Hiển thị các bài đăng có nhãn đảng viên. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn đảng viên. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 19 tháng 2, 2024

Ý THỨC CẢNH GIÁC CÁCH MẠNG, TINH THẦN TRÁCH NHIỆM CỦA ĐỘI NGŨ CÁN BỘ ĐẢNG VIÊN CÓ VAI TRÒ QUAN TRỌNG TRONG ĐẤU TRANH PHẢN BÁC CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH

 Thực tiễn cho thấy, cuộc đấu tranh chống lại kẻ thù giai cấp và dân tộc trên mặt trận tư tưởng- chính trị và cả ngay trong nội bộ Đảng diễn ra hết sức quyết liệt và phức tạp, nhạy cảm, nhất là trong bối cảnh hiện nay. Cuộc đấu tranh để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ hệ tư tưởng - lý luận, quan điểm, đường lối của Đảng luôn gắn liền với việc bảo vệ các giá trị lợi ích chân chính của quốc gia, dân tộc. Trong lịch sử cũng như hiện tại, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị không bao giờ từ bỏ cuộc đấu tranh tư tưởng chống lại cách mạng Việt Nam với những thủ đoạn, phương thức, hình thức rất tinh vi xảo quyệt, lúc công khai trắng trợn, lúc ngấm ngầm, âm thầm, thậm chí cũng được che đậy dưới nhiều hình thức, núp dưới những vỏ bọc, danh nghĩa, chiêu bài tinh vi. Vì vậy, phải luôn nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng, ý thức trách nhiệm chính trị, bản lĩnh và lập trường giai cấp; kiên định cuộc đấu tranh, gắn việc bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác -Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện mới. Kịp thời phát hiện và khắc phục những yếu kém, lạc hậu trong công tác tư tưởng- lý luận. Đây là đòi hỏi khách quan, là yêu cầu đặt ra đối với mọi tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ đảng viên của Đảng.

Trên mặt trận tư tưởng - chính trị, các thế lực thù địch, phản động thường xuyên tổ chức những đợt tấn công với quy mô lớn, cường độ cao, có tổ chức chặt chẽ, câu kết trong ngoài nhằm chống phá công cuộc đổi mới, xây dựng đất nước hòng thực ý đồ chuyển hóa chế độ chính trị, tác động thay đổi tư tưởng, tâm lý, làm biến chất đội ngũ cán bộ, đảng viên trở thành “lực lượng chính trị đối lập ở bên trong”, làm ngòi nổ lật đổ, xóa bỏ chế xã hội chủ nghĩa Việt Nam…Do đó, đấu tranh chống quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng phải gắn liền với việc không ngừng mở rộng dân chủ trong Đảng, trong xã hội, đề cao trách nhiệm và phát huy vai trò của các tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể nhân dân trong cuộc đấu tranh phê bình và tự phê bình, “tự soi, tự sửa” theo tinh thần của Nghị quyết Trung ương 4 các khóa XI và khóa XII để kịp thời phát hiện, ngăn chặn, đẩy lùi các biểu hiện suy thoái chính trị, tư tưởng, đạo đức lối sống trong nội bộ, hạn chế đến mức thấp những nhân tố bất ổn từ bên trong

Thứ Sáu, 5 tháng 1, 2024

BỒI DƯỠNG, NÂNG CAO TRÌNH ĐỘ CHUYÊN MÔN NGHIỆP VỤ CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN CHUYÊN TRÁCH TRONG ĐẤU TRANH PHẢN BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

Những cán bộ, đảng viên chuyên trách trong đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng phải là những người có trình độ chuyên sâu về lý luận, có bản lĩnh chính trị vững vàng, có khả năng lập luận, sâu chuỗi các vấn đề, am hiểu về công nghệ thông tin, trong đó tập trung vào đội ngũ cán bộ là báo cáo viên, biên tập viên hiện công tác trong hệ thống các cơ quan thông tin đại chúng, trong đó có các cơ quan báo chí, truyền thông.

Vấn đề quan trọng mang tính chất quyết định đó là những cán bộ, đảng viên làm nhiệm vụ này phải là những người có nhiệt huyết, ý chí quyết tâm cao trong đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, phản bác các quan điểm sai trái của các thế lực thù địch. Định kỳ hằng tháng, hằng năm, các cơ quan có thẩm quyền cần tổ chức các lớp tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái cho đội ngũ cán bộ chuyên trách thực hiện nhiệm vụ này, trong đó chú trọng vào việc nâng cao kỹ năng xử lý các tình huống, kỹ năng tuyên truyền trong lĩnh vực an ninh tư tưởng, kỹ năng lập luận trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trước những luận điệu sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch.

Đồng thời, mỗi cán bộ, đảng viên cần chủ động nâng cao ý thức tự giác, kỷ luật khi tiếp xúc thông tin trên các trang mạng xã hội; nghiêm túc thực hiện điều lệ và quy định kỷ luật của Đảng, của tổ chức mà mình là thành viên, đồng thời thể hiện là công dân gương mẫu; luôn có ý thức nắm vững và chấp hành tốt các quy định về quyền thông tin, phạm vi thông tin theo quy định của Hiến pháp và Luật An ninh mạng./. 

PHÁT HUY VAI TRÒ, TRÁCH NHIỆM NÊU GƯƠNG CỦA CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN, NGƯỜI ĐỨNG ĐẦU TRONG CÔNG TÁC ĐẤU TRANH BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

Tự giác nêu gương để khẳng định vai trò lãnh đạo, tính tiền phong, gương mẫu, trên trước dưới sau, “đảng viên đi trước, làng nước theo sau” theo đúng tinh thần chỉ đạo Quy định số 101-QĐ/TW ngày 7-6-2012 của Ban Bí thư về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là lãnh đạo chủ chốt các cấp; Quy định số 55-QĐ/TW ngày 19-12-2016 của Bộ Chính trị về một số việc cần làm ngay để tăng cường vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên; Quy định số 08-QĐ/TW ngày 25-10-2018 của Ban Chấp hành Trung ương về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương. Lãnh đạo chủ chốt các cấp phải thể hiện tư tưởng vững vàng, quan điểm đúng đắn, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, hết lòng vì nước, vì dân, không ngừng học tập, tu dưỡng, rèn luyện, trau dồi đạo đức cách mạng, mẫu mực về nhân cách, lối sống, không tham nhũng, không bị chi phối bởi lợi ích nhóm, không để người nhà, người thân lợi dụng vị trí công tác để vụ lợi, luôn thực hiện nghiêm túc Quy định số 205-QĐ/TW ngày 23-9-2019 của Bộ Chính trị về kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ và chống chạy chức, chạy quyền. Nghiêm túc tự phê bình và phê bình, thấy đúng phải cương quyết bảo vệ, thấy sai phải quyết liệt đấu tranh..

Đổi mới nội dung, phương pháp, hình thức học tập, tuyên truyền về tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong cán bộ, đảng viên và nhân dân, nhất là cho thế hệ trẻ, cho cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài. Xây dựng và thực hiện các chuẩn mực văn hóa trong lãnh đạo, quản lý, khuyến khích sáng tác, quảng bá các tác phẩm văn học, nghệ thuật, báo chí về học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Đồng thời tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng hiệu quả việc nghiên cứu, vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đáp ứng sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Nâng cao bản lĩnh chính trị, năng lực tư duy lý luận, năng lực tổng kết chỉ đạo thực tiễn để giải quyết có hiệu quả những vấn đề đang đặt ra. Nâng cao tính chiến đấu, tính thuyết phục và hiệu quả trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, thường xuyên bồi dưỡng lý tưởng cách mạng, xây dựng đạo đức, lối sống theo tư tưởng, đạo đức phong cách Hồ Chí Minh cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là thế hệ trẻ./. 

Thứ Hai, 25 tháng 9, 2023

PHÁT HUY VAI TRÒ, TRÁCH NHIỆM CỦA ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN VÀ NHÂN DÂN TRONG BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng như hiện nay, dưới tác động tiêu cực của tình hình thế giới đến đời sống xã hội đất nước ta như: Xung đột Nga - Ukraine, dân tộc, sắc tộc, tôn giáo, chủ nghĩa dân tộc, dân túy, tự do mới, dịch bệnh… và những nảy sinh từ mặt trái của kinh tế thị trường đặt ra cho Đảng, Nhà nước ta nhiều vấn đề mới, hệ trọng cần phải giải quyết. Trong khi đó, các thế lực thù địch vẫn tăng cường liên kết với những phần tử cơ hội chính trị, không ngừng xuyên tạc, phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng. Chúng xuyên tạc giá trị, tính khoa học, cách mạng của học thuyết Mác - Lênin, nền tảng tư tưởng của Đảng về chủ nghĩa xã hội. Chúng xuyên tạc mục tiêu, lý tưởng con đường đi lên CNXH ở Việt Nam. Đồng thời, đưa ra các kiến nghị nhiều hình thức vào những dịp Đại hội Đảng, bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND các cấp... đòi đổi mới chính trị theo hình thức đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, thực chất là đòi xóa bỏ vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam. Chúng còn lợi dụng vào những khó khăn tồn tại, hạn chế, thiếu sót, sơ hở trong đời sống xã hội, nhất là các vấn đề y tế, giáo dục, giao thông vận tải, tài nguyên môi trường…, gây hoang mang, dao động trong quần chúng nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành của Nhà nước và chính quyền địa phương, thậm chí dẫn đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, suy thoái về tư tưởng chính trị trong chính đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng. Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII), Đảng cảnh báo: “Sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống dẫn tới “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” chỉ là một bước ngắn, thậm chí rất ngắn, nguy hiểm khôn lường, có thể dẫn tới tiếp tay hoặc câu kết với các thế lực xấu, thù địch, phản bội lại lý tưởng và sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc”[1].

Vì vậy, để đấu tranh, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, ngoài việc xác định đúng nội dung, phương thức đấu tranh, thì cần đặc biệt quan tâm đến đối tượng tham gia vào cuộc đấu tranh này mà chủ thể đầu tiên, trước hết và cốt lõi là Đảng Cộng sản Việt Nam, mà cụ thể là các cấp ủy, tổ chức đảng và đội ngũ đảng viên của Đảng.

Các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền từ Trung ương đến cơ sở cần phải phát huy vai trò lãnh đạo, chỉ đạo việc quán triệt cán bộ, đảng viên và nhân dân nhận thức sâu sắc và đầy đủ, kiên định và tuyệt đối trung thành với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Tiếp tục quán triệt, thực hiện nghiêm các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, Nhà nước, nhất là các nghị quyết về xây dựng Đảng. Cấp ủy các cấp phải nêu cao trách nhiệm trong lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý tư tưởng; chủ động nhận diện, làm rõ các luận điệu xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vai trò lãnh đạo của Đảng trong tình hình mới. Chủ động, kịp thời cung cấp các thông tin chính thống để định hướng dư luận; nâng cao khả năng “tự bảo vệ” của mỗi cán bộ, đảng viên viên và quần chúng trước những tác động và ảnh hưởng xấu từ bên ngoài, nhất là âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động.

Tăng cường tuyên truyền, giáo dục truyền thống yêu nước, lý tưởng cách mạng cho cán bộ, đảng viên và nhân dân, làm cho chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh giữ vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần của nhân dân ta. Thực hiện nghiêm túc và có hiệu quả Chỉ thị số 23-CT/TW ngày 9/2/2018, của Ban Bí thư (khóa XII) “Về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả học tập, nghiên cứu, vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình mới”, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn hiện nay. Chủ động, sáng tạo thông qua nhiều hình thức tuyên truyền phong phú, sáng tạo, giúp cán bộ, đảng viên và quần chúng hiểu và nắm vững hơn nữa bản chất khoa học, cách mạng, nhân văn của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; thấy rõ bản chất phản động của các thế lực thù địch, phản cách mạng. Chú trọng việc biểu dương, nêu gương các điển hình tiên tiến, các mô hình, tập thể, cá nhân tiêu biểu, có sức lan tỏa trong xã hội. Bảo đảm sự thống nhất về ý chí và hành động, sự đoàn kết trong Đảng.

Chúng ta cần tiếp tục hoàn thiện và thực hiện tốt hơn nữa các chính sách, pháp luật liên quan đến công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Điển hỉnh như việc và Nhà nước đã và đang hoàn thiện nền dân chủ XHCN, thực hiện tốt quy chế, pháp lệnh dân chủ ở cơ sở; quan tâm thực hiện đúng quyền con người theo các công ước quốc tế và Hiến pháp, pháp luật của Việt Nam. Quan tâm chăm lo, thực hiện tốt chính sách tôn giáo, dân tộc nhằm tăng cường sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng gắn liền với đoàn kết toàn dân tộc.

Mỗi đồng chí cán bộ, đảng viên cần nhận thức đúng đắn sự suy thoái của một bộ phận cán bộ, đảng viên trước hết là do bản thân các đồng chí đó thiếu tu dưỡng, rèn luyện, lập trường tư tưởng không vững vàng trước những tác động từ bên ngoài. Chỉ khi nhận thức đầy đủ về mục tiêu, lý tưởng của mình, hiểu được chân lý “Còn Đảng là còn mình” để từng bước khắc phục, đấu tranh với những biểu hiện phai nhạt lý tưởng cách mạng, xa rời tôn chỉ, mục đích của Đảng, lười học tập, sợ học lý luận, lười suy nghĩ, để bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng.



[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành Trung ương khóa XII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.23

Thứ Ba, 5 tháng 9, 2023

TỪ “BỆNH KIÊU NGẠO CỘNG SẢN” ĐẾN “TỰ DIỄN BIẾN”, “TỰ CHUYỂN HÓA” CẦN BÀI TRỪ TRONG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN

V.I.Lênin đã để lại một tư tưởng cực kỳ quan trọng về vấn đề tự bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Người viết: “Không ai có thể tiêu diệt được chúng ta, ngoài những sai lầm của bản thân chúng ta”. Theo V.I.Lênin, đó chính là những sai lầm và bệnh kiêu ngạo cộng sản sẽ làm cho chính người cộng sản khó tránh khỏi thất bại.

Chủ nghĩa xã hội, về bản chất là một xã hội vô cùng cao đẹp, nhưng không phải mọi xã hội tốt đẹp đều tự nhiên có thể đứng vững trước những sóng gió của cả một thế giới cũ. Chủ nghĩa xã hội phải chứng minh được trên một thực tế với bản chất ưu viết ấy, chứng minh được trên thực tế đó là một xã hội đáp ứng được thực tế những đòi hỏi của một xã hội hiện đại, một xã hội có tương lai. Đây là một công việc vô cùng khó khăn, đòi hỏi sự kiểm nghiệm nghiêm ngặt của thực tiễn, chứ không phải trên lý thuyết.

Những yếu tố cấu thành sức mạnh, thành bản chất của chủ nghĩa xã hội phải tự nó có sức đề kháng, tự nó phải có sức mạnh bảo vệ mình và tự tạo nên sức mạnh của Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Cốt lõi nhất đó là Đảng Cộng sản - sự vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức; là nền kinh tế; sự ổn định xã hội, văn hóa, quốc phòng… Sự xa rời những nguyên lý xây dựng quốc đội kiểu mới của V.I.Lênin về chế độ chính ủy, chính trị viên; sự trì trệ, giáo điều về chính sách kinh tế - xã hội, bệnh quan liêu mà V.I.Lênin đã cảnh báo; sự sai lầm trong đường lối, chính sách cải tổ,… là nguyên nhân bên trong dẫn đến sự sụp đổ của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu.

Bởi những sai lầm ấy tích tụ dần dần, làm cho cơ thể xã hội chủ nghĩa yếu dần, những mầm mống ung thư xuất hiện và lớn dần, không được chạy chữa, giải phẫu kịp thời, đến một lúc quá lớn đã di căn thì sự thất bại là điều khó có thể tránh khỏi, đó còn là chủ quan sai lầm của đội ngũ cán bộ đảng viên

Chủ nghĩa xã hội hiện thực đã đứng trước những đòn tấn công quân sự vô sùng khắc nghiệt của đủ mọi loại kẻ thù nguy hiểm nhất: các nước đế quốc tấn công nước Nga Xôviết non trẻ sau Cách mạng Tháng Mười; chủ nghĩa phát xít chống Liên Xô trong Chiến tranh thế giới thứ hai; thực dân Pháp, đế quốc Mỹ xâm lược Việt Nam… Tất cả những đòn tấn công quân sự, vũ trang với các nước xã hội chủ nghĩa đều thất bại.

Tưởng rằng, chủ nghĩa xã hội là vô địch, không ai có thể phá vỡ nổi. Phải chăng tư tưởng chủ quan ấy đã dẫn đến tự chủ quan trong tự bảo vệ. Và cái giá quá đắt cho nó là sự tan vỡ của Liên Xô của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu trước đòn tấn công phi quân sự, phi vũ trang của đế quốc dưới tên gọi là là chiến lược “diễn biến hòa bình”.

“Tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ là sự suy thoái từ bên trong; là quá trình tự biến đổi về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên theo chiều hướng tiêu cực, làm mất dần các chuẩn mực của người cộng sản, dẫn đến xa rời những nguyên tắc, quan điểm mácxít; suy giảm nghiêm trọng niềm tin vào chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Đến khi những yếu tố cách mạng, tích cực bị phai nhạt, triệt tiêu, tư tưởng phi xã hội chủ nghĩa tăng dần, thắng thế, lúc đó sẽ dẫn đến sự “tự chuyển hoá” cán bộ, đảng viên từ người tốt trở thành phần tử chống đối Đảng, Nhà nước. “Tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” sẽ gây ra tình trạng mất đoàn kết trong nội bộ các cơ quan, tổ chức; một bộ phận trong đội ngũ trí thức, luật sư, báo chí, văn nghệ sĩ bộc lộ tư tưởng muốn thoát ly khỏi sự lãnh đạo của Đảng. Nếu không được ngăn chặn kịp thời, triệt để sẽ dẫn đến tổ chức bị suy thoái, tự tan rã. Khi “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” diễn ra ở tầm vĩ mô sẽ dẫn đến sự chuyển hoá từ chế độ xã hội chủ nghĩa sang chế độ tư bản chủ nghĩa.

“Bệnh kiêu ngạo cộng sản” và “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đều là những căn bệnh cố hữu có nguồn gốc từ người đảng viên, nó có thể bộc lộ bất cứ ở đâu. Vì vậy, cần phải tu dưỡng, rèn luyện bản thân vì mục tiêu, lý tưởng của Đảng, vì hạnh phúc của nhân dân, người đảng viên phải lắng nghe và giúp đỡ nhân dân, thực hiện “thắng không kiêu, bại không nản”, “lửa thử vàng, gian nan thử sức”./.


Thứ Sáu, 18 tháng 8, 2023

TỪ “BỆNH KIÊU NGẠO CỘNG SẢN” ĐẾN “TỰ DIỄN BIẾN”, “TỰ CHUYỂN HÓA” CẦN BÀI TRỪ TRONG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN

    V.I.Lênin đã để lại một tư tưởng cực kỳ quan trọng về vấn đề tự bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Người viết: “Không ai có thể tiêu diệt được chúng ta, ngoài những sai lầm của bản thân chúng ta”. Theo V.I.Lênin, đó chính là những sai lầm và bệnh kiêu ngạo cộng sản sẽ làm cho chính người cộng sản khó tránh khỏi thất bại.

    Chủ nghĩa xã hội, về bản chất là một xã hội vô cùng cao đẹp, nhưng không phải mọi xã hội tốt đẹp đều tự nhiên có thể đứng vững trước những sóng gió của cả một thế giới cũ. Chủ nghĩa xã hội phải chứng minh được trên một thực tế với bản chất ưu viết ấy, chứng minh được trên thực tế đó là một xã hội đáp ứng được thực tế những đòi hỏi của một xã hội hiện đại, một xã hội có tương lai. Đây là một công việc vô cùng khó khăn, đòi hỏi sự kiểm nghiệm nghiêm ngặt của thực tiễn, chứ không phải trên lý thuyết.

    Những yếu tố cấu thành sức mạnh, thành bản chất của chủ nghĩa xã hội phải tự nó có sức đề kháng, tự nó phải có sức mạnh bảo vệ mình và tự tạo nên sức mạnh của Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Cốt lõi nhất đó là Đảng Cộng sản - sự vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức; là nền kinh tế; sự ổn định xã hội, văn hóa, quốc phòng… Sự xa rời những nguyên lý xây dựng quốc đội kiểu mới của V.I.Lênin về chế độ chính ủy, chính trị viên; sự trì trệ, giáo điều về chính sách kinh tế - xã hội, bệnh quan liêu mà V.I.Lênin đã cảnh báo; sự sai lầm trong đường lối, chính sách cải tổ,… là nguyên nhân bên trong dẫn đến sự sụp đổ của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu.

    Bởi những sai lầm ấy tích tụ dần dần, làm cho cơ thể xã hội chủ nghĩa yếu dần, những mầm mống ung thư xuất hiện và lớn dần, không được chạy chữa, giải phẫu kịp thời, đến một lúc quá lớn đã di căn thì sự thất bại là điều khó có thể tránh khỏi, đó còn là chủ quan sai lầm của đội ngũ cán bộ đảng viên

    Chủ nghĩa xã hội hiện thực đã đứng trước những đòn tấn công quân sự vô cùng khắc nghiệt của đủ mọi loại kẻ thù nguy hiểm nhất: các nước đế quốc tấn công nước Nga Xôviết non trẻ sau Cách mạng Tháng Mười; chủ nghĩa phát xít chống Liên Xô trong Chiến tranh thế giới thứ hai; thực dân Pháp, đế quốc Mỹ xâm lược Việt Nam… Tất cả những đòn tấn công quân sự, vũ trang với các nước xã hội chủ nghĩa đều thất bại.

    Tưởng rằng, chủ nghĩa xã hội là vô địch, không ai có thể phá vỡ nổi. Phải chăng tư tưởng chủ quan ấy đã dẫn đến tự chủ quan trong tự bảo vệ. Và cái giá quá đắt cho nó là sự tan vỡ của Liên Xô của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu trước đòn tấn công phi quân sự, phi vũ trang của đế quốc dưới tên gọi là là chiến lược “diễn biến hòa bình”.

    “Tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ là sự suy thoái từ bên trong; là quá trình tự biến đổi về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên theo chiều hướng tiêu cực, làm mất dần các chuẩn mực của người cộng sản, dẫn đến xa rời những nguyên tắc, quan điểm mácxít; suy giảm nghiêm trọng niềm tin vào chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Đến khi những yếu tố cách mạng, tích cực bị phai nhạt, triệt tiêu, tư tưởng phi xã hội chủ nghĩa tăng dần, thắng thế, lúc đó sẽ dẫn đến sự “tự chuyển hoá” cán bộ, đảng viên từ người tốt trở thành phần tử chống đối Đảng, Nhà nước. “Tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” sẽ gây ra tình trạng mất đoàn kết trong nội bộ các cơ quan, tổ chức; một bộ phận trong đội ngũ trí thức, luật sư, báo chí, văn nghệ sĩ bộc lộ tư tưởng muốn thoát ly khỏi sự lãnh đạo của Đảng. Nếu không được ngăn chặn kịp thời, triệt để sẽ dẫn đến tổ chức bị suy thoái, tự tan rã. Khi “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” diễn ra ở tầm vĩ mô sẽ dẫn đến sự chuyển hoá từ chế độ xã hội chủ nghĩa sang chế độ tư bản chủ nghĩa.

    “Bệnh kiêu ngạo cộng sản” và “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đều là những căn bệnh cố hữu có nguồn gốc từ người đảng viên, nó có thể bộc lộ bất cứ ở đâu. Vì vậy, cần phải tu dưỡng, rèn luyện bản thân vì mục tiêu, lý tưởng của Đảng, vì hạnh phúc của nhân dân, người đảng viên phải lắng nghe và giúp đỡ nhân dân, thực hiện “thắng không kiêu, bại không nản”, “lửa thử vàng, gian nan thử sức”./.


Thứ Bảy, 1 tháng 4, 2023

CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN CẦN ỨNG XỬ TRÊN MẠNG XÃ HỘI THẾ NÀO TRONG TÌNH HÌNH MỚI

Ngày 30/3, tại Cục Lễ tân (Bộ Ngoại giao), Chi bộ Cục Lễ tân Nhà nước và Báo Thế giới và Việt Nam đã tổ chức buổi sinh hoạt liên chi bộ về chủ đề “Trách nhiệm của cán bộ, đảng viên về ứng xử trên mạng xã hội trong tình hình mới”.

Buổi sinh hoạt chuyên đề lần này đã khẳng định sự quan tâm, coi trọng của hai chi bộ đối với việc duy trì và đề cao ý nghĩa, tầm quan trọng của hoạt động sinh hoạt chuyên đề. Tại buổi sinh hoạt, đồng chí Phạm Thu Hằng, Phó vụ trưởng phụ trách Vụ Thông tin Báo chí làm báo cáo viên đã nêu rõ một số yêu cầu chung trong tình hình mới hiện nay. Trong đó, cán bộ, đảng viên cần chấp hành nghiêm các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước khi sử dụng Internet, mạng xã hội cần bảo đảm an ninh, an toàn thông tin; khai báo thông tin chính danh khi thiết lập và sử dụng các trang thông tin điện tử cá nhân; chủ động sử dụng trang thông tin điện tử cá nhân để tuyên truyền, lan tỏa thông tin tích cực, đấu tranh phản bác thông tin sai trái. Đồng thời, cần chịu trách nhiệm về toàn bộ nội dung thông tin lưu trữ, thông tin, cung cấp hoặc phát tán trên trang của mình. Đặc biệt, không cho mượn, cho thuê, bán, thế chấp trang thông tin điện tử cá nhân của mình; không mượn, thuê, mua nhận thế chấp trang thông tin cá nhân.

Đồng chí Phạm Thu Hằng cũng nêu một số nội dung chính của quy định sử dụng mạng xã hội đối với cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, người lao động của Bộ Ngoại giao và các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài. Ngày 28/2/2023, Bộ trưởng Ngoại giao đã ký Quyết định số 396/QĐ-BNG ban hành Quy định về việc sử dụng mạng xã hội đối với cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, người lao động của Bộ Ngoại giao và các Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài.

Việc ban hành Quy định nhằm khuyến khích và bảo đảm việc sử dụng mạng xã hội một cách tích cực, lành mạnh, theo đúng các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước và các quy chế, quy định của Bộ Ngoại giao; xây dựng chuẩn mực về hành vi, ứng xử trên mạng xã hội, nâng cao ý thức, tạo thói quen tích cực trong các hành vi ứng xử; căn cứ để xử lý các vi phạm chuẩn mực, nguyên tắc trong quá trình sử dụng mạng xã hội trong Bộ Ngoại giao.

Đồng chí Phạm Thu Hằng cũng nêu rõ những điều được và không được làm khi ứng xử trên mạng xã hội trong tình hình mới hiện nay. Đồng thời, đề xuất, kiến nghị đối với cán bộ, đảng viên khi ứng xử trên mạng xã hội. Trong hai tiếng thảo luận, trao đổi sôi nổi của buổi sinh hoạt chuyên đề, các đảng viên tham dự đã đặt nhiều câu hỏi cho báo cáo viên để làm rõ hơn về quy định, cách ứng xử trên mạng xã hội. Các đảng viên đều đánh giá buổi sinh hoạt liên chi bộ lần này có ý nghĩa thiết thực, bổ ích.

 

 


Thứ Năm, 16 tháng 2, 2023

CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN NÊN HỌC CÁCH SỐNG CHAN HÒA

Hiện một bộ phận cán bộ, đảng viên (kể cả cán bộ lãnh đạo, quản lý và cao cấp) suy thoái, sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, cơ hội, chạy theo danh lợi, tiền tài, kèn cựa địa vị, cục bộ, tham nhũng, lãng phí, vô nguyên tắc... Thực trạng này cho thấy phải đẩy mạnh học Bác về tính chan hòa, gần gũi và tính nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo.

1. Bác Hồ là một người sống rất chan hòa với mọi người, kể cả khi Người trở thành người đứng đầu Đảng, đứng đầu quốc gia. Chuyện kể rằng, khi Trường Đảng Nguyễn Ái Quốc còn ở căn cứ Việt Bắc, Bác đến dự lễ bế giảng của trường. Xuống thăm nhà bếp, Bác thấy làm cỗ có vẻ linh đình, Bác nói với đồng chí phụ trách trường: “Này, bế mạc, chứ không phải “bế bụng” đâu nhé! Kháng chiến còn khó khăn lắm các chú ạ”. Đến bữa ăn, thấy mâm cơm chỉ có một bát, một đôi đũa, Bác hỏi: “Thế Bác ăn với ai?”. Đồng chí phụ trách gãi đầu gãi tai: “Dạ, xin để Bác ăn riêng cho tiện”. Bác ngắt lời: “Không tiện gì cả. Thế ra các chú cho Bác ăn trên ngồi trốc à?”. Và Bác yêu cầu bê các món ăn của cán bộ, nhân viên nhà trường lên cho Bác xem, rồi Bác bảo kê thêm bàn ghế cho mọi người cùng ngồi ăn với Bác. Bố trí xong xuôi cả rồi, Bác mới vui vẻ bảo mọi người: “Ngồi cả vào đây ăn chung với Bác, ăn một mình thì Bác ăn sao được?”.

Khi Bác lên nói chuyện với các học viên, đồng chí phụ trách trường giới thiệu: “Bác Hồ sẽ huấn thị cho chúng ta”. Bác cười mà bảo rằng: “Tôi nói chuyện với các đồng chí thôi, chứ có “huấn thị” gì đâu”. Buổi tối, Bác ở lại trường để làm việc. Các đồng chí mang đến cho Bác một chiếc đèn rất sáng. Khoảng 9-10 giờ tối, Bác cầm đèn đó xuống Văn phòng trường và bảo rằng: “Đèn này to, tốn dầu lắm! Bác còn làm việc khuya, một chiếc đèn con thôi cũng đủ. Các đồng chí đổi cho Bác chiếc đèn khác”. Sáng sớm hôm sau, trước khi Bác chia tay trường, đồng chí phụ trách hỏi Bác có điều gì căn dặn thêm về công việc của trường, Người nói: “Tôi chỉ mong các đồng chí đừng quan tâm đến tôi quá mà phải quan tâm đến mọi người hơn” (theo tác giả Nguyễn Văn Khoan, Tấm gương Bác - Ngọc quý của mọi nhà, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 2018, tr.25-26).

Câu chuyện trên cho thấy Bác Hồ không chỉ giản dị, tiết kiệm mà thực sự rất chan hòa với mọi người. Bấy giờ, Bác đã là người lãnh đạo cao nhất của đất nước, có những tiêu chuẩn riêng nhưng vẫn thể hiện sự sâu sát, gần gũi với cán bộ cấp dưới, không tự tách biệt mình trong sinh hoạt, trong công tác. Những câu chuyện tương tự như thế về Bác Hồ còn rất nhiều, đều đáng để cho mỗi cán bộ, đảng viên chúng ta học tập, thực hành mọi lúc, mọi nơi.

2. Hiện nay, có một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa thể hiện tinh thần đó của Bác trong công tác, trong sinh hoạt. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” đã nêu: “Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống với những biểu hiện khác nhau về sự phai nhạt lý tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi, tiền tài, kèn cựa địa vị, cục bộ, tham nhũng, lãng phí, tùy tiện, vô nguyên tắc...”. Hẳn những người đó khó thể hiện được sự chan hòa, thân ái, hòa đồng với cán bộ, đảng viên, nhân viên ngay trong đơn vị hay với người dân ở nơi cư trú.

Biểu hiện thường thấy là một số cán bộ lãnh đạo khi nhận vị trí công tác mới thì cho tu sửa phòng làm việc, đổi xe mới, có khi sử dụng xe vượt quá quy định cho phép; tự duyệt hoặc tác động để được duyệt nhiều khoản thù lao, phụ cấp, công tác phí…, thành ra có thu nhập cao hơn hẳn người lao động trong đơn vị; khi đi công tác với nhiều người thì vẫn thích đi xe riêng, ở phòng khách sạn sang trọng. Khi ăn uống thì thích ngồi mâm riêng của những lãnh đạo; ít quan tâm đến cán bộ, nhân viên cấp thấp; ít tổ chức gặp gỡ với cán bộ, nhân viên, không kịp thời lắng nghe các ý kiến phản ánh từ cấp dưới; xây dựng nhà cửa xa hoa, cách biệt với người dân ở nơi cư trú… Những điều đó có lúc có nơi gây nên sự phản cảm, thậm chí bức xúc trong cán bộ, đảng viên và nhân dân.

Để phát huy việc học Bác về tính chan hòa, gần gũi, cũng như để việc thực hiện Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh ngày càng có chiều sâu, bên cạnh công tác tuyên truyền, giáo dục sâu rộng hơn nữa những câu chuyện cụ thể của Bác Hồ, cần có những quy định cụ thể về tính nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo. Từng cơ quan, đơn vị, từng tổ chức đảng cần có quy chế chặt chẽ, trong đó phải hạn chế các đặc quyền, đặc lợi dành cho cán bộ lãnh đạo, từ chế độ đi lại, làm việc… cho đến thù lao, thu nhập. Mỗi cơ quan nên định kỳ tổ chức gặp gỡ với cán bộ, nhân viên, như tổ chức các cuộc đối thoại, các sinh hoạt nhân Ngày Gia đình Việt Nam, ngày lễ, tết, ngày truyền thống ngành… để mọi người có thể có khoảng thời gian chan hòa bên nhau, chia sẻ và thấu hiểu nhau hơn, nhất là tạo cơ hội cho những nhân viên cấp thấp có dịp gặp gỡ lãnh đạo.

Ngoài ra, cần có biện pháp giám sát chặt chẽ hơn nữa đối với quá trình sinh sống ở nơi cư trú của cán bộ, đảng viên, để tránh việc cán bộ không tham gia họp hành tổ dân phố, không ủng hộ các hoạt động cộng đồng, không gương mẫu chấp hành các chủ trương chung, không hòa đồng với lối xóm… Những điều đó nên được ghi rõ vào bản nhận xét đảng viên cuối năm của tổ chức đảng ở nơi cư trú.

Theo: Văn Tâm - SGGP

KÊ KHAI TÀI SẢN: CHỚ ĐỂ CHÁY NHÀ MỚI RA MẶT CHUỘT

“Thu nhập không trung thực” là một trong 9 biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống được Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến," "tự chuyển hóa" trong nội bộ” chỉ mặt, điểm tên. Đây cũng là vấn đề được Đảng ta rất quan tâm lãnh đạo chấn chỉnh, khắc phục; được dư luận xã hội đặc biệt quan tâm.

Căn bệnh đã di căn

Chắc hẳn nhiều người vẫn còn nhớ cựu Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Nai rơi vào vòng lao lý với nhiều sai phạm, trong đó có việc kê khai tài sản không trung thực. Trước khi bị xử lý, cán bộ này thuộc diện phải kê khai tài sản và đều đặn thực hiện qua mỗi năm. Ấy nhưng, khi cơ quan điều tra vào cuộc mới phát hiện hành vi tham nhũng, nhận hối lộ với số tiền lên tới hàng chục tỷ đồng; tài sản kê khai và tài sản thực chênh nhau một cách bất thường.

Những câu chuyện tương tự như trường hợp nêu trên không hề hiếm. Hàng loạt quan chức hầu tòa trong thời gian qua thì có ngần ấy cán bộ phạm phải việc kê khai tài sản, thu nhập không trung thực; biển thủ, trục lợi khối tài sản khổng lồ của Nhà nước, của nhân dân thành của riêng. Nhiều người lý giải, sở dĩ những cán bộ này không trung thực bởi đây là phần việc “bất khả thi”, vì không thể lý giải nguồn gốc tài sản. Mặt khác, làm vậy thì chẳng khác gì câu chuyện “lạy ông tôi ở bụi này”.

Đáng nói là hiện nay, dù đã có khá đầy đủ, hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến vấn đề kê khai tài sản, thu nhập và công tác quản lý, kiểm soát sự minh bạch trong kê khai tài sản, thu nhập của cán bộ thuộc diện phải kê khai nhưng vấn nạn kê khai giả dối, thiếu trung thực vẫn diễn ra ở nhiều nơi. Điều đó cho thấy, cốt tử của vấn đề nằm ở phẩm chất, đạo đức của cán bộ kê khai tài sản, thu nhập. Họ đã thực sự bị suy thoái, biến chất, rơi vào “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Theo báo cáo của Chính phủ về công tác phòng, chống tham nhũng gửi Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Năm 2022, các bộ, ngành, địa phương xác minh tài sản, thu nhập với người có nghĩa vụ kê khai tài sản, thu nhập được lựa chọn ngẫu nhiên cho thấy: Có 7.662 người được xác minh tài sản, thu nhập, 4.934 cơ quan, tổ chức, đơn vị đã được kiểm tra việc thực hiện và có 74 người kê khai chưa đúng quy định, đã được chấn chỉnh, kiểm điểm, xử lý theo quy định. Như vậy, nếu cấp có thẩm quyền tiến hành xác minh kê khai tài sản, thu nhập thì tất yếu sẽ lòi ra những cá nhân kê khai không đúng, không trung thực. Trong khi phần việc này chỉ được tiến hành ngẫu nhiên trong số vài phần trăm cán bộ, càng cho thấy việc kê khai tài sản, thu nhập không trung thực đã và đang là vấn nạn đáng báo động.

Sự nguy hại từ kê khai tài sản, thu nhập không trung thực của cán bộ trước hết gây ra việc thất thoát khối lượng tài sản khổng lồ của Nhà nước, nhưng lớn hơn là gây mất niềm tin của nhân dân đối với đội ngũ cán bộ. Thế mới có chuyện, người dân kháo nhau về tài sản cán bộ giống như những tảng băng trôi. Tài sản được kê khai chỉ là phần nổi, còn phần chìm lớn hơn gấp nhiều lần. Thế mới có chuyện, dân không tin những cán bộ giàu lên một cách chính đáng, mà thường suy diễn, quy chụp cán bộ giàu là bởi tham nhũng mà có. Nhiều người dân cũng mặc định đã là cán bộ lãnh đạo cấp cao thì tất yếu phải giàu có hơn quần chúng. Và nếu thấy cán bộ gặp hoàn cảnh khó khăn thì quy chụp rằng cán bộ ấy đang cố tình mị dân, giả nghèo giả khổ, chứ chắc hẳn tài sản thực đã được chia năm xẻ bảy, lấp liếm, trá hình bằng nhiều hình hài khác nhau.

Cũng bởi tâm lý xã hội ấy mà không ít cán bộ giàu có thật sự lại sinh ra tâm lý e ngại khi kê khai tài sản. Họ thậm chí giấu giếm đi sự giàu có chính đáng để tránh “miệng lưỡi thế gian” không cần thiết. Đây cũng là một thực tế cần được nhận diện, phê bình, khắc phục. Bởi lẽ, cán bộ cũng là con người, là công dân của một đất nước. Ngoài thực hiện các nhiệm vụ theo chức trách, nhiệm vụ tổ chức giao, cán bộ còn tham gia các hoạt động xã hội khác, trong đó có hoạt động phát triển kinh tế. Việc cán bộ có tài-đức, làm kinh tế đúng pháp luật, gặt hái thành công, trở nên giàu có chính đáng là rất đỗi bình thường. Thực tế cho thấy, có không ít cán bộ, đảng viên năng động trong công tác và trong phát triển kinh tế tư nhân đã mang lại động lực tích cực cho đồng nghiệp, bà con xóm giềng và nhân dân ở địa phương nơi họ công tác, sinh sống. Cũng có không ít mô hình phát triển kinh tế, phong trào tăng gia sản xuất, kinh doanh hiệu quả ở các địa phương được hình thành, được thúc đẩy và truyền cảm hứng từ chính những người cán bộ, đảng viên có tư duy năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, sẵn sàng chia sẻ kinh nghiệm với cộng đồng.

Gắn chặt “kê” với “kiểm”

Phải nhận rõ một thực tế là chúng ta đang duy trì nền nếp việc kê khai tài sản, thu nhập của cán bộ, thế nhưng tổ chức và cơ quan chức năng chưa thật sự coi trọng việc xác minh, kiểm kê, kiểm soát việc kê khai tài sản, thu nhập của cán bộ. Đến hẹn lại lên, cán bộ điền vào những mẫu phiếu có sẵn về nguồn thu và những phát sinh tài sản, nhưng chưa có cơ quan, tổ chức nào (cả trong nội bộ) thực hiện chức năng thẩm định, kiểm kê, kiểm soát một cách thường xuyên nhằm xác minh kịp thời tính trung thực của nó. Thành thử, tích tiểu thành đại, đến khi khối tài sản của cán bộ trở nên bất thường thì mới sinh ra hoài nghi, lật ngược vấn đề rồi đi đến xử lý kiểu “mất bò mới lo làm chuồng”. Trong nhiều tình huống khác, đến khi cán bộ rơi vào vòng lao lý, vi phạm pháp luật Nhà nước thì cháy nhà mới ra mặt chuột.

Dư luận cho rằng: Nếu việc xác minh, kiểm kê, kiểm soát được thực hiện đồng thời với việc kê khai tài sản, thu nhập thì chắc chắn việc cán bộ kê khai gian dối, thiếu trung thực sẽ được khắc phục cơ bản; những tài sản bất minh, không rõ nguồn gốc cũng được phát hiện từ sớm, giúp kịp thời phê bình, uốn nắn cán bộ, ngăn chặn tiêu cực lớn. Ngược lại, nếu chỉ đơn thuần coi trọng việc kê khai mà chưa chú trọng đến công tác xác minh, kiểm kê, kiểm soát tài sản, thu nhập thì coi như chúng ta chỉ làm nửa vời, thiếu tròn khâu và đây là kẽ hở cho những gian dối, thiếu trung thực trong kê khai tài sản, thu nhập của cán bộ.

Nhiều ý kiến cho rằng, việc cần làm hiện nay là nên triển khai một đợt xác minh, kiểm kê, kiểm soát rộng khắp ở mọi đối tượng cán bộ, trước hết là những người đứng đầu, cán bộ chủ trì, chủ chốt. Cần tiến hành đồng bộ trong toàn hệ thống chính trị và xem đây là một việc hết sức bình thường của tổ chức, chứ không chờ đến khi có dấu hiệu vi phạm mới xúc tiến, triển khai. Nguyên tắc xác minh, kiểm kê, kiểm soát tài sản cần vận hành từ trên xuống dưới; cấp trên kiểm soát tài sản của cấp dưới; tổ chức kiểm tra, kiểm soát tài sản của cá nhân... Đây chính là một bước xốc lại chất lượng của việc kê khai tài sản, thu nhập nhằm biết được toàn cảnh thực trạng tài sản của cán bộ, tạo cơ sở vững chắc cho các bước triển khai tiếp theo.

Thực tế cho thấy, không ít bộ, ngành, địa phương đã xác minh tài sản, thu nhập với người có nghĩa vụ kê khai tài sản, thu nhập được lựa chọn ngẫu nhiên; có địa phương tiến hành việc bốc thăm để kiểm kê, kiểm soát việc kê khai tài sản, thu nhập thì đã thu được kết quả thấy rõ. Những cán bộ không trung thực sớm bị phát hiện; có cá nhân bị mất chức, bị điều chuyển công tác, miễn nhiệm, xử lý kỷ luật. Đây là cách làm đúng đắn, hợp lòng dân, là cơ sở để cơ quan chức năng Trung ương nghiên cứu, nhân rộng, vận hành trong toàn hệ thống. Bởi thế, đông đảo người dân cho rằng, về lâu dài, việc xác minh, kiểm tra, kiểm soát tài sản tất yếu phải tiến tới thực hiện đồng bộ chứ không thể bốc thăm, hay lựa chọn ngẫu nhiên. Trước mắt, cần quan tâm thực hiện triệt để, đồng bộ ở đối tượng người đứng đầu và cán bộ phụ trách những lĩnh vực nhạy cảm, dễ phát sinh tham nhũng, tiêu cực. Từ đó sẽ tạo ra tác động rất lớn để cơ quan chức năng có những đánh giá, tổng kết, rút kinh nghiệm, giúp đội ngũ công chức, viên chức không dám tiêu cực.

Sờ gáy “tài sản chìm”

Việc xác minh, kiểm kê, kiểm soát kê khai tài sản, thu nhập của cán bộ cần quan tâm sâu sát, kỹ lưỡng cả "tài sản nổi" và "tài sản chìm" của từng cá nhân. Đây là phần việc cần thiết, bởi nhiều năm trước, chúng ta thường nhận diện, đánh giá cán bộ giàu có qua những căn biệt thự, xe sang, cuộc sống sung túc, đầy đủ... Thế nhưng, với mức sống hiện tại, những câu chuyện ấy không còn là tâm điểm dư luận. Một phần vì chất lượng đời sống xã hội đi lên, cả người dân, nhất là chủ doanh nghiệp cũng đã có cuộc sống dư dả, đầy đủ. Trong khi những cán bộ vốn "biến hình" thu vén cá nhân, có tài sản bất minh lại đủ hiểu "sức mạnh cuồng phong" của cuộc chiến phòng, chống tham nhũng, tiêu cực do Trung ương lĩnh xướng. Bởi thế, họ tìm mọi cách điều chỉnh, thích nghi, tạo hình hài cuộc sống phù hợp. Họ không thể hiện sự giàu có, thậm chí còn giả nghèo giả khổ. Trong khi đó, khối tài sản của không ít cán bộ rất lớn, được phân tán, biến hình ở nhiều nơi-đó được xem là “tài sản chìm”.

Chính vì vậy, cơ quan chức năng cần có giải pháp, biện pháp phù hợp để kiểm soát, xác thực kê khai; chú trọng phối hợp, liên thông giữa các cơ quan trong khâu xác minh; tăng cường các biện pháp xử lý mạnh mẽ, đủ sức răn đe đối với các tài sản bất minh, không chứng minh được nguồn gốc. Đặc biệt, cần sớm thực hiện “số hóa kê khai tài sản”. Tại Kỳ họp thứ tư, Quốc hội khóa XV, Quốc hội yêu cầu Chính phủ, Thanh tra Chính phủ tăng cường kiểm tra, thanh tra, giám sát việc kê khai tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức. Sau năm 2025, thực hiện chuyển đổi số 100% công tác kiểm soát tài sản, thu nhập bằng việc sử dụng công nghệ số, dữ liệu số. Đây được xem là bước tiến mới cả về lý luận và thực tiễn công tác kiểm soát tài sản, thu nhập, góp phần nâng cao hiệu quả phòng ngừa tham nhũng, tiêu cực. Bởi lẽ, khi số hóa các dữ liệu liên quan đến việc kê khai sẽ giúp lưu trữ tốt hơn và các cơ quan chức năng dễ dàng tìm kiếm, truy xuất các thông tin liên quan đến tài sản, thu nhập của cán bộ khi có yêu cầu.

Tuy nhiên, việc số hóa cũng chỉ là một giải pháp để kiểm soát tài sản, thu nhập của cán bộ, cần đồng thời thực hiện hiệu quả các giải pháp khác; quan trọng là hoàn thiện các chính sách, pháp luật trong quản lý kinh tế, quản lý xã hội; chú trọng đẩy mạnh lộ trình vận hành, duy trì xã hội “không tiền mặt”; hạn chế việc sử dụng tiền mặt trong các giao dịch toàn xã hội, nhất là những giao dịch có giá trị lớn như mua nhà, bất động sản, xe ô tô, chứng khoán và các hoạt động đầu tư, cổ phần, góp vốn... của cán bộ. Đa dạng các kênh chính thống tiếp nhận thông tin của quần chúng, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị-xã hội, khu dân cư nơi cán bộ, đảng viên cư trú. Đặc biệt là phải có biện pháp quản lý sự minh bạch nguồn gốc tài sản trong sở hữu và giao dịch toàn xã hội chứ không chỉ dừng lại ở việc kiểm soát tài sản, thu nhập đối với từng cán bộ, đảng viên.

Việc kê khai tài sản hiện nay được tiến hành chủ yếu theo “mùa vụ”, đến dịp, đợt thì đồng loạt kê khai, nhưng giải pháp này xem ra chưa phát huy cao nhất trách nhiệm và tính tự giác của cán bộ. Bởi thế, cần có thêm những quy định cụ thể khác mang lại hiệu quả sát thực, ví như việc biến động tài sản, thu nhập theo định mức cụ thể bắt buộc cán bộ phải kê khai bổ sung, báo cáo kịp thời với tổ chức chứ không chờ đến cuối năm, hoặc khi có yêu cầu của cơ quan chức năng. Trong khi đó, nhiều ý kiến đề xuất việc công khai kết quả kê khai tài sản, thu nhập của cán bộ ở nơi sinh sống và làm việc một cách phù hợp. Chỉ có như vậy thì đồng nghiệp, cấp dưới và quần chúng mới nắm bắt thực chất thu nhập, biến động tài sản của cán bộ để giám sát hiệu quả.

Theo: Nguyễn Tấn Tuân

Thứ Năm, 1 tháng 12, 2022

XÂY DỰNG CHUẨN MỰC ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG CHO CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN TRONG TÌNH HÌNH MỚI

Hiện nay, đất nước đang bước vào thời kỳ mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế sâu, rộng. Tình hình mới đặt ra rất nhiều yêu cầu mới về chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên.

Đã vậy, thực tế công tác xây dựng Đảng cho thấy còn “Một bộ phận cán bộ, đảng viên phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí, ngại khó, ngại khổ, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa””(1). Tình hình này đặt ra cho chúng ta nhiệm vụ phải từng bước xây dựng được chuẩn mực đạo đức cách mạng và chuẩn mực ứng xử đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên.

Theo từ điển Tiếng Việt, chuẩn là “cái được chọn làm căn cứ để đối chiếu, để hướng theo đó mà làm cho đúng”, chuẩn mực là “chuẩn”(2). Chuẩn mực khác với nguyên tắc - “là điều cơ bản định ra, nhất thiết phải tuân theo trong một loạt việc làm”, hoặc nên tránh, không nên làm(3). Chuẩn mực cũng khác với quy tắc - “là những điều quy định mọi người phải tuân theo trong một hoạt động chung nào đó”(4).

Có thể hiểu chuẩn mực đạo đức cách mạng là những tiêu chuẩn đạo đức cách mạng và những tiêu chuẩn ứng xử đạo đức cách mạng có tính khuôn mẫu, mực thước được toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta công nhận dùng làm căn cứ, cơ sở để đánh giá và điều chỉnh hành vi ứng xử của cán bộ, đảng viên, là căn cứ để xác định việc nên làm và việc không nên làm, giúp cán bộ, đảng viên với tư cách chủ thể đạo đức có căn cứ, cơ sở điều chỉnh hành vi ứng xử đạo đức của mình hướng tới chân - thiện - mỹ và phục vụ sự nghiệp cách mạng của Đảng. Khi còn sống, Chủ tịch Hồ Chí Minh dùng khái niệm tư cách đạo đức của cán bộ, đảng viên - về thực chất cũng là chuẩn mực đạo đức của cán bộ, đảng viên.

Chúng tôi cho rằng, những chuẩn mực đạo đức cách mạng mà Hồ Chủ tịch xây dựng vẫn còn nguyên giá trị trong giai đoạn hiện nay. Do vậy, xây dựng chuẩn mực đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên cũng là xây dựng những chuẩn mực đạo đức cách mạng theo tư tưởng Hồ Chí Minh. Đó là:

1. Trung với Tổ quốc, hiếu với nhân dân. Trung với Tổ quốc và hiếu với nhân dân là những chuẩn mực đạo đức đầu tiên cao nhất của người cán bộ cách mạng. Tuy nhiên: “ngày xưa trung là trung với vua. Hiếu là hiếu với cha mẹ mình thôi”; còn ngày nay, “trung là trung với Tổ quốc, hiếu là hiếu với nhân dân”(5). Trung với Tổ quốc là trung thành với lợi ích của Tổ quốc, của dân tộc, của Ðảng, với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam, trung thành với đường lối đổi mới của Đảng. Tiêu chuẩn này cũng đòi hỏi cán bộ, đảng viên phải quán triệt tinh thần “lợi ích của cá nhân nhất định phải phục tùng lợi ích của Đảng... Nghĩa là phải đặt lợi ích của Đảng lên trên hết, lên trước hết. Vì lợi ích của Đảng tức là lợi ích của dân tộc, của Tổ quốc.

Vô luận lúc nào, vô luận việc gì, đảng viên và cán bộ phải đặt lợi ích của Đảng ra trước, lợi ích của cá nhân lại sau”(6).

Hiếu với dân là không chỉ yêu thương cha mẹ mình, “mà còn phải thương cha mẹ người, phải cho mọi người đều biết thương cha mẹ”(7). Trung, Hiếu trong chuẩn mực đạo đức cách mạng gắn bó mật thiết với nhau và nhằm phục vụ mục tiêu độc lập dân tộc, hạnh phúc cho nhân dân.

2. Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư.

Cần, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh “là siêng năng, chăm chỉ, cố gắng dẻo dai”(8); “Cần không phải là làm xổi. Nếu làm cố chết cố sống trong một ngày, một tuần, hay một tháng, đến nỗi sinh ốm đau, phải bỏ việc. Như vậy không phải là cần. Cần là luôn luôn cố gắng, luôn luôn chăm chỉ, cả năm cả đời. Nhưng không làm quá trớn. Phải biết nuôi dưỡng tinh thần và lực lượng của mình, để làm việc cho lâu dài”(9). Tuy nhiên, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng yêu cầu Cần phải gắn với kế hoạch, nghĩa là phải tính toán cẩn thận, sắp đặt gọn gàng khi làm việc thì Cần mới có hiệu quả, lười biếng là kẻ thù to nhất của Cần. Người căn dặn: “Công việc bất kỳ to nhỏ, đều có điều nên làm trước, điều nên làm sau. Nếu không có kế hoạch, điều nên làm trước mà để lại sau, điều nên làm sau mà đưa làm trước, như thế thì sẽ hao tổn thì giờ, mất công nhiều mà kết quả ít”(10). Như vậy thì Cần cũng vô nghĩa. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng yêu cầu “Cần và chuyên phải đi đôi với nhau. Chuyên nghĩa là dẻo dai, bền bỉ. Nếu không chuyên, nếu một ngày cần mà mười ngày không cần, thì cũng vô ích”(11).

Kiệm, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh “Là tiết kiệm, không xa xỉ, không hoang phí, không bừa bãi. CẦN với KIỆM, phải đi đôi với nhau, như hai chân của con người.

CẦN mà không KIỆM, “thì làm chừng nào xào chừng ấy”. Cũng như một cái thùng không có đáy; nước đổ vào chừng nào, chảy ra hết chừng ấy, không lại hoàn không.

KIỆM mà không CẦN, thì không tăng thêm, không phát triển được. Mà vật gì đã không tiến tức phải thoái. Cũng như cái thùng chỉ đựng một ít nước, không tiếp tục đổ thêm vào, lâu ngày chắc nước đó sẽ hao bớt dần, cho đến khi khô kiệt”(12). Kiệm đòi hỏi không chỉ tiết kiệm của cải, tiền bạc, nguyên vật liệu mà còn phải tiết kiệm cả thời giờ, tiết kiệm sức dân, sức người. “Thời giờ cũng cần phải tiết kiệm như của cải.

Của cải nếu hết, còn có thể làm thêm. Khi thời giờ đã qua rồi, không bao giờ kéo nó trở lại được...

Muốn tiết kiệm thời giờ, thì việc gì ta cũng phải làm cho nhanh chóng, mau lẹ. Không nên chậm rãi. Không nên “nay lần mai lữa”.

Tiết kiệm thời giờ là Kiệm, và cũng là Cần”(13).

Nhưng để Kiệm có kết quả thì phải khéo tổ chức công việc. Điều cần lưu ý là điểm mới trong quan niệm về Kiệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh là “Tiết kiệm không phải là bủn xỉn.

Khi không nên tiêu xài thì một đồng xu cũng không nên tiêu. Khi có việc đáng làm, việc ích lợi cho đồng bào, cho Tổ quốc, thì dù bao nhiêu công, tốn bao nhiêu của, cũng vui lòng. Như thế mới đúng là kiệm.

Việc đáng tiêu mà không tiêu, là bủn xỉn, chứ không phải là kiệm.

Tiết kiệm phải kiên quyết không xa xỉ”(14).

Liêm, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh “là trong sạch, không tham lam”(15). “Chữ LIÊM phải đi đôi với chữ KIỆM. Cũng như chữ KIỆM phải đi đôi với chữ CẦN.

Có KIỆM mới LIÊM được. Vì xa xỉ mà sinh tham lam.

Tham tiền của, tham địa vị, tham danh tiếng, tham ăn ngon, sống yên đều là BẤT LIÊM.

Người cán bộ, cậy quyền thế mà đục khoét dân, ăn của đút, hoặc trộm của công làm của tư”(16), người buôn gian, bán lậu, người nhân lúc khó khăn mà bắt chẹt dân,v.v. đều là bất liêm. Người “Gặp việc phải, mà sợ khó nhọc nguy hiểm, không dám làm, là tham vật úy lạo. Gặp giặc mà rút ra, không dám đánh là tham sinh úy tử. Đều làm trái với chữ LIÊM”(17). Do vậy, cán bộ chẳng những phải thực hành CẦN, KIỆM mà còn phải thực hành chữ LIÊM trước để làm kiểu mẫu cho dân.

Chính, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh “là không tà, nghĩa là thẳng thắn, đứng đắn. Điều gì không đứng đắn, thẳng thắn, tức là tà.

CẦN, KIỆM, LIÊM, là gốc rễ của CHÍNH. Nhưng một cây cần có gốc rễ, lại cần có ngành, lá, hoa, quả mới là hoàn toàn. Một người phải Cần, Kiệm, Liêm, nhưng còn phải CHÍNH mới là người hoàn toàn...

Làm việc CHÍNH, là người THIỆN.

Làm việc TÀ, là người ÁC.

Siêng năng (cần), tần tiện (kiệm), trong sạch (liêm), CHÍNH là THIỆN.

Lười biếng, xa xỉ, tham lam, là tà, là ác”(18).

Chí công vô tư, là làm bất cứ việc gì cũng phải nghĩ về Tổ quốc, Dân tộc, Đảng trước hết. Người cán bộ, đảng viên “Đem lòng chí công vô tư mà đối với người, đối với việc”(19). Nếu “Lòng mình chỉ biết vì Đảng, vì Tổ quốc, vì đồng bào thì mình sẽ tiến đến chỗ chí công vô tư. Mình đã chí công vô tư thì khuyết điểm sẽ càng ngày càng ít, mà những tính tốt... ngày càng thêm”(20). Những tính tốt ấy là Nhân, Nghĩa, Trí, Dũng, Liêm.

Với chuẩn mực ứng xử của người cán bộ, đảng viên, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu:

1) Đối với mình, không được tự kiêu, tự đại; luôn luôn cầu tiến bộ; luôn luôn tự kiểm điểm, tự phê bình; “Tự mình phải chính trước, mới giúp được người khác chính. Mình không chính, mà muốn người khác chính là vô lý”(21). “Nếu chính mình tham ô bảo người ta liêm khiết có được không? Không được. Mình trước hết phải siêng năng, trong sạch thì mới bảo người ta trong sạch, siêng năng được”(22).

2) Đối với người, “Chớ nịnh hót người trên. Chớ xem khinh người dưới. Thái độ phải chân thành, khiêm tốn, phải thật thà đoàn kết. Phải học người và giúp người tiến tới. Phải thực hành chữ Bác-Ái”(23).

3) Đối với việc, “Phải để công việc nước lên trên, trước việc tư, việc nhà.

Đã phụ trách việc gì, thì quyết làm cho kỳ được, cho đến nơi, đến chốn, không sợ khó nhọc, không sợ nguy hiểm. Bất kỳ việc to, việc nhỏ, phải có sáng kiến, phải có kế hoạch, phải cẩn thận, phải quyết làm cho thành công. Việc thiện thì dù nhỏ mấy cũng làm. Việc ác thì dù nhỏ mấy cũng tránh. Việc gì dù lợi cho mình, phải xét nó có lợi cho nước không? Nếu không có lợi, mà có hại cho nước thì quyết không làm.

Mỗi ngày cố làm một việc lợi cho nước (lợi cho nước tức là lợi cho mình), dù là việc nhỏ”(24). Như vậy, người cán bộ, đảng viên luôn phải đặt lợi ích của Tổ quốc, dân tộc, của Đảng lên trên hết.

Để xây dựng được những chuẩn mực đạo đức này cho cán bộ, đảng viên cần thực hiện các giải pháp cơ bản sau:

Mỗi cán bộ, đảng viên căn cứ vào vị trí, chức năng nhiệm vụ cụ thể của mình phải cụ thể hóa được các tiêu chí trung với nước, hiếu với dân, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư và thái độ ứng xử với mình, với người và với việc cho phù hợp.

Phát huy vai trò của nhân dân, trong xây dựng chuẩn mực đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên. Bởi lẽ, đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn “so với số nhân dân thì số đảng viên chỉ là tối thiểu, hàng trăm người dân mới có một người đảng viên. Nếu không có nhân dân giúp sức, thì Đảng không làm được việc gì hết… Rời xa dân chúng là cô độc. Cô độc thì nhất định thất bại”(25). Hơn nữa, nếu chúng ta lôi cuốn được nhân dân tham gia kiểm tra, giám sát, phòng, chống những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên thì việc xây dựng chuẩn mực đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên sẽ hiệu quả hơn.

Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng với chủ trương “Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện các quy định, quy chế nhằm giữ nghiêm kỷ luật, kỷ cương, nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát”(26) và bảo đảm đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên.

Phát huy tinh thần tích cực, chủ động và thực hiện nghiêm túc quy định của Đảng về trách nhiệm nêu gương, chức vụ càng cao càng phải gương mẫu, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương trong xây dựng chuẩn mực đạo đức cách mạng. Mỗi đảng viên tự giác nêu gương để khẳng định vai trò tiên phong, gương mẫu, tạo sự lan tỏa những tấm gương sáng về đạo đức cách mạng. Đồng thời, tăng cường đấu tranh chống các quan điểm, hành vi phản đạo đức, phi đạo đức. Cổ vũ, biểu dương các gương sáng đạo đức tạo ảnh hưởng sâu, rộng trong Đảng và ngoài xã hội. Thực hiện tốt các giải pháp này sẽ từng bước xây dựng được chuẩn mực đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên.

GS, TS TRẦN VĂN PHÒNG

GIỮ NGUYÊN TẮC, ĐÚNG QUY CHẾ

Nguyên tắc tổ chức, sinh hoạt Đảng, quy chế làm việc là những vấn đề có ý nghĩa quan trọng hàng đầu đối với mỗi cấp ủy, tổ chức Đảng cũng như với từng cán bộ, đảng viên. Bởi vô nguyên tắc, vi phạm quy chế làm việc là một bước rất ngắn dẫn tới vi phạm kỷ luật Đảng, vi phạm pháp luật.

Điều lệ Đảng quy định: “Đảng là một tổ chức chặt chẽ, thống nhất ý chí và hành động, lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản, thực hiện tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, thương yêu đồng chí, kỷ luật nghiêm minh, đồng thời thực hiện các nguyên tắc: Tự phê bình và phê bình, đoàn kết trên cơ sở Cương lĩnh chính trị và Điều lệ Đảng, gắn bó mật thiết với nhân dân, Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”.

Trong khi đó, quy chế làm việc là sự cụ thể hóa các nguyên tắc, quy định của Điều lệ Đảng, của Bộ Chính trị, Ban Bí thư thành chế độ vận hành điều chỉnh hoạt động của cấp ủy, tổ chức Đảng và việc làm của cán bộ, đảng viên. Do đó, việc xây dựng và tổ chức thực hiện quy chế làm việc có quan hệ mật thiết với việc tuân thủ các nguyên tắc Đảng; là “hệ tuần hoàn” không thể tách rời nhau.

Đối với mỗi tổ chức Đảng hay cán bộ, đảng viên, việc tuân thủ nguyên tắc, thực hiện đúng quy chế làm việc là rất quan trọng. Thực tế cho thấy, tổ chức Đảng thực hiện tốt nguyên tắc Đảng, ban hành quy chế làm việc chặt chẽ, tổ chức thực hiện hiệu quả đều là những tập thể mạnh. Ngược lại, những nơi vi phạm nguyên tắc, không làm đúng quy chế làm việc thường dẫn tới những khuyết điểm, sai phạm...

Tìm hiểu từ những trường hợp sai phạm bị cấp ủy, Ủy ban Kiểm tra cấp ủy kỷ luật thì gần như 100% đều vi phạm nguyên tắc Đảng, vi phạm quy chế làm việc. Mới đây nhất, tại kỳ họp thứ 22 vừa diễn ra đầu tháng 11-2022, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã xem xét kết quả kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm đối với Ban Thường vụ Đảng ủy Tổng công ty Công nghiệp Tàu thủy. Trong đó, Ủy ban Kiểm tra Trung ương nhận định: “Ban Thường vụ Đảng ủy Tổng công ty các nhiệm kỳ 2010-2015, 2015-2020 đã vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, quy chế làm việc; buông lỏng lãnh đạo, chỉ đạo, thiếu kiểm tra, giám sát...”.

Trước đó, theo thống kê trong hơn 110 cán bộ thuộc diện Ban Bí thư quản lý bị kỷ luật thời gian qua đều ghi nhận những mức độ vi phạm nguyên tắc Đảng và vi phạm quy chế làm việc khác nhau, như: Vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ dẫn tới chuyên quyền, độc đoán; vi phạm nguyên tắc tự phê bình và phê bình dẫn đến không kịp thời nhận ra sai sót, để sai sót nhỏ thành sai sót lớn; vi phạm nguyên tắc đoàn kết làm nảy sinh thói kèn cựa, cục bộ, địa phương, chia bè, kết cánh; vi phạm nguyên tắc gắn bó mật thiết với nhân dân dẫn đến quan liêu, xa rời quần chúng, phiền hà, sách nhiễu...

Trong phát biểu kết luận Hội nghị Trung ương 4 (khóa XIII), Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhìn nhận, không thực hiện đúng các nguyên tắc xây dựng Đảng và tổ chức sinh hoạt Đảng là một trong những biểu hiện nguy hiểm dẫn đến suy thoái, tự diễn biến, tự chuyển hóa trong nội bộ.

Để các nguyên tắc Đảng, quy chế làm việc phát huy đúng vai trò, vị trí, góp phần xây dựng Đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên, đòi hỏi sự quan tâm, vào cuộc quyết liệt của các cấp ủy, tổ chức Đảng, nhất là đội ngũ cán bộ chủ chốt.

Nhiệm vụ, giải pháp quan trọng hàng đầu và phải làm trước tiên là đẩy mạnh tuyên truyền, nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên về tầm quan trọng, sự cần thiết của các nguyên tắc Đảng và quy chế làm việc. Thực tế, không ít trường hợp khi sai phạm xảy ra ở chi bộ, đảng bộ cơ sở thì mới phát hiện là cấp ủy, cán bộ lãnh đạo không nắm rõ các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt Đảng, lúng túng trong triển khai thực hiện, thậm chí có tâm lý coi thường; có nơi không kịp thời xây dựng quy chế làm việc, quy chế làm việc không đúng với quy định chung; không bổ sung, chỉnh sửa hoàn thiện quy chế phù hợp với điều kiện mới...

Do đó, để tránh vi phạm hoặc không biết để thực hiện, cấp ủy cấp trên, đặc biệt là bộ phận chuyên trách công tác Đảng phải có chỉ đạo, hướng dẫn kịp thời, cụ thể cho cấp dưới về nhiệm vụ tuân thủ các nguyên tắc của Đảng, xây dựng và thực hiện quy chế làm việc; đẩy mạnh công tác kiểm tra, giám sát các cấp ủy, tổ chức Đảng, cán bộ, đảng viên trong thực hiện nhiệm vụ trên. Việc này cần thiết phải làm từ sớm và thường xuyên hơn.

Tại Đảng bộ thành phố Hà Nội, ngay từ đầu nhiệm kỳ khóa XVII, Ban Thường vụ Thành ủy và nhiều cấp ủy Đảng trực thuộc đã tiến hành giám sát, kiểm tra cấp ủy cấp dưới về việc xây dựng quy chế làm việc. Trong khi, nhiều cấp ủy Đảng thành phố tổ chức tập huấn nâng cao nghiệp vụ công tác Đảng cho các bí thư chi bộ, cán bộ chủ chốt, trong đó có nghiệp vụ về xây dựng quy chế làm việc, chương trình, kế hoạch công tác... Đây là những giải pháp rất hiệu quả, tích cực, cần được quan tâm, nhân rộng.

Đối với cấp ủy, tổ chức Đảng cần xác định rõ, thực hiện tốt các nguyên tắc Đảng, cụ thể là 5 nguyên tắc được nêu trong Điều lệ Đảng là nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu. Các nguyên tắc phải được cụ thể hóa vào quy chế làm việc. Quá trình xây dựng phải bám sát Điều lệ Đảng, các quy định, hướng dẫn của cấp trên; bảo đảm quy chế làm việc là sản phẩm của trí tuệ tập thể, hội tụ tinh thần đoàn kết, thống nhất, toát lên các nguyên tắc của Đảng, trước hết là nguyên tắc tập trung dân chủ. Quy chế làm việc đã ban hành phải bảo đảm tính khả thi, phân công rõ người, rõ việc. Quá trình thực hiện phải thường xuyên quan tâm đánh giá, để kịp thời sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới; tuyệt đối không để vì chậm sửa đổi, bổ sung quy chế làm việc mà ảnh hưởng đến hoạt động, làm giảm sút vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, tổ chức Đảng.

Xét cho cùng, trong bất kỳ trường hợp nào, cấp ủy, tổ chức Đảng và mỗi cán bộ, đảng viên nhất định phải “giữ nguyên tắc, đúng quy chế”.

Thứ Năm, 13 tháng 10, 2022

NHẬN DIỆN VÀ ĐẤU TRANH VỚI CHỦ NGHĨA CÁ NHÂN

Chủ nghĩa cá nhân (CNCN) có nguồn gốc từ mỗi con người cụ thể. Với cán bộ, đảng viên cũng vậy. CNCN manh nha, hình thành, trỗi dậy từ chính lòng tham, sự vị kỷ, cùng với lối nghĩ cực đoan mang xu hướng “tự tôn”, tự sùng bái bản thân; thể hiện thông qua tâm trạng, thái độ, hành vi thường nhật, mà dấu hiệu dễ nhận biết là sự ham muốn quyền bính, lợi ích cá nhân (cá thể). Những người rơi vào CNCN thường quan niệm và tuân theo những “triết lý” tự đúc rút; thể hiện sự bảo thủ cao độ, không hạn chế mục đích và ham muốn bản thân. Họ “phản đối” và bất chấp sự can thiệp từ bên ngoài lên sự lựa chọn cá nhân, dù sự can thiệp đó là của xã hội, nhà nước, hoặc bất kỳ một cộng đồng, một tập thể hay một thể chế nào khác. Họ là nhất - hơn tất cả và chỉ lao động hoặc sáng tạo vì lợi ích của riêng họ mà bất chấp bỏ qua những mối liên hệ, mối quan hệ xung quanh trong đời sống xã hội. Những dấu hiệu này đã sớm được Chủ tịch Hồ Chí Minh đúc rút, chỉ rõ: CNCN là “miễn là mình béo, mặc thiên hạ gầy”; là việc gì cũng chỉ nghĩ đến lợi ích riêng của mình trước hết; chỉ biết “mọi người vì mình” mà không lo “mình vì mọi người”.

Chủ nghĩa cá nhân hoàn toàn khác với sự cá tính. Dễ nhận thấy, cá tính là phẩm chất có nhiều mặt tích cực, trong khi CNCN là hoàn toàn tiêu cực. Cá tính là cái cần thiết, có thể gọi là “cái tôi” theo nghĩa nào đó để khẳng định “tôi là tôi”- điều đó tạo ra bản sắc và giá trị riêng của mỗi con người. Điều đó khác hoàn toàn với triết lý “tôi là nhất” của chủ nghĩa cá nhân.

Khác nhau là vậy, nhưng ranh giới giữa cá tính và CNCN rất mong manh. Nếu quá đề cao cá tính một cách thái quá, hoặc đến độ bảo thủ, cực đoan vì lợi ích của bản thân thì bấy giờ cá tính đã trở thành CNCN. Ví như cán bộ có sự quyết đoán là tốt (đó là cá tính đáng quý), nhưng nếu anh quyết đoán thái quá, bất chấp nguyên tắc, vi phạm dân chủ thì vô hình trung đã rơi vào độc đoán-đấy cũng là lúc cán bộ trượt chân ngã vào CNCN. Hay như khi cán bộ nêu cao tinh thần thực hành phê bình là tốt, nhưng nếu lạm dụng việc phê bình để bôi nhọ, hạ bệ đồng đội, anh em để tự suy tôn, ngợi ca mình... thì đó là biểu hiện của CNCN. Hay giản đơn hơn là việc phê bình không đúng nơi, đúng chỗ, biến nội dung phê bình thành “câu chuyện làm quà” thì khi ấy mầm mống ban đầu của CNCN cũng đã trỗi dậy...

Ngược lại, CNCN thường được “ngụy trang” trong dáng dấp của cá tính. Nhiều người vẫn nhầm tưởng, thậm chí là bày tỏ sự tôn trọng bởi một số cán bộ, đảng viên dám sống đúng với cá tính của mình; thế nhưng, nếu không biết phân tường đúng đắn thì phía sau cá tính đáng quý ấy của một ai đó rất có thể là một bức tranh đen đặc CNCN.

Điều đáng lo ngại hiện nay là không ít cán bộ, đảng viên có tâm lý tự ngợi ca mình, hài lòng với chính mình, không tự nhận ra những khuyết thiếu, tồn tại của bản thân để xác định mục tiêu, trách nhiệm, thái độ, động lực, động cơ và phương hướng để không ngừng rèn luyện, hoàn thiện nhân cách, nhân phẩm làm người và hướng đến các giá trị đạo đức cách mạng của người đảng viên, người chiến sĩ cộng sản trung kiên.

Thứ Tư, 12 tháng 10, 2022

ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM LÀ LỰC LƯỢNG DUY NHẤT LÃNH ĐẠO CÁCH MẠNG VIỆT NAM!

             Vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội được thực tiễn lịch sử ghi nhận và quy định trong Hiến pháp năm 2013. Thế nhưng, các thế lực thù địc vẫn cố tình phủ nhận, xuyên tạc nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội.

          Thực tiễn hơn 92 năm lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam cho thấy, mục tiêu, lý tưởng và lợi ích của Đảng luôn thống nhất với mục tiêu, lý tưởng và lợi ích của giai cấp công nhân và dân tộc Việt Nam. Đảng Cộng sản Việt Nam không có lợi ích nào khác là phấn đấu vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Từ khi ra đời trở thành lực lượng duy nhất lãnh đạo, cầm quyền ở Việt Nam, lịch sử của dân tộc Việt Nam đã có thêm nhiều trang vàng, chói lọi. Mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam đều gắn liền với vai trò lãnh đạo, và cầm quyền của Đảng, sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Vì vậy, Đảng Cộng sản Việt Nam đã trở thành lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội một cách chính đáng, hợp lòng dân, được lịch sử chấp nhận, Hiến pháp quy định và giao phó sứ mệnh mà không một lực lượng nào có thể thay thế được. Thực tế là vậy, song các thế lực thù địch, lực lượng đối lập, những kẻ cơ hội chính trị không thừa nhận hoặc cố tình lờ đi điều đó, vẫn chĩa mũi nhọn công kích, bôi nhọ, nói xấu Đảng bằng những lời lẽ quy chụp, bịa đặt, thậm chí thổi phồng khuyết điểm, sai lầm để từ đó quy kết Đảng Cộng sản Việt Nam không đủ năng lực lãnh đạo Nhà nước và xã hội.

          Không thể vin vào những yếu kém của một bộ phận cán bộ, đảng viên của Đảng mà phu nhận vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng đối với Nhà nước và xã hội, càng không nên đồng nhất Đảng với một bộ phận cán bộ, đảng viên tham nhũng, thái hóa, biến chất, quy chụp mọi sai lầm, tiêu cực trong xã hội là do Đảng lãnh đạo sẽ phủ nhận lịch sử, phủ nhận lòng tin của nhân dân, đi ngược lại quyền lợi của dân tộc Việt Nam. Vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội như thế nào, chỉ có nhân dân Việt Nam mới có quyền trả lời điều đó. Chính nhân dân ta chứ không phải ai khác mới là người đánh giá chính xác nhất vai trò, uy tín của Đảng, là người có tiếng nói quyết định trong việc lựa chọn sự lãnh đạo đối với cách mạng Việt Nam, lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Còn những kẻ bán nước cầu vinh, vụ lợi chính trị, tuyên truyền, bịa đặt, giả dối, không đủ tư cách, nhân phẩm để có tiếng nói trong vấn đề này. Dù thời cuộc thay đổi, nhân dân Việt Nam vẫn một lòng theo Đảng; bởi vì, vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng đối với Nhà nước và xã hội đã được thực tiễn khẳng định và sẽ được khẳng định trong sự nghiệp Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế hiện nay.

QUAN ĐIỂM VỀ HỌC TẬP, LÀM THEO BÁC HỒ VÀ NÊU GƯƠNG CỦA CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN TRONG BÀI VIẾT CỦA TỔNG BÍ THƯ NGUYỄN PHÚ TRỌNG “MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI VÀ CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM”

Theo Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trở thành sinh hoạt chính trị thường xuyên, trở thành một nhu cầu văn hóa trong toàn Đảng, toàn dân; chú trọng quán triệt, tập trung làm tốt ba vấn đề là: Học tập, làm theo Bác và nêu gương của cán bộ, đảng viên.

Học tập Bác là học tập tư tưởng, thế giới quan và nhân sinh quan cách mạng, đạo đức và phong cách của người chiến sĩ cộng sản chân chính; cần thúc đẩy việc học theo Bác trở thành lối sống, nếp sống, cách làm của từng cán bộ, đảng viên và người dân. Làm theo Bác là thúc đẩy, tạo chuyển biến mạnh mẽ từ “học tập” sang “làm theo”, bằng những việc làm cụ thể, thiết thực trong thực hiện nhiệm vụ, chức trách được giao về chuyên môn, nghiệp vụ và công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Nêu gương là thực hiện đồng thời, gắn kết việc học tập với làm theo Bác và nêu gương; trong đó, đề cao vai trò tiền phong, gương mẫu với nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là đối với người lãnh đạo, người đứng đầu. Điều quan trọng là: “Mỗi cán bộ, đảng viên cần nghiêm túc thực hiện trách nhiệm nêu gương; người có chức vụ càng cao, cương vị càng lớn càng phải gương mẫu trong tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất đạo đức, lối sống, phong cách, tác phong, lề lối công tác để quần chúng, nhân dân noi theo”. Xây dựng các chuẩn mực đạo đức làm cơ sở cho cán bộ, đảng viên tự điều chỉnh hành vi ứng xử trong công việc hằng ngày. Đẩy mạnh giáo dục đạo đức cách mạng, làm cho mỗi cán bộ, đảng viên thấy rõ bổn phận và trách nhiệm của mình, luôn vững vàng trước khó khăn, thách thức và không bị cám dỗ bởi vật chất, tiền tài, danh vọng tầm thường. Nâng cao ý thức tu dưỡng, rèn luyện và thực hành đạo đức cách mạng. Tăng cường đấu tranh chống các quan điểm, hành vi phản đạo đức, phi đạo đức. Cổ vũ, biểu dương các gương sáng đạo đức, tạo ảnh hưởng sâu rộng trong Đảng và ngoài xã hội. Thực hiện những giải pháp đột phá nhằm ngăn chặn có hiệu quả sự xuống cấp về đạo đức, lối sống, đẩy lùi tiêu cực xã hội và các tệ nạn xã hội.

Trong quá trình thực hiện ba nhiệm vụ Học tập, làm theo Bác và nêu gương của cán bộ, đảng viên, cần kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, trong đó “xây” là cơ bản, chiến lược, “chống” là quan trọng, cấp bách; đề cao tinh thần “nói đi đôi với làm”, “rèn luyện suốt đời”, thường xuyên “tự soi”, “tự sửa”,… làm cho Đảng ta thật sự trong sạch, vững mạnh; phát huy tinh thần cống hiến vì đất nước, không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần và hạnh phúc của nhân dân, tạo điều kiện để “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”.

LẬT TẨY MƯU ĐỒ THÂM ĐỘC CỦA PHẠM TRẦN

Hiện nay, việc lợi dụng một số cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” để thổi phồng, bôi đen sự thật là một trong những thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, phản động. Với thủ đoạn đó, trên Doithoaionline.com của bọn phản động đã phát tán cái gọi là “Suy thoái muôn năm” của Phạm Trần nhằm mục đích phủ nhận bản chất tốt đẹp của Đảng và chế độ ta; lôi kéo, kích động, chia rẽ, làm mất lòng tin của nhân dân vào Đảng. Âm mưu thâm độc đó của Phạm Trần không thể đánh lừa được Nhân dân. Bởi vì, những thành quả của cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng nói chung, kết quả của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế của đất nước hiện nay nói riêng là sức mạnh to lớn, tiếp tục củng cố vững chắc lòng tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Mưu đồ thâm độc của Phạm Trần

Với tâm địa đen tối, Phạm Trần đã cố tình “nhặt” những đánh giá của Đảng về hạn chế trong phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí và tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của một bộ phận cán bộ, đảng viên mà không gắn với những điều kiện, hoàn cảnh cụ thể. Y đã cố tình quên, những nội dung, yêu cầu của công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng; đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của Đảng luôn đặt ra ngày càng cao hơn, cụ thể hơn và quyết liệt hơn.

Từ đó, y đã quy chụp cho rằng, những mục tiêu, nội dung về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của Đảng trong suốt hơn 2 nhiệm kỳ qua đã không mang lại kết quả! Thâm độc hơn, y đã xuyên tạc và cho rằng, những hạn chế, yếu kém đó là “bản chất” của Đảng, là sự thoái trào của chủ nghĩa Cộng sản. Đồng thời, y đã cố tình vu khống, bịa đặt, nhào nặn, gán ghép nguyên nhân của những hạn chế đó là do những người đứng đầu Đảng, Nhà nước.

Âm mưu đen tối, thâm độc trên của Phạm Trần là nhằm mục đích phủ nhận bản chất tốt đẹp của Đảng, chế độ xã hội chủ nghĩa và bôi nhọ, làm mất uy tín, gây chia rẽ mối quan hệ gắn bó máu thịt giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân. Gây rối, chia rẽ nội bộ, phá hoại công tác tổ chức, xây dựng đội ngũ cán bộ của Đảng, Nhà nước; nuôi dưỡng, kích động tâm lý chống đối Đảng, Nhà nước trong xã hội để cuối cùng là xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa và thay đổi chế độ chính trị ở nước ta.

“Một Đảng dám thừa nhận khuyết điểm là một đảng mạnh”

Thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Một Đảng dám thừa nhận khuyết điểm là một đảng mạnh, một Đảng che giấu khuyết điểm là một đảng yếu”, trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng ta luôn xác định nhiệm vụ xây dựng Đảng là then chốt, bảo đảm sự lãnh đạo đúng đắn, hoàn thành sứ mệnh lịch sử của Đảng trước đất nước, nhân dân và dân tộc. Vì vậy, trước vận mệnh của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân, Đảng ta thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn, đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham những, tiêu cực, từng bước loại những “con sâu” ra khỏi Đảng và hệ thống chính trị. Trong các Nghị quyết, Kết luận về công tác xây dựng Đảng, Đảng ta đã thẳng thắn nhìn nhận và chỉ ra những hạn chế, yếu kém của một bộ phận cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến chất, sa vào chủ nghĩa cá nhân, là những “con sâu” làm ảnh hưởng đến uy tín, danh dự và sức mạnh của Đảng. Vì thế, Đảng luôn kiên quyết, kiên trì loại bỏ những “con sâu” ra khỏi Đảng và hệ thống chính trị làm cho Đảng ta ngày càng vững mạnh hơn.

Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện. Kể từ khi ra đời cho đến nay, Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Qua 36 năm đổi mới, Đảng đã lãnh đạo đất nước vượt qua khó khăn, thách thức và đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nâng cao vị thế của đất nước trên trường quốc tế, củng cố vững chắc niềm tin của nhân dân đối với Đảng. Đảng ta xứng đáng là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Đó là kết quả của sự nỗ lực và phấn đấu không ngừng của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân.

Hơn bao giờ hết, Đảng ta đã và đang tăng cường chỉnh đốn Đảng, tìm ra những biện pháp để khắc phục những sơ hở, thiếu sót để củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng. Thực tế đã chứng minh, Đảng đang thực hiện nói đi đôi với làm. Điển hình là những vụ việc tham nhũng, tiêu cực nghiêm trọng liên quan đến các tổ chức, cá nhân đã và đang được xử lý theo đúng pháp luật. Nhân dân luôn một lòng tin Đảng, theo Đảng và tin tưởng Đảng ta sẽ đẩy lùi được tồn tại, hạn chế nêu trên; những kẻ đi ngược lại với lợi ích của Đảng, Tổ quốc và Nhân dân sẽ bị trừng trị thích đáng.

Với niềm tin vững chắc của Nhân dân đối với Đảng, niềm tin tất thắng vào con đường mà Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Nhân dân ta đã lựa chọn; với những thành tựu có ý nghĩa lịch sử của cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhất là những thành tựu qua 36 năm đổi mới, Nhân dân ta tiếp tục tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng và sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Đồng thời, luôn tỉnh táo trước những âm mưu, thủ đoạn xuyên tạc, vu khống của thế lực thù địch, phản động tránh mắc mưu thâm độc của chúng./.