Hiển thị các bài đăng có nhãn đối lập. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn đối lập. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 9 tháng 6, 2021

NHẬN DIỆN QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH NHẰM ĐỐI LẬP KINH TẾ THỊ TRƯỜNG VỚI ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

Một số quan điểm cho rằng kinh tế thị trường là sản phẩm của chế độ tư bản chủ nghĩa nên “không thể dung hợp với chủ nghĩa xã hội”. Việc phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam chỉ là “sự gán ghép vô nguyên tắc” theo kiểu “râu ông nọ cắm cằm bà kia”, “đầu Ngô mình Sở”. Có ý kiến còn cho rằng: “Chủ trương kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là không thực tế và thiếu khoa học”. Do đó, cần phải bỏ đuôi “định hướng xã hội chủ nghĩa” để kinh tế thị trường ở Việt Nam phát triển theo đúng xu thế thời đại. Có như vậy, nền kinh tế Việt Nam mới nhanh chóng thoát khỏi nghèo nàn và lạc hậu!

Những luận điệu trên được tung ra khắp nơi, từ các trang báo chí phản động ở nước ngoài đến những trang mạng xã hội. Gần đây, một số người tự xưng là “nhà nghiên cứu”, “nhà khoa học”,  “nhà dân chủ” đã phát biểu trên một số tờ báo nước ngoài, trang mạng xã hội rằng kinh tế thị trường và chủ nghĩa xã hội “khác nhau như nước với lửa, như ngày với đêm, hoàn toàn đối lập nhau”;  Nhân dịp Đảng ta đang lấy ý kiến nhân dân góp ý vào dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIII của Đảng, một số người có tư tưởng dân túy, với danh nghĩa lo nghĩa cho tương lai của đất nước đã cho rằng “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là một khái niệm mơ hồ”. Vì thế họ kiến nghị không nên để cụm từ “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng.

Thứ Ba, 25 tháng 5, 2021

SỰ KẾ THỪA, PHÁT TRIỂN CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN TRONG ĐIỀU KIỆN CÁCH MẠNG VIỆT NAM

Không ai có thể phủ nhận công lao to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với cách mạng Việt Nam vì chính Người đã làm thay đổi vận mệnh của cả dân tộc ta từ thân phận một dân tộc nô lệ thành một đất nước độc lập, tự do. Với thế giới, Người đã “góp phần vào cuộc đấu tranh chung của các dân tộc vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội”.

Ngay từ khi mới 20 tuổi, do nhận thấy những bế tắc về đường lối và phương pháp cách mạng của các phong trào yêu nước lúc bấy giờ, Nguyễn Ái Quốc đã rời Tổ quốc để ra đi tìm đường cứu nước. Dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin, Người đã tìm ra con đường cứu nước đúng đắn - con đường cách mạng vô sản. Việc truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam tự nó chưa nói lên sự trường tồn của chủ nghĩa Mác - Lênin với cách mạng nước ta. Vấn đề cốt lõi nhất là ở khả năng dẫn đường, hấp dẫn, lôi cuốn của chủ nghĩa Mác - Lênin đối với cả một đất nước đang vươn lên để giành độc lập cho dân tộc, tự do cho nhân dân. Sức sống chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ thực sự được tỏa sáng ở Việt Nam khi Hồ Chí Minh đã vận dụng nó để lãnh đạo nhân dân đấu tranh giải phóng dân tộc, làm nên những thắng lợi vẻ vang ở thế kỷ XX mà không chỉ bạn bè quốc tế ghi nhận mà ngay cả kẻ thù cũng phải nể phục. Do đó, chỉ những kẻ cố tình “nhắm mắt làm ngơ”, “có mặt như mù” mới có thể phủ nhận được công lao to lớn của Người với cách mạng Việt Nam. Vì vậy, “không ai có quyền phỉ báng vào hiện thực lịch sử, quy cho Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh là có tội với lịch sử dân tộc bởi chính Nguyễn Ái Quốc là người đầu tiên tiếp nhận và phất cao ngọn cờ giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng vô sản”.

Không chỉ truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam, Người còn trực tiếp lãnh đạo nhân dân ta đấu tranh chống lại kẻ thù xâm lược, khai sinh và xây dựng Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa. Điều quan trọng hơn cả là khi vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin, Người đã không bê nguyên xi lý luận của các bậc tiền bối mà đã vận dụng linh hoạt, sáng tạo cho phù hợp với thực tiễn cách mạng Việt Nam. Người đã biến hệ thống lý luận với những nguyên lý, quy luật, phạm trù mang tính phổ quát của chủ nghĩa Mác - Lênin thành những triết lý giản đơn, dễ hiểu để tuyên truyền, giải thích cho nhân dân, hướng dẫn nhân dân làm theo.

Tư tưởng Hồ Chí Minh có nguồn gốc từ văn hóa dân tộc, tinh hoa văn hóa nhân loại mà đỉnh cao là chủ nghĩa Mác - Lênin. Chủ nghĩa Mác - Lênin chính là nguồn gốc lý luận của tư tưởng Hồ Chí Minh. Về logic, tư tưởng Hồ Chí Minh kế thừa, phát triển, làm phong phú, sâu sắc chủ nghĩa Mác - Lênin; vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể Việt Nam. Vì thế, trong tác phẩm “Đường kách mệnh” (viết năm 1927), ngay ở trang đầu tiên, Hồ Chí Minh đã trích lời của Lênin: Không có lý luận cách mệnh, thì không có cách mệnh vận động,… chỉ có theo lý luận cách mệnh tiên phong Đảng cách mệnh mới làm nổi trách nhiệm cách mệnh tiên phong để nêu bật tầm quan trọng của chủ nghĩa Mác - Lênin đối với Đảng: “Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt, trong đảng ai cũng phải hiểu, ai cũng phải theo chủ nghĩa ấy. Đảng mà không có chủ nghĩa cũng như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam. Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin”. Điều này đã được Người nhấn mạnh lại trong bài trả lời phỏng vấn nhà báo Sác-lơ Phuốc-ni-ô, phóng viên Báo L'humanité (Pháp) ngày 15/7/1969: “…chính là do cố gắng vận dụng những lời dạy của Lênin, nhưng vận dụng một cách sáng tạo, phù hợp với thực tế Việt Nam ngày nay, mà chúng tôi đã chiến đấu và giành được những thắng lợi to lớn như đồng chí đã biết. Chúng tôi giành được thắng lợi đó là do nhiều nhân tố, nhưng cần phải nhấn mạnh rằng… chúng tôi giành được những thắng lợi đó trước hết là nhờ cái vũ khí không gì thay thế được là Chủ nghĩa Mác - Lênin”.

Có thể nhận thấy, tư tưởng Hồ Chí Minh thống nhất với chủ nghĩa Mác - Lênin ở bản chất khoa học và cách mạng, ở lý tưởng và mục tiêu nhân văn vì con người, vì giải phóng giai cấp, dân tộc và nhân loại. Chủ nghĩa Mác - Lênin là khoa học về những quy luật phát triển chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy; về cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động chống mọi sự áp bức, bất công; về xây dựng xã hội cộng sản chủ nghĩa. Chủ nghĩa Mác - Lênin ra đời trên mảnh đất hiện thực là thực tiễn đấu tranh cách mạng của giai cấp công nhân - lực lượng xã hội đại biểu cho phương thức sản xuất tiên tiến nhất của lịch sử phát triển nền sản xuất vật chất của nhân loại. Đồng thời, là sự tổng hòa từ nhiều nguồn tri thức của loài người, thu nhận tinh túy từ các tư tưởng tiến bộ và không ngừng được bổ sung bằng những kinh nghiệm từ thực tiễn lịch sử được khái quát lên tầm lý luận. Sự hình thành và phát triển của chủ nghĩa Mác - Lênin ra đời vì mục tiêu cải tạo thế giới, hướng đến giá trị nhân văn cao cả là giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội, giải phóng con người.

Như vậy, về bản chất, tư tưởng Hồ Chí Minh thống nhất với chủ nghĩa Mác - Lênin chứ không hề có sự khác biệt, đối trọng nhau như các thế lực thù địch vẫn rêu rao. Có được điều đó là do chính Hồ Chí Minh đã tìm đến chủ nghĩa Mác - Lênin, nghiên cứu, kế tục, phát triển nó lên tầm cao mới, vận dụng sát đúng với thực tiễn cách mạng Việt Nam. Tư tưởng Hồ Chí Minh và chủ nghĩa Mác - Lênin nằm trong sự thống nhất hữu cơ; cả hai đều là cấu phần quan trọng trong nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng ta, nhân dân ta. Chúng ta không thể lấy chủ nghĩa Mác - Lênin thay cho tư tưởng Hồ Chí Minh và ngược lại, cũng như không thể hiểu và quán triệt, vận dụng sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh nếu không nắm vững chủ nghĩa Mác - Lênin.

NHẬN DIỆN ÂM MƯU VÀ THỦ ĐOẠN CỐ TÌNH ĐỐI LẬP TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỚI CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN

Trong thời gian qua, bên cạnh những luận điệu xuyên tạc, cố tình bôi nhọ, hạ bệ uy tín và phủ nhận công lao của Chủ tịch Hồ Chí Minh với cách mạng Việt Nam còn có những chiêu bài tinh vi với vẻ bề ngoài là “đề cao” vai trò của Chủ tịch Hồ Chí Minh nhưng thực chất là cố tình đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lênin.

Các thế lực thù địch lập luận rằng chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ phù hợp với phương Tây còn tư tưởng Hồ Chí Minh mới phù hợp với Việt Nam. Điển hình là việc Hồ Chí Minh không bao giờ “bê nguyên xi” chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam mà đều có sự thay đổi. Do đó, các thế lực thù địch ra sức kêu gọi “chỉ cần theo tư tưởng Hồ Chí Minh, bỏ qua chủ nghĩa Mác - Lênin” hay “chỉ cần chủ nghĩa Mác - Lênin là đủ sức lãnh đạo cách mạng Việt Nam”.

Nhận thấy vị trí vững chắc không dễ gì lay chuyển được của tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong trái tim và khối óc nhân dân Việt Nam, các thế lực thù địch cũng đã ra sức ngụy biện rằng “bây giờ chủ nghĩa Mác - Lênin đã lỗi thời, không còn phù hợp với sự phát triển của lịch sử, chỉ có tư tưởng Hồ Chí Minh là đáng giá, là phù hợp với dân tộc Việt Nam. Vì vậy, chỉ cần dựa vào tư tưởng Hồ Chí Minh và đề cao thành “chủ nghĩa Hồ Chí Minh” để thay thế chủ nghĩa Mác - Lênin!”. Thực chất của quan điểm này là sự đối lập, chia rẽ chủ nghĩa Mác - Lênin với tư tưởng Hồ Chí Minh nhằm phá vỡ từng mảng trong nền tảng tư tưởng của Đảng, gây ra sự xáo trộn trong ý thức hệ của nhân dân.

Ngoài ra, các thế lực thù địch tung ra luận điệu: “Chủ nghĩa Mác - Lênin là chủ nghĩa chia rẽ và cực đoan, thiên về đấu tranh giai cấp, đối lập với tư tưởng Hồ Chí Minh là tư tưởng đề cao đoàn kết và thống nhất; Hồ Chí Minh là người theo chủ nghĩa dân tộc chứ không theo chủ nghĩa cộng sản, chỉ nhấn mạnh đến đoàn kết chứ không nhấn mạnh đến đấu tranh”. Thực chất của luận điệu này chính là muốn hướng lái dư luận hoài nghi về bản chất khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, gây ra tâm lý hoang mang, dao động, chia rẽ sự thống nhất về chính trị, tư tưởng, tổ chức trong Đảng, làm giảm sút niềm tin trong cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng. Sâu xa hơn nữa muốn phủ nhận nền tảng tư tưởng, lý luận của Đảng và vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, muốn Việt Nam thay đổi chế độ chính trị, thực hiện đa nguyên, đa đảng, từ bỏ mục tiêu và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội.

Có thể nhận thấy, luận điệu đối lập hay đòi tách rời chủ nghĩa Mác - Lênin với tư tưởng Hồ Chí Minh của các thế lực thù địch đi ngược lại lập trường, quan điểm, lợi ích của giai cấp công nhân và của dân tộc Việt Nam. Mưu đồ thâm hiểm mà chúng nhằm tới là xuyên tạc, phủ nhận và hạ bệ cả chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Vì thế, “xem xét dưới góc độ phương pháp, việc tách rời chủ nghĩa Mác - Lênin với tư tưởng Hồ Chí Minh là sự nhận thức phiến diện, siêu hình, phi lôgic - lịch sử và không khoa học”.

Thứ Hai, 16 tháng 11, 2020

KHÔNG ĐỂ THÀNH LẬP TỔ CHỨC CHÍNH TRỊ ĐỐI LẬP

Tính chất nguy hiểm, thâm độc của luận điệu “Không thể có dân chủ trong chế độ một đảng duy nhất cầm quyền ở Việt Nam” không chỉ dừng lại ở vấn đề đa nguyên, đa đảng, mà nó còn cổ súy cho sự ra đời và công khai hoá, hợp pháp hoá các tổ chức chính trị đối lập nhằm cạnh tranh, tiến tới xoá bỏ vị trí, vai trò lãnh đạo chính quyền, lãnh đạo toàn xã hội của Đảng Cộng sản Việt Nam, cuối cùng là phủ nhận và xoá bỏ mục tiêu đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Những gì đã xảy ra ở Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu đã thể hiện rõ âm mưu, ý đồ thâm độc này của các thế lực thù địch. Thông qua “diễn biến hoà bình”, với chiêu bài “tự do”, “dân chủ”, “nhân quyền”, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội đã từng bước xoá bỏ vị trí, vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Liên Xô. Tháng 3/1990, Đại hội đại biểu nhân dân Liên Xô thông qua Nghị quyết sửa đổi Điều 6 Hiến pháp năm 1977, hủy bỏ quy định về địa vị lãnh đạo của Đảng Cộng sản Liên Xô, tuyên bố tạo cơ hội bình đẳng cho tất cả các chính đảng tham gia xây dựng và quản lý nhà nước, xã hội. Từ đó, dẫn đến cơ chế đa nguyên, đa đảng ở Liên Xô. Sau đó gần 1 năm, đã có tới 153 tổ chức, đảng phái ra đời, cạnh tranh công khai, trực tiếp và hợp pháp với Đảng Cộng sản Liên Xô. Hệ quả là, Đảng Cộng sản Liên Xô bị tước mất quyền lãnh đạo nhà nước và xã hội, Liên bang Xô Viết bị tan rã sau hơn 70 năm xây dựng và phát triển.

Hơn nữa, những luận điệu trên chủ yếu là của những kẻ cơ hội, đòi “đa nguyên, đa đảng” để “đổi vận”. Sau khi Liên Xô sụp đổ, số quan chức mới biến thành những “quý nhân” của nước Nga. "Năm 1991, trong số hàng vạn triệu phú ở Moscow, đại bộ phận nguyên là những cán bộ làm việc trong các cơ quan đảng, chính quyền. Họ chiếm 75% số quan chức bên cạnh tân tổng thống, 57,1% trong số lãnh tụ những chính đảng mới và 73,4% trong số những quan chức của chính phủ mới”. Sự thực này cho thấy, các đối tượng thù địch, phản động rêu rao phải đấu tranh cho “dân chủ”, “tự do” của nhân dân thực chất là vì chính bản thân, lợi ích của cá nhân và “đồng bọn” chúng, chứ không phải vì dân, vì nước.

Thực tiễn bảo đảm và phát huy dân chủ ở Việt Nam là minh chứng rõ nét rằng bản chất của một nền dân chủ không phụ thuộc vào chế độ đa đảng hay chế độ một đảng, mà phụ thuộc vào đảng cầm quyền đại diện cho quyền lợi của giai tầng nào trong xã hội, số đông hay số ít, tức là đảng cầm quyền mang bản chất gì và đảng cầm quyền sử dụng quyền lực nhà nước vào mục đích gì trên thực tế. Thực tiễn trên một lần nữa khẳng định rằng: trong chế độ một Đảng duy nhất cầm quyền, dân chủ trong xã hội Việt Nam không những không bị mất đi, không bị hạn chế mà còn được bảo đảm, được phát huy sâu rộng trong thực tế và phát triển lên đỉnh cao của nó, đó là dân chủ xã hội chủ nghĩa.

Thứ Tư, 9 tháng 9, 2020

ÂM MƯU, THỦ ĐOẠN CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH, PHẢN ĐỘNG CHỐNG PHÁ TRÊN LĨNH VỰC DÂN TỘC, TÔN GIÁO

Trong khi tiến hành chiến lược “Diễn biến hòa bình” đối với Việt Nam các thế lực thù địch luôn tìm cách lợi dụng các vấn đề nhạy cảm như: tự do, dân chủ, nhân quyền, tôn giáo, dân tộc để chống phá cách mạng nước ta. Trong đó, chúng thực hiện phương châm lấy chống phá về chính trị, tư tưởng làm hàng đầu, kinh tế là mũi nhọn, ngoại giao làm hậu thuẫn và coi tôn giáo, dân tộc là ngòi nổ, kết hợp với bạo loạn lật đổ, uy hiếp, răn đe, gây sức ép về quân sự nhằm tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng ta và chế độ XHCN ở Việt Nam.

Thứ Năm, 20 tháng 12, 2018

SỰ ĐỐI LẬP VỀ THẾ GIỚI QUAN TÔN GIÁO VÀ THẾ GIỚI QUAN DUY VẬT BIỆN CHỨNG LÀ CƠ SỞ ĐỂ CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH LỢI DỤNG TÔN GIÁO CHỐNG PHÁ CÁCH MẠNG VIỆT NAM

Trước hết, sự đối lập về thế giới quan của tôn giáo và thế giới quan duy vật biện chứng trong nền tảng tư tưởng của Đảng là cơ sở để chúng lợi dụng, khoét sâu mâu thuẫn giữa chế độ xã hội chủ nghĩa với tôn giáo. Thế giới quan của tôn giáo là thế giới quan “lộn ngược”; “tất cả mọi tôn giáo chẳng qua chỉ là sự phản ánh hư ảo - vào trong đầu óc của con người - của những lực lượng ở bên ngoài chi phối cuộc sống hằng ngày của họ; chỉ là sự phản ánh trong đó những lực lượng ở trần thế đã mang hình thức những lực lượng siêu trần thế”. Tính chất duy tâm, thần bí của tôn giáo đối lập với khoa học, thế giới quan duy vật biện chứng của hệ tư tưởng Mác – Lênin.
Lợi dụng sự đối lập này, các thế lực thù địch đi sâu tuyên truyền, gieo rắc tâm lý cho rằng, chủ nghĩa xã hội không chấp nhận tôn giáo, xóa bỏ tôn giáo, từ đó tạo ra khoảng cách, sự đối kháng giữa tôn giáo với đời sống hiện thực xã hội chủ nghĩa để kích động tôn giáo chống lại Đảng, Nhà nước và sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta. Đồng thời, tiến hành các hoạt động nhằm thực hiện âm mưu hình thành “Ủy ban liên tôn đấu tranh đòi quyền tự do tôn giáo”, thành lập tổ chức “Liên tôn chống cộng”. Nếu nhìn nhận phiến diện thì đúng là có sự đối lập giữa thế giới quan tôn giáo và thế giới quan cách mạng của Đảng. Sự đối lập đó không có nghĩa là phải xóa bỏ tôn giáo, mà đòi hỏi có cách nhìn sâu sắc, toàn diện, lịch sử, cụ thể hơn. Chúng ta cần hiểu rằng, trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, tôn giáo tất yếu đồng hành cùng dân tộc. Thực tiễn lãnh đạo cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta chưa bao giờ có tư tưởng xóa bỏ, kỳ thị hay áp bức tôn giáo mà luôn nhất quán nhận thức: tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Đồng bào các tôn giáo là bộ phận của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Do vậy, chúng ta cần quán triệt, thực hiện và kiên quyết đấu tranh với những luận điệu sai trái, thù địch, nhất là các luận điệu vu khống, xuyên tạc của các thế lực thù địch, cho rằng Đảng, Nhà nước ta kỳ thị tôn giáo.