Hiển thị các bài đăng có nhãn chế độ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn chế độ. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 9 tháng 1, 2023

VIỆT TÂN “NÉM ĐÁ AO BÈO”

Tại Hội nghị Đảng ủy Công an Trung ương 12/2022, phát biểu về vấn đề phòng, chống tham nhũng, tiêu cực hiện nay, Tổng Bí thư nhấn mạnh: Đảng bộ Công an Trung ương, lực lượng CAND tham gia tích cực, chủ động, quyết liệt, mạnh mẽ, hiệu quả cao hơn nữa công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, nhất là những vụ việc nghiêm trọng, tồn đọng lâu với phương châm “không có vùng cấm, không có ngoại lệ”, vì sự nghiệp chung “bất kể đó là ai”. Ngay sau đó, trang mạng Việt Tân đăng tải video một số hình ảnh về việc này với dòng chú thích “loại dần phe địch qua chiêu trò đánh tham nhũng” cùng bài viết của Nguyên Quốc “Muốn chống tham nhũng phải xóa bỏ đảng độc tài”.

Vẫn thủ đoạn “ném đá ao bèo” thường dùng bấy lâu nay, chúng mượn chuyện chống tham nhũng để bôi nhọ các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước; nói xấu chế độ, kích động chia rẽ, làm giảm niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng.

Mở đầu bài viết, kẻ được Việt Tân coi là cộng tác viên Nguyễn Quốc hồ đồ nhận xét “Ở Việt nam hiện nay nạn tham nhũng trở lên phổ biến, nó đã thành quốc nạn”. Rồi cũng hồ đồ kết luận nguyên nhân của tệ nạn này “là do sự độc tài của Đảng CSVN là nguyên nhân sinh ra tham nhũng”.

Vậy tham nhũng có từ khi nào? Tham nhũng xuất hiện từ rất sớm, từ khi có sự phân chia quyền lực và hình thành nhà nước. Ở thời đại nào, chế độ nào, quốc gia nào cũng tồn tại tham nhũng, song không thể xóa bỏ nhanh chóng trong một thời gian ngắn mà cần phải đấu tranh kiên quyết, kiên trì, bền bỉ, thường xuyên. Nhất là trong điều kiện kinh tế thị trường, nếu không có cơ chế, biện pháp kiểm soát, quản lý chặt chẽ đều có thể dẫn đến tham nhũng, quan liêu, suy thoái, biến chất … làm mất vai trò lãnh đạo, cầm quyền của đảng cầm quyền.

Không biết Việt Tân có hiểu điều này hay cố tình không hiểu để đưa ra một so sánh khập khiễng, thậm chí vô cùng phi thực tế chỉ để nhằm phục vụ cho mục đích chính trị xấu xa “Chúng ta hãy nhìn ra thế giới, những nước phát triển mạnh như Mỹ, Anh, Nhật, Hàn và châu Âu… họ đều có thể chế chính trị dân chủ đa đảng, tam quyền phân lập. Nhờ cơ chế này mà cán bộ phải làm việc trên cơ sở pháp luật, rõ ràng, minh bạch và dân chủ, nạn tham nhũng tự nhiên sẽ bị triệt tiêu”. Nhưng nào có như vậy, theo nguồn tin báo chí nước ngoài công bố “Mỹ mới đây tiếp tục rung động bởi vụ tham nhũng và gian lận chưa từng có trong lịch sử nước này với số tiền hiện đã lên tới 45 tỉ USD. Cụ thể hơn, báo cáo mới nhất vừa được Bộ Lao động Mỹ công bố cho thấy, 45,6 tỷ USD đã bị gian lận trong đại dịch COVID-19. Cơ quan chức năng Mỹ đang tiếp tục điều tra các hành vi gian lận liên quan đến gói cứu trợ để truy tố những đối tượng liên quan và thu hồi số tiền bị đánh cắp”. Một học giả chuyên nghiên cứu về nạn tham nhũng ở phương Tây cũng cho biết “Trong những năm gần đây, vấn đề tham nhũng trong các cơ cấu EU đã đạt đến mức độ chưa từng có, qui mô tham nhũng – như báo cáo của Ủy ban EU là 120 tỷ euro mỗi năm và gây thiệt hại khác nữa cho EU 300 tỷ euro. Đó là 1/3 ngân sách EU”.

Còn ở Hàn Quốc thì dư luận xã hội gần đây vẫn chưa hết bất bình khi “Cựu nữ Tổng thống Hàn Quốc Park Geun-hye từng bị luận tội năm 2016 vì hàng loạt cáo buộc sai phạm, đặc biệt là tham nhũng. Sau quá trình luận tội, vào năm 2017, người phụ nữ đầu tiên giữ ghế lãnh đạo Chính phủ Hàn Quốc tiếp tục bị truy tố các tội lạm dụng quyền lực, nhận hối lộ và làm rò rỉ thông tin mật của Chính phủ. Một năm sau, vào năm 2018, bà bị kết án 24 năm tù giam và sau đó bị tăng lên thành 25 năm tù giam khi các chi tiết mới của vụ án bị phanh phui”.

Đơn cử vài thí dụ để thấy ở đâu, thời điểm nào tham nhũng đều được coi là tệ nạn và bị lên án. Song việc chống tham nhũng nhiều khi cũng bị lợi dụng. Phương Tây cùng các tổ chức quốc tế của họ thường lấy chủ đề tham nhũng để gây sức ép với các quốc gia họ không ưa, để giành lợi thế chính trị, hay đơn giản là kinh tế, đầu tư cho các tập đoàn của họ. Thậm chí, tham nhũng được lấy làm nguyên cớ để họ kích động các phe phái trong nước biểu tình, chống đối, bạo loạn lật đổ.

Học mót được chiêu trò của quan thầy, Việt Tân rêu rao “Ngược lại với các nước độc tài như Nga, Trung Quốc, Việt Nam,…và một số nước vẫn theo con đường XHCN thì nạn tham nhũng tràn lan, mặc dù ở mỗi nước có thay đổi khác nhau về màu sắc chính trị nhưng tệ tham nhũng không thể loại bỏ được”. Chúng cho rằng “Chiến dịch đốt lò của ông Trọng hiện nay chỉ lấy danh nghĩa chống tham nhũng nhưng thực chất là các phe phái thanh trừng nhau vì lợi ích nhóm và càng chống, tham nhũng càng phát sinh”. Một sự vu cáo trắng trợn. Rõ ràng Việt Tân có tai như điếc, có mắt như mù không thấy vấn đề phòng chống tham nhũng gần đây luôn được Đảng đề cập đến thường xuyên mà người khởi xướng không ai khác chính là Tổng Bí thư với phương châm “không có vùng cấm, không có ngoại lệ”. Kết quả chống tham nhũng, tiêu cực cũng được quốc tế đánh giá cao. Tổ chức Minh bạch quốc tế công bố Chỉ số nhận thức tham nhũng năm 2021, trong đó Việt Nam được đánh giá đạt 39/100 điểm, đứng thứ 87 trong số 180 quốc gia, vùng lãnh thổ (tăng 3 điểm, 17 bậc so với năm 2020). Và quan điểm “kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng” được thể hiện rõ trong phát biểu của người đứng đầu Đảng: “Tinh thần là phải tiếp tục làm, làm quyết liệt, làm tập trung, dứt điểm những việc đang dở dang, những khâu còn yếu, những địa bàn trọng điểm. Toàn Đảng, toàn Dân quyết tâm. Không có chuyện dừng lại hay ngập ngừng. Mà cũng không thể ngừng lại được. Đây là yêu cầu của cách mạng, yêu cầu, tình cảm của Nhân dân, mong muốn của Đảng ta. Phải khẳng định quyết tâm ấy. Còn trong chúng ta có ai dao động, ngập ngừng thì tự giác báo cáo, xin tự thôi đi!”.

Thật nực cười khi cái loa Việt Tân kêu gọi “Muốn loại bỏ tham nhũng thì phải xoá bỏ sự độc tài của đảng, thay vào đó là chế độ đa nguyên đa đảng, xây dựng xã hội tự do, dân chủ và văn minh, khi đó tham nhũng sẽ triệt tiêu” lại nhận được không ít sự phản hồi phê phán từ các “Fan cứng”. Đối với chúng ta tin tưởng rằng: Dưới sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt của Đảng, sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị và sự ủng hộ tuyệt đối của nhân dân, công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực sẽ tạo sinh khí mới, quyết tâm cao, hành động mạnh mẽ để đánh thắng “giặc nội xâm” và Đảng ngày càng vững vàng, bản lĩnh.

Theo: Nam Hà

Thứ Tư, 12 tháng 10, 2022

LUẬN ĐIỆU PHẢN NHÂN VĂN CỦA ĐỖ NGÀ

Đã từ lâu, được sự tiếp tay, tiếp sức của các thế lực thù địch, các tổ chức phản quốc lưu vong, Đỗ Ngà từ ngộ nhận, ảo tưởng đến ngông cuồng, điên loạn chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ ta. Mới đây, trên trang Hung-viet.org đã đăng tải bài viết “Lênin và di sản tàn phá mà ông ta để lại” của Đỗ Ngà với nội dung xuyên tạc, phủ nhận thành quả cách mạng mà Đảng Cộng sản và chế độ xã hội chủ nghĩa đã mang lại cho nhân dân Liên Xô và hòa bình, độc lập, tự do của các dân tộc trên thế giới.

Đỗ Ngà phủ nhận giá trị nhân văn của chế độ xã hội chủ nghĩa

Trong những ngày tháng năm lịch sử, khi tất cả những người yêu chuộng hòa bình trên toàn thế giới đang hân hoan chào mừng ngày Chiến thắng phát xít, tri ân những thành quả cách mạng mà chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô mang lại cho nhân loại thì Đỗ Ngà lại đưa ra những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận những giá trị tốt đẹp đó. Bằng cái nhìn thiển cận, phản nhân văn của mình, y đã xuyên tạc, bôi đen, phủ nhận lịch sử khi cho rằng “Lênin đã gieo rắc thảm họa cho nhân loại”?!. Bên cạnh đó, y còn đưa ra những luận điệu vu khống, bóp méo những chính sách phát triển kinh tế – xã hội của Đảng Cộng sản Liên Xô (Đảng Bônvêvic) và những người lãnh đạo của Đảng qua các thời kỳ. Mục đích của y là phủ nhận những thành quả cách mạng xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Liên Xô. Thế nhưng, thực tế đã chứng minh luận điệu xuyên tạc của y là hoàn toàn sai sự thật.

Chúng ta biết rằng, vì mục tiêu giải phóng giai cấp, giải phóng con người những người Cộng sản Liên Xô đã thực hiện nhiều chủ trương, biện pháp để hiện thực hóa khát vọng ngàn đời của người dân lao động: tư liệu sản xuất thuộc về nhân dân. Trước Cách mạng Tháng Mười năm 1917, hầu như tất cả ngành công nghiệp chủ yếu của Nga nằm trong tay tư bản nước ngoài và tư liệu sản xuất nằm trong tay giai cấp tư sản; giai cấp công nhân, nông dân Nga bị tước đoạt hết tư liệu sản xuất; đời sống của nhân dân hết sức khổ cực. Trước tình hình đó, V.I.Lênin đã cho rằng: Phương sách duy nhất để làm cho nhân dân lao động hết cùng khổ là thay đổi, từ dưới lên trên chế độ hiện nay trên toàn quốc và lập chế độ xã hội chủ nghĩa. Chính vì vậy, sau Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917, nước Nga Xô-viết ra đời, bắt đầu thực thi “Sắc lệnh ruộng đất”: Nông dân đã nhận được miễn phí hơn 150 triệu ha ruộng đất từ giai cấp địa chủ, được xóa tiền nợ. Công nhân tự nguyện, tự giác, liên hợp với nhau, sử dụng kỹ thuật hiện đại để tạo ra năng suất lao động cao hơn. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và thiết lập chế độ xã hội chủ nghĩa, sản lượng công nghiệp Liên Xô năm 1940 tăng 12 lần so năm 1913; tỷ trọng công nghiệp đã chiếm ưu thế trong nền kinh tế quốc dân; sản lượng của ngành chế tạo máy tăng 35 lần; sản lượng điện tăng 24 lần; năm 1937 sản lượng công nghiệp của Liên Xô đã vượt lên đứng hàng thứ hai trên thế giới. Thế và lực của Liên Xô tăng lên nhanh chóng trên trường quốc tế.

Đặc biệt, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, Liên Xô đã giành thắng lợi trong chiến tranh Vệ quốc vĩ đại (1941-1944), cứu loài người thoát khỏi thảm họa bị diệt vong của chủ nghĩa phát-xít. Nhờ có nền kinh tế kế hoạch mà Liên Xô đã phục hồi, phát triển nhanh chóng sau Chiến tranh, trở thành thành trì vững chắc của hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa. Liên Xô có nền khoa học – công nghệ phát triển mạnh mẽ với nhiều ngành khoa học đứng hàng đầu thế giới, điển hình như khoa học vũ trụ, giáo dục, y tế, quốc phòng. Liên Xô trở thành trành trì của cách mạng và là biểu tượng, cổ vũ, động viên các dân tộc trên thế giới đấu tranh chống lại chủ nghĩa thực dân, đế quốc, giành độc lập cho dân tộc.

Âm mưu thâm độc của Đỗ Ngà phủ nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

Từ sự xuyên tạc, vu khống những thành quả của cách mạng tháng Mười Nga và thành tựu về kinh tế – xã hội mà Liên Xô đã giành được dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, Đỗ Ngà đã cố tình xuyên tạc con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, phủ nhận giá trị khoa học, cách mạng, nhân văn, nhân đạo của chủ nghĩa Mác – Lênin. Dưới cái nhìn phản nhân văn của mình, y cho rằng là “một di sản vô cùng độc hại”, là sự “gieo rắc thảm họa cho nhân loại” và là “ý thức hệ vô cùng khủng khiếp”!. Đúng là chỉ những kẻ vô nhân đạo, phản nhân văn như Đỗ Ngà mới có thể đưa ra những luận điệu như thế.

Bởi lẽ, chúng ta đều biết: Chủ nghĩa Mác – Lênin ra đời là bước ngoặt vĩ đại của tư tưởng nhân loại, là vũ khí lý luận của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và những dân tộc bị áp bức, bóc lột trên toàn thế giới. Đây là con đường duy nhất đúng để giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội và giải phóng con người. Và đây cũng là con đường duy nhất đúng của cách mạng Việt Nam trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc. Đồng thời, thực tiễn những diễn biến phức tạp, khó lường ở một số nước trên thế giới hiện nay càng khẳng định giá trị cách mạng, khoa học và nhân văn của chủ nghĩa Mác – Lênin. Đó cũng là minh chứng để bác bỏ mọi luận điệu xuyên tạc, vu khống của Đỗ Ngà.

Với niềm tin, khát vọng cống hiến, xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc, Nhân dân Việt Nam luôn kiên định vào chủ nghĩa Mác – Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng ta, luôn kiên định niềm tin tất thắng vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Những luận điệu xuyên tạc của Đỗ Ngà cũng như “đồng loại” của y tất yếu sẽ bị sức mạnh, niềm tin của nhân dân đập tan và vô hiệu hóa./.

Thứ Ba, 29 tháng 3, 2022

THẾ GIỚI CÓ NHIỀU BIẾN ĐỘNG NHƯNG KHUYNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN THỜI ĐẠI KHÔNG THAY ĐỔI

Xem xét trên cơ sở lý luận và thực tiễn lịch sử xã hội loài người đều cho thấy, mỗi bước chuyển từ một hình thái kinh tế - xã hội này đến hình thái cao hơn đều diễn biến trong thời gian rất dài, có khi vài trăm năm hoặc vài nghìn năm. Vậy nên việc Đảng ta phân định giai đoạn hiện nay của thời đại “quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới” là tư duy sáng tạo, có tính khoa học xác thực và cần thiết. Theo đó, việc nghiên cứu đặc điểm và xu hướng phát triển của thời đại cũng được thực hiện trong khung khổ giai đoạn hiện nay của thời đại.

Khi đã xác định thời đại ngày nay là thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, mở đầu bằng Cách mạng XHCN Tháng Mười vĩ đại ở nước Nga, thì rõ ràng nội dung của thời đại ngày nay có hai vấn đề chính: Một là, thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội; hai là, mở đầu bằng Cách mạng XHCN Tháng Mười vĩ đại ở nước Nga. Nhận định về nội dung thời đại như vậy là sự khái quát mang tính lý luận và thực tiễn sâu sắc, đầy tính thuyết phục.

Tuy nhiên, sau khi chế độ XHCN ở Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ, các thế lực thù địch lợi dụng sự kiện này để công kích, xuyên tạc Chủ nghĩa Mác-Lênin, bài bác những luận điểm cơ bản nhất về thời đại. Lập luận của luận điệu sai trái là, nếu nói thời đại hiện nay là thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội thì nay chủ nghĩa xã hội sụp đổ rồi, thời đại này đương nhiên là của chủ nghĩa tư bản; rằng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản đã tàn lụi thì dù có trăm năm sau cũng không thể gượng dậy được nữa.

Cách nhìn nhận như vậy rõ ràng là thiếu kiến thức lịch sử và thiển cận. Quá trình chuyển biến và thay thế một thời đại này bằng thời đại khác không thể diễn ra nhanh chóng được mà phải qua một chặng đường dài. Quá trình đó là một xu thế tất yếu của xã hội loài người, nhưng diễn ra quanh co, phức tạp, chứa đựng nhiều biến cố, có cả bước tiến mạnh mẽ và cũng có cả những bước thụt lùi.

Sự đổ vỡ của XHCN ở Đông Âu và Liên Xô đương nhiên là tổn thất nặng nề đối với phong trào cộng sản. Sự sụp đổ ấy có nhiều nguyên nhân, nhưng nó không thuộc về bản chất của chế độ XHCN, càng không phải vì thế mà làm mất đi nội dung thời đại. Lịch sử đã cho thấy thời đại tư bản chủ nghĩa thay thế thời đại phong kiến đâu phải dễ dàng.

Quá trình chuyển biến đó diễn ra hàng mấy trăm năm, trải qua biết bao phức tạp bởi sự chống trả quyết liệt của các thế lực phong kiến. Tình hình hiện nay cũng tương tự như vậy. Thế lực đế quốc không từ một thủ đoạn nào để mưu toan chặn đứng phong trào cộng sản. Điều đó càng thể hiện tính chất phức tạp của thời đại ngày nay.

Kẻ thù tư tưởng của chúng ta công khai tuyên bố rằng, chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô đã sụp đổ thì giá trị của Cách mạng Tháng Mười Nga cũng chấm hết. Đây là kết luận vội vã và hồ đồ. Đành rằng thành quả mà Cách mạng Tháng Mười Nga đem lại đã bị đổ vỡ tại ngay quê hương của nó, nhưng đó không phải là sự chấm dứt lý tưởng cao đẹp của Cách mạng Tháng Mười Nga.

Vả chăng, lịch sử đã chứng minh, không có một cuộc cách mạng nào, kể cả các cuộc cách mạng vĩ đại nhất, lại đủ khả năng kết thúc ngay công việc xóa bỏ xã hội cũ và xây dựng xong ngay xã hội mới. Quá trình chuyển từ xã hội phong kiến lên xã hội tư bản chủ nghĩa đã phải trải qua hàng trăm năm với nhiều cuộc cách mạng tư sản: Cách mạng Anh năm 1688, các cuộc cách mạng tư sản Pháp vào các năm 1830, 1848, 1871.

Sự đột phá của Cách mạng Tháng Mười Nga làm cho chủ nghĩa tư bản bị đổ vỡ một mảng lớn. Thế giới bừng tỉnh, bung ra với sức mạnh mới của sự hình thành và phát triển của chủ nghĩa xã hội làm sụp đổ hoàn toàn hệ thống thuộc địa, giải phóng xã hội, giải phóng con người.

Thành quả của Cách mạng Tháng Mười Nga đã tạo cho loài người có khả năng kìm giữ sự lộng hành của chủ nghĩa tư bản, làm thay đổi cả những yếu tố bên trong của chủ nghĩa tư bản. Những thay đổi trong chiến lược kinh tế, chính trị để thích nghi, những thay đổi trong các chính sách phúc lợi xã hội ở các nước tư bản phát triển hiện nay đều bắt nguồn từ kết quả của xã hội đấu tranh của những người lao động và sâu xa hơn là được ảnh hưởng những yếu tố tích cực của Cách mạng Tháng Mười Nga.

Từ những phân tích trên đây, chúng ta càng thống nhất với nhận định của Đảng ta rằng, tình hình cụ thể trong từng thời kỳ của thế giới có những biến động nhưng điều đó không làm thay đổi nội dung của thời đại; loài người vẫn đang trong thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội. Các mâu thuẫn cơ bản trên thế giới vẫn tồn tại và phát triển, có mặt sâu sắc hơn, nội dung và hình thức biểu hiện có nhiều nét mới.

Thứ Hai, 28 tháng 3, 2022

NHẬN DIỆN NHỮNG QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH CHỐNG PHÁ CÁCH MẠNG VIỆT NAM HIỆN NAY

Thời gian qua, các thế lực thù địch đã ra sức công kích, xuyên tạc công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng của Việt Nam. Chúng cho rằng: “Đảng Cộng sản Việt Nam đã quá khôn ngoan khi đưa vấn đề xây dựng Đảng thành vấn đề then chốt nhưng đó chỉ là kiểu “giật gấu vá vai”. Tình trạng này tất yếu sẽ khiến Đảng đổ vỡ và tan rã”. Chúng hàm hồ dự đoán, tình hình sẽ ngày càng có nhiều sự phản ứng quyết liệt của nhân dân chống lại Đảng. Những suy luận vô căn cứ nhưng rất nguy hiểm vừa nhằm xuyên tạc, phủ nhận công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; vừa nhằm chia rẽ mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân.

Ngoài ra, trước những hạn chế, yếu kém trong công tác xây dựng Đảng, nhất là tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên; tình trạng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ thời gian qua; các thế lực thù địch, cơ hội chính trị coi đây là cái cớ không gì thuyết phục hơn để xuyên tạc công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Các thế lực thù địch còn ra sức tuyên truyền, xuyên tạc và hơn nữa là cổ súy hành động “từ bỏ”  Đảng Cộng sản Việt Nam. Họ suy diễn một cách vô căn cứ, đồng nhất toàn bộ Đảng Cộng sản với một số đảng viên, cán bộ tham nhũng, thoái hóa, biến chất và lên tiếng rêu rao “Đảng không còn là Đảng do Hồ Chí Minh sáng lập, Đảng không còn mang bản chất cách mạng của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động, của dân tộc”.

Họ tìm cách thổi phồng, bịa đặt, xuyên tạc đời tư của một số đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước…, gieo rắc sự hoài nghi trong các tầng lớp nhân dân về lòng trung thành, tinh thần tận tụy phục vụ Tổ quốc, phụng sự nhân dân của đội ngũ cán bộ, đảng viên mà lúc sinh thời của Hồ Chí Minh cũng như Đảng ta luôn quan tâm xây dựng, củng cố. Theo họ, đó chỉ là những cách Đảng “che mắt thế gian theo kiểu đánh ai và ai đánh?”, “ta đánh mình, mình đánh ta”, hay “chỉ dám đánh con tôm, con tép thôi”… Đây là những luận điệu hết sức thâm độc hòng gây mất lòng tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân ta đối với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay.

Không chỉ xuyên tạc, phủ nhận công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng nói chung, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị còn công kích tình trạng tham nhũng của một bộ phận cán bộ, đảng viên. Từ một số vụ, việc tham nhũng trong thời gian gần đây, nhất là những vụ liên quan đến một số lãnh đạo cấp cao, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị trong và ngoài nước đã lấy hiện tượng làm bản chất, quy chụp, cường điệu hóa, suy diễn một cách vô căn cứ, đồng nhất toàn bộ Đảng Cộng sản Việt Nam với một số đảng viên, cán bộ tham nhũng, thoái hóa, biến chất. Họ đã lên tiếng rêu rao rằng “Đảng không còn là Đảng do Hồ Chí Minh sáng lập, Đảng không còn mang bản chất cách mạng của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động, của dân tộc”. Tinh vi hơn, với chiêu bài “tung hô thần tượng”, các phần tử cơ hội chính trị đã lấy đạo đức, nhân cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh để chỉ trích Đảng vì đã “dung túng”, “bao che” cho cán bộ, đảng viên dẫn đến tình trạng cán bộ thoái hóa, biến chất, tham nhũng.

Gần đây, khi Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII diễn ra, các thế lực thù địch lại được dịp lên tiếng công kích, xuyên tạc về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng bằng những luận điệu mang tính quy chụp, suy diễn vô căn cứ. Ngày 6/10/2021, trên trang VOA giật tít dòng chữ: “Điều quan tâm duy nhất là sự sống còn của đảng, của chế độ”. Họ xuyên tạc rằng, đang trong thời điểm dịch bệnh phức tạp, người lao động ở các tỉnh phía Nam rơi vào cảnh khó khăn do COVID-19 nhưng Trung ương lại tổ chức “họp trong phòng lạnh” để tung hô, khen ngợi các thành tích “vinh quang thuộc về Đảng”, còn “đau thương trút lên đầu nhân dân”. Thậm chí họ còn vu cáo rằng “Đảng không bận tâm về hoạt động phòng, chống dịch COVID-19 mà chỉ quan tâm làm sao để Đảng “muôn năm trường trị”…

Những luận điệu xuyên tạc trên vẫn là trò “rượu cũ bình mới” nhằm hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng. Vẫn là những quan điểm dân túy thường thấy, các thế lực phản động, cơ hội chính trị lấy danh nghĩa đứng về phía nhân dân để chỉ trích Đảng và Nhà nước nhằm kích động một bộ phận nhân dân chống lại những quy định của Nhà nước trong công tác phòng, chống dịch. Mục đích sâu xa của chiêu bài này là bẻ lái dư luận, phủ nhận chế độ của ta, từ đó ca ngợi, cổ xúy, hướng lái theo cái họ gọi là giá trị xã hội phương Tây. Bên cạnh đó, thông qua việc bóp méo tình hình Việt Nam, các thế lực thù địch cũng cố tình xuyên tạc bản chất ưu việt, nhân văn của chế độ xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta đang xây dựng.

Thứ Hai, 28 tháng 2, 2022

SÁNG RÕ TÍNH ƯU VIỆT CỦA CHẾ ĐỘ TA

Nghiên cứu cuốn sách của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, tôi rất tâm đắc về tư tưởng xuyên suốt, nhất quán, kiên định và sự phát triển sáng tạo, hoàn thiện tư duy lý luận, nhận thức về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn. Tổng Bí thư đã có cái nhìn thấu đáo về bản chất của chủ nghĩa tư bản qua “các phong trào phản kháng xã hội bùng nổ mạnh mẽ”; những giá trị lợi ích cá nhân, kinh tế luôn được đặt lên hàng đầu và “thực tế là các thiết chế dân chủ theo công thức “dân chủ tự do” mà phương Tây ra sức quảng bá, áp đặt lên toàn thế giới không hề bảo đảm để quyền lực thực sự thuộc về nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân-yếu tố bản chất nhất của dân chủ”. Đồng thời, khẳng định những giá trị đích thực của CNXH là mục tiêu, là con đường mà Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta và nhân dân ta đã lựa chọn: “Lý luận cách mạng, khoa học của Chủ nghĩa Mác-Lênin, Hồ Chí Minh đã đưa ra kết luận sâu sắc rằng, chỉ có CNXH và chủ nghĩa cộng sản mới có thể giải quyết triệt để vấn đề độc lập cho dân tộc, mới có thể đem lại cuộc sống tự do, ấm no và hạnh phúc thực sự cho tất cả mọi người, cho các dân tộc”.

Những bài viết trong cuốn sách là sự đúc rút, khẳng định tính đúng đắn, hiện thực hóa hệ thống lý luận Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh vào các giai đoạn cách mạng Việt Nam. Theo đó, trên mọi lĩnh vực từ kinh tế, văn hóa, xã hội, nội bộ tổ chức đảng đến xây dựng giai cấp, xây dựng sức mạnh đoàn kết... Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đều đưa ra cách nhìn khách quan trên mọi phương diện cả thành công và tồn tại, hạn chế, cũng như những nguy cơ tiềm ẩn; tìm ra những nguyên nhân khách quan, chủ quan và đề ra được những biện pháp để phát triển đất nước về mọi mặt: Kinh tế, văn hóa, xã hội phù hợp với tình hình mới, giai đoạn cách mạng mới, theo con đường CNXH mang đậm nét truyền thống văn hóa, đậm đà tính cách và đạo đức của dân tộc Việt Nam-một dân tộc kiên cường, yêu chuộng hòa bình và tràn đầy tình hữu nghị, bác ái.

Thứ Năm, 9 tháng 12, 2021

CHIÊU LẬT MẶT CỦA NHỮNG KẺ LÁI BUÔN THUẬT NGỮ

Vì động cơ chống phá Đảng, Nhà nước mà một số đối tượng cơ hội chính trị, bất mãn, thù địch luôn tìm mọi thủ đoạn, “đánh tráo khái niệm” nhằm vu cáo, đổ lỗi cho chế độ của Việt Nam. Và lần này, sau hàng loạt sai phạm của một số cán bộ ngành y tế bị cơ quan chức năng điều tra, xử lý, các đối tượng này tiếp tục quay sang công kích chế độ.

1. Thời gian qua, liên tiếp có một số cán bộ ngành y tế bị cơ quan chức năng khởi tố để điều tra, xử lý do những sai phạm trong thực hiện công vụ. Điển hình nhất là các vụ việc liên quan đến ông Trương Quốc Cường, Thứ trưởng Bộ Y tế; ông Nguyễn Quang Tuấn, Giám đốc Bệnh viện Bạch Mai, nguyên Giám đốc Bệnh viện Tim Hà Nội; ông Nguyễn Minh Quân, Giám đốc Bệnh viện TP Thủ Đức (TP Hồ Chí Minh); trước đó là vụ án của ông Nguyễn Nhật Cảm, Giám đốc Trung tâm Kiểm soát bệnh tật TP Hà Nội và Nguyễn Quốc Anh, nguyên Giám đốc Bệnh viện Bạch Mai đã bị đưa ra xét xử. Trong những vụ việc này, nhiều cán bộ liên quan cũng bị khởi tố để điều tra hoặc đã phải vào tù.

Sai phạm của họ do liên quan đến mua sắm, đấu thầu trang thiết bị y tế, thuốc chữa bệnh; cấp số đăng ký lưu hành nhiều tân dược giả... Đại đa số dư luận rất đau xót nhưng đều rất đồng tình với việc cần phải xử lý nghiêm minh, kiên quyết những sai phạm. Việc xử lý này cũng thể hiện quyết tâm của Đảng, Nhà nước trong chống tham nhũng, tiêu cực là “không có vùng cấm, không có ngoại lệ, không chịu sức ép của bất kỳ cá nhân nào”.

Dù sai phạm của các cán bộ y tế này là rõ ràng và nguyên nhân hoàn toàn do họ cố tình làm sai, gây bất bình xã hội, nhưng thật nực cười khi một số cá nhân lại sử dụng mạng xã hội để viết bài công kích, vu cáo thể chế chính trị, lên án chế độ của Việt Nam, hoặc lợi dụng đài, báo nước ngoài thiếu thân thiện với đất nước mà điển hình là VOA tiếng Việt để phát biểu bừa bãi. Họ đổ lỗi rằng, sở dĩ các cán bộ trên tham nhũng, sai phạm, phải tù tội "do lỗi của chế độ"; rằng chế độ ta "sinh ra tham nhũng, lỗi hệ thống tạo ra chứ không phải do biện pháp thực hiện"; "Đảng Cộng sản Việt Nam không những là nguyên nhân sinh ra tham nhũng mà còn không thể đấu tranh chống tham nhũng thành công"...

Điển hình là những trang Facebook của các đối tượng như: Dương Quốc Chính, Phạm Minh Vũ, Trân Văn... Trên Facebook, Dương Quốc Chính tán phát bài viết: “Ai cho quan làm người lương thiện” với một cách lý giải kiểu đổi trắng thay đen. Facebook của Phạm Minh Vũ tán phát bài viết: “Cái kết của một người có tài đi theo Đảng”, xóa nhòa ranh giới giữa công và tội. Trên VOA tiếng Việt, bài viết: “Từ vụ Nguyễn Quang Tuấn: Thể chế chuyên biến giả thành thật và ngược lại!” của Trân Văn ra sức công kích chế độ. Đây là những giọng điệu không xa lạ gì trong thời gian qua, vì nó được nuôi dưỡng bởi tiền của các thế lực phản động từ nước ngoài chuyên chống phá đất nước. Vì thế, họ sẵn sàng dựng chuyện bằng bất cứ lý do gì.

2.  Đổ lỗi, vu cáo cho thể chế hay đổ lỗi cho chế độ là chiêu bài quen thuộc của một số nhóm đối tượng chuyên chống phá Đảng, Nhà nước. Tuy nhiên, họ đã nhầm, hoặc do cố tình “đánh lận con đen” khi quy chụp rằng, chế độ mà chúng ta đang xây dựng đã sinh ra tham nhũng.  

Từ cổ đại đến hiện đại, tất cả học giả kinh tế hay chính trị đều thống nhất một quan điểm: Tham nhũng là hiện tượng xã hội, tồn tại tất yếu, khách quan trong xã hội có nhà nước (có giai cấp). Tham nhũng tồn tại ở mọi quốc gia, hiện diện trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, không phụ thuộc vào chế độ chính trị “đa đảng” hay “một đảng” và cũng không phụ thuộc vào trình độ phát triển.

Hiểu một cách cơ bản thì tham nhũng là “khuyết tật bẩm sinh” của quyền lực trong xã hội có giai cấp, có nhà nước. Thời đại nào, chế độ nào, quốc gia nào cũng có, không thể xóa tận gốc nó trong một thời gian ngắn. Để phòng, chống tham nhũng, mọi quốc gia đều phải sử dụng các công cụ, biện pháp trong quản trị nhà nước nhằm triệt tiêu nó. Bởi thế, đổ lỗi cho chế độ ta mới sinh ra tham nhũng là rất thiếu hiểu biết, hoặc đó là cách ngụy biện.

Xin được dẫn chứng: Trước vấn đề tham nhũng, Trung Quốc đã ban hành nhiều quy định, đồng thời sử dụng biện pháp rất mạnh để đấu tranh với tham nhũng. Trung Quốc cũng có hàng loạt đạo luật phòng, chống tham nhũng như: Luật Chống hối lộ năm 1988, Luật Chống tham nhũng năm 1997. Năm 2010 Trung Quốc còn ban hành sách trắng về chống tham nhũng. Singapore cũng xác định phòng, chống tham nhũng là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách, lâu dài, xuyên suốt quá trình phát triển kinh tế-xã hội.

Singapore đã ban hành đạo luật Chống Tham nhũng và Luật Sung công tài sản tham nhũng để đấu tranh với tội phạm tham nhũng. Với Hoa Kỳ, cường quốc này xác định tham nhũng là một tội phạm nghiêm trọng và không thể xóa bỏ hoàn toàn. Hoa Kỳ có cơ quan chuyên làm nhiệm vụ chống tham nhũng trực thuộc Bộ Tư pháp, đó là Cục Điều tra liên bang (FBI). Ngay cả Liên hợp quốc cũng có Công ước về chống tham nhũng. Do là vấn đề tất yếu nên dù có rất nhiều biện pháp phòng, chống thì tham nhũng vẫn không thể mất đi.

Trong 5 năm thực hiện chủ trương “đả hổ, diệt ruồi” (2013-2017) của Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình, Trung Quốc có 182.000 quan chức cấp cao và quan chức ở địa phương bị truy tố vì hành vi tham nhũng và lạm dụng chức vụ quyền hạn.

Tổ chức Minh bạch Quốc tế (TI) công bố Chỉ số Cảm nhận tham nhũng (CPI) năm 2020 cho thấy, một bức tranh màu xám về tình trạng tham nhũng trên toàn thế giới, với hơn 2/3 trong số 180 quốc gia được đánh giá chỉ đạt điểm dưới 50 trên thang điểm 100. Như vậy có thể thấy, tham nhũng là vấn đề toàn cầu chứ không riêng bất cứ một quốc gia nào.

Theo kết quả điều tra dư luận xã hội do Ban Nội chính Trung ương phối hợp với Ban Tuyên giáo Trung ương tiến hành, trong thời gian từ năm 2013 đến 2020, tuyệt đại đa số ý kiến người dân (93%) bày tỏ tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng. Kết quả này cũng cho thấy, mọi sự xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch đối với công tác phòng, chống tham nhũng của Đảng ta đều trở nên trơ trẽn, nực cười.

Tại Kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa XV, phát biểu với Quốc hội về vấn đề liên quan đến các sai phạm của cán bộ ngành y tế trong đấu thầu, mua sắm trang thiết bị y tế, Đại tướng Tô Lâm, Bộ trưởng Bộ Công an đã khẳng định: Sai phạm trong ngành y không phải do lỗi cơ chế. “Chúng tôi khẳng định không phải do các lỗi này, mà đều có việc lợi dụng tình hình khó khăn, lách luật để vi phạm và đây là những vi phạm hình sự rất đáng phải xử lý", Đại tướng Tô Lâm nhấn mạnh.

Quá trình điều tra, các cán bộ này đã thừa nhận sai phạm. Cơ quan điều tra đều có yêu cầu cá thể hóa trách nhiệm cá nhân trong từng vụ việc và đã chứng minh rõ yếu tố tư lợi, tham ô, tham nhũng, trục lợi... Đơn cử như việc mua máy móc, có trường hợp thông đồng với nhà thầu, đẩy giá ăn chia, trích phần trăm. Đây là yếu tố tư lợi, biểu hiện tham ô, tham nhũng...

3.  Nếu phải trả lời trước câu hỏi: Chúng ta có tiếc khi xử lý cán bộ có vi phạm đó hay không? Câu trả lời là: Rất tiếc! Vì họ là đảng viên, là đội ngũ tinh hoa của đất nước. Nhưng nếu hỏi rằng: Có cần thiết phải xử lý họ không? Câu trả lời là: Rất cần thiết. Pháp luật là công bằng.

Thượng tôn pháp luật là lẽ sinh tồn của quốc gia. Luật pháp Việt Nam không cho phép bất cứ cá nhân, tổ chức nào làm phương hại đến lợi ích của nhân dân, của đất nước. Không ai được phép đứng trên pháp luật, đứng ngoài Hiến pháp. Những con số cán bộ, đảng viên bị xử lý kỷ luật cho thấy Đảng Cộng sản Việt Nam đã nghiêm túc thực thi pháp luật, nhất quán giữa nói và làm. Riêng nhiệm kỳ XII, hơn 87.000 đảng viên bị thi hành kỷ luật, trong đó 113 đảng viên là cán bộ diện Trung ương quản lý.

Từ đầu nhiệm kỳ XIII đến nay, nhiều đảng viên là cán bộ cấp cao vi phạm tiếp tục bị xử lý, không có ngoại lệ. Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng duy nhất cầm quyền nhưng Đảng luôn đặt mình trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Đảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội nhưng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về mọi quyết định của mình.

Việc xử lý cán bộ, đảng viên vi phạm chính là bảo vệ hoạt động đúng đắn của cơ quan nhà nước, bảo vệ tài sản, các lợi ích hợp pháp của Nhà nước và nhân dân, để giữ vững ổn định và phát triển của toàn xã hội. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhiều lần nhấn mạnh: Việc xử lý nghiêm nhiều cán bộ, kể cả cán bộ cấp cao sai phạm là điều không ai mong muốn, thậm chí rất đau xót, rất đau lòng, nhưng vì sự nghiệp chung, vì sự nghiêm minh kỷ luật của Đảng, thượng tôn pháp luật của Nhà nước, sự trong sạch, vững mạnh và uy tín của Đảng, Nhà nước và ý nguyện của nhân dân, chúng ta phải làm và kiên quyết làm.

Chúng ta đang trong quá trình hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, xây dựng một xã hội mà công và tội phân minh. Có công thì thưởng, có tội thì phạt. Những cống hiến của các cán bộ này luôn được Đảng, Nhà nước ghi nhận, bằng cách bổ nhiệm họ vào các chức vụ quản lý quan trọng; phong, thăng những chức danh về học hàm, học vị; ưu đãi các chế độ, chính sách...

Vậy thì khi có tội, họ phải chấp nhận hình phạt cũng là bình thường. Sai phạm của họ là do chính cá nhân họ cố tình gây nên, đã không vượt qua được sự cám dỗ của vật chất, đã lợi dụng chức vụ, quyền lực được giao để trục lợi. Nó chính là do sự thoái hóa biến chất của con người. Nó diễn ra ngay ở trong chính bản thân mỗi con người./.

Thứ Hai, 18 tháng 10, 2021

ĐỪNG ĐỂ BỊ KẺ XẤU LỢI DỤNG

 Trong xã hội hiện nay, chúng ta không khó để nhận ra có những người rất hay than trách cuộc sống, nghi ngờ mọi thứ xung quanh, cho rằng mọi thứ đều xấu xa, tự cảm thấy mình chịu nhiều bất công, từ đó oán trách chế độ xã hội. Họ nhìn xã hội qua lăng kính màu đen nên mọi thứ xung quanh đều trở nên đen tối. Khi kinh tế phát triển họ nói rằng phát triển không thực chất, phải đánh đổi môi trường, lợi ích vào túi một số ít người. Khi một số cán bộ, đảng viên bị kỷ luật, một số vụ tham nhũng bị phát giác, xử lý nghiêm theo pháp luật, thì họ cho rằng như thế là chưa đủ, mà thậm chí phải "đập chế độ này đi xây lại vì cả hệ thống tham nhũng". Khi một vài trường học xảy ra bạo lực học đường, thì họ kết luận cả nền giáo dục là bỏ đi. Thậm chí khi bóng đá Việt Nam giành được nhiều thành tích, nhiều chiến thắng vinh quanh ở tầm châu lục và vươn lên đứng đầu khu vực Đông Nam Á, họ cũng cho rằng đó là may mắn, rồi chỉ là thành tích của một lứa cầu thủ, một huấn luyện viên, còn cả nền bóng đá vẫn tồi tệ...

 Thực tế trong bất cứ xã hội nào cũng tồn tại những người bi quan và bất mãn. Điều này là kết quả, là ảnh hưởng từ xuất phát điểm của mỗi người; từ quá trình giáo dục, từ những kết quả công việc và cuộc sống cho đến cách tiếp nhận, phân tích thông tin của mỗi người và quan trọng là cách tự xác định tâm thế, vị trí của mỗi người đối với cuộc sống. Chúng ta có thể gặp không ít người có đời sống vật chất đủ đầy, có nhà lầu, xe hơi... nhưng vẫn bất mãn với cuộc sống, vẫn thấy nhiều người hơn mình, vẫn thấy mình thiệt thòi. Từ những bất mãn so bì đó, thay vì nỗ lực để mang lại cuộc sống tốt đẹp hơn nữa cho bản thân như mong muốn, thì họ lại quay ra oán trách, thậm chí chửi bới, bôi nhọ chế độ xã hội.

 Những lúc bình thường thì tâm thế của kiểu người nêu trên gây tiêu cực cho chính bản thân họ và xã hội. Nhưng khi mà cuộc đấu tranh tư tưởng, đấu tranh chống "diễn biến hòa bình" diễn ra rất quyết liệt, có nhiều sắc thái mới thì việc tồn tại trong xã hội kiểu người nói trên sẽ là cơ hội để các thế lực thù địch hướng tới, lôi kéo, nhằm đạt được mục đích là gây bất ổn xã hội, thậm chí gây rối loạn xã hội, tiến tới lật đổ chế độ.

 Để nói về điều này, cần phải nhìn lại giai đoạn vừa qua của lịch sử thế giới đã chứng kiến những kết cục đau lòng từ sự ngộ nhận, lầm tưởng của một lớp người trong xã hội. Năm 2011, các cuộc biểu tình có cái tên rất mỹ miều là "Mùa xuân Ả Rập" đồng loạt nổ ra tại một số quốc gia Bắc Phi, Trung Đông, như: Tunisia, Algerie, Ai Cập, Yemen, Libya, Iraq, Syria...  Các cuộc biểu tình này đã dẫn tới bạo động chống chính phủ, lan nhanh như một bệnh dịch khiến chính phủ ở một loạt nước như Ai Cập, Libya, Tunisia, Yemen bị lật đổ, xã hội hỗn loạn...

 Các nước Syria, Yemen chìm trong nội chiến. Theo ước tính đến năm 2016, "Mùa xuân Ả Rập" và các cuộc nội chiến từ hậu quả của nó đã làm Syria, Lybia, Iraq bị tàn phá, khoảng 500.000 người chết, hàng chục triệu người bị mất nhà cửa, phải chạy tị nạn sang các quốc gia khác.

 Nguyên nhân dẫn tới biểu tình và bạo động là những vấn đề xã hội đã tồn tại trong các quốc gia nêu trên chậm được cải thiện, những vấn đề tư tưởng, những ấm ức, bất mãn, tâm lý bị thiệt thòi của một bộ phận người dân không sớm được giải tỏa và tìm biện pháp khắc phục. Cùng với đó là sự can dự, giật dây của các nước phương Tây, tiếp sức bằng tiền và vũ khí cho các nhóm chống đối, kích động, lôi kéo người dân xuống đường biểu tình. Đó là vì các nước phương Tây muốn thay đổi các chế độ trái mắt họ, vì lợi ích của họ. Kết quả của "Mùa xuân Ả Rập" là một thứ mùa xuân chết chóc, hỗn loạn, tan vỡ, ly tán, vợ mất chồng, cha mất con, người dân mất nhà cửa, đất nước tan hoang. Những nhà lãnh đạo bị phương Tây gọi là những “nhà độc tài” đã bị lật đổ, để rồi thay thế vào đó là nhiều nhóm quyền lực mới nổi lên bắn giết nhau, bất chấp mạng sống của người dân để giành quyền lực. Nhiều người dân Ả rập đã hối tiếc, muốn mọi thứ trở lại giai đoạn “tiền Mùa xuân Ả Rập”.

Nhìn người để nghĩ tới ta. Đất nước Việt Nam hiện được đánh giá nằm ở nhóm quốc gia có tốc độ phát triển nhanh hàng đầu thế giới. Chúng ta có thể cảm nhận thấy rõ đời sống của người dân đang đi lên theo thời gian. Theo báo cáo của Ngân hàng Thế giới (WB) năm 2018, 70% người dân Việt Nam đã được bảo đảm về mặt kinh tế, trong đó 13% thuộc tầng lớp trung lưu theo chuẩn thế giới. Tính từ năm 2014 tới nay, trung bình mỗi năm có 1,5 triệu người Việt Nam gia nhập vào tầng lớp trung lưu toàn cầu, cho thấy các hộ gia đình đang tiếp tục leo lên bậc thang kinh tế cao hơn sau khi thoát nghèo. Tất cả vấn đề xã hội, vấn đề về môi trường, phát triển bền vững đều được Đảng, Nhà nước quan tâm. Công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên được đặc biệt quan tâm và thực hiện thực chất, quyết liệt. Thế nhưng tất cả những thực tế rõ ràng đó, những con người có con mắt thiếu khách quan vẫn cố tình không thừa nhận.

Thứ Ba, 7 tháng 9, 2021

BẢN CHẤT CỦA NHÀ NƯỚC VIỆT NAM XÃ HỘI CHỦ NGHĨA LÀ KHÔNG THỂ PHỦ NHẬN

Hiện nay, trên Facebook, YouTube, các đối tượng đã đăng tải nhiều bài viết cho rằng, Cách mạng Tháng Tám năm 1945 không làm thay đổi chế độ xã hội ở Việt Nam, chẳng qua chỉ là thay từ chế độ “vua trị” sang chế độ “đảng trị”. Một số lại quy kết: “Cách mạng Tháng Tám là mở ra thời kỳ Đảng đã áp đặt một chế độ độc tài toàn trị, một đảng duy nhất nắm quyền thống trị với một nhà nước “chuyên chính vô sản”... Đó là những luận điệu xuyên tạc lịch sử, phủ nhận bản chất tốt đẹp của chế độ xã hội ở nước ta.

Thực tiễn lịch sử cho thấy, thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã mở ra bước ngoặt vĩ đại của cách mạng, đưa dân tộc Việt Nam bước sang kỷ nguyên mới - kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; nhân dân ta từ thân phận nô lệ đã trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ vận mệnh của mình.  Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã xóa bỏ sự thống trị của thực dân, phát xít và phong kiến, xây dựng nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên trong lịch sử dân tộc. Đó không phải là sự chuyển giao từ chế độ “vua trị” sang “đảng trị” mà là sự thay đổi về bản chất từ chế độ “quân chủ phong kiến” sang chế độ “dân chủ cộng hòa”, từ chế độ cai trị tàn bạo của thực dân, phong kiến sang chế độ nhân dân làm chủ dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Cách mạng Tháng Tám đã giải phóng đồng bào ta khỏi chế độ quân chủ chuyên chế và xiềng xích thực dân”. Đồng thời, đối với công cuộc xây dựng một chế độ xã hội mới, khác hẳn về chất so với chế độ phong kiến, thực dân và đến quốc: “Cách mạng Tháng Tám đã xây dựng cho nhân dân ta cái nền tảng Dân chủ Cộng hòa và thống nhất độc lập”.

Sau thắng lợi vĩ đại ấy, ngày 2 tháng 9 năm 1945,  tại cuộc mít tinh của hàng chục vạn nhân dân ở vườn hoa Ba Đình (Hà Nội), Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, trịnh trọng đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, trịnh trọng tuyên bố trước toàn thế giới: Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và thật sự đã thành một nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy.

 Ngay sau khi tuyên bố độc lập, ngày 3/9/1945, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã nêu 6 nhiệm vụ cấp bách, trong đó cứu đói là nhiệm vụ hàng đầu và phong trào “diệt giặc đói” được triển khai ngay. Chiến thắng giặc đói là một trong những thành tựu lớn đầu tiên của Nhà nước cách mạng, đã thể hiện tính ưu việt của chế độ mới, của chính quyền nhân dân, góp phần củng cố khối liên minh công nông. Nhờ đường lối đúng đắn và bằng những chủ trương, biện pháp phù hợp, Đảng ta đã xây dựng, củng cố chính quyền của dân, do dân, vì dân, xây dựng cơ sở kinh tế - chính trị - xã hội, bảo đảm cho các cuộc kháng chiến giành thắng lợi, thống nhất non sông. 

Qua 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới đất nước do Đảng khởi xướng và lãnh đạo, với sự nỗ lực của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển toàn diện. Đất nước ta vượt qua khủng hoảng kinh tế, trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình thấp, đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Chính trị, xã hội ổn định; quốc phòng, an ninh được tăng cường. Kinh tế tăng trưởng khá, nền kinh tế thị trường định hướng XHCN từng bước hình thành, phát triển. Thế và lực, uy tín của đất nước được nâng cao. Trước những diễn biến phức tạp của dịch Covid-19, Đảng, Nhà nước ta đã và đang thực hiện những chủ trương, chính sách nhằm khống chế dịch bệnh, bảo vệ sứa khỏe, tính mạng của đồng bào, tiếp tục khẳng định tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Thực tiễn đó đã và đang phản bác mọi xuyên tạc của các thế lực thù địch về bản chất của chế độ ta.

Thứ Năm, 29 tháng 4, 2021

KHÔNG MƠ HỒ VỀ BẢN CHẤT CỦA CHỦ NGHĨA TƯ BẢN

Ngày nay, trong chủ nghĩa tư bản hiện đại, dưới tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư cùng với quá trình toàn cầu hóa và kinh tế tri thức, giá trị thặng dư được tạo ra ngày càng nhiều hơn cho nhà tư bản. Vai trò, vị trí của giai cấp công nhân, người lao động mặc dù được đề cao và đời sống của họ cũng được cải thiện nhiều mặt; song, xét về địa vị, họ vẫn là những người lao động làm thuê, phục vụ mục đích làm gia tăng giá trị thặng dư cho nhà tư bản. Những mâu thuẫn vốn có của xã hội tư bản chủ nghĩa, nhất là mâu thuẫn giữa tính chất xã hội hóa ngày càng cao của lực lượng sản xuất và chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa ngày càng trở nên sâu sắc. Trước thực tiễn đó, bản thân chủ nghĩa tư bản, dù ở phương Đông hay phương Tây, đều phải điều chỉnh để thích nghi và tồn tại. Và dù cón những điều chỉnh, thích nghi nhưng bản chất áp bức, bóc lột của chủ nghĩa tư bản hiện đại không hề thay đổi.

Thứ Ba, 12 tháng 1, 2021

TỔNG PHẢN CÔNG, CÙNG QUÂN DÂN CAMPUCHIA ĐÁNH ĐỔ CHẾ ĐỘ DIỆT CHỦNG

Bị thiệt hại nặng nhưng do được hỗ trợ về vũ khí, trang bị và cố vấn quân sự từ bên ngoài, quân Pôn Pốt lại tiếp tục chuẩn bị lực lượng, tập trung quân về biên giới Việt Nam. Tháng 1-1978, Pôn Pốt đưa thêm 2 sư đoàn ra biên giới, tiếp tục gây xung đột, liên tục tiến công lấn chiếm, bắn pháo vào những nơi đông dân cư, gây nhiều tội ác với đồng bào ta.

Trước tình hình đó, Bộ Tổng tham mưu điều động Sư đoàn 341 (Quân đoàn 4) tăng cường cho Quân khu 9, sẵn sàng chiến đấu; đồng thời ra lệnh cho các đơn vị ta trên toàn tuyến biên giới Tây Nam nâng cao cảnh giác, thực hiện phòng ngự tích cực để hỗ trợ cho Đảng, Nhà nước ta thực hiện đấu tranh chính trị và ngoại giao.

Ngày 5-2-1978, Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra tuyên bố ba điểm: (1) Chấm dứt mọi hoạt động quân sự, rút lực lượng vũ trang cách biên giới 5km; (2) Hội đàm tiến tới ký hiệp ước hữu nghị và không xâm lược, ký hiệp ước về biên giới; (3) Thoả thuận về một hình thức thích hợp bảo đảm thông lệ quốc tế và giám sát quốc tế.

Phớt lờ thiện chí của ta, quân Pôn Pốt tiếp tục huy động lực lượng áp sát biên giới và cho quân tiến công, xâm nhập nhiều điểm trên địa phận nước ta; lực lượng của ta đã kiên quyết đánh trả, giành lại các khu vực bị lấn chiếm.

Từ ngày 26-3-1978, các đơn vị Quân đội ta chuyển sang tiến công, đẩy quân Pôn Pốt lùi xa dần biên giới và dồn đối phương vào thế bị động, đối phó. Đòn phản công quyết liệt của Việt Nam trên tất cả các mặt trận quân sự, chính trị, ngoại giao đã đẩy quân Pôn Pốt vào tình thế khó khăn và tác động lớn đến tình hình chính trị nội bộ Campuchia; đồng thời hỗ trợ trực tiếp cho phong trào nổi dậy của lực lượng cách mạng Campuchia phát triển, đỉnh cao là cuộc nổi dậy từ ngày 26-5-1978 ở Quân khu Đông, làm suy yếu một bộ phận lực lượng quân Pôn Pốt. Lực lượng cách mạng Campuchia đã lập được những khu căn cứ du kích có điều kiện thuận lợi về nhiều mặt, nhất là những khu căn cứ gần Việt Nam, từng bước hình thành sự chỉ đạo thống nhất.

Ngày 15-6-1978, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương họp bàn về chống lại cuộc chiến tranh xâm lược ở biên giới Tây Nam và tình hình căng thẳng ở biên giới phía Bắc, trong đó quyết định phát động chiến tranh nhân dân, kiên quyết phản công và tiến công địch một cách chủ động, liên tục bằng mọi lực lượng, với các quy mô nhỏ, vừa và lớn, đánh địch cả trong và ngoài biên giới, tiêu diệt, tiêu hao và làm tan rã một bộ phận quan trọng sinh lực địch.

Sau cuộc nổi dậy của lực lượng cách mạng Campuchia ở Quân khu Đông ngày 26-5-1978, quân Pôn Pốt vừa ráo riết thanh trừng nội bộ, vừa phải đối phó với lực lượng cách mạng Campuchia vẫn đang tiếp tục hoạt động ở nhiều nơi. Để hỗ trợ cho lực lượng cách mạng Campuchia tồn tại và phát triển, tạo thế cho hoạt động của ta vào mùa khô 1979, từ ngày 14-6 đến 30-9-1978, ta sử dụng Quân đoàn 3, Quân đoàn 4 và 2 sư đoàn (thuộc Quân khu 7), 2 sư đoàn (thuộc Quân khu 5) mở tiếp đợt tiến công lớn trên các hướng đường 1, đường 7, vùng giáp biên giới Tây Ninh và đường 19 kéo dài nhằm tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch, tiến tới làm suy yếu một bước lực lượng quân Pôn Pốt.

Do bị bất ngờ hoàn toàn về thời gian, quy mô và phương thức hoạt động của ta, quân Pôn Pốt rơi vào thế bị động, ngay ngày đầu đã bị ta đánh thiệt hại và tê liệt một số sư đoàn. Cuộc tiến công của ta đã hỗ trợ kịp thời cho lực lượng cách mạng Campuchia ở Quân khu Đông, buộc quân Pôn Pốt bị động đối phó trên cả 2 mặt trận biên giới và nội địa. Ở nhiều khu vực quan trọng, lực lượng nổi dậy đã lập được căn cứ, dựa vào dân để phát triển lực lượng. Phối hợp với lực lượng cách mạng Campuchia trong đợt tiến công này, ta loại khỏi vòng chiến đấu 6 sư đoàn, làm suy yếu nghiêm trọng lực lượng chủ lực quân Pôn Pốt, đẩy lùi hầu hết quân Pôn Pốt ra khỏi đất Việt Nam.

Trong thời gian từ tháng 5 đến tháng 11-1978, Việt Nam đã giúp lực lượng vũ trang cách mạng Campuchia phát triển được 15 tiểu đoàn, 5 khung tiểu đoàn, 24 đội công tác, xây dựng được các tổ chức đảng, chuẩn bị thành lập mặt trận và bộ máy lãnh đạo. Với sự giúp đỡ của Việt Nam, ngày 2-12-1978, tại vùng giải phóng thuộc xã Chơng Th’nu, huyện Snuol, tỉnh Kratié (Campuchia), Mặt trận Đoàn kết dân tộc cứu nước Campuchia ra mắt nhân dân Campuchia, công bố cương lĩnh cách mạng 11 điểm, trong đó nêu rõ quyết tâm đoàn kết, tập hợp mọi lực lượng yêu nước nổi dậy đánh đổ tập đoàn phản động Pôn Pốt, xóa bỏ chế độ diệt chủng tàn ác, thiết lập chế độ dân chủ nhân dân; khẳng định tăng cường tình đoàn kết với nhân dân Việt Nam và nhân dân yêu chuộng hòa bình, công lý trên thế giới; kêu gọi chính phủ các nước, các tổ chức quốc tế giúp đỡ mọi mặt cho cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân Campuchia.

Phát hiện quân Pôn Pốt có ý định tập trung 5 sư đoàn và 4 trung đoàn tiến công đánh chiếm Tây Ninh, sau đó sẽ mở rộng địa bàn đánh chiếm lãnh thổ Việt Nam, ngày 6 và 7-12-1978, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương thông qua quyết tâm tổng phản công- tiến công chiến lược tiêu diệt quân địch, hoàn thành cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam của Tổ quốc; đồng thời sẵn sàng hỗ trợ lực lượng vũ trang cách mạng Campuchia nổi dậy đánh đổ tập đoàn Pôn Pốt diệt chủng, giành chính quyền về tay nhân dân.

Phát hiện sự chuẩn bị của ta, quân Pôn Pốt tập trung phần lớn lực lượng chủ lực bố trí dọc biên giới với Việt Nam, toàn bộ phía sau hầu như trống rỗng. Ngày 23-12-1978, quân Pôn Pốt huy động 10 trong số 19 sư đoàn đang bố trí ở biên giới mở cuộc tiến công trên toàn tuyến biên giới Tây Nam nước ta.

Trước hành động xâm lược của quân Pôn Pốt và đáp lời kêu gọi khẩn thiết của Mặt trận Đoàn kết dân tộc cứu nước Campuchia, ngày 23-12-1978, Quân tình nguyện Việt Nam cùng với lực lượng vũ trang cách mạng Campuchia mở cuộc tổng phản công- tiến công trên toàn tuyến biên giới. Ngày 26-12-1978, toàn bộ hệ thống phòng thủ vòng ngoài của quân Pôn Pốt bị phá vỡ. Đến ngày 31-12-1978, quân và dân ta đã hoàn thành nhiệm vụ đánh đuổi quân Pôn Pốt, thu hồi toàn bộ chủ quyền lãnh thổ của Tổ quốc bị kẻ thù lấn chiếm. Ngày 2-1-1979, ba cụm quân chủ lực của Pôn Pốt, mỗi cụm 5 sư đoàn, án ngữ các trục đường tiến về Phnôm Pênh (đường 1, đường 7 và đường 2) cơ bản bị tiêu diệt và tan rã. Ngày 5 và 6-1-1979, trên tất cả các hướng, quân Pôn Pốt không cản được Quân tình nguyện Việt Nam truy kích và tiến sát Thủ đô Phnôm Pênh. Ngày 6-1-1979, Quân tình nguyện Việt Nam và lực lượng vũ trang của Mặt trận Đoàn kết dân tộc cứu nước Campuchia bắt đầu tổng công kích vào Thủ đô Phnôm Pênh. Sau 2 ngày tổng công kích, ngày 7-1-1979, Thủ đô Phnôm Pênh hoàn toàn được giải phóng. Ngày 8-1-1979, Hội đồng nhân dân cách mạng Campuchia được thành lập và ra tuyên bố: Xóa bỏ hoàn toàn chế độ diệt chủng của tập toàn Pôn Pốt, thành lập chế độ Cộng hòa nhân dân Campuchia. Việt Nam cùng nhiều nước đã công nhận nước Cộng hòa nhân dân Campuchia. Ngày 17-1-1979, toàn bộ đất nước Campuchia được giải phóng; phần lớn lực lượng Pôn Pốt bị tiêu diệt và tan rã, số còn lại lẩn trốn vào rừng trên tuyến biên giới phía Tây, Tây Bắc Campuchia.

Từ ngày 23-12-1978 đến 17-1-1979, Quân tình nguyện Việt Nam cùng với lực lượng vũ trang cách mạng Campuchia đã tiêu diệt và làm tan rã 18 sư đoàn quân Pôn Pốt, diệt 12 nghìn tên, bắt 8.800 tên, gọi hàng 3.200 tên và làm tan rã tại chỗ 44 nghìn tên; giải phóng trên 4 triệu dân Campuchia, thu hồi toàn bộ cơ sở vật chất và phương tiện kỹ thuật quân sự của quân Pôn Pốt; đập tan bộ máy thống trị của tập đoàn phản động Pôn Pốt từ trung ương đến cơ sở.

Trong thời gian gần hai năm chiến tranh, quân Pôn Pốt giết hại và bắt hơn 30 nghìn dân thường tại các xã biên giới của Việt Nam, 400 nghìn người dân mất nhà cửa, trên 3 nghìn nhà bị bỏ hoang; nhiều nhà thờ, trường học, chùa chiền bị chúng đốt phá...

Thắng lợi trong cuộc đấu tranh bảo vệ biên giới Tây Nam của Tổ quốc có ý nghĩa rất to lớn đối với Việt Nam: Một lần nữa khẳng định nhân dân Việt Nam với ý chí độc lập, tự chủ và tinh thần đại đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế trong sáng, sẵn sàng đập tan bất kỳ âm mưu và hành động chống phá nào của các thế lực phản động, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; đồng thời thể hiện tinh thần quốc tế cao cả, mối quan hệ truyền thống gắn bó thủy chung, lâu đời, sự giúp đỡ trong sáng, chí nghĩa, chí tình của Đảng, Nhà nước, Quân đội và nhân dân Việt Nam đối với nhân dân Campuchia.

Chiến thắng ngày 7-1-1979 có ý nghĩa lịch sử đặc biệt to lớn đối với vận mệnh đất nước Campuchia: Đã xóa bỏ hoàn toàn chế độ diệt chủng của tập toàn Pôn Pốt, thành lập chế độ Cộng hòa nhân dân Campuchia; cứu nhân dân Campuchia ra khỏi thảm họa diệt chủng, giành lại quyền được sống, quyền làm người và bước vào kỷ nguyên độc lập, tự do thật sự, hồi sinh đất nước và dân tộc, xây dựng cuộc sống hòa bình, tươi đẹp.

Thắng lợi vĩ đại ngày 7-1-1979 cũng là thắng lợi chung của nhân dân hai nước Việt Nam - Campuchia, thể hiện sức mạnh của tinh thần đoàn kết quốc tế, sự thủy chung, trọn nghĩa vẹn tình giữa hai dân tộc Việt Nam - Campuchia. Với thắng lợi ngày 7-1-1979, quan hệ hai nước Việt Nam- Campuchia chuyển sang thời kỳ mới- thời kỳ khôi phục, vun đắp tình đoàn kết, hữu nghị truyền thống và hợp tác toàn diện giữa hai nước dựa trên nguyên tắc hòa bình, tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, tôn trọng lợi ích chính đáng của nhau vì sự phát triển và phồn vinh của mỗi nước. Chiến thắng chế độ diệt chủng Pôn Pốt đã góp phần giữ vững hoà bình, ổn định ở khu vực Đông Nam Á và trên thế giới; đấu tranh vạch trần bản chất của chế độ phân biệt chủng tộc, sắc tộc, chế độ độc tài và cảnh báo cho nhân loại cảnh giác trước nguy cơ của chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi và chủ nghĩa phát xít mới.

Thứ Sáu, 8 tháng 1, 2021

LUẬN CỨ VỀ GIÁ TRỊ PHỔ QUÁT CỦA VIỆC LỰA CHỌN TƯ TƯỞNG, MÔ HÌNH PHÁT TRIỂN CỦA MỘT QUỐC GIA

Mỗi chế độ xã hội đều dựa trên những quan điểm tư tưởng nhất định, là cơ sở để xây dựng, tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước. Trong lịch sử phát triển của văn minh nhân loại cho đến nay, dù tiếp cận từ quan điểm chính trị, ý thức hệ như thế nào, mọi người cũng đều phải thừa nhận, loài người đã trải qua các thời kỳ từ công xã nguyên thủy, chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa, và sau này, đã có các quốc gia đi lên CNXH. Theo quan điểm phát triển, tương ứng với mỗi một thời kỳ đó là một kiểu chế độ xã hội đặc trưng, thể hiện sự tiến hóa của văn minh nhân loại trên các lĩnh vực, từ trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, mô hình tổ chức nhà nước, xã hội, các giá trị văn hóa, tinh thần tiêu biểu... 

Nhìn chung, tư tưởng, mô hình tổ chức xã hội tồn tại trên thực tế, xét ở các khía cạnh khác nhau đều là tri thức, lý thuyết, kết tinh trí tuệ, tinh hoa của nhóm/tầng lớp/giai cấp hay của nhân loại trong từng giai đoạn lịch sử. Các đảng phái chính trị, nhất là đảng cầm quyền ở từng quốc gia đều đại diện cho một giai cấp hoặc tầng lớp xã hội nhất định, đều lựa chọn tư tưởng, cương lĩnh ngay từ khi mới ra đời, đặc biệt khi trở thành đảng cầm quyền. 


Thứ Ba, 8 tháng 12, 2020

MƯU TOAN PHỦ NHẬN ĐỔI MỚI CHÍNH TRỊ NHẰM PHỦ NHẬN SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG

Hơn 30 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đất nước ta có nhiều đổi mới cả về kinh tế, xã hội và chính trị. Tại mỗi kỳ Đại hội Đảng, Báo cáo Chính trị đều đề cập tới thành tựu to lớn cũng như phương hướng lớn tiếp tục đổi mới chính trị.

Bên cạnh những suy tư chân thành như “Liệu đổi mới chính trị có dẫn đến thay đổi chế độ chính trị?”, những thế lực thù địch, phản động cùng những kẻ bất mãn, cơ hội chính trị lợi dụng điều này để lớn tiếng rêu rao: “Việt Nam đang thay đổi chế độ chính trị, ngày càng xa rời chủ nghĩa xã hội!” hay tung ra những luận điệu xuyên tạc, chống phá sự Đổi mới chính trị và những thành tựu quan trọng đạt được.

Có thể nói, sự chống phá, xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội về Đổi mới chính trị ở Việt Nam là sự tiếp nối của cuộc đấu tranh ý thức hệ trong điều kiện mới nhằm hướng tới mục tiêu sâu xa và thâm hiểm là phá hoại, làm mất ổn định chính trị, phát triển của đất nước ta.

Thực tế, chính trị và Đổi mới chính trị là vấn đề các thế lực thù địch, phản động luôn tìm cách chống phá quyết liệt. Những luận điều chống phá hầu như chẳng có gì mới mẻ, chúng chủ yếu tập trung vào việc chỉ trích, phê phán chế độ một đảng, rêu rao rằng đó là “đảng trị”, mất dân chủ… để rồi lớn tiếng đòi phải đa nguyên, đa đảng.

Trong sự chống phá Đổi mới chính trị ở nước ta, các thế lực thù địch, phản động thường xuyên lặp lại luận điệu cũ rích nhiều năm rằng, hệ thống tổ chức, bộ máy cồng kềnh, chính phủ, quốc hội, các tổ chức chính trị - xã hội chỉ là hình thức, theo đuôi đảng. Chúng cũng tập trung tấn công trực diện Đảng ta với luận điệu như: Đảng đứng trên luật pháp, quyền lực xã hội tập trung vào một số ít người…

Cùng với đó, chúng tìm cách chống phá, xuyên tạc mối quan hệ giữa Đổi mới chính trị và Đổi mới kinh tế trong quá trình phát triển đất nước. Chúng cho rằng, đó là sự đổi mới nửa vời, đổi mới kinh tế mà không đổi mới chính trị tương ứng, kinh tế nhiều thành phần nhưng chính trị lại độc đảng, thế nên chắc chắn sẽ kém hiệu quả.

Các thế lực thù địch, chống phá còn tìm cách kích động, đòi phải từ bỏ chủ nghĩa Mác-Lênin và phải sử dụng các lý thuyết, trường phái kinh tế học mới của chủ nghĩa tư bản để tránh được sự can thiệp quá sâu của Nhà nước vào vận hành của nền kinh tế thị trường, tránh được sự can thiệp của chính trị vào kinh tế. Chúng lớn tiếng rằng, không có khái niệm dân chủ xã hội chủ nghĩa, mà dân chủ là giống nhau; dân chủ là phi chính trị, phi giai cấp, không đảng phái và chỉ có đa nguyên, đa đảng mới có dân chủ, mới có tự do tranh cử… (?!).

Nhìn vào nội dung, luận điệu xuyên tạc cũng như những đòi hỏi của các thế lực thù địch, phản động trong việc chống phá Đổi mới chính trị tại nước ta thấy rất rõ những toan tính thâm hiểm đằng sau. Đó là phủ nhận thành tựu Đổi mới chính trị, cũng phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng, núp dưới chiêu bài đòi Đổi mới chính trị, song thực chất là đòi thay đổi chế độ tại nước ta.

Thứ Hai, 16 tháng 11, 2020

KHÔNG ĐỂ THÀNH LẬP TỔ CHỨC CHÍNH TRỊ ĐỐI LẬP

Tính chất nguy hiểm, thâm độc của luận điệu “Không thể có dân chủ trong chế độ một đảng duy nhất cầm quyền ở Việt Nam” không chỉ dừng lại ở vấn đề đa nguyên, đa đảng, mà nó còn cổ súy cho sự ra đời và công khai hoá, hợp pháp hoá các tổ chức chính trị đối lập nhằm cạnh tranh, tiến tới xoá bỏ vị trí, vai trò lãnh đạo chính quyền, lãnh đạo toàn xã hội của Đảng Cộng sản Việt Nam, cuối cùng là phủ nhận và xoá bỏ mục tiêu đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Những gì đã xảy ra ở Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu đã thể hiện rõ âm mưu, ý đồ thâm độc này của các thế lực thù địch. Thông qua “diễn biến hoà bình”, với chiêu bài “tự do”, “dân chủ”, “nhân quyền”, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội đã từng bước xoá bỏ vị trí, vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Liên Xô. Tháng 3/1990, Đại hội đại biểu nhân dân Liên Xô thông qua Nghị quyết sửa đổi Điều 6 Hiến pháp năm 1977, hủy bỏ quy định về địa vị lãnh đạo của Đảng Cộng sản Liên Xô, tuyên bố tạo cơ hội bình đẳng cho tất cả các chính đảng tham gia xây dựng và quản lý nhà nước, xã hội. Từ đó, dẫn đến cơ chế đa nguyên, đa đảng ở Liên Xô. Sau đó gần 1 năm, đã có tới 153 tổ chức, đảng phái ra đời, cạnh tranh công khai, trực tiếp và hợp pháp với Đảng Cộng sản Liên Xô. Hệ quả là, Đảng Cộng sản Liên Xô bị tước mất quyền lãnh đạo nhà nước và xã hội, Liên bang Xô Viết bị tan rã sau hơn 70 năm xây dựng và phát triển.

Hơn nữa, những luận điệu trên chủ yếu là của những kẻ cơ hội, đòi “đa nguyên, đa đảng” để “đổi vận”. Sau khi Liên Xô sụp đổ, số quan chức mới biến thành những “quý nhân” của nước Nga. "Năm 1991, trong số hàng vạn triệu phú ở Moscow, đại bộ phận nguyên là những cán bộ làm việc trong các cơ quan đảng, chính quyền. Họ chiếm 75% số quan chức bên cạnh tân tổng thống, 57,1% trong số lãnh tụ những chính đảng mới và 73,4% trong số những quan chức của chính phủ mới”. Sự thực này cho thấy, các đối tượng thù địch, phản động rêu rao phải đấu tranh cho “dân chủ”, “tự do” của nhân dân thực chất là vì chính bản thân, lợi ích của cá nhân và “đồng bọn” chúng, chứ không phải vì dân, vì nước.

Thực tiễn bảo đảm và phát huy dân chủ ở Việt Nam là minh chứng rõ nét rằng bản chất của một nền dân chủ không phụ thuộc vào chế độ đa đảng hay chế độ một đảng, mà phụ thuộc vào đảng cầm quyền đại diện cho quyền lợi của giai tầng nào trong xã hội, số đông hay số ít, tức là đảng cầm quyền mang bản chất gì và đảng cầm quyền sử dụng quyền lực nhà nước vào mục đích gì trên thực tế. Thực tiễn trên một lần nữa khẳng định rằng: trong chế độ một Đảng duy nhất cầm quyền, dân chủ trong xã hội Việt Nam không những không bị mất đi, không bị hạn chế mà còn được bảo đảm, được phát huy sâu rộng trong thực tế và phát triển lên đỉnh cao của nó, đó là dân chủ xã hội chủ nghĩa.

Thứ Tư, 11 tháng 11, 2020

TINH THẦN NHÂN VĂN VIỆT NAM TRONG PHÒNG CHỐNG, KHẮC PHỤ HẬU QUẢ CỦA THIÊN TAI, ĐỊCH HỌA

Trước diễn biến phức tạp của thiên tai, bão chồng bão, lũ chồng lũ đang gây ra những thiệt hại nghiêm trọng tại các tỉnh miền Trung, tinh thần nhân văn của con người Việt Nam không ngừng được lan toả trong công tác ứng phó và giải quyết hậu quả của bão lũ.

Năm 2020 quả là một năm đầy biến động với thế giới và cả với Việt Nam. Đại dịch Covid-19 bùng phát và diễn biến phức tạp ở nhiều nước, đẩy kinh tế thế giới rơi vào suy thoái và tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội. Ở Việt Nam, sau những nỗ lực vượt bậc của cả hệ thống chính trị và toàn dân, tình hình dịch bệnh vừa mới tạm thời được khống chế thì tháng 10 vừa qua, chúng ta lại phải gánh chịu những mất mát to lớn do tình hình bão lũ nghiêm trọng tại các tỉnh miền Trung. Nhưng cũng chính trong hoàn cảnh thiên tai, địch hoạ, chúng ta càng thấy rõ hơn tinh thần nhân văn, tương thân tương ái của đất nước và con người Việt Nam, những điều mà không phải dễ dàng tìm thấy ở bất cứ nơi nào trên hành tinh này, cho dù đó là quốc gia có nền kinh tế phát triển.

Trước hết, có thể nhận thấy, đại dịch Covid-19 hiện nay phản ánh những khía cạnh sâu xa của phân biệt chủng tộc và bất bình đẳng xã hội ở Mỹ cũng như nhiều nước phương Tây, mà trực tiếp nhất là bất bình đẳng trong thụ hưởng dịch vụ chăm sóc y tế. Người nhập cư, người nước ngoài chính là cộng đồng yếu thế, dễ bị tổn thương và chịu rủi ro cao nhất trong bối cảnh khủng hoảng, dịch bệnh.Thống kê ban đầu cho thấy người Mỹ gốc Phi là những người nghèo nhất và ít được nhận chăm sóc y tế nhất. Họ cũng chiếm tỷ lệ nhiễm bệnh và tỷ lệ tử vong cao nhất trong dịch Covid-19. Tính chung, gần 1/3 số người đã chết ở Mỹ là người da đen, cao hơn nhiều so với tỷ lệ người da màu trong dân số là 13%.

Dịch Covid-19 đã khiến nhiều cộng đồng người Mỹ gốc Phi rơi vào tình trạng đặc biệt kiệt quệ. Đáng nói là nhiều người đã bị từ chối hoặc không có điều kiện được xét nghiệm, khám chữa bệnh. Hơn nữa, người lao động trong những ngành nghề được trả lương thấp chủ yếu là những người da màu. Công việc của họ thường là tài xế chở hàng, nhân viên bệnh viện, thu ngân cửa hàng,… những công việc khiến họ dễ “bị phơi nhiễm” với những mối nguy hiểm hơn so với người da trắng; đồng thời cũng dễ dàng bị mất việc trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế vì dịch bệnh. Có thể thấy, dịch bệnh Covid-19 đang tác động tới những người da đen nặng nề hơn nhiều so với người da trắng ở Mỹ. Trong bối cảnh ấy, cái chết của người đàn ông da đen George Floyd do bị viên cảnh sát da trắng ghì cổ khống chế vào ngày 25/5/2020 ở thành phố Minneapolis, bang Minnesota như giọt nước tràn li, làm khuấy lên làn sóng biểu tình trên khắp nước Mỹ. Một lần nữa, trong đại dịch Covid-19 người ta lại thấy rõ hơn rằng sự phân biệt chủng tộc là vấn đề chưa bao giờ thôi nhức nhối ở xứ cờ hoa.

Trong khi đó, ở Việt Nam, với tinh thần “con người là trên hết”, vì sức khoẻ và tính mạng của con người, quyết “không để ai bị bỏ lại phía sau”, Đảng và Nhà nước Việt Nam sẵn sàng đón nhận và hết lòng cứu chữa cho tất cả mọi người, dù là người giàu hay nghèo, trẻ khoẻ hay già yếu, đồng bào trong nước hay kiều bào ở vùng dịch mong muốn trở về nước, dù là người Việt Nam hay người nước ngoài, thậm chí chỉ là khách du lịch, tất cả đều được quan tâm chăm lo.

Trong số các ca nhiễm Covid-19 tại Việt Nam tính đến thời điểm hiện nay, rất nhiều ca là người nước ngoài và hiện đã có nhiều trường hợp được điều trị khỏi, trở về quê nhà an toàn.Nhiều người nước ngoài sau khi khỏi bệnh đã bày tỏ lòng cảm kích, biết ơn đối với sự cứu chữa tận tình của các y bác sĩ Việt Nam và ngưỡng mộ tinh thần nhân văn của một đất nước dù còn nghèo, nguồn lực còn hạn chế, trình độ y tế có thể chưa cao bằng nhiều nước, nhưng đã sẵn lòng dang tay với tất cả những người cần giúp đỡ và quyết tâm cứu chữa bệnh nhân, bất kể người đó là ai.

Đặc biệt, các bệnh nhân người nước ngoài, trong đó có các ca diễn biến rất nặng, hoặc có bệnh nền, điều trị phức tạp, nhưng các bác sĩ của chúng ta đều dành tối đa điều kiện để cứu chữa, chăm sóc (điển hình là trường hợp bệnh nhân số 91 là một minh chứng sống động nhất.

Chính trong đại dịch, bản chất của Nhà nước và tính nhân văn của dân tộc Việt Nam lại được lan toả. Bản chất ưu việt của một Nhà nước xã hội chủ nghĩa được thể hiện rõ nét, đó là một nhà nước thực sự vì con người, bảo vệ con người, đặt con người lên trên hết, không phân biệt chủng tộc, màu da, tôn giáo, hay địa vị xã hội.

Hiện nay, trước diễn biến phức tạp của thiên tai, bão chồng bão, lũ chồng lũ đang gây ra những thiệt hại nghiêm trọng tại miền Trung, thìtinh thần nhân văn của con người Việt Nam lại tiếp tục được lan toả trong công tác ứng phó và giải quyết hậu quả của bão lũ.

Những ngày qua, cả hệ thống chính trị từ Trung ương đến địa phương đã triển khai nhiều biện pháp cấp bách để cứu hộ, cứu nạn, khắc phục hậu quả do mưa bão gây ra. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã gửi lời chia buồn đến thân nhân các gia đình bị nạn do lũ lụt và kêu gọi cả nước chung sức, đồng lòng giúp đỡ bà con vùng lũ. Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã gửi các công điện chỉ đạo, đồng thời trực tiếp cùng các đồng chí lãnh đạo về địa phương kiểm tra, thị sát tình hình, cùng triển khai các giải pháp ứng phó với bão lũ. Bộ máy chính quyền cơ sở đã được huy động tối đa, tăng cường các biện pháp cứu hộ, cứu nạn. Phong trào quyên góp, ủng hộ, cứu đói đồng bào miền Trung được phát động và nhận được sự hưởng ứng rộng rãi trong cả nước. Trên thực tế, với sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, với nỗ lực và tinh thần đoàn kết của người dân, công tác phòng, chống bão lũ đang được các địa phương xử lý tích cực.

Trong cuộc chiến chống thiên tai, cứu hộ đồng bào, đã có nhiều cán bộ, chiến sĩ hi sinh trong lúc làm nhiệm vụ. Những hi sinh, mất mát vô cùng thương tâm ấy, không có lời lẽ nào có thể diễn tả hết. Trong khi đó, một số đối tượng phản động lại ra sức tuyên truyền, xuyên tạc, chống phá Nhà nước Việt Nam bằng những thủ đoạn nham hiểm. Một số trang tin phản động ra sức đăng tải thông tin sai trái, vu cáo Đảng, Nhà nước Việt Nam không quan tâm đến công tác phòng, chống bão lũ tại các tỉnh miền Trung, vẫn “tưng bừng tổ chức đại hội”…

Cần phải thấy rằng, việc tổ chức đại hội Đảng bộ các tỉnh trong tháng 10 này là thực hiện theo kế hoạch, lộ trình đã đề ra. Hơn nữa, trước tình hình lũ lụt lịch sử, cấp ủy, chính quyền các địa phương vừa lo tổ chức đại hội nhưng cũng đồng thời triển khai các lực lượng chức năng tham gia giúp đỡ, ứng cứu người dân với tất cả tinh thần trách nhiệm chứ không phải “lo đại hội, bỏ mặc dân” như các đối tượng rêu rao. Những gì đã và đang diễn ra trong thực tế phòng chống và khắc phục hậu quả của bão lũ ở các tỉnh miền Trung là minh chứng xác đáng cho nỗ lực, cố gắng của Đảng, Nhà nước và cả hệ thống chính trị từ Trung ương đến địa phương, đồng thời thể hiện khách quan và sinh động bản chất của chế độ xã hội cũng như của tinh thần nhân văn Việt Nam.