơn Việt Nam về sự ủng hộ mạnh mẽ cũng như những đóng góp tích cực đối với các hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc. Ông Lacroix đánh giá cao tính chuyên nghiệp, sự tận tụy, nỗ lực, hy sinh của các binh sĩ Việt Nam khi phải thực hiện nhiệm vụ trong những môi trường khó khăn; đặc biệt bệnh viện dã chiến cấp 2 của Việt Nam tại Nam Sudan đã đóng vai trò quan trọng trong thành công chung của phái bộ Liên hợp quốc tại quốc gia châu Phi này.

Chính sự sẵn sàng và tinh thần trách nhiệm khi tham gia đóng góp vào công việc chung của cộng đồng quốc tế đã giúp Việt Nam tạo dựng được lòng tin, liên tiếp được bầu vào nhiều tổ chức đa phương quan trọng như Hội đồng Chấp hành của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO), Hội đồng Khai thác bưu chính của Liên minh Bưu chính thế giới (UPU), Ủy ban Luật pháp quốc tế (ILC)… Đây cũng là động lực để Việt Nam ứng cử làm thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023-2025, đại diện cho khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Điều này cũng thể hiện sự tự tin của Việt Nam trong việc gánh vác các trọng trách của quốc tế.

Tại khu vực, Việt Nam ngày càng khẳng định là một thành viên chủ động, tích cực, có trách nhiệm, đóng góp hết mình vì sự phát triển của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN). (ST)


TỪ “BỆNH KIÊU NGẠO CỘNG SẢN” ĐẾN “TỰ DIỄN BIẾN”, “TỰ CHUYỂN HÓA” CẦN BÀI TRỪ TRONG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN

V.I.Lênin đã để lại một tư tưởng cực kỳ quan trọng về vấn đề tự bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Người viết: “Không ai có thể tiêu diệt được chúng ta, ngoài những sai lầm của bản thân chúng ta”. Theo V.I.Lênin, đó chính là những sai lầm và bệnh kiêu ngạo cộng sản sẽ làm cho chính người cộng sản khó tránh khỏi thất bại.

Chủ nghĩa xã hội, về bản chất là một xã hội vô cùng cao đẹp, nhưng không phải mọi xã hội tốt đẹp đều tự nhiên có thể đứng vững trước những sóng gió của cả một thế giới cũ. Chủ nghĩa xã hội phải chứng minh được trên một thực tế với bản chất ưu viết ấy, chứng minh được trên thực tế đó là một xã hội đáp ứng được thực tế những đòi hỏi của một xã hội hiện đại, một xã hội có tương lai. Đây là một công việc vô cùng khó khăn, đòi hỏi sự kiểm nghiệm nghiêm ngặt của thực tiễn, chứ không phải trên lý thuyết.

Những yếu tố cấu thành sức mạnh, thành bản chất của chủ nghĩa xã hội phải tự nó có sức đề kháng, tự nó phải có sức mạnh bảo vệ mình và tự tạo nên sức mạnh của Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Cốt lõi nhất đó là Đảng Cộng sản - sự vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức; là nền kinh tế; sự ổn định xã hội, văn hóa, quốc phòng… Sự xa rời những nguyên lý xây dựng quốc đội kiểu mới của V.I.Lênin về chế độ chính ủy, chính trị viên; sự trì trệ, giáo điều về chính sách kinh tế - xã hội, bệnh quan liêu mà V.I.Lênin đã cảnh báo; sự sai lầm trong đường lối, chính sách cải tổ,… là nguyên nhân bên trong dẫn đến sự sụp đổ của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu.

Bởi những sai lầm ấy tích tụ dần dần, làm cho cơ thể xã hội chủ nghĩa yếu dần, những mầm mống ung thư xuất hiện và lớn dần, không được chạy chữa, giải phẫu kịp thời, đến một lúc quá lớn đã di căn thì sự thất bại là điều khó có thể tránh khỏi, đó còn là chủ quan sai lầm của đội ngũ cán bộ đảng viên

Chủ nghĩa xã hội hiện thực đã đứng trước những đòn tấn công quân sự vô sùng khắc nghiệt của đủ mọi loại kẻ thù nguy hiểm nhất: các nước đế quốc tấn công nước Nga Xôviết non trẻ sau Cách mạng Tháng Mười; chủ nghĩa phát xít chống Liên Xô trong Chiến tranh thế giới thứ hai; thực dân Pháp, đế quốc Mỹ xâm lược Việt Nam… Tất cả những đòn tấn công quân sự, vũ trang với các nước xã hội chủ nghĩa đều thất bại.

Tưởng rằng, chủ nghĩa xã hội là vô địch, không ai có thể phá vỡ nổi. Phải chăng tư tưởng chủ quan ấy đã dẫn đến tự chủ quan trong tự bảo vệ. Và cái giá quá đắt cho nó là sự tan vỡ của Liên Xô của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu trước đòn tấn công phi quân sự, phi vũ trang của đế quốc dưới tên gọi là là chiến lược “diễn biến hòa bình”.

“Tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ là sự suy thoái từ bên trong; là quá trình tự biến đổi về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên theo chiều hướng tiêu cực, làm mất dần các chuẩn mực của người cộng sản, dẫn đến xa rời những nguyên tắc, quan điểm mácxít; suy giảm nghiêm trọng niềm tin vào chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Đến khi những yếu tố cách mạng, tích cực bị phai nhạt, triệt tiêu, tư tưởng phi xã hội chủ nghĩa tăng dần, thắng thế, lúc đó sẽ dẫn đến sự “tự chuyển hoá” cán bộ, đảng viên từ người tốt trở thành phần tử chống đối Đảng, Nhà nước. “Tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” sẽ gây ra tình trạng mất đoàn kết trong nội bộ các cơ quan, tổ chức; một bộ phận trong đội ngũ trí thức, luật sư, báo chí, văn nghệ sĩ bộc lộ tư tưởng muốn thoát ly khỏi sự lãnh đạo của Đảng. Nếu không được ngăn chặn kịp thời, triệt để sẽ dẫn đến tổ chức bị suy thoái, tự tan rã. Khi “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” diễn ra ở tầm vĩ mô sẽ dẫn đến sự chuyển hoá từ chế độ xã hội chủ nghĩa sang chế độ tư bản chủ nghĩa.

“Bệnh kiêu ngạo cộng sản” và “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đều là những căn bệnh cố hữu có nguồn gốc từ người đảng viên, nó có thể bộc lộ bất cứ ở đâu. Vì vậy, cần phải tu dưỡng, rèn luyện bản thân vì mục tiêu, lý tưởng của Đảng, vì hạnh phúc của nhân dân, người đảng viên phải lắng nghe và giúp đỡ nhân dân, thực hiện “thắng không kiêu, bại không nản”, “lửa thử vàng, gian nan thử sức”./.


Thứ Hai, 4 tháng 9, 2023

LẠI LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC CHỐNG PHÁ ĐẢNG

Vừa qua, trên các trang mạng xã hội xuất hiện một số bài viết của bọn cơ hội, phản động với nội dung: không ai muốn sống ở Việt Nam và những kẻ lắm tiền nhiều của là thành phần cán bộ có chức, có quyền đã tìm mọi cách đem gia đình chạy khỏi Việt Nam sau khi đã vơ vét đầy túi,…thực chất đây là nội dung tuyên truyền, phản động, nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, xuyên tạc, vu cáo, bôi nhọ và phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam để thực hiện âm mưu diễn biến từ bên trong, làm mất niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, từ đó dẫn tới tự sụp đỗ. Vì thế, cần phải tỉnh táo, cảnh giác, không để bị chúng lừa bịp, lôi kéo.


KHÔNG THỂ XUYÊN TẠC THÀNH QUẢ VÀ Ý NGHĨA CỦA CÁCH MẠNG THÁNG TÁM VÀ QUỐC KHÁNH 2/9

Hằng năm, vào dịp kỷ niệm Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2/9, các phần tử xấu luôn tìm mọi cách xuyên tạc lịch sử, bôi nhọ thành quả và ý nghĩa của sự kiện trọng đại này nhằm hạ thấp uy tín, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh

Lịch sử đã chứng minh, trước năm 1945, Nhân dân ta phải chịu cảnh nước mất nhà tan, “một cổ hai tròng”, đói rách lầm than, oằn lưng đối mặt với sưu cao, thuế nặng dưới ách đô hộ của thực dân Pháp xâm lược và phong kiến. Ngày 09/3/1945, Nhật đảo chính lật đổ Pháp trên toàn cõi Đông Dương và thay Pháp bóc lột Nhân dân Việt Nam. Các phong trào cách mạng do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo như Xô Viết Nghệ Tĩnh 1930 - 1931 và cuộc vận động dân chủ 1936 – 1939 đã cho thấy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, nhất tề đứng lên đập tan bộ máy của giai cấp thống trị, giành chính quyền về tay Nhân dân.

Mùa thu năm 1945, hưởng ứng lời kêu gọi của Việt Minh và lời hiệu triệu của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết; thành công, thành công, đại thành công”, Nhân dân cả nước từ nông thôn đến thành thị, từ Bắc đến Nam, từ miền xuôi đến miền ngược, không phân biệt già trẻ, gái trai, giai cấp, dân tộc, tôn giáo… đồng lòng đứng lên tổng khởi nghĩa và giành thắng lợi hoàn toàn, chính quyền trong cả nước về tay nhân dân tạo nên Cách mạng tháng Tám lịch sử của dân tộc.

Ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình (Hà Nội), Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời trịnh trọng đọc bản Tuyên ngôn độc lập tuyên bố trước quốc dân và thế giới khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam). Từ đó, ngày 2/9 là Ngày Quốc khánh của nước ta.

Sau hai sự kiện trọng đại trên, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đất nước ta ngày nay đã đạt được nhiều thành tựu to lớn trên các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh… Từ một quốc gia kém phát triển, Việt Nam trở thành nước đang phát triển, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Đời sống của Nhân dân ngày càng được cải thiện tích cực. Dân chủ xã hội chủ nghĩa được phát huy và ngày càng mở rộng. Đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố và tăng cường. Công tác xây dựng Đảng, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và hệ thống chính trị được đẩy mạnh. Quan hệ đối ngoại ngày càng mở rộng và đi vào chiều sâu; vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao.

Tuy nhiên, trước những thành tựu của đất nước, các thế lực thù địch, tổ chức phản động và đối tượng chống đối trắng trợn xuyên tạc rằng: Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công không phải là do sự lãnh đạo tài tình của Đảng Cộng sản Việt Nam, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, không phải là sức mạnh đoàn kết của toàn dân tộc đứng lên làm cách mạng; dù không có Đảng Cộng sản, nhiều thuộc địa vẫn giành được độc lập mà ít tốn xương máu. Sự hao tổn xương máu là do Đảng Cộng sản Việt Nam gây ra. Thậm chí, có kẻ còn trắng trợn “kết tội” rằng: thành quả Cách mạng tháng Tám nhanh chóng rơi vào tay Đảng Cộng sản và đây là nguyên nhân khiến dân tộc Việt Nam rơi vào “thảm họa” chiến tranh, đất nước bị tàn phá, dân tộc phân ly và ngày nay tiếp tục tình trạng nghèo đói, lạc hậu; “nếu không đi theo con đường cách mạng vô sản, Việt Nam vẫn có độc lập mà tránh được chiến tranh, đi theo con đường của nước tư bản phát triển tới phồn vinh”...

Thế nhưng, hơn ai hết, Nhân dân Việt Nam là người hiểu rõ và thấu đáo nhất giá trị, ý nghĩa lịch sử của Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2/9; đó là thắng lợi của Chủ nghĩa Mác - Lênin được vận dụng sáng tạo vào hoàn cảnh Việt Nam, là một điển hình về nghệ thuật quy tụ sức mạnh đại đoàn kết toàn dân đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Công sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh; phát huy cao độ tinh thần, trí tuệ và truyền thống văn hoá Việt Nam; đó là sự đồng lòng, nhất trí của các tầng lớp nhân dân Việt Nam quyết “phá xiềng xích cướp chính quyền”, thoát khỏi ách nô lệ. Thắng lợi đó đã cổ vũ mạnh mẽ tinh thần đấu tranh của Nhân dân các nước thuộc địa và nửa thuộc địa trên thế giới, đặc biệt là Nhân dân châu Á và châu Phi. Từ thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945, lịch sử dân tộc đã sang trang mới, chấm dứt ách áp bức nô lệ của chủ nghĩa thực dân, phong kiến; thực sự làm chủ vận mệnh đất nước và chính bản thân mình; dân tộc Việt Nam sánh vai cùng các dân tộc trên thế giới với tư cách là dân tộc đi tiên phong trong đấu tranh cách mạng.

Có thể khẳng định, Cách mạng tháng Tám thành công do Đảng Cộng sản Việt Nam, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sáng suốt lựa chọn con đường giải phóng dân tộc đúng đắn, có sự chuẩn bị kỹ càng, phát huy được sức mạnh tổng hợp của khối đại đoàn kết toàn dân tộc và quan trọng là dự đoán thời cơ chính xác, chớp thời cơ kịp thời để phát động tổng khởi nghĩa. Nếu điều kiện chín muồi đến mà không nắm lấy thời cơ, chần chừ, chờ đợi địch đầu hàng, trao quyền độc lập thì dân tộc Việt Nam sẽ còn tiếp tục chịu sự thống trị, áp bức của đế quốc, thực dân. Chính vì vậy, đó không phải là “sự ăn may” như những luận điệu bịa đặt, xuyên tạc. Hơn thế nữa, nếu không có Cách mạng tháng Tám, không có sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam thì đất nước không thể có cơ đồ, tiềm lực, vị thế, uy tín như hiện nay.

Trải qua 78 năm, tầm vóc, ý nghĩa lịch sử của Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2/9 vẫn còn nguyên giá trị và tiếp tục tỏa sáng trong sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta. Đó là cuộc hồi sinh vĩ đại của dân tộc, mở ra một thời kỳ phát triển rực rỡ của đất nước với những chiến công oanh liệt như chiến thắng Điện Biên Phủ, đại thắng mùa xuân năm 1975, với những thành tựu có tính lịch sử của công cuộc đổi mới, xây dựng và phát triển đất nước như ngày hôm nay. Những thành tựu to lớn trên chính là minh chứng sinh động nhất, thuyết phục nhất mà không luận điệu nào có thể xuyên tạc, phủ nhận giá trị lịch sử của Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2/9. Tự hào về lịch sử hào hùng của dân tộc, mỗi chúng ta phải luôn nêu cao cảnh giác, kiên quyết, kiên trì đấu tranh, phê phán, phản bác mọi luận điệu sai trái xuyên tạc sự thật lịch sử, phủ nhận thành quả cách mạng của đất nước ta. (ST)


ĐẰNG SAU LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC VỀ CÁCH MẠNG THÁNG TÁM VÀ QUỐC KHÁNH 2/9

Trong khi cả nước đang náo nức hướng tới kỷ niệm 78 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9 thì một số trang mạng của các thế lực thù địch, phản động đang cố gắng xuyên tạc, bóp méo tính chất và ý nghĩa của các sự kiện lịch sử này. Trong đó có những luận điệu hết sức hoang đường và thâm hiểm là: Thứ nhất, ngày độc lập cho Việt Nam là ngày 11-3-1945, khi Bảo Đại ký đạo dụ tuyên bố hủy bỏ Hòa ước Giáp Thân (hay còn gọi là Hòa ước Patenôtre) ký với Pháp năm 1884. Thứ hai, không cần phải tiến hành Cách mạng Tháng Tám để giành độc lập cho đất nước vì lúc ấy đã có “chính thể” Bảo Đại-Trần Trọng Kim, chỉ còn chờ được các nước công nhận nền độc lập. Cũng do đó, Cách mạng Tháng Tám thực chất là Việt Minh giành chính quyền từ Bảo Đại-Trần Trọng Kim. Thứ ba, Cách mạng Tháng Tám thành công nhờ may mắn từ hoàn cảnh lịch sử. Những luận điệu trên sai trái ở những điểm nào?

Thứ nhất, có thể thấy sự kiện ngày 11-3-1945 khi Bảo Đại ký đạo dụ tuyên bố hủy bỏ Hòa ước Giáp Thân ký với Pháp năm 1884 chỉ diễn ra sau sự kiện đêm 9-3-1945 “Nhật đảo chính Pháp” trên toàn cõi Đông Dương. 

Sau khi hất cẳng thực dân Pháp, vấn đề quan trọng nhất đối với quân Nhật là phải lập ra được một bộ máy cai trị tay sai bản xứ để duy trì trật tự và ổn định. Vì thế, "chính phủ" Trần Trọng Kim được ra đời dưới sự bảo hộ của phát xít Nhật. Phát xít Nhật đã chọn hai quân bài để phục vụ mục đích của mình bao gồm: Bảo Đại làm vua, còn Trần Trọng Kim là thủ tướng dưới một hình thái tổ chức chính quyền kiểu quân chủ lập hiến. Nhất cử nhất động của “chính phủ” Trần Trọng Kim đều phải xin phép và phải được sự đồng ý của Nhật. Danh sách nội các mà Trần Trọng Kim trình với Bảo Đại cũng phải được sự chấp thuận của Đại sứ Nhật Bản tại Huế là Masayuki Yokoyama. Đạo dụ ngày 11-3-1945 của Bảo Đại thực chất là một văn bản dưới sức ép của phát xít Nhật nhằm chối bỏ sự đô hộ của thực dân Pháp đối với Việt Nam, đồng thời đặt Việt Nam nằm trong vòng kiềm tỏa của nước Nhật. Mang danh nghĩa là vua, nhưng không có thực quyền nên trong Tuyên ngôn thoái vị ngày 25-8-1945 trước Ngọ Môn, Bảo Đại đã thốt lên rằng: “Trong hai mươi năm ở ngôi, trẫm đã trải qua bao nhiêu cay đắng. Trẫm muốn được làm dân một nước tự do, hơn làm vua một nước bị trị. Từ nay trẫm lấy làm sung sướng được là dân tự do, trong một nước độc lập”.

Sau này, trong hồi ký “Một cơn gió bụi”, ông Trần Trọng Kim cũng cay đắng chỉ ra bản chất và thâm ý của phát xít Nhật: "Nhật Bản trước vốn là một nước đồng văn đồng hóa ở Á Đông, nhưng về sau đã theo Âu hóa, dùng những phương pháp quỷ quyệt để mở rộng chủ nghĩa đế quốc của họ, trước đã thôn tính Cao Ly và Mãn Châu, sau lại muốn xâm lược nước Tàu và các nước khác ở Á Đông đã bị người Âu châu chiếm giữ. Người Nhật tuy dùng khẩu hiệu "đồng minh cộng nhục" và lấy danh nghĩa "giải phóng các dân tộc bị hà hiếp" nhưng thâm ý là muốn thu hết quyền lợi về mình.”

Thứ hai,  cũng chính bởi vậy, mặc dù từ ngày 17-4 đến 23-8-1945, tại Việt Nam có một chính thể do người Việt Nam đứng đầu nhưng chính thể ấy do phát xít Nhật lập ra, đất nước Việt Nam, dân tộc Việt Nam vẫn hoàn toàn chưa có độc lập, tự do. Thực chất mọi quyền hành tại Việt Nam thời gian đó đều trong tay phát xít Nhật. Vì thế, Cách mạng Tháng Tám là cuộc cách mạng của toàn thể dân tộc ta, nhân dân ta giành chính quyền từ tay phát xít Nhật. Trong Tuyên ngôn Độc lập ngày 2-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã công bố rõ điều này: “Sự thật là từ mùa thu năm 1940, nước ta đã thành thuộc địa của Nhật, chứ không phải thuộc địa của Pháp nữa. Khi Nhật hàng Đồng minh thì nhân dân cả nước ta đã nổi dậy giành chính quyền lập nên nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Sự thật là dân ta đã lấy lại nước Việt Nam từ tay Nhật, chứ không phải từ tay Pháp”. Có thể khẳng định, chính thể Bảo Đại-Trần Trọng Kim chỉ là con bài trong tay Nhật. Vì thế, không thể nói rằng Cách mạng Tháng Tám là cuộc cách mạng mà Việt Minh giành chính quyền từ Bảo Đại-Trần Trọng Kim.

Luận điệu cho rằng, chính thể Bảo Đại-Trần Trọng Kim chỉ chờ được các nước công nhận thì Việt Nam sẽ được độc lập cũng hết sức nực cười. Thực tế lịch sử đã chỉ ra rằng, quân đội Đồng minh bao gồm quân Tàu- Tưởng, liên quân Anh-Pháp khi vào giải giáp quân Nhật tại Việt Nam đều có mưu đồ muốn áp đặt sự thống trị của họ đối với đất nước ta. Do đó, từ vĩ tuyến 16 trở vào Nam, chỉ ngay khi vừa đổ bộ vào Sài Gòn, liên quân Anh- Pháp đã tấn công chính quyền và lực lượng vũ trang của ta để tái chiếm Nam Bộ. Còn từ vĩ tuyến 16 ra Bắc, quân Tàu-Tưởng có âm mưu lật đổ chính quyền của ta, đưa bọn phản động thân Tàu-Tưởng lên nắm quyền. 

Thực tế lịch sử đất nước ta đã cho thấy:  tất cả những người trông mong vào sự trợ giúp của ngoại bang để giành chính quyền, giành độc lập, tự do cho dân tộc đều bị thất bại. Hiểu rõ được điều ấy, trong Thư kêu gọi Tổng khởi nghĩa tháng 8-1945, lãnh tụ Hồ Chí Minh kêu gọi: “Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”. “Đem sức ta mà tự giải phóng cho ta” đã trở thành chân lý mang lại thành công cho các cuộc cách mạng của Việt Nam.

Thứ ba, một số kẻ cho rằng: “Cách mạng Tháng Tám thành công nhờ may mắn từ hoàn cảnh lịch sử”, rõ ràng là có dã tâm muốn hạ thấp giá trị cuộc cách mạng của toàn thể dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng. 

Điều mà ai cũng nhận thấy là hoàn cảnh lịch sử thời điểm tháng 8- 1945 đã tạo ra thời cơ vàng để dân tộc Việt Nam đứng lên làm một cuộc cách mạng giành độc lập, tự do. Lúc ấy, phát xít Nhật đã bại trận hoàn toàn, Nhật hoàng tuyên bố đầu hàng Đồng minh vào ngày 15-8-1945. Quân Nhật tại Việt Nam đã rệu rã về tinh thần, chờ quân Đồng minh vào giải giáp. Các lực lượng Đồng minh như quân Tàu-Tưởng, liên quân Anh-Pháp chưa vào đến nước ta. 

Nhưng nếu chỉ có thời điểm thuận lợi thì chưa thể tạo nên cuộc cách mạng thành công. Độc lập, tự do không phải là món quà bỗng dưng từ trên trời rơi xuống. Trong Thư kêu gọi Tổng khởi nghĩa, lãnh tụ Hồ Chí Minh đã khẳng định điều này: “Không phải Nhật bại mà bỗng nhiên ta được giải phóng, tự do…”. 

Cách mạng Tháng Tám thành công vì đó là kết tinh của nghệ thuật chuẩn bị lực lượng, xác định đúng thời cơ và chớp thời cơ. Cách mạng Tháng Tám thành công, ít phải đổ máu là do các nhà lãnh đạo cách mạng Việt Nam đã luôn trên thế chủ động chiến lược.

Để có một cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền thành công trên cả nước trong mùa thu Tháng Tám năm 1945, Đảng ta đã lãnh đạo nhân dân ta 15 năm, qua 3 cao trào cách mạng 1930-1931, 1936-1939 và 1939-1945 với những giai đoạn thử thách vô cùng khốc liệt, gian khổ. Đảng đã trưởng thành về tổ chức và lý luận, nhận được sự ủng hộ của nhân dân cả nước, tập hợp sức mạnh đoàn kết toàn dân trong một mặt trận dân tộc thống nhất gọi là Việt Minh. Ở tất cả các địa phương trên cả nước, Việt Minh đều có cán bộ, có cơ sở bám nắm nhân dân, vận động nhân dân. Nhờ đó, khi có kêu gọi Tổng khởi nghĩa, ngay lập tức hàng triệu người dân cả nước đều nhất tề đứng lên giành chính quyền.

Việc nhận định đúng thời cơ và chớp được thời cơ đòi hỏi những nhà lãnh đạo Cách mạng phải có một trí tuệ và tầm nhìn lớn. Từ giữa năm 1944, khi ở châu Âu, Hồng quân Liên Xô chuyển sang phản công thắng lợi trên nhiều mặt trận, không khí chuẩn bị khởi nghĩa sục sôi ở khắp nơi trên đất nước ta. Nhân dân vùng Cao-Bắc-Lạng sẵn sàng khởi nghĩa. Thế nhưng, cuối tháng 10-1944, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc từ Trung Quốc trở về Hà Quảng, Cao Bằng chỉ thị hoãn cuộc khởi nghĩa Cao-Bắc-Lạng. Người nói: “Thời kỳ cách mạng hòa bình phát triển đã qua, nhưng thời kỳ toàn dân khởi nghĩa chưa tới”. Đồng thời, Người chỉ thị thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân-tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam-để vừa tuyên truyền cách mạng, vừa sẵn sàng lực lượng quân sự hỗ trợ phong trào nổi dậy của nhân dân trong Tổng khởi nghĩa khi thời cơ đến. 

Hoãn khởi nghĩa lúc chưa đúng thời điểm, nhưng khi thấy thời cơ cho Tổng khởi nghĩa đã chín muồi, các nhà lãnh đạo cách mạng của ta thể hiện quyết tâm sắt đá lãnh đạo nhân dân đứng lên giành độc lập. Đó là vào cuối tháng 7-1945, Bác Hồ nói với đồng chí Võ Nguyên Giáp: “Lúc này thời cơ thuận lợi đã tới, dù hy sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập”.

Trong bài viết của mình rút ra những bài học kinh nghiệm từ thành công của Cách mạng Tháng Tám, Giáo sư Văn Tạo, Nguyên viện trưởng Viện Sử học (thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam) cho rằng: “Phương châm chiến lược kết hợp chặt chẽ đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang, nắm đúng thời cơ để nổi dậy đã góp phần quyết định vào việc giành được chính quyền ít phải đổ máu. Nếu cuộc khởi nghĩa nổ ra sớm hơn, sẽ bị bọn phát-xít Nhật dập tắt; nếu nổ ra muộn hơn - khi quân Đồng minh, trong đó có Anh, Pháp và Tàu-Tưởng vào, thì cũng gặp khó khăn. Việc Chính phủ cách mạng lâm thời Việt Nam nhân danh là người đứng về phía Đồng Minh chống phát-xít giành được quyền độc lập, đã nói lên tài vận dụng chiến lược của cách mạng Việt Nam.”

78 năm đã qua, thời gian càng lùi xa càng có sự chiêm nghiệm, càng có thêm nhiều thông tin thì càng thấy được ý nghĩa vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9 đối với đất nước Việt Nam, dân tộc Việt Nam. Nó đã đập tan xiềng xích của thực dân, đế quốc, lập nên nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, đưa nhân dân Việt Nam từ thân phận nô lệ thành người dân một nước độc lập, làm chủ vận mệnh của mình. Cách mạng Tháng Tám mở ra kỷ nguyên mới của dân tộc là kỷ nguyên đấu tranh vì độc lập, thống nhất, xây dựng đất nước hùng cường, nhân dân ấm no, hạnh phúc. Không chỉ vậy, cuộc cách mạng giành độc lập, tự do của dân tộc ta đã trở thành một biểu tượng, một bài học kinh nghiệm quý giá, một sự khích lệ to lớn cổ vũ phong trào giải phóng dân tộc của nhân dân các nước thuộc địa. Ngày nay, đi tới bất cứ nơi đâu trên thế giới, người Việt Nam luôn được ngưỡng mộ vì là người dân của một đất nước anh hùng.

Các luận điệu cố gắng bôi nhọ những sự kiện lịch sử trọng đại đã trở thành niềm tự hào của đất nước, của dân tộc như Cách mạng Tháng Tám, Quốc khánh 2-9, Ngày Giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước… đều là từ các thế lực thù địch, những kẻ cơ hội chính trị. Họ cố tình ngụy tạo thông tin, đưa ra các thông tin sai lệch, quan điểm sai trái để hòng phủ bóng đen lên con đường mà đất nước ta, dân tộc ta đã lựa chọn dưới sự lãnh đạo của Đảng. Tuy nhiên, sự thật lịch sử đã phơi bày sự vô lương tâm của họ, thực tế cuộc sống ấm no, hạnh phúc ngày hôm nay đã cho thấy sự trơ tráo của họ. Dù trước mắt còn không ít thử thách nhưng đất nước ta, dân tộc ta đang tiến bước để trở thành một đất nước phát triển, hội nhập với thế giới.

Xuyên tạc, bóp méo, bôi nhọ, hạ thấp Cách mạng Tháng Tám, Quốc khánh 2-9 của Việt Nam cũng có nghĩa là chà đạp lên khát vọng của dân tộc, chà đạp lên xương máu của biết bao thế hệ người Việt Nam đã ngã xuống vì độc lập, tự do, thống nhất của Tổ quốc. Những luận điệu lạc lõng đang bơi ngược dòng sự thật ấy chắc chắn sẽ bị nhấn chìm.