Hiển thị các bài đăng có nhãn ý nghĩa. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn ý nghĩa. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 24 tháng 6, 2024

Ý NGHĨA HOẠT ĐỘNG CỦA QUỐC TẾ II ĐỐI VỚI PHONG TRÀO CỘNG SẢN VÀ CÔNG NHÂN QUỐC TẾ NHƯ THẾ NÀO?

 

Sự tồn tại và hoạt động của Quốc tế II có ý nghĩa như sau:

Một là, sự tồn tại và hoạt động của Quốc tế II ở giai đoạn đầu do Ph.Ăngghen lãnh đạo đã giúp cho các đảng dân chủ xã hội vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức, đứng vững trên lập trường của chủ nghĩa Mác; tạo ra những tổ chức công nhân có tính chất quần chúng rộng rãi, tập hợp, giáo dục họ để chuẩn bị lực lượng cho cách mạng xã hội chủ nghĩa nổ ra và giành chính quyền.

Hai là, Quốc tế II đã tích cực đấu tranh phê phán các trào lưu cơ hội xét lại trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, tạo điều kiện cho chủ nghĩa Mác thâm nhập vào phong trào công nhân và giữ địa vị thống trị trong các đảng dân chủ xã hội ở giai đoạn do Ph.Ăngghen lãnh đạo.

Ba là, Quốc tế II đã đào tạo đội ngũ cán bộ nòng cốt, góp phần thúc đẩy phong trào công nhân phát triển sâu rộng. Đúng như V.I.Lênin đã khẳng định, Quốc tế II có vị trí, vai trò rất quan trọng, nó đánh dấu một thời kỳ chuẩn bị cơ sở để cho phong trào lan rộng trong quần chúng ở nhiều nước.

Thứ Hai, 4 tháng 9, 2023

KHÔNG THỂ XUYÊN TẠC THÀNH QUẢ VÀ Ý NGHĨA CỦA CÁCH MẠNG THÁNG TÁM VÀ QUỐC KHÁNH 2/9

Hằng năm, vào dịp kỷ niệm Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2/9, các phần tử xấu luôn tìm mọi cách xuyên tạc lịch sử, bôi nhọ thành quả và ý nghĩa của sự kiện trọng đại này nhằm hạ thấp uy tín, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh

Lịch sử đã chứng minh, trước năm 1945, Nhân dân ta phải chịu cảnh nước mất nhà tan, “một cổ hai tròng”, đói rách lầm than, oằn lưng đối mặt với sưu cao, thuế nặng dưới ách đô hộ của thực dân Pháp xâm lược và phong kiến. Ngày 09/3/1945, Nhật đảo chính lật đổ Pháp trên toàn cõi Đông Dương và thay Pháp bóc lột Nhân dân Việt Nam. Các phong trào cách mạng do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo như Xô Viết Nghệ Tĩnh 1930 - 1931 và cuộc vận động dân chủ 1936 – 1939 đã cho thấy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, nhất tề đứng lên đập tan bộ máy của giai cấp thống trị, giành chính quyền về tay Nhân dân.

Mùa thu năm 1945, hưởng ứng lời kêu gọi của Việt Minh và lời hiệu triệu của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết; thành công, thành công, đại thành công”, Nhân dân cả nước từ nông thôn đến thành thị, từ Bắc đến Nam, từ miền xuôi đến miền ngược, không phân biệt già trẻ, gái trai, giai cấp, dân tộc, tôn giáo… đồng lòng đứng lên tổng khởi nghĩa và giành thắng lợi hoàn toàn, chính quyền trong cả nước về tay nhân dân tạo nên Cách mạng tháng Tám lịch sử của dân tộc.

Ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình (Hà Nội), Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời trịnh trọng đọc bản Tuyên ngôn độc lập tuyên bố trước quốc dân và thế giới khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam). Từ đó, ngày 2/9 là Ngày Quốc khánh của nước ta.

Sau hai sự kiện trọng đại trên, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đất nước ta ngày nay đã đạt được nhiều thành tựu to lớn trên các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh… Từ một quốc gia kém phát triển, Việt Nam trở thành nước đang phát triển, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Đời sống của Nhân dân ngày càng được cải thiện tích cực. Dân chủ xã hội chủ nghĩa được phát huy và ngày càng mở rộng. Đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố và tăng cường. Công tác xây dựng Đảng, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và hệ thống chính trị được đẩy mạnh. Quan hệ đối ngoại ngày càng mở rộng và đi vào chiều sâu; vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao.

Tuy nhiên, trước những thành tựu của đất nước, các thế lực thù địch, tổ chức phản động và đối tượng chống đối trắng trợn xuyên tạc rằng: Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công không phải là do sự lãnh đạo tài tình của Đảng Cộng sản Việt Nam, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, không phải là sức mạnh đoàn kết của toàn dân tộc đứng lên làm cách mạng; dù không có Đảng Cộng sản, nhiều thuộc địa vẫn giành được độc lập mà ít tốn xương máu. Sự hao tổn xương máu là do Đảng Cộng sản Việt Nam gây ra. Thậm chí, có kẻ còn trắng trợn “kết tội” rằng: thành quả Cách mạng tháng Tám nhanh chóng rơi vào tay Đảng Cộng sản và đây là nguyên nhân khiến dân tộc Việt Nam rơi vào “thảm họa” chiến tranh, đất nước bị tàn phá, dân tộc phân ly và ngày nay tiếp tục tình trạng nghèo đói, lạc hậu; “nếu không đi theo con đường cách mạng vô sản, Việt Nam vẫn có độc lập mà tránh được chiến tranh, đi theo con đường của nước tư bản phát triển tới phồn vinh”...

Thế nhưng, hơn ai hết, Nhân dân Việt Nam là người hiểu rõ và thấu đáo nhất giá trị, ý nghĩa lịch sử của Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2/9; đó là thắng lợi của Chủ nghĩa Mác - Lênin được vận dụng sáng tạo vào hoàn cảnh Việt Nam, là một điển hình về nghệ thuật quy tụ sức mạnh đại đoàn kết toàn dân đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Công sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh; phát huy cao độ tinh thần, trí tuệ và truyền thống văn hoá Việt Nam; đó là sự đồng lòng, nhất trí của các tầng lớp nhân dân Việt Nam quyết “phá xiềng xích cướp chính quyền”, thoát khỏi ách nô lệ. Thắng lợi đó đã cổ vũ mạnh mẽ tinh thần đấu tranh của Nhân dân các nước thuộc địa và nửa thuộc địa trên thế giới, đặc biệt là Nhân dân châu Á và châu Phi. Từ thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945, lịch sử dân tộc đã sang trang mới, chấm dứt ách áp bức nô lệ của chủ nghĩa thực dân, phong kiến; thực sự làm chủ vận mệnh đất nước và chính bản thân mình; dân tộc Việt Nam sánh vai cùng các dân tộc trên thế giới với tư cách là dân tộc đi tiên phong trong đấu tranh cách mạng.

Có thể khẳng định, Cách mạng tháng Tám thành công do Đảng Cộng sản Việt Nam, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sáng suốt lựa chọn con đường giải phóng dân tộc đúng đắn, có sự chuẩn bị kỹ càng, phát huy được sức mạnh tổng hợp của khối đại đoàn kết toàn dân tộc và quan trọng là dự đoán thời cơ chính xác, chớp thời cơ kịp thời để phát động tổng khởi nghĩa. Nếu điều kiện chín muồi đến mà không nắm lấy thời cơ, chần chừ, chờ đợi địch đầu hàng, trao quyền độc lập thì dân tộc Việt Nam sẽ còn tiếp tục chịu sự thống trị, áp bức của đế quốc, thực dân. Chính vì vậy, đó không phải là “sự ăn may” như những luận điệu bịa đặt, xuyên tạc. Hơn thế nữa, nếu không có Cách mạng tháng Tám, không có sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam thì đất nước không thể có cơ đồ, tiềm lực, vị thế, uy tín như hiện nay.

Trải qua 78 năm, tầm vóc, ý nghĩa lịch sử của Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2/9 vẫn còn nguyên giá trị và tiếp tục tỏa sáng trong sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta. Đó là cuộc hồi sinh vĩ đại của dân tộc, mở ra một thời kỳ phát triển rực rỡ của đất nước với những chiến công oanh liệt như chiến thắng Điện Biên Phủ, đại thắng mùa xuân năm 1975, với những thành tựu có tính lịch sử của công cuộc đổi mới, xây dựng và phát triển đất nước như ngày hôm nay. Những thành tựu to lớn trên chính là minh chứng sinh động nhất, thuyết phục nhất mà không luận điệu nào có thể xuyên tạc, phủ nhận giá trị lịch sử của Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2/9. Tự hào về lịch sử hào hùng của dân tộc, mỗi chúng ta phải luôn nêu cao cảnh giác, kiên quyết, kiên trì đấu tranh, phê phán, phản bác mọi luận điệu sai trái xuyên tạc sự thật lịch sử, phủ nhận thành quả cách mạng của đất nước ta. (ST)


Thứ Bảy, 19 tháng 8, 2023

NGHĨA LỊCH SỬ CỦA CÁCH MẠNG THÁNG TÁM NĂM 1945 ĐỐI VỚI NƯỚC TA

Cách đây 78 năm, vào mùa Thu lịch sử năm 1945, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân ta đã làm nên cuộc Cách mạng Tháng Tám “long trời lở đất”. Ngày 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa (nay là nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam), mở ra một kỷ nguyên mới trong lịch sử dân tộc: Kỷ nguyên độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội. Nước ta từ một nước thuộc địa, nửa phong kiến trở thành một nước độc lập, một nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á. Nhân dân ta từ thân phận nô lệ trở thành người chủ đất nước, làm chủ vận mệnh của mình. Đây là một trong những thắng lợi nổi bật vĩ đại nhất của cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX dưới sự lãnh đạo tài tình của Đảng.

Đánh giá về ý nghĩa lớn lao này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Cách mạng Tháng Tám đã lật đổ nền quân chủ mấy mươi thế kỷ, đã đánh tan xiềng xích thực dân gần 100 năm, đã đưa chính quyền lại cho nhân dân, đã xây nền tảng cho nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, độc lập, tự do, hạnh phúc. Đó là một cuộc thay đổi cực kỳ to lớn trong lịch sử của nước ta”. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Trước hết đã chứng minh rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện đã lãnh đạo nhân dân tiến hành Cách mạng Tháng Tám thành công, lập nên nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Thắng lợi đó đã khẳng định sự đúng đắn trong tư tưởng Hồ Chí Minh về những vấn đề cơ bản của cách mạng giải phóng dân tộc. Đó là vai trò lãnh đạo tiên phong của Đảng cộng sản Việt Nam – Đảng của giai cấp công nhân lấy chủ nghĩa Mác- Lênin làm nền tảng, kim chỉ nam cho hành động.

Sau này, Đảng ta đã tiếp tục lãnh đạo nhân dân đánh thắng các cuộc chiến tranh xâm lược, hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, tiến hành công cuộc đổi mới, xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc nền độc lập của Tổ quốc. Thắng lợi của cách mạng tháng Tám và sự thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa 2/9 đã khẳng định sự đúng đắn của tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng dân tộc gắn liền với giải phóng giai cấp, độc lập tự do gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Đó chính là sợi chỉ đỏ xuyên suốt tiến trình cách mạng Việt Nam. Thắng lợi đó đã đánh dấu bước phát triển nhẩy vọt của cách mạng Việt Nam, mở đầu kỉ nguyên mới của dân tộc: kỉ nguyên độc lập tự do, kỉ nguyên nhân dân lao động nắm chính quyền và tiến lên xây dựng CNXH. 

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là hội tụ của ý chí độc lập tự chủ, tự lực, tự cường của dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng; là thắng lợi vĩ đại của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh được Đảng ta vận dụng một cách sáng tạo để “lựa tình thế, chọn thời cơ”, đưa ra những quyết sách đúng đắn, sáng tạo ở tầm chiến lược. Do vậy trong quá trình tìm đường cứu nước Hồ Chí Minh đã khẳng định: muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không thể trông chờ vào người khác mà phải đứng lên đấu tranh để giành lấy nó. Từ thắng lợi to lớn đó, đã cổ vũ nhân dân ta kiên cường đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, bằng Chiến dịch Hồ Chí Minh năm 1975 lịch sử. Đất nước hoàn toàn độc lập, người dân được hoàn toàn tự do, hạnh phúc.

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 cũng chứng minh rằng, một dân tộc dù nhỏ bé nhưng nếu có truyền thống nồng nàn yêu nước, ý chí tự lực, tự cường, thông minh, sáng tạo dưới sự lãnh đạo của đảng cách mạng chân chính thì vẫn có thể làm nên những sự kiện vĩ đại có tầm vóc và đi vào lịch sử của dân tộc và thế giới. Thắng lợi đó đã tô thêm truyền thống yêu nước, truyền thống đoàn kết- nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là động lực mạnh mẽ cổ vũ toàn thể dân tộc Việt Nam kiên cường, bất khuất tiếp tục sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, xây dựng chủ nghĩa xã hội, thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới đưa nước ta phát triển để có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín như ngày hôm nay.


Thứ Ba, 10 tháng 5, 2022

NÂNG CAO NHẬN THỨC VỀ MỤC ĐÍCH, Ý NGHĨA VÀ TẦM QUAN TRỌNG CỦA CÔNG TÁC XÂY DỰNG, CHỈNH ĐỐN ĐẢNG TRONG NGHỊ QUYẾT TRUNG ƯƠNG 4, KHÓA XIII

Nhận thức về mục đích, ý nghĩa, tầm quan trọng của Nghị quyết đối với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay. Việc tổ chức quán triệt, học tập Nghị quyết phải được thực hiện nghiêm túc ở tất cả các cấp, theo đúng nội dung, chương trình, kế hoạch đã đề ra. Qua đó, để mọi cán bộ, đảng viên nhận thức sâu sắc nguy cơ, nhận diện đúng những biểu hiện và đề ra các giải pháp phù hợp để đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi có hiệu quả tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Kiên quyết khắc phục những yếu kém trong công tác cán bộ và xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ cấp chiến lược, cán bộ chủ trì các cấp.

Tập trung quán triệt, nắm vững những quan điểm cơ bản về xây dựng Đảng, những nội dung trọng tâm cần triển khai, nâng tầm tư duy, phương pháp luận trong tổ chức thực hiện; tạo sự thống nhất cao về nhận thức và hành động; đề cao trách nhiệm nêu gương để chỉ đạo thực hiện Nghị quyết có hiệu quả. Thực hiện tốt phương châm: kiên quyết, kiên trì thực hiện Nghị quyết, làm thực chất và kịp thời khắc phục những biểu hiện làm chiếu lệ, qua loa, đại khái, hình thức, đối phó, không thấy được giá trị thiết thực của Nghị quyết đối với công tác xây dựng Đảng, rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên hiện nay.

Thứ Sáu, 3 tháng 12, 2021

TƯỞNG NIỆM ĐỒNG BÀO, CHIẾN SĨ CHẾT VỀ COVID – 19, BUỔI LỄ ĐẦY Ý NGHĨA NHÂN VĂN SÂU SẮC

Đợt dịch Covid – 19 lần thứ 4 bùng phát trên cả nước đã để lại nhiều hậu quả nặng nề, rất nhiều người không thể nhìn mặt người thân lần cuối, hàng ngàn trẻ e phút chốc mồ côi. Vì thế, việc tổ chức lễ tưởng niệm đồng bào tử vong và cán bộ, chiến sĩ hy sinh trong đại dịch Covid-19 là rất thiết thực. Khó kể hết những hy sinh thầm lặng của lực lượng tuyến đầu chống dịch, biết bao ngày đêm chiến đấu giành giật sự sống cho người bệnh Covid-19. Rồi những thanh niên tình nguyện đã gác lại hạnh phúc, gác tình riêng... để lao vào tâm dịch với quyết tâm cùng vượt qua dịch bệnh.

Lễ tưởng niệm đồng bào đã mất vì Covid-19 là đáp ứng nhu cầu tâm linh, tình cảm thiêng liêng của người dân. Lễ tưởng niệm như một lời nhắc nhở mỗi người, khắc sâu vào ý thức bảo vệ sức khỏe bản thân và cộng đồng, vào tính toán khoa học và lựa chọn quyết sách của chính quyền để nỗi đau không lặp lại.

Buổi lễ nhằm xoa dịu nỗi đau của các gia đình có người thân tử vong do dịch Covid-19, cầu nguyện cho các vong linh tử vong được siêu thoát, đồng thời lan tỏa tình nhân ái yêu thương, tiếp tục động viên, khích lệ tinh thần các lực lượng đã và đang tham gia phòng chống dịch. Qua buổi lễ cũng nhằm phát huy truyền thống đại đoàn kết, ý chí quật cường của dân tộc, vượt qua khó khăn, thách thức. Điều này càng ý nghĩa trong thời điểm hiện tại khi chúng ta đang thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát.

Thứ Năm, 2 tháng 9, 2021

GIÁ TRỊ LỊCH SỬ, Ý NGHĨA THỜI ĐẠI CỦA BẢN TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP

Như chúng ta đã biết, ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản ”Tuyên ngôn Độc lập” lịch sử do chính Người chuẩn bị, trịnh trọng tuyên bố trước toàn thế giới về sự ra đời của một nhà nước mới: Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam). Tuyên ngôn Độc lập là một văn kiện lịch sử, một văn bản pháp lý quan trọng bậc nhất của nước ta. Với hệ thống lập luận chặt chẽ, lí lẽ sắc bén, giọng văn hùng hồn, một cơ sở pháp lý vững chắc khẳng định mạnh mẽ chủ quyền quốc gia của dân tộc Việt Nam trước toàn thế giới, mở ra thời kỳ mới của dân tộc ta trên con đường phát triển. Nội dung của Tuyên ngôn Độc lập đã được các nhà khoa học thuộc nhiều lĩnh vực nghiên cứu, song vẫn bị một số đối tượng cơ hội, phản động chống đối xuyên tạc, đặt câu hỏi với dụng ý xấu: Vì sao Chủ tịch Hồ Chí Minh lại mở đầu bản Tuyên ngôn Độc lập bằng những câu trích dẫn từ hai bản Tuyên ngôn của nước Mỹ và Pháp? Lý do chúng đặt câu hỏi như vậy không phải chúng không hiểu mà là chúng cố tình xuyên tạc giá trị, ý nghĩa lịch sử của bản tuyên ngôn Độc lập. Chủ tịch Hồ Chí Minh mở đầu bản Tuyên ngôn Độc lập bằng những câu trích dẫn từ hai bản Tuyên ngôn của nước Mỹ và Pháp, bởi vì:

Thứ nhất, Chủ tịch Hồ Chí Minh là danh nhân văn hóa thế giới như UNESCO đã tôn vinh, Người nhắc đến hai văn kiện lịch sử ấy với lòng trân trọng đặc biệt của một trí tuệ lớn đối với sự phát triển của văn minh nhân loại mà Cách mạng giành độc lập của Hoa Kỳ năm 1776 và Cách mạng tư sản Pháp 1789 đã giành được. Đây là những thành quả văn hoá của nhân loại, là dấu mốc lớn của lịch sử loài người, trong đó đã khẳng định những quyền cơ bản của con người. Đó là "quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc” … “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi; và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi. Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được”… Đây là những tư tưởng rất tiến bộ đã được khẳng định trong hai bản Tuyên ngôn của nước Mỹ và nước Pháp. Dẫn dắt từ sự kiện này để Chủ tịch Hồ Chí Minh đi đến kết luận nhằm tranh thủ sự đồng tình và ủng hộ của quốc tế đối với cuộc cách mạng của nhân dân Việt Nam.

Thứ hai, Chủ tịch Hồ Chí Minh muốn khẳng định, chính cuộc cách mạng mà dân tộc Việt Nam đã giành được vào Tháng Tám năm 1945 là bước đi tiếp trong sự phát triển của nhân loại; đồng thời, cũng là cột mốc cho sự phát triển của lịch sử giải phóng con người thuộc các dân tộc bị áp bức, bóc lột. Đó là mẫu hình đầu tiên và cũng là ngọn cờ đầu của cuộc đấu tranh giải phóng các dân tộc thuộc địa nhỏ yếu thoát khỏi ách đô hộ, thống trị của chủ nghĩa thực dân cũ và mới mà cách mạng Việt Nam do Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo đã gương cao.

Thứ ba, đi sâu nghiên cứu hai bản Tuyên ngôn của nước Mỹ và nước Pháp, chúng ta thấy cả hai bản Tuyên ngôn đều đề cao và khẳng định quyền con người: “Mọi người đều sinh ra bình đẳng”. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa là: Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do. Chính sự suy rộng ra đã thể hiện một tư tưởng lớn, một luận điểm quan trọng thể hiện sự vượt trội của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được trình bày trong Tuyên ngôn Độc lập của nước Việt Nam. Đây là một nội dung rất căn bản, có ý nghĩa không chỉ đối với dân tộc ta mà còn có ý nghĩa sâu sắc đối với thời đại. Từ đó tới nay, các nước trên thế giới đã và đang liên tục đấu tranh để giành độc lập, giành quyền dân tộc cơ bản của mình. Đó chính là sự đóng góp về lý luận và thực tiễn về quyền con người, đem lại những tiến bộ và phù hợp với sự phát triển của nhân loại.

76 năm đã trôi qua với biết bao thăng trầm của lịch, đất nước đã đổi thay nhưng giá trị và ý nghĩa lịch sử của bản tuyên ngôn Độc lập vẫn giữ nguyên, đã trở thành sức mạnh to lớn của toàn dân tộc Việt Nam vượt qua mọi khó khăn, thách thức, thực hiện lời thề thiêng liêng trong ngày Lễ độc lập: “Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”. Với tinh thần đó, mà cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại đã giành được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trong suốt hơn 76 năm qua. Hiện nay, toàn Đảng, toàn dân ta đã và đang tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới toàn diện trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực sẽ còn nhiều diễn biến rất phức tạp, tác động trực tiếp đến nước ta, tạo ra cả thời cơ và thách thức.

Để tận dụng, phát huy tốt nhất thời cơ, thuận lợi, vượt qua khó khăn, thách thức, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta cần đoàn kết một lòng với quyết tâm cao, phát huy sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, phấn đấu sớm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại; nâng cao đời sống của nhân dân. Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập ,chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, mà trước mắt là đoàn kết, quyết tâm chiến thắng đại dịch Covid – 19 để đưa cuộc sống trở lại bình thường.

Thứ Tư, 18 tháng 8, 2021

GIÁ TRỊ CỦA CÁCH MẠNG THÁNH TÁM TRONG NHIỆM VỤ XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC HIỆN NAY

76 năm đã trôi qua nhưng hào khí, tinh thần bất diệt của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 vẫn còn nguyên vẹn; là động lực tinh thần to lớn để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta xây dựng đất nước “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn” như sinh thời Bác Hồ hằng mong mỏi.

Thắng lợi vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và sự ra đời của Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa là thắng lợi của sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, truyền thống yêu nước nồng nàn và ý chí quật cường dưới sự lãnh đạo tài tình của Ðảng và Bác Hồ. Thắng lợi ấy minh chứng cho bản lĩnh và trí tuệ của Ðảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ðó là sự kế thừa và phát huy kinh nghiệm từ các cao trào cách mạng do Ðảng khởi xướng, là sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh của thời đại để làm nên chiến thắng lịch sử của dân tộc.

Cách mạng Tháng Tám thành công, sự ra đời của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa không chỉ là mốc son chói lọi; bước ngoặt trọng đại của nhân dân, dân tộc Việt Nam; Mở ra một kỷ nguyên đất nước độc lập, tự do, đi lên chủ nghĩa xã hội, mà còn là sự kiện mang tầm vóc thời đại, có ý nghĩa quốc tế sâu sắc, là nguồn cổ vũ, động viên to lớn đối với các dân tộc thuộc địa, nhân dân bị áp bức, bóc lột trên thế giới đấu tranh giành độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.

Sống trong chiến tranh mới thấy hết giá trị của hòa bình; chịu cảnh nô dịch của ngoại bang mới thấm thía nổi nhục của kiếp nô lệ. Hơn ai hết, nhân dân, dân tộc Việt Nam đã chịu biết bao đau thương, mất mát, tủi nhục, bởi đã từng là nạn nhân của hàng trăm, hàng ngàn cuộc chiến tranh lớn nhỏ trong lịch sử; cũng đã từng chịu sự nô dịch của 1.000 năm phong kiến phương Bắc và gần 100 năm đô hộ của chủ nghĩa thực dân, đế quốc Pháp; là chiến trường ròng rã hơn 20 năm bởi âm mưu, thủ đoạn, toan tính và dã tâm xâm lược của chủ nghĩa đế quốc Pháp, thực dân Mỹ và bè lũ tay sai. Càng thấm thía nỗi đau của chiến tranh, chúng ta càng hiểu sâu sắc hơn giá trị vĩnh cửu của Cách mạng tháng Tám và nền độc lập, tự do mà cuộc cách mạng vĩ đại ấy mang lại; trân trọng hơn cuộc sống hòa bình, tự do, độc lập, dân chủ, công bằng, văn minh mà cả dân tộc ta phải đánh đổi bằng xương máu, mồ hôi, nước mắt của bao thế hệ cha anh đi trước. Chúng ta càng thấu hiểu sự hy sinh, công lao to lớn của Đảng, Bác Hồ và các thế hệ cán bộ, đảng viên, nhân dân đã dày công xây dựng, vun đắp và bảo vệ đất nước.

Tuy vậy, vì những mưu đồ đen tối, không ít kẻ bán rẻ lương tri, ngụy tạo mọi lý lẽ hòng phủ nhận giá trị vĩnh cửu của cuộc Cách mạng tháng Tám; làm cơ sở để tiến tới phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của đất nước.

Trước đây, các thế lực thù địch, các phần tử cơ hội chính trị rêu rao luận điệu “Cách mạng tháng Tám chỉ là một cuộc cách mạng ăn may”. Nhưng những lập luận thù địch của chúng chỉ “lóe lên” rồi “tắt ngẫm”. Không thể phủ nhận giá trị, chúng quay sang phá hoại thành quả cách mạng tháng Tám bằng cách hộ hào “Đa nguyên đa đảng”, kêu gọi “bạo loạn lật đổ”, “xuống đường”…; ngụy tạo các dẫn chứng bằng công nghệ cao để lừa bịp, mị dân, lừa gạt nhân dân trong nước và dư luận quốc tế; khoét sâu sai trái của một số cán bộ, đảng viên suy thoái để quy chụp cho cả hệ thống chính trị, phủ nhận trí tuệ, tâm huyết của hàng triệu cán bộ, đảng viên đang ngày đêm góp công, góp sức xây dựng đất nước.

Càng trơ trẽn hơn khi chúng tìm đủ mọi thủ đoạn lợi dụng lòng yêu nước vốn quý của nhân dân phục vụ cho mưu đồ chính trị đen tối; biến một bộ phận nhân dân, nhất là thế hệ trẻ chưa hiểu biết, nhận rõ dã tâm của chúng làm “lá chắn” cho các “chiến dịch phá hoại” được bọn phản động lưu vong và các tổ chức trá hình đứng đằng sau đạo diễn. Chúng lợi dụng sự phát triển nhanh chóng của khoa học và công nghệ truyền thông, mạng xã hội để lan truyền, tán phát nhanh chóng luận điệu của cái gọi là “dân chủ”, “nhân quyền”, “yêu nước”; tạo ra sự hư ảo, lung lạc nhận thức tư tưởng đối với người nghe, xem. Điều đặc biệt nguy hại khi các hoạt động giả danh dân chủ, nhân quyền, yêu nước đã được một số cơ quan truyền thông, tổ chức nước ngoài, khuyến khích, tài trợ và được một số nhân vật chống cộng cực đoan ở các quốc gia cổ xúy, nuôi dưỡng.

Thời gian gần dây, lợi dụng đại dịch COVID-19 diễn biến phức tạp, nhất là ở Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam, các phần tử phản động đã nhanh chóng đăng đàn xuyên tạc, kích động hòng tạo sự hoang mang trong xã hội. Một số trang mạng thù địch, phản động trong và ngoài nước, một số cá nhân có tâm địa xấu xa rêu rao “Việt Nam toàng rồi”, “Chính phủ chủ quan trong đối phó với dịch bệnh”, “Đảng, Nhà nước để nhân dân vùng dịch đói khát”… Điên cuồng hơn cả, trên trang mạng xã hội của bọn phản động Việt Tân còn tung tin thất thiệt: “Việt Nam, cơn ác mộng chỉ mới bắt đầu. Cách chống dịch của Đảng làm COVID-19 lây lan càng nhiều. Không hỗ trợ cứu đói cho dân mà còn tận thu vơ vét tiền của dân”. Những thủ đoạn của chúng là nhằm phá hoại tinh thần đoàn kết dân tộc, vu khống, bôi nhọ, làm giảm uy tín của Đảng, chính quyền, gây mất niêm tin trong nhân dân, kích động nhân dân “xuống đường”… tiến tới lật đổ nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Thành quả vĩ đại mà Cách mạng tháng Tám năm 1945 gây dựng.

Những ngày tháng 8/2021, nhân dịp kỷ niệm 76 năm Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2/9, khi toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta đang gồng mình đối phó với đại dịch COVID-19 để bảo vệ sức khỏe, tính mạng của toàn dân. Với tinh thần “chống dịch như chống giặc”, hàng triệu người dân Việt Nam đang đoàn kết, chúng sức, chung lòng cùng với Đảng, Chính phủ hướng về nhân dân vùng dịch bệnh phấn với niềm tin “Đẩy lùi COVID-19” trả lại cuộc sống bình yên cho nhân dân, thì những kẻ “bán lương tri cho ngoại bang”, bọn cơ hội chính trị, thù địch đang ra sức sản xuất, tán phát những bài viết, video clip đòi “xét lại giá trị Cách mạng tháng Tám”; vu khống, bôi nhọ lãnh đạo Đảng, Nhà nước. Các tổ chức phản động, khủng bố như “Đảng Việt Tân”, “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời”, “Triều đại Việt Nguyễn”… Chúng tung lên mạng xã hội những thông tin giả, xuyên tạc về quan điểm, chủ trương, chính sách, các giải pháp và kết quả phòng, chống dịch của Việt Nam; kích động người dân không chấp hành các biện pháp chống dịch, thậm chí chống phá Đảng, Nhà nước… Đích cuối cùng mà các tổ chức phản động hướng đến là tạo cớ “hô hào” gây ra “bạo loạn chính trị” theo mô hình “cách mạng đường phố”, “cách mạng màu” mà chúng đã thành công ở một số quốc gia trên thế giới.

Thực chất, đây là những việc làm phản đi ngược lại lợi ích của quốc gia, dân tộc, nhân dân và xu thế tiến bộ của thời đại trên mọi khía cạnh. Đây là âm mưu, thủ đoạn hết sức tinh vi, xảo quyệt của các thế lực thù địch cần phải được Đảng, Nhà nước và Nhân dân vạch trần, đấu tranh, loại bỏ.

Lan tỏa hào khí và những giá trị vĩnh cửu của Cách mạng tháng Tám năm 1945, đồng thời tự trang bị cho mình “sức đề kháng” để “miễn dịch” trước những thủ đoạn chống phá vô cùng tinh vi của các thế lực thù địch; xây dựng thế trận lòng dân vững chắc; giữ vững niềm tin vào Đảng, chế độ và sự nghiệp đổi mới của đất nước… Đó là cách để vô hiệu hóa mọi hành động phá hoại điên cuồng của các thế lực thù địch, để thực hiện lời thề thiêng liêng của mùa thu năm 1945 lịch sử: “… Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững nền tự do, độc lập ấy” trong giai đoạn hiện nay.

Thứ Ba, 17 tháng 8, 2021

Ý NGHĨA LỊCH SỬ CỦA CÁCH MẠNG THÁNG TÁM 1945

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã mở ra bước ngoặt lớn của cách mạng, đưa dân tộc Việt Nam bước sang kỷ nguyên mới - kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Nhân dân ta từ thân phận nô lệ đã trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ vận mệnh của mình.

Ngày 02-9-1945 tại Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản "Tuyên ngôn Độc lập”, trịnh trọng tuyên bố trước toàn thế giới về sự ra đời của một nhà nước mới: - Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam). Mặc dù thời gian đã lùi xa, đất nước đã trãi qua những bước thăng trầm của  lịch sử, nhưng tầm vóc vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám vẫn còn nguyên giá trị và ngày càng tỏa sáng. Đó là một trong những trang chói lọi nhất trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta. Thắng lợi là vậy, vẽ vang là thế, vẫn có một số người với dã tâm thâm hiểm cố tình xuyên tạc, bóp méo sự thật lịch sử nhằm phủ nhận thành quả to lớn của Cách mạng Tháng Tám và vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Họ cho rằng: “Cách mạng Tháng Tám là một sự ăn may”. Nhưng thực tiễn đã chứng minh hoàn toàn ngược lại. Khi phát xít Nhật đầu hàng quân đồng minh đã tạo ra thời cơ và điều kiện khách quan thuận lợi cho cách mạng của nhiều nước ở khu vực châu Á trong đó có Việt Nam đứng lên giành chính quyền. Cùng với điều kiện khách quan bên ngoài mang lại thì công tác chuẩn bị lực lượng đã được Đảng và nhân dân ta tiến hành từ 15 năm trước, kể từ ngày Ðảng Cộng sản Việt Nam ra đời (03-02-1930) và đảm nhận sứ mạng lãnh đạo cách mạng. Đảng ta đã xây dựng và ngày càng hoàn thiện về đường lối cách mạng, từng bước vận động, giáo dục và tổ chức tập hợp quần chúng, qua các cao trào cách mạng lớn (1930-1931, 1936-1939, 1939-1945) như là những cuộc tổng diễn tập, chuẩn bị lực lượng.

Tiếp theo, Đảng ta quyết định thành lập Việt Nam độc lập đồng minh vào tháng 5-1941, bao gồm các tổ chức quần chúng như: “Hội cứu quốc” “Nông dân cứu quốc”, “Phụ nữ cứu quốc”, “Thanh niên cứu quốc”… Đảng đã thực sự trở thành trung tâm của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, động viên tinh thần yêu nước của các giai cấp, tầng lớp trong xã hội, bồi dưỡng và phát huy cao độ chủ nghĩa yêu nước sức mạnh tinh thần to lớn của lực lượng chính trị trong việc chuẩn bị và thực hiện Tổng khởi nghĩa. 

Cùng với lực lượng chính trị, Đảng ta đã xây dựng được một đội quân vũ trang, là lực lượng nòng cốt trong đấu tranh giành chính quyền về tay nhân dân. Bên cạnh việc xây dựng lực lượng vũ trang, lực lượng chính trị, Đảng ta đã tiến hành việc chuẩn bị căn cứ cách mạng làm chỗ dựa cho vũ trang khởi nghĩa. Như vậy, thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám là kết quả tổng hợp của nhiều nhân tố, trong đó nhân tố bên trong là quyết định. Đó là, nhờ có sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh trong nghệ thuật chỉ đạo và lãnh đạo cách mạng với đường lối hết sức đúng đắn. Đó còn là sự chuẩn bị chu đáo về xây dựng lực lượng cách mạng, phát huy sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc cùng với việc dự đoán chính xác về thời cơ và nắm lấy thời cơ để phát động nhân dân đứng lên giành chính quyền… Tất cả những luận chứng khoa học trên đây cùng với thực tiễn sinh động đã diễn ra của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 cho thấy, thắng lợi của cuộc Tổng khởi nghĩa Cách mạng Tháng Tám không phải là một sự ăn may như một số chính trị gia và học giả tư sản đã nói. Với thắng lợi của Cách mạng tháng Tám, lịch sử đã sang một trang mới, bắt đầu của kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Toàn thế giới đã chứng kiến sự ra đời của một nhà nước mới: Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Nhân dân Việt Nam đã trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ vận mệnh của mình để xây dựng cuộc sống mới.

Thứ Tư, 9 tháng 6, 2021

KHẲNG ĐỊNH TẦM VÓC, GIÁ TRỊ SỰ KIỆN NGÀY 5/6/1911

Sự thật hành trình ra đi tìm đường cứu nước và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tìm ra con đường cứu nước để lãnh đạo nhân dân Việt Nam giành thắng lợi trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là như vậy. Từng chặng đường Người đã trải qua, những hoạt động của Người từ năm 1890-1969 đều được cập nhật khá đầy đủ trong các bộ sách Hồ Chí Minh toàn tập 15 tập, Hồ Chí Minh biên niên tiểu sử 10 tập, trong các cuốn sách Hồ Chí Minh tiểu sử chi tiết và tóm tắt; trong các công trình nghiên cứu khoa học của các học giả ở trong và ngoài nước… Tuy nhiên, bất chấp các thông tin chính xác đã có, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị không chỉ thường bịa đặt, bẻ cong sự thật, xuyên tạc về động cơ sang phương Tây tìm đường cứu nước của Người mà còn hồ đồ suy diễn để bôi đen nội dung lá đơn xin học ở Trường Thuộc địa của Người.

Đối với sự kiện lá đơn xin học và động cơ ra đi tìm đường cứu nước của Nguyễn Tất Thành, có thể khẳng định rằng:

Một là, không thể xuyên tạc mục đích xin học Trường Thuộc địa của Nguyễn Tất Thành, bởi nơi đây chỉ dạy ngôn ngữ và văn minh Pháp cho những thanh niên Việt Nam do Toàn quyền Đông Dương gửi sang học. Trong đó, học viên của Trường Thuộc địa không nhất thiết phải trở thành quan chức (mà Bùi Kỷ, Lê Văn Miến và nhiều người khác là những ví dụ thực tế). Hơn nữa, từ năm 1896 trở đi, cùng với việc đào tạo học viên trở thành nhà cai trị thuộc địa tương lai thì Trường Thuộc địa còn có những lớp dạy cho những người bản xứ các nghề chuyên môn như điện báo, kế toán, công xưởng…

Đồng thời, cũng không thể suy luận và xuyên tạc mục đích xin học Trường Thuộc địa của Người khi cho rằng: Nguyễn Tất Thành ban đầu học tập là vì theo ý muốn của cha để sau này sẽ làm quan triều đình nhà Nguyễn. Tuy nhiên, vì cha đã bị mất chức, nên việc làm quan triều đình nhà Nguyễn không thành, do đó mới tìm cơ hội sang Pháp, xin học ở Trường Thuộc địa, với “mộng làm quan cho thực dân Pháp". Thực chất, Người chưa bao giờ có ý định làm quan cho triều đình nhà Nguyễn, lại càng không bao giờ muốn trở thành quan cai trị thuộc địa tương lai, vì Người không chỉ thấu hiểu rất rõ tâm tư của người cha: “Quan trường thị nô lệ trung chi nô lệ, hựu nô lệ”/nghĩa là “Quan trường là nô lệ trong những người nô lệ, lại càng nô lệ hơn” mà còn có khát vọng lớn lao là "tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đấy là tất cả những gì tôi muốn, tất cả những điều tôi hiểu!”.

Hơn nữa, luận bàn về lá đơn xin học ở ở Trường Thuộc địa này, nhà sử học Pháp khá nổi tiếng D.Hémery từng nhấn mạnh rằng: "Lá đơn trước hết thể hiện ý muốn tạm thời được học, nhưng đơn xin học còn bao hàm một ý nghĩa khác, tóm tắt trong khẩu hiệu lưu hành lúc đó trong các thanh niên học sinh "xuất dương du học rồi về nhà cứu nước"…, để phổ biến tri thức hiện đại trong các dân tộc thuộc địa". Vì thế, có thể thấy, thực chất của việc xin học ở Trường Thuộc địa là Người muốn được học tập để làm giàu tri thức của mình, với "ý muốn trở thành có ích cho đồng bào tôi, muốn cho họ được hưởng những lợi ích của học thức" như đã trình bày trong lá đơn.

Hai là, sau khi bị Trường Thuộc địa từ chối, với mong muốn tìm ra con đường cứu nước đúng đắn, Người đã quyết định làm thuê cho một hãng tàu biển, tiếp tục hành trình lao động kiếm sống, học hỏi và hoạt động cách mạng ở nhiều quốc gia, nhiều châu lục. Trong những năm tháng đó, Người có thời gian khám phá, chiêm nghiệm để hiểu được thực chất của “Tự do, Bình đẳng, Bác ái”, của pháp quyền, dân chủ và mô hình tổ chức Nhà nước tư sản; của nhân quyền, pháp quyền, dân chủ, mô hình tổ chức Nhà nước Xô viết và con đường đấu tranh giải phóng dân tộc theo tinh thần của V.I.Lênin, để rồi sau khi đã “trưng cất” được những tinh hoa của nền văn minh phương Đông và phương Tây, tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa, Người quyết định trở về "giúp ích cho đồng bào mình", lãnh đạo đồng bào mình tiến hành cuộc cách mạng giải phóng, chứ không phải giống như các luận điệu phản động, bịa đặt là: khi “bị từ chối thì bất đắc phiêu lưu kiếm sống, không có thời giờ suy nghĩ chuyện đất nước” và Nguyễn Ái Quốc “đến Liên Xô học tập là hy vọng có việc làm kiếm lương hằng tháng, chứ không phải vì cách mạng Việt Nam”…

Thực tế là từ những tri thức tích luỹ được; từ sự thấu hiểu được nguồn sức mạnh nội lực “chủ nghĩa dân tộc là động lực lớn của đất nước” và với niềm tin cháy bỏng về một Tổ quốc Việt Nam được độc lập, nhân dân Việt Nam được tự do; với mong muốn đem lại hạnh phúc “cho tất cả mọi người”, Người đã không chỉ tiến hành đào tạo đội ngũ cán bộ cốt cán cho cách mạng Việt Nam, sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam, xây dựng đường lối chính trị đúng đắn phù hợp điều kiện cụ thể của Việt Nam và xu thế của thời đại là gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội, mà còn cùng Đảng xúc tiến xây dựng lực lượng cách mạng, lực lượng vũ trang cách mạng, căn cứ địa cách mạng, xây dựng và củng cố, mở rộng các hình thức Mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi… thiết thực, hiệu quả để chuẩn bị cho cuộc cách mạng giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam.

Trong quá trình đó, Người không chỉ thành công trong việc vận dụng học thuyết Mác - Lênin vốn có cơ sở thực tế từ xã hội phương Tây vào thực tiễn một nước thuộc địa, nửa phong kiến, chưa phát triển như Việt Nam mà còn phát triển học thuyết đó lên một tầm cao mới, phù hợp với phần thế giới còn lại - đó là những nước chưa qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa, mà Việt Nam là một điển hình.

Ba là, thời gian càng lùi xa, càng khẳng định rằng, hoài bão lớn lao của người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành cách đây hơn một thế kỷ đã trở thành sự thật. Từ một sự lựa chọn đúng và khởi đầu một hướng đi đúng, với ý chí, quyết tâm và sự phấn đấu không mệt mỏi cho con đường mình đã chọn, Người ra đi từ bến cảng Sài Gòn năm 1911 đã tìm thấy con đường cách mạng đúng đắn và lãnh đạo nhân dân giành thắng lợi trong cuộc đấu tranh vì một nước Việt Nam độc lập và thống nhất, tự do và hạnh phúc, ngày một phát triển bền vững.

Đồng thời, dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh và kiên định con đường cách mạng do Người cùng Đảng Cộng sản Việt Nam đã lựa chọn, 110 năm sau - một nước Việt Nam "Độc lập - Tự do - Hạnh phúc" trên hành trình đi lên chủ nghĩa xã hội "đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện hơn so với những năm trước đổi mới. Với tất cả sự khiêm tốn, chúng ta vẫn có thể nói rằng: Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay" như Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã khẳng định.

Vì vậy, vượt lên sự chống phá, bôi đen, xuyên tạc, bẻ cong sự thật của các thế lực phản động, thù địch, thì vẫn có thể khẳng định rằng: Ngày 5/6/1911 không chỉ là một sự kiện đặc biệt đánh dấu một sự lựa chọn chính xác của Nguyễn Tất Thành mà còn cho thấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dày công tìm ra con đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc Việt Nam và nhân dân Việt Nam. Đi theo con đường Người đã chọn, đất nước Việt Nam, nhân dân Việt Nam đã hòa mình vào dòng chảy chung của nhân loại; đã vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh; kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại để tạo nên sức mạnh tổng hợp về thế, về lực, về thời để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa ngày càng phát triển vững mạnh và phồn vinh, từng bước khẳng định vị thế của mình trên trường quốc tế, sánh vai cùng bạn bè quốc tế./.

Thứ Năm, 13 tháng 5, 2021

LẬT TẨY THỦ ĐOẠN XUYÊN TẠC BẢN CHẤT, Ý NGHĨA CUỘC BẦU CỬ

 Gần đến ngày diễn ra cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và bầu cử đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026, các đối tượng thù địch, phản động, cơ hội chính trị lại ráo riết thực hiện các âm mưu, hoạt động chống phá, đưa ra những luận điệu sai trái, đòi hỏi phi lý nhằm phá hoại bầu cử. Bởi vậy, cần nhận diện âm mưu, thủ đoạn xuyên tạc, chống phá, từ đó nâng cao cảnh giác, góp phần tổ chức thành công cuộc bầu cử.

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026 dự kiến sẽ được tiến hành vào ngày Chủ nhật, 23/5/2021. Đây là sự kiện chính trị quan trọng của đất nước nhằm lựa chọn, bầu ra những đại biểu tiêu biểu, xứng đáng đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân trong Quốc hội và HĐND các cấp nhiệm kỳ mới, góp phần tích cực vào việc xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Thế nhưng, đi ngược lại với mong muốn đó, các đối tượng thù địch, phản động, cơ hội chính trị, phần tử xấu lại xem đây là thời cơ để chống phá. 

Họ dùng mọi thủ đoạn xuyên tạc, kích động, chống phá cuộc bầu cử, đưa ra các luận điệu xuyên tạc bản chất của cuộc bầu cử, một số đối tượng còn lợi dụng quyền “tự ứng cử” để phát động các chiến dịch truyền thông hô hào “ký tên” ảo, gây rối.

Âm mưu của họ là nhằm gây nhiễu loạn thông tin, tạo sự hoang mang, hoài nghi trong dư luận, xuyên tạc công tác bầu cử trong Đảng, bôi lem chế độ, từ đó gây mất niềm tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước và chế độ, phá hoại cuộc bầu cử; làm cho cuộc bầu cử không diễn ra theo kế hoạch, dự kiến.

Những thủ đoạn đang được các đối tượng sử dụng để xuyên tạc, chống phá cuộc bầu cử là: 

- Tuyên truyền các luận điệu xuyên tạc về cuộc bầu cử, cho rằng cuộc bầu cử này chỉ là hình thức, người dân không có vai trò gì.

Các đối tượng đăng tải trên Internet những luận điệu cho rằng: “Cuộc bầu cử chỉ do Đảng độc diễn, người dân không có vai trò gì”, “Bầu cử chỉ là hình thức bởi nhân sự đã do Đảng chọn”, “Cuộc bầu cử không có gì mới so với trước đây”, Đảng “phân biệt đối xử với người tự ứng cử”, “Việc quy định con số và tỷ lệ đại biểu do Đảng áp đặt là tùy tiện, trái Hiến pháp”... Từ đó, quy kết rằng, ở  Việt Nam không có “dân cử, dân bầu”, đó chỉ là diễn kịch, trò hề… 

Không những vậy, các đối tượng còn tung ra các luận điệu kiểu như: Quốc hội qua các nhiệm kỳ chưa làm tròn chức trách là cơ quan quyền lực cao nhất của Nhà nước, phần lớn đại biểu chỉ là cơ cấu để bấm nút bỏ phiếu, chưa thể hiện được tiếng nói và nguyện vọng của đông đảo quần chúng nhân dân; tổ chức bầu cử như hiện tại chỉ gây lãng phí tiền của nhân dân; cuộc bầu cử này là không chính danh, chỉ là “hội nghị Đảng Cộng sản mở rộng”... Từ đó, các đối tượng kêu gọi phải mở rộng “dân chủ trong bầu cử”, Đảng cần ủng hộ những người “tự ứng cử”, phải vận động, tranh cử công khai để cử tri lựa chọn...

- Kêu gọi, kích động người dân không đi bỏ phiếu trong ngày bầu cử. Để cổ suý luận điệu “Quốc hội chỉ là hội nghị mở rộng của Đảng”, các đối tượng thông qua Internet kêu gọi, kích động người dân không đi bỏ phiếu trong ngày bầu cử. Đối với những người đi bầu cử, các đối tượng tuyên truyền gạch chéo tất cả những phiếu bầu.

- Tán phát cái gọi là “thư ngỏ”, “thư kiến nghị”, “góp ý” nhằm tuyên truyền luận điệu kêu gọi thay đổi cơ chế, chính sách, quy định về bầu cử. Lấy cớ những nhà trí thức, nhà khoa học, với những “ý kiến tâm huyết” với Đảng, Nhà nước, một số đối tượng đã chủ động viết, tán phát “thư ngỏ”, “thư kiến nghị”, “góp ý” kêu gọi Đảng, Nhà nước thay đổi cơ chế, chính sách, quy định về bầu cử hiện nay. Họ kêu gọi Đảng, Quốc hội phải sửa đổi hệ thống bầu cử, tạo điều kiện cho tất cả mọi người được ứng cử tự do. Còn nếu với cách tổ chức bầu cử và cơ chế bầu cử theo quy định hiện nay thì họ tuyên truyền rằng, đối với nhiều đại biểu có thể tự mình công bố mình trúng cử và có đủ tư cách đại biểu mà không cần phải tổ chức bầu cử tốn tiền thuế của dân. Họ hô hào: Để lập được một Quốc hội có năng lực thì trước hết phải kiên quyết bỏ hẳn cách Đảng cử dân bầu, mặt trận độc quyền giới thiệu. Phải mở rộng đường cho việc tự ứng cử và vận động ứng cử tự do...

- Lợi dụng quyền tự ứng cử, phát động các chiến dịch truyền thông hô hào ký tên ảo trên Internet, tung hô, ủng hộ cho người này, người kia. Trước thời điểm bầu cử, các tổ chức phản động, chống đối trong và ngoài nước thường chỉ đạo số thành viên, cơ sở trong nước đăng ký tự ứng cử đại biểu Quốc hội hoặc đại biểu HĐND các cấp. Không những vậy, các đối tượng còn phát động các chiến dịch truyền thông trên Internet, mạng xã hội để kêu gọi ký tên ảo nhằm tung hô, ủng hộ cho những nhà “dân chủ” tự ứng cử. Ý đồ của họ là tìm cách xâm nhập người vào các cơ quan dân cử. Trong trường hợp những người này trúng cử thì họ sẽ có điều kiện để phá hoại, tác động chuyển hóa nội bộ. Trường hợp những người này không trúng cử thì họ sẽ lợi dụng để vu cáo, xuyên tạc công tác bầu cử, cho rằng cuộc bầu cử là thiếu minh bạch, thiếu dân chủ.

Có thể thấy, những luận điệu trên tuy không mới nhưng lại được che đậy dưới những thủ đoạn tinh vi và được tung ra trong thời điểm chuẩn bị bầu cử nên gieo rắc hoang mang, gây nghi ngờ, phân tâm trong nội bộ nhân dân. Nếu ai mất cảnh giác, có thể lầm tưởng, thậm chí bị dẫn dắt và tin theo.

Ở Việt Nam, Hiến pháp và Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội, HĐND các cấp quy định: Cử tri bầu đại biểu Quốc hội và bầu cử đại biểu HĐND các cấp theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín. Những quy định của pháp luật bầu cử ở Việt Nam thể hiện một cách nhất quán nhận thức về các nguyên tắc bầu cử để đảm bảo ý chí của nhân dân, phù hợp với xu hướng tiến bộ xã hội. Việc lựa chọn, giới thiệu người ra ứng cử được thực hiện theo quy trình chặt chẽ, nghiêm túc và người dân tự do thể hiện chính kiến của mình khi cầm lá phiếu bầu cử, hoàn toàn không có chuyện ép buộc như luận điệu các đối tượng rêu rao. Hoàn toàn không có việc “bầu cử chỉ do Đảng độc diễn, người dân không có vai trò gì”, không có phân biệt đối xử với người tự ứng cử… 

Hiện nay, các cơ quan chức trách đang tổ chức thực hiện nghiêm túc Chỉ thị số 45-CT/TW, ngày 20/6/2020 của Bộ Chính trị về lãnh đạo cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và bầu cử đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026. Thường xuyên bám sát các vấn đề, sự kiện chính trị liên quan tới cuộc bầu cử để cung cấp thông tin đầy đủ, kịp thời, chính xác, có định hướng theo quan điểm, đường lối của Đảng và yêu cầu của xã hội cho cán bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân. Đồng thời, nêu cao trách nhiệm công dân, trách nhiệm đảng viên, chủ động sàng lọc, tiếp nhận thông tin hữu ích, chính thống; không nghe theo các luận điệu sai trái, thù địch, thủ đoạn kích động chống phá của các đối tượng.

Thứ Năm, 6 tháng 5, 2021

Ý NGHĨA LỊCH SỬ CỦA CHIẾN THẮNG ĐIỆN BIÊN PHỦ

a) Đối với Việt Nam:

- Chiến thắng Điện Biên Phủ là một trong những đỉnh cao chói lọi trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, là một kỳ tích vẻ vang của thời đại Hồ Chí Minh. Điện Biên Phủ không chỉ đi vào lịch sử dân tộc như một Bạch Đằng, một Chi Lăng, hay một Đống Đa, mà còn đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vang dội đột phá vào thành trì của chủ nghĩa thực dân đế quốc. Kỷ niệm 10 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ, Bác Hồ đã viết: “Điện Biên Phủ như là một cái mốc chói lọi bằng vàng của lịch sử. Nó ghi rõ nơi chủ nghĩa thực dân lăn xuống dốc và tan rã, đồng thời phong trào giải phóng dân tộc khắp thế giới đang lên cao đến thắng lợi hoàn toàn”.

- Chiến thắng Điện Biên Phủ là chiến thắng vĩ đại nhất, giáng đòn quyết định tạo bước ngoặt lịch sử trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, làm thay đổi hẳn cục diện chiến tranh giữa ta và địch; trực tiếp đưa đến việc ký kết Hiệp định Giơ-ne-vơ về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông Dương.

- Chiến thắng Điện Biên Phủ đã kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chín năm chống thực dân Pháp và can thiệp của đế quốc Mỹ; chấm dứt hoàn toàn ách xâm lược của thực dân Pháp trên đất nước ta và các nước trên bán đảo Đông Dương; bảo vệ và phát triển thành quả Cách mạng tháng Tám; một nửa nước được giải phóng, tạo cơ sở và điều kiện vững chắc để nhân dân ta tiến lên giành thắng lợi vĩ đại trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội.

- Chiến thắng Điện Biên Phủ đã làm tăng thêm niềm tự hào dân tộc, niềm tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện; cổ vũ toàn Đảng, toàn dân, toàn quân một lòng, một dạ chiến đấu dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, vì nền độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân.

 b) Đối với thế giới:

- Chiến thắng Điện Biên Phủ mang tầm vóc thời đại, góp phần to lớn vào phong trào đấu tranh vì hoà bình, tiến bộ của nhân loại.

- Chiến thắng Điện Biên Phủ giáng một đòn chí mạng vào nền móng của thực dân Pháp và can thiệp Mỹ, đánh sập thành luỹ của chủ nghĩa thực dân cũ ở vị trí xung yếu nhất, đánh dấu sự sụp đổ của chủ nghĩa thực dân cũ trên phạm vi toàn thế giới, qua đó chấm dứt thời đại hơn 400 năm của chủ nghĩa thực dân kiểu cổ điển trên thế giới; báo hiệu sự thất bại chiến lược toàn cầu phản cách mạng của chủ nghĩa thực dân mới do đế quốc Mỹ cầm đầu.

- Chiến thắng Điện Biên Phủ là chiến thắng chung của các nước trên bán đảo Đông Dương, chiến thắng của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, của phong trào đấu tranh vì hòa bình, tiến bộ xã hội trên toàn thế giới.

- Chiến thắng Điện Biên Phủ của dân tộc ta đã chứng minh một chân lý của thời đại: Một nước nhỏ, kinh tế chậm phát triển, nhưng luôn có đường lối chính trị, đường lối quân sự đúng đắn, sáng tạo, biết phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, được nhân dân tiến bộ, yêu chuộng hoà bình trên thế giới đồng tình ủng hộ thì nhất định sẽ đánh bại bất kỳ kẻ thù xâm lược nào. Lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại, một dân tộc vốn là thuộc địa nửa phong kiến, đất không rộng, người không đông, kinh tế còn lạc hậu, vũ khí kém cỏi, đã đánh thắng quân đội xâm lược của một cường quốc phương Tây có tiềm lực kinh tế và quân sự lớn, trang bị vũ khí hiện đại. Trong lần đến thăm Việt Nam, Chủ tịch Phi-đen Ca-xtơ-rô đã nói: “Từ trước đến nay chưa từng có một cuộc chiến tranh nào mà một nước nhỏ, kinh tế lạc hậu như Việt Nam mà vẫn đánh thắng Pháp và Mỹ. Đó là vô song. Trên thế giới chưa từng có. Trong lịch sử chưa từng thấy”. Chiến thắng Điện Biên Phủ đã thôi thúc và cổ vũ các nước thuộc địa ở châu Á, châu Phi, châu Mỹ la-tinh đứng lên đấu tranh tự giải phóng, thoát khỏi ách xâm lược của chủ nghĩa thực dân, đế quốc.

Thứ Tư, 18 tháng 11, 2020

GIÁ TRỊ BẤT DIỆT VÀ VĨ ĐẠI CỦA CUỘC CÁCH MẠNG THÁNG MƯỜI NGA

Cách mạng Tháng Mười như một cơn địa chấn của thế kỷ 20, không chỉ mở ra một kỷ nguyên mới đối với nước Nga mà còn cổ vũ mạnh mẽ phong trào cách mạng của giai cấp công nhân các nước, chỉ ra cho họ con đường đi tới thắng lợi trong cuộc đấu tranh chống lại chế độ cũ, xây dựng chế độ mới tốt đẹp hơn.

Thực tế, sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười và tiếp đó là thắng lợi của nhân dân Liên Xô trong Chiến tranh thế giới thứ hai, chủ nghĩa xã hội từ một nước đã phát triển thành một hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới đầy sức sống và hùng mạnh, đã có vai trò to lớn và từng có tính chất quyết định đến vận mệnh và sự phát triển của thế giới. Hệ thống xã hội chủ nghĩa, đứng đầu là Liên Xô đã có những giai đoạn phát triển rực rỡ, đã đoàn kết các dân tộc, mọi tầng lớp nhân dân chung tay xây dựng một xã hội tốt đẹp, bình đẳng, công bằng, mang lại hạnh phúc cho đông đảo nhân dân lao động. Nhờ ảnh hưởng của Cách mạng Tháng Mười và sự giúp đỡ, tác động của hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới, từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai đến những năm 70 của thế kỷ 20, hàng loạt các dân tộc thuộc địa và lệ thuộc đã đứng lên giải phóng khỏi sự áp bức, bóc lột của chủ nghĩa đế quốc và chủ nghĩa thực dân.

Cho nên có thể nói, Cách mạng Tháng Mười Nga mang tầm ảnh hưởng quốc tế to lớn, tính thời đại sâu sắc, mở ra một kỷ nguyên mới trong lịch sử phát triển của xã hội loài người. Đúng như lãnh tụ vĩ đại Lênin từng khẳng định trong tác phẩm “Bệnh ấu trĩ tả khuynh trong phong trào cộng sản”, năm 1920: “Ngày nay, chúng ta đã có trước mắt một kinh nghiệm quốc tế phong phú chứng thực hiển nhiên rằng một số đặc điểm cơ bản của cuộc cách mạng của ta không phải có ý nghĩa địa phương, ý nghĩa đặc biệt dân tộc, ý nghĩa riêng biệt cho nước Nga mà có ý nghĩa quốc tế”.

Trong một cuộc trả lời phỏng vấn Báo Quân đội nhân dân cách đây chưa lâu, bà Natalia Shafinskaia, Bí thư thứ hai Đại sứ quán Liên bang Nga tại Việt Nam, Giám đốc Trung tâm Khoa học và Văn hóa Nga tại Hà Nội cũng cho rằng: “Cuộc Cách mạng Tháng Mười là sự kiện đầy ý nghĩa của thế kỷ 20 và có ảnh hưởng to lớn đến lịch sử của toàn nhân loại. Qua cuộc cách mạng đó, Nga, sau là Liên Xô đã tìm ra được con đường phát triển của mình, đồng thời là tấm gương cho nhiều nước noi theo, đi theo, trở thành hệ thống xã hội chủ nghĩa. Trong nhiều thập kỷ, hệ thống do Liên Xô đứng đầu đã có những đóng góp to lớn vào tiến trình lịch sử của nhân loại”.

Đánh giá về giá trị và ý nghĩa của Cách mạng Tháng Mười Nga, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Giống như mặt trời chói lọi, Cách mạng Tháng Mười chiếu sáng khắp năm châu, thức tỉnh hàng triệu hàng triệu người bị áp bức, bóc lột trên trái đất. Trong lịch sử loài người chưa từng có cuộc cách mạng nào có ý nghĩa to lớn và sâu xa như thế”.

Thứ Tư, 9 tháng 9, 2020

TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP 1945 – GIÁ TRỊ TRONG SỰ NGHIỆP BẢO VỆ TỔ QUỐC HIỆN NAY

Bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 không chỉ tuyên bố với thế giới về nền độc lập của nước Việt Nam, mà còn khẳng định ý chí sắt đá của dân tộc Việt Nam kiên quyết bảo vệ nền độc lập đó. Tinh thần và khí phách dân tộc thể hiện trong Bản Tuyên ngôn mãi mãi là kim chỉ nam cho các thế hệ Việt Nam hôm nay và mai sau trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc.

Thứ Năm, 7 tháng 5, 2020

CHIẾN THẮNG ĐIỆN BIÊN PHỦ MÃI LÀ BIỂU TƯỢNG SÁNG NGỜI TRONG LỊCH SỬ DỰNG NƯỚC VÀ GIỮ NƯỚC CỦA DÂN TỘC

Chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”, có giá trị to lớn về lịch sử và thời đại đối với sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta và đời sống quốc tế, đặc biệt là đối với phong trào giải phóng dân tộc trên toàn thế giới. Thế nhưng, vẫn có những người do đối lập về lập trường chính trị, thù địch, thiếu thiện chí, cố tình xuyên tạc, phủ định những giá trị lịch sử của chiến thắng vĩ đại này.

Thứ Ba, 20 tháng 8, 2019

KHÔNG THỂ PHỦ NHẬN SỨC SỐNG MÃNH LIỆT CỦA CÁCH MẠNG THÁNG TÁM

Ý nghĩa lịch sử, giá trị thời đại, sức sống mãnh liệt của Cách mạng Tháng Tám là không thể phủ nhận. Thế nhưng bằng cái nhìn chủ quan, phiến diện, với thái độ thiếu thiện chí, trên một vài trang mạng vẫn xuất hiện những luận điệu bóp méo, xuyên tạc sự thật về cuộc Cách mạng Tháng Tám của nhân dân ta. Cứ mỗi dịp chúng ta kỷ niệm sự kiện trọng đại này là những kẻ hồ đồ lại "lải nhải" giọng điệu cũ mèm, rằng nhờ “một sự ăn may” mà Cách mạng Tháng Tám mới thành công chứ Đảng Cộng sản Việt Nam “chẳng tài cán gì”... Lật tẩy âm mưu, làm rõ bản chất của luận điệu ấy là việc làm quan trọng, cấp thiết để chúng ta đấu tranh phản bác, đồng thời tiếp tục khẳng định tinh thần bất diệt, sự trường tồn của Cách mạng Tháng Tám trong dòng chảy lịch sử dân tộc.
Một trong những chiêu trò mà các thế lực thù địch thường sử dụng để thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” chống phá các nước không cùng quỹ đạo là phủ nhận ý nghĩa, giá trị của những thắng lợi, thành quả mà các quốc gia ấy đã giành được. Đối với cách mạng Việt Nam cũng không là ngoại lệ. Những kẻ cố tình không nhìn ra giá trị của Cách mạng Tháng Tám lập luận rằng, vào đầu năm 1945, Việt Nam không còn là thuộc địa của Pháp. Kể từ sau cuộc đảo chính ngày 9-3-1945, Nhật đã hất cẳng Pháp. Và khi phát xít Nhật tuyên bố đầu hàng quân Đồng minh vô điều kiện thì ở Việt Nam xuất hiện “khoảng trống quyền lực”. Họ cho rằng, khi xuất hiện “khoảng trống quyền lực” thì không chỉ với Việt Nam mà ở mọi quốc gia trên thế giới, cách mạng cứ nổ ra là giành thắng lợi. Từ cách nhìn phiến diện và đơn giản ấy, họ cho rằng Cách mạng Tháng Tám của Việt Nam thành công “là một sự ăn may”.
Thực tế lịch sử đã chứng minh diễn biến tình hình cả trước và trong Cách mạng Tháng Tám đều đã được Đảng ta dự báo và chủ động có các chủ trương, giải pháp lãnh đạo, chỉ đạo phù hợp. Vậy thử hỏi nếu không có tầm nhìn và tư duy chiến lược sắc bén, nếu không có sự chỉ đạo chiến lược tài tình của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh thì Cách mạng Tháng Tám có nổ ra đúng thời cơ và giành thắng lợi? Thử hỏi nếu không có sự chủ động tập dượt, chuẩn bị về tổ chức và lực lượng thì khi thời cơ đến, Việt Nam có chớp thời cơ để tiến hành tổng khởi nghĩa được không? Chắc chắn là không! Vậy thì tại sao lại nói cuộc cách mạng này nổ ra và thành công “là một sự ăn may”! Thêm nữa, nếu không dự đoán thời cơ chính xác, không chớp thời cơ kịp thời thì Đảng ta có thể phát huy được sức mạnh tổng hợp để phát động tổng khởi nghĩa thành công hay không? Chắc chắn là không thể! Vậy căn cứ vào đâu để nói rằng thành công của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 “là một sự ăn may”!

KHÔNG THỂ PHỦ NHẬN GIÁ TRỊ CỦA CÁCH MẠNG THÁNG TÁM

Có thể nói Cách mạng Tháng Tám thành công là kết quả tổng hợp của nhiều yếu tố. Ngoài bối cảnh thế giới có những chuyển biến mau lẹ, thuận lợi thì yếu tố chủ quan vẫn là cơ bản, quyết định. Đặc biệt là vai trò lãnh đạo của Đảng ta, đứng đầu là lãnh tụ Hồ Chí Minh. Cách mạng Tháng Tám nổ ra và thành công là minh chứng hùng hồn khẳng định, Đảng ta đã nghiên cứu và vận dụng Chủ nghĩa Mác-Lênin một cách linh hoạt, sáng tạo vào điều kiện hoàn cảnh cụ thể đất nước, tình thế cách mạng để đề ra đường lối cách mạng đúng đắn, lựa chọn phương pháp cách mạng phù hợp. Từ những nguyên nhân làm nên sự thành công của Cách mạng Tháng Tám, chúng ta có thể khẳng định rõ rằng: Cách mạng Tháng Tám thành công hoàn toàn không phải là "một sự ăn may", mà là kết quả tất yếu của quá trình đấu tranh lâu dài và đầy gian khổ, hy sinh của nhân dân Việt Nam. Đảng Cộng sản Việt Nam và toàn thể dân tộc Việt Nam xứng đáng được hưởng thành quả trọng đại đó. Thực chất của luận điệu cho rằng Cách mạng Tháng Tám năm 1945 của Việt Nam nổ ra và thành công là “một sự ăn may” không gì khác vẫn là nhằm phủ nhận những thành quả, ý nghĩa lịch sử, giá trị thời đại, sức sống mãnh liệt của cuộc cách mạng và xa hơn là phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, phủ nhận sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, từ đó phủ nhận toàn bộ sự nghiệp cách mạng vĩ đại của nhân dân ta.
Thời gian càng lùi xa thì ý nghĩa lịch sử, giá trị thời đại, sức sống mãnh liệt của Cách mạng Tháng Tám càng lan tỏa. Trách nhiệm của những người Việt Nam yêu nước chân chính trước hết là hiểu đúng, nhận thức rõ về ý nghĩa lịch sử, giá trị thời đại của Cách mạng Tháng Tám. Mặt khác, mỗi người, mỗi tập thể phải biết phát huy truyền thống, tinh thần, bài học kinh nghiệm của Cách mạng Tháng Tám vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; đồng thời phải luôn tỉnh táo, đề cao cảnh giác, nhận rõ những âm mưu và hành động thâm hiểm của các thế lực thù địch, phản động để kiên quyết vạch trần, đấu tranh phản bác.

Thứ Sáu, 10 tháng 5, 2019

Ý NGHĨA LỊCH SỬ CỦA CHIẾN THẮNG ĐIỆN BIÊN PHỦ NĂM 1954

Chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 đã đập tan ý chí xâm lược của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ.Với tính chất là cuộc quyết chiến chiến lược trong chiến cuộc đông xuân 1953 - 1954, chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 là trận thắng quyết định để đi tới kết thúc chiến tranh. Đây là thắng lợi quân sự lớn nhất của quân đội và nhân dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954), tiêu diệt tập đoàn cứ điểm mạnh nhất của Pháp ở Đông Dương, làm cho kế hoạch Nava thất bại hoàn toàn; làm xoay chuyển cục diện chiến tranh ở Đông Dương. Không những vậy, chiến thắng này đã tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc đấu tranh ngoại giao của Việt Nam giành thắng lợi. Điều này đã chứng minh về việc cảnh báo khuynh hướng ảo tưởng, chờ đợi, ỷ lại vào giải pháp ngoại giao trước đó là hoàn toàn đúng đắn khi Chủ tịch Hồ Chí Minh giải thích rõ chủ trương nhất quán của ta là hòa bình, nhưng kinh nghiệm cho thấy: “Phải đánh bao giờ cho đế quốc qụy, nó biết không thể đánh được nữa, nó mới chịu đàm phán. Đừng có ảo tưởng mình muốn đàm phán là nó đàm phán”; “phải đánh cho Pháp qụy. Lúc ấy, có đàm phán mới đàm phán, chứ không phải đưa đàm phán ra là nó đàm phán ngay đâu. Đừng có ảo tưởng. Mục đích của nó là xâm lược. Nó mất 99% còn hy vọng 1%, nó vẫn đánh. Phải đánh nó qụy nó mới chịu”.
Trong chiến tranh, đấu tranh quân sự luôn giữ vai trò quyết định. Chiến thắng Điện Biên Phủ là lợi thế của Việt Nam trong đấu tranh ngoại giao. Phái đoàn Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà bước vào Hội nghị Giơnevơ với tư cách một dân tộc chiến thắng; buộc Pháp phải đàm phán, ký kết Hiệp định Giơnevơ về kết thúc chiến tranh, lập lại hoà bình ở Đông Dương. Chiến thắng Điện Biên Phủ làm thất bại cố gắng cao nhất của thực dân Pháp với sự giúp sức của đế quốc Mỹ trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam lần thứ hai; giáng đòn quyết định vào ý chí xâm lược, làm tiêu tan hy vọng giành thắng lợi bằng quân sự của thực dân Pháp…Đây là chiến thắng lớn nhất trong cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam chống thực dân Pháp xâm lược, có ý nghĩa chiến lược trên toàn chiến trường Đông Dương. Từ giữa tháng 11-1953, thực dân Pháp, với sự giúp sức của Mỹ, đã xây dựng Điện Biên Phủ thành tập đoàn cứ điểm mạnh nhất Đông Dương với tổng số quân hơn 16.000 tên, gồm 17 tiểu đoàn bộ binh và lính dù, 2 tiểu đoàn và 3 đại đội pháo lớn, 1 đại đội xe tăng, 1 phi đội máy bay, tổ chức thành 8 cụm với 46 cứ điểm. Chiến dịch bắt đầu từ ngày 13-3-1953 và kết thúc thắng lợi vào ngày 7-5-1954. Sau 55 ngày đêm chiến đấu, với 3 đợt tiến công, các lực lượng vũ trang ta đã tiêu diệt hoàn toàn tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, Tướng Đờ Caxtơri và Bộ Chỉ huy tập đoàn cứ điểm bị quân ta bắt sống. Thắng lợi của quân và dân ta trong cuộc tiến công chiến lược Đông - Xuân 1953 - 1954, mà đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ, đã góp phần quyết định đưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp kết thúc thắng lợi. Chính vì vậy, trong Báo cáo về dự thảo hiến pháp sửa đổi tại kỳ họp thứ 11 Quốc hội khoá I Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu bật ý nghĩa của thắng lợi này: “Chiến thắng Điện Biên Phủ và Hội nghị Giơnevơ thắng lợi đã kết thúc vẻ vang cuộc kháng chiến vô cùng anh dũng của nhân dân ta, miền Bắc nước ta được hoàn toàn giải phóng”.
 Chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 đã mở ra kỷ nguyên mới - kỷ nguyên hòa bình, độc lập và chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc xã hội chủ nghĩa gắn với đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Đánh giá về ý nghĩa trọng đại này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh: “Lần đầu tiên trong lịch sử, một dân tộc bị áp bức đã đánh bại cuộc xâm lược của một đế quốc hùng mạnh, đã giành lại độc lập cho dân tộc, đem lại ruộng đất cho dân cày, đưa lại quyền dân chủ thực sự cho nhân dân”. Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ chẳng những đã kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến 9 năm chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ; chấm dứt hoàn toàn ách xâm lược của thực dân Pháp trên đất nước ta và các nước trên bán đảo Đông Dương; bảo vệ và phát triển thành quả Cách mạng Tháng Tám năm 1945; mà còn mở ra giai đoạn cách mạng mới, tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội.Trong Lời ghi trong sổ lưu niệm của Bảo tàng Điện Biên Phủ, Ngày 7 tháng 5 năm 1964, Người viết: “Trước đây 10 năm, chiến thắng Điện Biên Phủ đã kết thúc vẻ vang cuộc kháng chiến lâu dài gian khổ, anh dũng của quân và dân nước ta chống thực dân Pháp xâm lược và sự can thiệp của đế quốc Mỹ”.

Thứ Hai, 14 tháng 5, 2018

Ý NGHĨA, TẦM QUAN TRỌNG CỦA CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN, TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH TRONG CÔNG TÁC LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

Chủ nghĩa Mác - Lênin là học thuyết hoàn bị, khoa học và cách mạng, làm cơ sở cho nhận thức thế giới và đấu tranh giải phóng giai cấp công nhân và nhân dânlao động khỏi áp bức, bóc lột, bất công. Tư tưởng Hồ Chí Minh là hệ thống những quan điểm cơ bản về cách mạng Việt Nam, kết quảcủa sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta. Nhờ có lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh đã đưa cách mạng nước ta phát triển từ tự phát thành tự giác; là nền tảng để Đảng ta có đường lối chính trị đúng đắn lãnh đạo quá trình cách mạng.
Không nhận thức đầy đủ ý nghĩa, tầm quan trọng đặc biệt của lý luận chính trị là không hiểu quá trình vận động khách quan của cách mạng Việt Nam, vai trò của lý luận tiên phong và Đảng tiên phong trong quá trình ấy. Cán bộ, đảng viên có nhận thức sai lệch này dẫn đến sẽ “... lười học chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh...” hoặc học (kể cả ở những nơi đào tạo lý luận chính trị cao cấp) để hoàn chỉnh bằng cấp, đủ điều kiện để được quy hoạch, bổ nhiệm... Việc tách rời chủ nghĩa Mác - Lênin với tư tưởng Hồ Chí Minh, cho rằng ở Việt Nam chỉ cần tư tưởng Hồ Chí Minh là đủ, thực chất là chưa hiểu nguồn gốc hình thành và phát triển của tư tưởng Hồ Chí Minh, và do đó, cũng chính là, coi nhẹ, thậm chí, phủ nhận cả tư tưởng Hồ Chí Minh.
Những sai lệch trong nhận thức đó nếu không được khắc phục sẽ khiến cán bộ, đảng viên “Phai nhạt lý tưởng cách mạng; dao động, giảm sút niềm tin vào mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hoài nghi, thiếu tin tưởng vào chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh”.

Thứ Ba, 2 tháng 1, 2018

Ý nghĩa cuộc tổng tiến công và nổi dậy mậu thân 1968 với xây dựng chiến tranh nhân dân, bảo vệ Tổ quốc hiện nay

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968 mãi mãi khắc sâu vào lịch sử dân tộc như một bản anh hùng ca bất diệt của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, đồng thời để lại cho chúng ta nhiều bài học kinh nghiệm quý báu về nghệ thuật quân sự để vận dụng, phát triển trong điều kiện mới của chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc.
Một là, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, nắm chắc tình hình; có các chủ trương, đường lối lãnh đạo đúng đắn, sáng tạo phù hợp với thực tiễn phát triển của chiến tranh cách mạng trong điều kiện mới của Việt Nam.
Để bảo vệ vững chắc Tổ quốc, trước hết, không ngừng tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với nền quốc phòng, xây dựng các lực lượng vũ trang nhân dân vững mạnh. Bài học kinh nghiệm của cuộc Tổng tiến công càng cho thấy, Đảng phải có đường lối đúng đắn, sáng tạo, trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, xác định rõ mục tiêu cách mạng, phát triển học thuyết quân sự Việt Nam; xuất phát từ thực tiễn, phân tích tình hình cụ thể để tìm ra quy luật và hành động theo quy luật, nhất là quy luật chiến tranh kiểu mới của địch - chiến tranh vũ khí công nghệ cao.
Cách mạng nước ta hiện nay bên cạnh những nhân tố thuận lợi thúc đẩy quá trình đối mới đất nước, giành nhiều thành tựu quan trọng (đặc biệt khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) và được bầu làm ủy viên không thường trực của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2008 - 2009, uy tín và vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế không ngừng nâng cao), chúng ta cũng đang phải vượt qua nhiều khó khăn, thử thách, nhất là việc các thế lực thù địch chống phá bằng chiến lược "diễn biến hoà bình", gây bạo loạn, lật đổ, âm mưu thúc đẩy "tự diễn biến", tạo cớ can thiệp dưới các hình thức. Vì vậy, đòi hỏi việc phát triển chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc cần có những bước phát triển mới, cả về quy mô, tính chất, yêu cầu các cấp, các ngành phải nhạy bén, sáng tạo, thường xuyên nắm chắc tình hình, xử lý tốt những tình huống phức tạp xảy ra, không để đất nước bị động, bất ngờ về chiến lược. Thường xuyên nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, chủ động đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn thâm độc của kẻ thù, giữ vững ổn định chính trị - xã hội, tăng cường củng cố quốc phòng - an ninh, đẩy lùi nguy cơ chiến tranh, tạo môi trường hoà bình, thuận lợi cho sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước.
Hai là, phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc và yếu tố chính trị - tinh thần.
Xây dựng và phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc là vấn đề có ý nghĩa chiến lược quan trọng tạo nên sức mạnh vô địch trong chiến tranh cũng như trong hoà bình xây dựng, phát triển đất nước. Do đó, cần chăm lo khối đại đại đoàn kết ngay từ thời bình, để "lo giữ nước khi nước còn chưa nguy" theo kinh nghiệm truyền thống của cha ông. Nghị quyết Đại hội X của Đảng chỉ rõ: "Đảng ta luôn coi vấn đề dân tộc và đoàn kết các dân tộc là vấn đề chiến lược, cơ bản, lâu dài của sự nghiệp cách mạng nước ta… là nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu và là nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc".
Xây dựng, phát huy tốt yếu tố chính trị - tinh thần của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta là nhân tố làm chuyển hoá so sánh lực lượng để "lấy ít địch nhiều", "lấy nhỏ thắng lớn", là nét độc đáo của nền nghệ thuật quân sự Việt Nam cần nhân lên trong điều kiện mới. Phát huy yếu tố chính trị - tinh thần trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, khơi dậy tinh thần yêu nước, quả cảm, ý chí quyết tâm chiến đấu, trí thông minh, sáng tạo, truyền thống chống ngoại xâm trong suốt chiều dài lịch sử mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc.
Ba là, xây dựng các khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố vững chắc, làm nền tảng của thế trận chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc.
Thực tiễn sự kiện lịch sử này cho thấy, vai trò quan trọng của lực lượng tại chỗ, của thế trận chiến tranh nhân dân. Do đó, ngay từ thời bình phải chăm lo xây dựng các khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố thành thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân vững chắc, bảo đảm tính toàn diện, nhưng có trọng tâm, trọng điểm, trong đó tập trung xây dựng vững mạnh về chính trị, phát triển vững chắc về kinh tế, ổn định về xã hội. Trên cơ sở tạo thế bố trí chiến lược chung của cả nước, chú trọng vào các khu vực phòng thủ then chốt, các địa bàn chiến lược, vùng biên giới, biển, đảo, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số; gắn kết chặt chẽ giữa kinh tế với quốc phòng và quốc phòng với kinh tế ngay trong từng dự án cũng như trong quy hoạch của từng địa phương và tổng thể cả nước. Chăm lo bảo đảm tốt đời sống của nhân dân, thực hiện dân chủ, nhất là dân chủ ở cơ sở, góp phần xây dựng "thế trận lòng dân" vững chắc. Đồng thời, xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các tổ chức đảng, hiệu lực quản lý, điều hành của chính quyền các cấp. Đẩy mạnh cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng, quan liêu, lãng phí nhằm củng cố vững chắc niềm tin của quần chúng nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa.
Bốn là, phát triển tiềm lực quốc phòng, quân sự.
Phát triển tiềm lực quốc phòng, quân sự tạo ra khả năng về vật chất và tinh thần có thể huy động được cho nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, giữ vững hoà bình, ngăn ngừa mọi âm mưu, hành động gây chiến tranh của các thế lực thù địch, sẵn sàng đánh thắng chiến tranh xâm lược ở mọi quy mô, nếu xảy ra. Sức mạnh của chiến tranh bảo vệ Tổ quốc là sức mạnh tổng hợp, vì vậy, xây dựng tiềm lực quốc phòng, quân sự phải nhằm góp phần tạo ra sức mạnh tổng hợp, chủ động chuẩn bị, gắn liền với mỗi bước tăng trưởng, phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Hiện nay, cần tận dụng những thời cơ thuận lợi của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế để mở rộng quan hệ hợp tác, trao đổi, học tập kinh nghiệm, nhất là về khoa học - kỹ thuật hiện đại, nhằm đi tắt đón đầu, phục vụ sự phát triển công nghiệp quốc phòng, công tác nghiên cứu khoa học quân sự và nghệ thuật quân sự, đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc.
Năm là, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân trong sạch, vững mạnh làm nòng cốt của chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc.

Xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, trước hết là quân đội nhân dân và công an nhân dân chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, xứng đáng là lực lượng chính trị tuyệt đối trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân, làm nòng cốt trong sự nghiệp củng cố quốc phòng - an ninh, bảo vệ Tổ quốc. Đồng thời, phát huy sức mạnh tổng hợp của quần chúng nhân dân, các lực lượng và cả hệ thống chính trị, trong đó lực lượng vũ trang ba thứ quân đóng vai trò chủ đạo. Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X xác định: "Nâng cao chất lượng tổng hợp, sức chiến đấu để lực lượng vũ trang thật sự là lực lượng chính trị trong sạch, vững mạnh, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân, được nhân dân tin cậy, yếu mến". Theo đó, chúng ta phải thường xuyên xây dựng quân đội vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng, tổ chức, có số lượng và cơ cấu hợp lý, có chất lượng tổng hợp, sức chiến đấu ngày càng cao, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Trong quá trình xây dựng quân đội phải coi trọng cả lực lượng thường trực, lực lượng dự bị động viên, dân quân tự vệ, nhằm đáp ứng tốt yêu cầu ngày càng cao của cách mạng./.