Hiển thị các bài đăng có nhãn kế thừa. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn kế thừa. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 25 tháng 5, 2021

SỰ KẾ THỪA, PHÁT TRIỂN CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN TRONG ĐIỀU KIỆN CÁCH MẠNG VIỆT NAM

Không ai có thể phủ nhận công lao to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với cách mạng Việt Nam vì chính Người đã làm thay đổi vận mệnh của cả dân tộc ta từ thân phận một dân tộc nô lệ thành một đất nước độc lập, tự do. Với thế giới, Người đã “góp phần vào cuộc đấu tranh chung của các dân tộc vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội”.

Ngay từ khi mới 20 tuổi, do nhận thấy những bế tắc về đường lối và phương pháp cách mạng của các phong trào yêu nước lúc bấy giờ, Nguyễn Ái Quốc đã rời Tổ quốc để ra đi tìm đường cứu nước. Dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin, Người đã tìm ra con đường cứu nước đúng đắn - con đường cách mạng vô sản. Việc truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam tự nó chưa nói lên sự trường tồn của chủ nghĩa Mác - Lênin với cách mạng nước ta. Vấn đề cốt lõi nhất là ở khả năng dẫn đường, hấp dẫn, lôi cuốn của chủ nghĩa Mác - Lênin đối với cả một đất nước đang vươn lên để giành độc lập cho dân tộc, tự do cho nhân dân. Sức sống chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ thực sự được tỏa sáng ở Việt Nam khi Hồ Chí Minh đã vận dụng nó để lãnh đạo nhân dân đấu tranh giải phóng dân tộc, làm nên những thắng lợi vẻ vang ở thế kỷ XX mà không chỉ bạn bè quốc tế ghi nhận mà ngay cả kẻ thù cũng phải nể phục. Do đó, chỉ những kẻ cố tình “nhắm mắt làm ngơ”, “có mặt như mù” mới có thể phủ nhận được công lao to lớn của Người với cách mạng Việt Nam. Vì vậy, “không ai có quyền phỉ báng vào hiện thực lịch sử, quy cho Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh là có tội với lịch sử dân tộc bởi chính Nguyễn Ái Quốc là người đầu tiên tiếp nhận và phất cao ngọn cờ giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng vô sản”.

Không chỉ truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam, Người còn trực tiếp lãnh đạo nhân dân ta đấu tranh chống lại kẻ thù xâm lược, khai sinh và xây dựng Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa. Điều quan trọng hơn cả là khi vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin, Người đã không bê nguyên xi lý luận của các bậc tiền bối mà đã vận dụng linh hoạt, sáng tạo cho phù hợp với thực tiễn cách mạng Việt Nam. Người đã biến hệ thống lý luận với những nguyên lý, quy luật, phạm trù mang tính phổ quát của chủ nghĩa Mác - Lênin thành những triết lý giản đơn, dễ hiểu để tuyên truyền, giải thích cho nhân dân, hướng dẫn nhân dân làm theo.

Tư tưởng Hồ Chí Minh có nguồn gốc từ văn hóa dân tộc, tinh hoa văn hóa nhân loại mà đỉnh cao là chủ nghĩa Mác - Lênin. Chủ nghĩa Mác - Lênin chính là nguồn gốc lý luận của tư tưởng Hồ Chí Minh. Về logic, tư tưởng Hồ Chí Minh kế thừa, phát triển, làm phong phú, sâu sắc chủ nghĩa Mác - Lênin; vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể Việt Nam. Vì thế, trong tác phẩm “Đường kách mệnh” (viết năm 1927), ngay ở trang đầu tiên, Hồ Chí Minh đã trích lời của Lênin: Không có lý luận cách mệnh, thì không có cách mệnh vận động,… chỉ có theo lý luận cách mệnh tiên phong Đảng cách mệnh mới làm nổi trách nhiệm cách mệnh tiên phong để nêu bật tầm quan trọng của chủ nghĩa Mác - Lênin đối với Đảng: “Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt, trong đảng ai cũng phải hiểu, ai cũng phải theo chủ nghĩa ấy. Đảng mà không có chủ nghĩa cũng như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam. Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin”. Điều này đã được Người nhấn mạnh lại trong bài trả lời phỏng vấn nhà báo Sác-lơ Phuốc-ni-ô, phóng viên Báo L'humanité (Pháp) ngày 15/7/1969: “…chính là do cố gắng vận dụng những lời dạy của Lênin, nhưng vận dụng một cách sáng tạo, phù hợp với thực tế Việt Nam ngày nay, mà chúng tôi đã chiến đấu và giành được những thắng lợi to lớn như đồng chí đã biết. Chúng tôi giành được thắng lợi đó là do nhiều nhân tố, nhưng cần phải nhấn mạnh rằng… chúng tôi giành được những thắng lợi đó trước hết là nhờ cái vũ khí không gì thay thế được là Chủ nghĩa Mác - Lênin”.

Có thể nhận thấy, tư tưởng Hồ Chí Minh thống nhất với chủ nghĩa Mác - Lênin ở bản chất khoa học và cách mạng, ở lý tưởng và mục tiêu nhân văn vì con người, vì giải phóng giai cấp, dân tộc và nhân loại. Chủ nghĩa Mác - Lênin là khoa học về những quy luật phát triển chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy; về cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động chống mọi sự áp bức, bất công; về xây dựng xã hội cộng sản chủ nghĩa. Chủ nghĩa Mác - Lênin ra đời trên mảnh đất hiện thực là thực tiễn đấu tranh cách mạng của giai cấp công nhân - lực lượng xã hội đại biểu cho phương thức sản xuất tiên tiến nhất của lịch sử phát triển nền sản xuất vật chất của nhân loại. Đồng thời, là sự tổng hòa từ nhiều nguồn tri thức của loài người, thu nhận tinh túy từ các tư tưởng tiến bộ và không ngừng được bổ sung bằng những kinh nghiệm từ thực tiễn lịch sử được khái quát lên tầm lý luận. Sự hình thành và phát triển của chủ nghĩa Mác - Lênin ra đời vì mục tiêu cải tạo thế giới, hướng đến giá trị nhân văn cao cả là giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội, giải phóng con người.

Như vậy, về bản chất, tư tưởng Hồ Chí Minh thống nhất với chủ nghĩa Mác - Lênin chứ không hề có sự khác biệt, đối trọng nhau như các thế lực thù địch vẫn rêu rao. Có được điều đó là do chính Hồ Chí Minh đã tìm đến chủ nghĩa Mác - Lênin, nghiên cứu, kế tục, phát triển nó lên tầm cao mới, vận dụng sát đúng với thực tiễn cách mạng Việt Nam. Tư tưởng Hồ Chí Minh và chủ nghĩa Mác - Lênin nằm trong sự thống nhất hữu cơ; cả hai đều là cấu phần quan trọng trong nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng ta, nhân dân ta. Chúng ta không thể lấy chủ nghĩa Mác - Lênin thay cho tư tưởng Hồ Chí Minh và ngược lại, cũng như không thể hiểu và quán triệt, vận dụng sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh nếu không nắm vững chủ nghĩa Mác - Lênin.

Thứ Tư, 17 tháng 5, 2017

Tại sao phải kế thừa thiết chế xã hội truyền thống của các dân tộc thiểu số?

Kế thừa và phát huy các yếu tố tốt đẹp của thiết chế xã hội truyền thống các dân tộc trong xây dựng đời sống mới, nông thôn mới hiện nay là vấn đề có ý nghĩa quan trọng nhằm phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, môi trường sinh thái vùng miền núi và dân tộc thiểu số. Bởi vì:
Việc kế thừa thiết chế xã hội truyền thống của các dân tộc là nhằm phát huy các truyền thống tốt đẹp của đồng bào trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa ở từng bản làng, địa phương, từng tộc người, vùng, miền và quốc gia như: truyền thống cộng đồng, truyền thống đoàn kết, truyền thống dân chủ bản làng, vai trò của luật tục, vai trò của người có uy tín....  Đó chính là xây dựng gia đình văn hóa, làng bản văn hóa mới trên cơ sở kế thừa truyền thống, đổi mới các hoạt động làng bản cổ truyền, đề cao tính tự quản trong xây dựng nếp sống văn hóa mới và trật tự an toàn xã hội, phát huy tính cộng đồng; xóa bỏ các tập tục lạc hậu, những tư tưởng lỗi thời cản trở phát triển kinh tế xã hội.
 Thiết chế truyền thống của các dân tộc là một bộ phận văn hóa tộc người, chứa đựng bản sắc tộc người phong phú và độc đáo. Do đó, việc kế thừa thiết chế xã hội truyền thống cũng chính là bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc, xây dựng nền văn hóa các dân tộc tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc trong quá trình hội nhập quốc tế, phát triển các dân tộc ở nước ta.
Trong xây dựng thiết chế xã hội mới ở các dân tộc như: gia đình, dòng họ, làng bản, hương ước mới, các tổ chức chính trị - xã hội... phải đảm bảo theo qui định chung cả nước nhưng cần phù hợp với đặc điểm truyền thống, văn hóa của tộc người, địa phương. Có như vậy mới đem lại hiệu quả thiết thực, vững chắc, tạo sự ổn định chính trị - xã hội trên địa bàn và thiết thực phát triển kinh tế - xã hội của các dân tộc.
Phát huy vai trò của các tầng lớp tiêu biểu trong cộng đồng như: già làng, trưởng bản, trưởng tộc, người có uy tín, các chức sắc, chức việc tiến bộ. Họ luôn có ảnh hưởng lớn đến cộng đồng. Vì vậy, chính quyền các cấp cần quan tâm, tạo điều kiện phát huy vai trò của tầng lớp này để họ trở thành lực lượng nòng cốt tại chỗ trong phát triển kinh tế, xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng ở vùng dân tộc và miền núi.
Luật tục của các dân tộc giữ vai trò quan trọng trong điều chỉnh, điều hòa quan hệ xã hội, đời sống cộng đồng và môi trường sống. Cho nên, chúng ta kế thừa những giá trị luật tục đã được người dân duy trì hàng trăm năm qua là hết sức cần thiết, nhằm phát huy vai trò của luật tục trong quản lý xã hội, bảo vệ môi trường sinh thái và trật tự an toàn xã hội ở bản làng, địa phương hiện nay