Hiển thị các bài đăng có nhãn phát triển. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn phát triển. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 4 tháng 3, 2024

CHÍNH SÁCH XÂY DỰNG, PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ CÁN BỘ NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở VIỆT NAM GỒM NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN NÀO?

Tăng cường xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số đi đôi với củng cố, xây dựng hệ thống chính trị các cấp ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi, nhất là cấp cơ sở. Cán bộ người dân tộc thiểu số có năng lực và đủ tiêu chuẩn phù hợp quy định của pháp luật, được bổ nhiệm vào các chức danh cán bộ chủ chốt, cán bộ quản lý các cấp. Ở các địa phương vùng dân tộc thiểu số, nhất thiết phải có cán bộ chủ chốt người dân tộc thiểu số. Đảm bảo tỷ lệ hợp lý cán bộ người dân tộc thiểu số, ưu tiên cán bộ nữ, cán bộ trẻ tham gia vào các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị các cấp.

Thực hiện tốt công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng, đãi ngộ cán bộ là người dân tộc thiểu số nhằm hình thành đội ngũ cán bộ lãnh đạo là người dân tộc thiểu số có năng lực, trình độ, trí tuệ, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong thời kỳ mới; xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số cho từng vùng, từng dân tộc. Ưu tiên đào tạo, bồi dưỡng cán bộ người dân tộc, nâng cao chất lượng cán bộ, nhất là cán bộ lãnh đạo ở các cấp chính quyền, cán bộ quản lý kinh tế. Có chính sách đặc thù trong tuyển dụng, sử dụng, ưu tiên giải quyết việc làm cho học sinh, sinh viên dân tộc thiểu số sau khi tốt nghiệp. Chú trọng bồi dưỡng, tạo nguồn cán bộ, chiến sĩ là người dân tộc thiểu số trong lực lượng vũ trang gắn với tạo nguồn cán bộ cho cơ sở vùng dân tộc thiểu số.

Sắp xếp lại mục tiêu đào tạo của hệ thống các trường đại học, trường dạy nghề ở miền núi phía Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ để tăng cường đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ và nguồn nhân lực người dân tộc thiểu số. Xây dựng Học viện Dân tộc chuyên đào lạo đội ngũ trí thức, cán bộ vùng dân tộc thiểu số, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Coi trọng việc bồi dưỡng, đào tạo thanh niên sau khi hoàn thành nghĩa vụ quân sự làm nguồn cán bộ bổ sung cho cơ sở.

Bổ sung, sửa đổi tiêu chuẩn tuyển dụng, bổ nhiệm và các cơ chế, chính sách đãi ngộ cán bộ công tác ở vùng dân tộc và miền núi, nhất là những cán bộ công tác lâu năm ở miền núi, vùng cao. Trong những năm trước mắt, cần tăng cường lực lượng cán bộ có năng lực, phẩm chất tốt, trí thức trẻ đến công tác ở vùng dân tộc và miền núi, những nơi xung yếu về quốc phòng, an ninh. 

Chủ Nhật, 17 tháng 9, 2023

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH LÀ KẾT QUẢ CỦA SỰ VẬN DỤNG SÁNG TẠO VÀ PHÁT TRIỂN CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN

Trung thành tuyệt đối với chủ nghĩa Mác – Lênin, Hồ Chí Minh là một trong số ít các lãnh tụ cộng sản đã có sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện thực tiễn của cách mạng Việt Nam. Người đã tiếp thu lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin theo phương pháp luận mácxít, đồng thời theo lối tư duy phương Đông, cốt lấy ở cái tinh thần, cái bản chất, chứ không bị trói buộc trong cái vỏ ngôn từ. Từ lập trường, quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin để tìm ra những chủ trương, chinh sách phù hợp hoàn cảnh, điều kiện cụ thể trong từng thời kỳ cụ thể của cách mạng Việc Nam, không dập khuôn máy móc những lý luận đã có sẵn trong sách vở kinh điển.

Với quan điểm thực tiễn, quan điểm lịch sử và phương pháp luận biện chứng mácxít, ngay từ khi đến với chủ nghĩa Mác - Lênin. Hồ Chí Minh đã thấy sự khác biệt giữa các nước tư bản ở châu Âu mà C. Mác - Ph. Ăngghe và  Lênin đã nghiên cứu so với thực tiễn Việt Nam - một nước thuộc địa, nửa phong kiến, nông nghiệp lạc hậu, kinh tế kém phát triển... Người đã đề xuất bổ sung về cơ sở lịch sử phương Đông, để gắn với lịch sử ở phương Đông và Việt Nam. Trong một báo cáo tình hình Việt Nam gửi Quốc tế Cộng sản. Người viết: “Cuộc đấu tranh giai cấp không diễn ra giống như ở phương Tây. Dù sao cũng không thể cấm bổ sung cơ sở lịch sử của chủ nghĩa Mác, bằng đưa thêm vào đó những tư liệu mà Mác, ở thời mình không thể có được".

 Quá trình bôn ba ở nước ngoài tìm đường cứu nước Hồ Chí Minh đã tự học tập để hoàn thiện cho mình vốn văn hóa, vốn chinh trị và vốn hoạt động trong thực tiễn đấu tranh phong phú, tạo thành một bản lĩnh trí tuệ vững vàng, bản lĩnh đó đã nâng cao khả năng độc lập, tự chủ và sáng tạo  của Người khi tiếp thu chủ nghĩa Mác – Lênin để vận dụng sáng tạo phù hợp với điều kiện, lịch sử Việt Nam. Hồ Chí Minh là người đi tiên phong trong chống chủ nghĩa thực dân, Người đưa ra luận điểm rất quan trọng về cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa không hoàn toàn phụ thuộc vào cuộc cách mạng ở "chính quốc", nhân dân thuộc địa có thể đứng lên, tự giải phóng mình.

Hồ Chí Minh có quan điểm sáng tạo trong giải quyết mối quan hệ giữa dân tộc và giai cấp, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa quôc tế. Người chỉ rõ, chủ nghĩa dân tộc là động lực của đất nước; chính từ đây Đảng ta đã đúc kết thành lý luận tạo sức mạnh tổng hợp bằng kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Nhờ giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa dân tộc và giai cấp của Việt Nam, Hồ Chí Minh đã khẳng định phải tự giải phóng dân tộc đến giải phóng giai cấp, dân tộc không được giải phóng thì giai cấp cũng không được giải phóng. Đồng thời, đưa ra vấn đề liên minh công-nông-trí, dưới sự lãnh đạo của Đảng và xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc tạo nên sức mạnh tổng hợp của cách mạng Việt Nam.

Hồ Chí Minh cũng có nhứng phát triển sáng tạo về xây dựng Đảng Cộng sản ở một nước thuộc địa, nửa phong kiến, đó là quy luật hình thành Đảng bằng kết hợp chủ nghĩa Mác-Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước, Đảng vừa đại diện cho lợi ích giai cấp, vừa đại diện cho lợi ích của dân tộc. Đây là sự sáng tạo về xây dựng đảng kiểu mới ở một nước thuộc địa.

Đặc biệt, tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh là sự kế thừa, phát triển học thuyết quân sự của chủ nghĩa Mác-Lênin kết hợp với truyền thống chống xâm lược của dân tộc, lên trình độ cao về xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân và tiến hành chiến tranh nhân dân, đánh thắng những tên đế quốc to nhất, hùng mạnh nhất của thời đại ngày nay.

Hồ Chí Minh còn có sự phát triển sáng tạo về xây dựng Nhà nước của dân, do dân, vì dân và các lĩnh vực khác như: kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại, xây dựng các thế hệ cách mạng cho đời sau…hết sức phong phú sâu sắc. Sự kế thừa, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin là một thực tế khách quan, đã được lịch sử kiểm nghiệm bằng cả lý luận khoa học và thực tiễn sinh động, đưa nước ta từ một nước thuộc địa, nửa phong kiến, thành nhà nước dân chủ nhân đầu tiên ở Đông Nam Á, đánh thắng hai đế quốc to nhất của thời đại và đang vững bước đi lên con đường xã hội chủ nghĩa vì tự do, ấm no, hạnh phúc cho nhân dân. Từ chủ nghĩa yêu nước, Hồ Chí Minh đã đến chủ nghĩa Mác - Lênin trở thành một người cộng sản, một lãnh tụ thiên tài của dân tộc Việt Nam. Tư tưởng của Người là những hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về cách mạng Việt Nam, có giá trị vĩnh hằng cho hôm nay và các thế hệ mai sau. Mọi sự xuyên tạc, lừa bịp của các thế lực thù  địch và bọn phản dộng, cơ hội, tay sai về tư tưởng Hồ Chí Minh và chủ nghĩa Mác-Lênin đều không có giá trị.


Thứ Bảy, 17 tháng 6, 2023

BÁO CHÍ GÓP PHẦN QUAN TRỌNG VÀO SỰ NGHIỆP XÂY DỰNG, PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC

Nhân kỷ niệm 98 năm Ngày Báo chí cách mạng Việt Nam (21/6/1925 - 21/6/2023), chiều 14/6, tại Hà Nội, đồng chí Nguyễn Trọng Nghĩa, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương chủ trì cuộc gặp mặt, làm việc với lãnh đạo các cơ quan báo chí chính trị chủ lực, đánh giá một số nét nổi bật trong thông tin, tuyên truyền từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng đến nay; chỉ đạo, định hướng trọng tâm thông tin, tuyên truyền thời gian tới.

Cùng dự cuộc gặp mặt có đồng chí Lâm Phương Thanh, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chánh Văn phòng Thường trực Văn phòng Trung ương Đảng; đồng chí Lê Quốc Minh, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương, Tổng Biên tập Báo Nhân Dân, Chủ tịch Hội Nhà báo Việt Nam; đồng chí Lê Ngọc Quang, Ủy viên Trung ương Đảng, Tổng Giám đốc Đài Truyền hình Việt Nam; đại diện lãnh đạo Ban Tuyên giáo Trung ương, Bộ Thông tin và Truyền thông, Hội nhà báo Việt Nam; đại diện lãnh đạo 12 cơ quan báo chí chính trị chủ lực.

Tại cuộc gặp mặt, đồng chí Nguyễn Trọng Nghĩa nhấn mạnh, từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng đến nay, công tác thông tin, tuyên truyền việc triển khai thực hiện các nhiệm vụ chính trị, những sự kiện, vấn đề quan trọng, tình hình kinh tế - xã hội, văn hóa, giáo dục, y tế, quốc phòng, an ninh, đối ngoại của đất nước được các cơ quan báo, đài, nhất là các cơ quan báo chí chính trị chủ lực, quan tâm tích cực, chủ động triển khai bài bản, chất lượng, tạo được điểm nhấn, lan tỏa mạnh mẽ, góp phần định hướng dư luận xã hội.

Các báo, đài có nhiều đổi mới, sáng tạo trong việc truyền tải nội dung thông tin, đa dạng hóa hình thức thể hiện, sử dụng các công cụ truyền thông hiện đại để tiếp cận nhiều đối tượng độc giả, khán giả. 12 cơ quan báo chí chính trị chủ lực đã tích cực triển khai công tác đào tạo, bồi dưỡng phóng viên, biên tập viên, cán bộ, người làm báo cả về trình độ lý luận chính trị và chuyên môn nghiệp vụ, thực hiện Chuyên đổi số báo chí, thực sự là những cơ quan báo chí đi đầu, gương mẫu trong việc xây dựng môi trường văn hóa trong cơ quan báo chí...

Để thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, từ nay đến cuối nhiệm kỳ Đại hội XIII, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta còn rất nhiều việc phải triển khai, trong đó có những nhiệm vụ cần tập trung thực hiện với tinh thần quyết liệt, quyết tâm cao, nỗ lực vượt bậc. Đồng chí Nguyễn Trọng Nghĩa yêu cầu 12 cơ quan báo chí chính trị chủ lực phải bám sát các nhiệm vụ chính trị và tình hình thực tiễn đất nước, tập trung thông tin, tuyên truyền sâu rộng, tạo điểm nhấn nổi bật đối với một số nội dung trọng tâm: Tổng kết, đánh giá kết quả công tác lãnh đạo, chỉ đạo và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng từ đầu nhiệm kỳ đến nay; phương hướng, nhiệm vụ giải pháp từ nay đến cuối nhiệm kỳ. Tăng lượng phủ sóng, cập nhật thường xuyên, đầy đủ, toàn diện tin, bài, hình ảnh về các kỳ họp Trung ương, Quốc hội, Chính phủ; xây dựng chuyên mục, chuyên đề phản ánh đậm nét, sinh động và hiệu quả về những nội dung chính, quan trọng của các kỳ họp. Nêu bật những kết quả của công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, góp phần tích cực ngăn chặn và đẩy lùi tình trạng suy thoái tư tưởng chính trị và đạo đức, lối sống; khẳng định công tác đấu tranh phòng chống tham nhũng, tiêu cực tiếp tục được chỉ đạo mạnh mẽ, bài bản, đồng bộ, quyết liệt, có hiệu quả rõ rệt, có bước đột phá, để lại dấu ấn nổi bật, tạo sự đồng thuận cao trong toàn xã hội. Thông tin tuyên truyền sâu sắc các hoạt động đối ngoại của lãnh đạo Đảng, Nhà nước; nhận định, đánh giá tích cực của cộng đồng quốc tế về những nỗ lực của Việt Nam trong phát triển kinh tế - xã hội; xây dựng môi trường kinh doanh thuận lợi để thu hút đầu tư nước ngoài; các hoạt động tích cực của Việt Nam khi trở thành thành viên của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023 - 2025. Báo Nhân Dân, Đài Tiếng nói Việt Nam, Đài Truyền hình Việt Nam tăng cường hơn nữa hỗ trợ các cơ quan báo đảng, đài phát thanh - truyền hình địa phương về chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ thuật, để hệ thống báo đảng, đài phát thanh - truyền hình cả nước nâng cao năng lực, chất lượng, hiệu quả thông tin tuyên truyền.

Nhân kỷ niệm 98 năm Ngày Báo chí cách mạng Việt Nam, đồng chí Nguyễn Trọng Nghĩa gửi những lời chúc mừng tốt đẹp nhất đến các đồng chí lãnh đạo cơ quan báo chí; ghi nhận, đánh giá cao những đóng góp quan trọng của hệ thống báo chí cả nước, trong đó có 12 cơ quan báo chí chính trị chủ lực; khẳng định Đảng, Nhà nước luôn tạo điều kiện để báo chí phát huy vai trò, vị thế, hoàn thành tốt nhất nhiệm vụ chính trị được giao.

Đồng chí Nguyễn Trọng Nghĩa tin tưởng, bằng tình cảm, trách nhiệm, trí tuệ, hệ thống báo chí cách mạng Việt Nam sẽ tiếp tục phát huy những kinh nghiệm, bề dày truyền thống, nỗ lực đổi mới, sáng tạo, đóng góp quan trọng vào sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước ngày càng phồn vinh, hạnh phúc, hiện thực hóa các mục tiêu mà Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã đề ra


Thứ Bảy, 6 tháng 5, 2023

KIÊN ĐỊNH, VÂN DỤNG SÁNG TẠO VÀ PHÁT TRIỂN CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN

 

Trên hành trình tìm đường cứu nước, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, sau này là Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu đã tìm đến với chủ nghĩa Mác - Lênin. Chủ nghĩa Mác - Lênin kết hợp với phong trào công nhân và phong trào yêu nước đã dẫn tới việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (ngày 3-2-1930), bước ngoặt vĩ đại của lịch sử cách mạng Việt Nam.

Từ khi ra đời đến nay, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại luôn lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của mình. Luôn kiên định, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của cách mạng Việt Nam, kết hợp nhuần nhuyễn giữa giai cấp và dân tộc, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, Đảng ta đã lãnh đạo nhân dân vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách, đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Đó là thắng lợi vĩ đại của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945, khai sinh ra nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á; thắng lợi vẻ vang trong kháng chiến chống thực dân Pháp, đánh đuổi đế quốc Mỹ xâm lược, hoàn thành cách mạng dân tộc, dân chủ, thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Cũng với tinh thần đó, Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta tiến hành công cuộc đổi mới đất nước. Hơn 35 năm qua, chúng ta đã giành được những thành tựu có ý nghĩa lịch sử; khẳng định cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín đất nước trên tầm cao mới.

Đứng trước yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra trong tình hình mới, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, Đảng ta tiếp tục khẳng định, tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta là phải kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội...

Có thể nói, đối với dân tộc Việt Nam, cuộc đời, sự nghiệp và những cống hiến vĩ đại của Các Mác luôn được trân trọng nhất; là di sản quý báu, gắn liền với con đường xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước ta.

Kỷ niệm Ngày sinh của Các Mác chính là dịp để chúng ta cùng nhận thức rõ hơn và biết ơn những cống hiến vĩ đại của Các Mác, đặc biệt là nhận thức sâu sắc giá trị của chủ nghĩa Mác - Lênin để luôn kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo phù hợp với từng điều kiện, từng hoàn cảnh. Đây là vấn đề có tính nguyên tắc, có ý nghĩa sống còn đối với chế độ ta, Đảng ta mà mỗi cán bộ, đảng viên phải thực sự thấm nhuần./.

Thứ Hai, 9 tháng 1, 2023

BẢN LĨNH VƯỢT KHÓ

Lịch sử của dân tộc Việt Nam là lịch sử đấu tranh để tồn tại và phát triển. Trong đó, bản lĩnh vượt khó, khả năng vượt nghịch cảnh là một giá trị của dân tộc ta, đã được minh chứng và luôn phát huy vào những thời điểm thách thức, cam go nhất.

Năm 2022 được ghi dấu là một năm đầy thử thách đối với dân tộc Việt Nam. Những tưởng khi dịch Covid-19 dần được khống chế, đất nước bắt đầu mở cửa trở lại từ tháng 3 thì nút thắt đã được tháo gỡ. Nhưng mọi thứ không đơn giản như vậy. Biến động địa chính trị trên thế giới đã tạo ra những đứt gãy trong quan hệ quốc tế, trong chuỗi cung ứng toàn cầu, lạm phát tăng cao, khủng hoảng giá năng lượng khiến kinh tế thế giới nhìn chung rất chật vật. Việt Nam với vị thế là nền kinh tế có độ mở hàng đầu thì cũng chịu rủi ro hàng đầu bởi các tác động bất lợi. Trong thế gian nan ấy, kinh tế Việt Nam vẫn vững vàng với mức tăng trưởng năm 2022 là 8,02%, cao nhất trong 12 năm qua và cũng cao nhất trong khu vực ASEAN. Lạm phát được kìm giữ theo đúng mục tiêu đề ra, với chỉ số giá tiêu dùng chỉ tăng 3,15%. Trong khi thị trường xuất khẩu giảm cầu do lạm phát nhưng Việt Nam vẫn xuất khẩu ước đạt 371,85 tỷ USD, tăng 10,6% so với năm trước. Xuất siêu là 11,2 tỷ USD. Đời sống của người dân cơ bản được giữ ổn định.

Những thành công đó đã thể hiện bản lĩnh vượt khó và trí tuệ của Việt Nam. Việc nhận thức đúng về thế giới hiện nay đã được kết tinh thành trường phái “ngoại giao cây tre” rất đặc trưng của Việt Nam, “dĩ bất biến, ứng vạn biến”, không chọn bên mà chỉ chọn chính nghĩa, lẽ phải. Nhận thức đúng, ứng xử đúng trong quan hệ quốc tế đã tạo ra động lực phát triển cho đất nước dù trong bất cứ điều kiện, hoàn cảnh nào.

Hội nghị Trung ương 5 và Trung ương 6, khóa XIII của Đảng đã đưa ra các chủ trương lớn để tháo gỡ những điểm nghẽn thể chế, đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, là minh chứng cho thấy các nghị quyết của Đảng luôn nắm bắt hơi thở của cuộc sống, là tiền đề rất quan trọng cho giai đoạn phát triển sắp tới. Cùng với đó, Đảng tiếp tục đẩy mạnh cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, quyết liệt, không có vùng cấm, để gìn giữ môi trường chính trị-xã hội lành mạnh, giữ vững niềm tin của nhân dân.

Trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược gay gắt, xung đột quân sự đã xảy ra trên thế giới, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng và toàn quân đã thực hiện tốt chức năng tham mưu chiến lược với Đảng và Nhà nước về quân sự, quốc phòng; làm tốt công tác dự báo, nắm chắc tình hình, từ đó đề xuất nhiều chủ trương, giải pháp phù hợp với các tình huống, nhất là trong những thời điểm nhạy cảm, không để bị động, bất ngờ. Đây là điều rất căn bản để giữ được “trong ấm, ngoài êm”. Chất lượng tổng hợp, sức mạnh, trình độ, khả năng sẵn sàng chiến đấu của Quân đội được nâng cao. Cùng với đó, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng cũng đã phối hợp chặt chẽ với các ban, bộ, ngành Trung ương và địa phương huy động, quản lý, sử dụng hiệu quả các nguồn lực, phát huy tốt vai trò nòng cốt của Quân đội trong việc xây dựng “thế trận lòng dân” gắn với xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh.

Năm 2023 được dự báo cạnh tranh chiến lược trên thế giới tiếp tục gay gắt và có những trạng thái nguy hiểm. Nhiều nền kinh tế lớn trên thế giới đối mặt với nguy cơ suy thoái. Hoàn cảnh đó một lần nữa đặt dân tộc ta, đất nước ta trước những khó khăn, thách thức mới. Tuy nhiên, các kết quả đã đạt được trong giai đoạn chống dịch Covid-19, những kết quả của năm 2022 là cơ sở để chúng ta vững tin ở bản lĩnh vượt khó của đất nước để đạt các mục tiêu đề ra. Muốn vậy, toàn thể dân tộc ta cần giữ vững khối đại đoàn kết dưới ngọn cờ lãnh đạo của Đảng. Mỗi tập thể, cá nhân cần nêu cao tinh thần, trách nhiệm, thực hiện tốt vai trò, chức trách của mình. Mỗi cán bộ, chiến sĩ toàn quân cần tiếp tục nỗ lực giữ gìn ý thức, kỷ luật, nâng cao chất lượng huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, lao động, học tập, công tác để tăng cường sức mạnh tổng hợp của Quân đội, tiếp tục xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân vững chắc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước.

Theo: QĐND

Thứ Năm, 1 tháng 12, 2022

MỤC TIÊU ĐẾN 2030, GDP BÌNH QUÂN ĐẦU NGƯỜI VIỆT NAM ĐẠT KHOẢNG 7.500 USD

Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã ký ban hành nghị quyết 29 của Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

Nghị quyết nêu rõ mục tiêu tổng quát đến năm 2030 Việt Nam cơ bản đạt được các tiêu chí của nước công nghiệp, là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đời sống của nhân dân được nâng cao.

Xây dựng nền công nghiệp quốc gia vững mạnh với năng lực sản xuất mới, tự chủ, khả năng thích ứng, chống chịu cao, từng bước làm chủ công nghệ lõi, công nghệ nền của các ngành công nghiệp nền tảng, công nghiệp ưu tiên, công nghiệp mũi nhọn...

Về các chỉ tiêu cụ thể đến năm 2030, nghị quyết nêu rõ mục tiêu tốc độ tăng trưởng GDP bình quân khoảng 7%/năm; GDP bình quân đầu người theo giá hiện hành đạt khoảng 7.500 USD; GNI bình quân đầu người theo giá hiện hành đạt trên 7.000 USD.

Đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng kinh tế ở mức trên 50%; chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII) thuộc nhóm 40 nước dẫn đầu thế giới.

Tỉ lệ lao động nông nghiệp trong tổng lao động xã hội dưới 20%; tỉ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ đạt 35 - 40%; tỉ lệ người dân trong độ tuổi lao động được đào tạo kỹ năng số cơ bản đạt trên 80%; đạt khoảng 260 sinh viên trên một vạn dân.

Thuộc nhóm ba nước dẫn đầu ASEAN về năng lực cạnh tranh công nghiệp; tỉ trọng công nghiệp đạt trên 40% GDP; tỉ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo đạt khoảng 30% GDP; tỉ trọng giá trị sản phẩm công nghiệp công nghệ cao trong các ngành chế biến, chế tạo đạt trên 45%.

Giá trị gia tăng công nghiệp chế tạo, chế biến bình quân đầu người đạt trên 2.000 USD. Tỉ trọng của khu vực dịch vụ đạt trên 50% GDP, trong đó du lịch đạt 14 - 15% GDP.

Hình thành được một số tập đoàn, doanh nghiệp công nghiệp trong nước có quy mô lớn, đa quốc gia, có năng lực cạnh tranh quốc tế trong các ngành công nghiệp nền tảng, công nghiệp ưu tiên, công nghiệp mũi nhọn.

Xây dựng và phát triển được một số cụm liên kết ngành công nghiệp trong nước có quy mô lớn, có năng lực cạnh tranh quốc tế; làm chủ một số chuỗi giá trị công nghiệp, nông nghiệp.

Xây dựng được ngành công nghiệp quốc phòng, công nghiệp an ninh tự lực, tự cường, lưỡng dụng, hiện đại.

Tỉ trọng kinh tế số đạt khoảng 30% GDP. Hoàn thành xây dựng chính phủ số, thuộc nhóm 50 quốc gia hàng đầu thế giới và xếp thứ ba trong khu vực ASEAN về chính phủ điện tử, kinh tế số.

Tỉ lệ đô thị hóa đạt trên 50%. Phấn đấu đạt được các chỉ tiêu về sử dụng hiệu quả tài nguyên (đất, nước, khoáng sản), tái sử dụng, tái chế chất thải tương đương với các nước dẫn đầu ASEAN; chỉ số hiệu quả môi trường (EPI) đạt trên 55. Chỉ số phát triển con người (HDI) duy trì trên 0,7.

Về tầm nhìn đến năm 2045, nghị quyết nêu rõ mục tiêu Việt Nam trở thành nước phát triển, có thu nhập cao, thuộc nhóm các nước công nghiệp phát triển hàng đầu khu vực châu Á.

* Về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu, nghị quyết nêu rõ việc đổi mới tư duy, nhận thức và hành động quyết liệt, tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Trong đó các nội dung cốt lõi của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước giai đoạn 2021 - 2030 là thúc đẩy ứng dụng mạnh mẽ khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, nhất là thành tựu của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, tạo ra bứt phá về năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của các ngành, lĩnh vực và cả nền kinh tế.

Đồng thời thực hiện chuyển đổi số toàn diện, thực chất, hiệu quả, bền vững; nâng cao năng lực tự chủ về sản xuất, công nghệ và thị trường, bảo vệ và phát huy tốt thị trường trong nước.

Nghị quyết cũng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện thể chế, chính sách thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Xây dựng nền công nghiệp quốc gia vững mạnh, tự lực, tự cường; nâng cao năng lực ngành xây dựng...

Chủ Nhật, 20 tháng 11, 2022

KIÊN QUYẾT, KIÊN TRÌ ĐẤU TRANH BẢO VỆ VỮNG CHẮC ĐỘC LẬP, CHỦ QUYỀN, THỐNG NHẤT, TOÀN VẸN LÃNH THỔ, VÙNG TRỜI, VÙNG BIỂN CỦA TỔ QUỐC ĐI ĐÔI VỚI GIỮ VỮNG MÔI TRƯỜNG HÒA BÌNH, ỔN ĐỊNH ĐỂ PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC

Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, vùng trời, vùng biển của Tổ quốc luôn đặt trong mối quan hệ biến chứng với bảo đảm giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước. Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Kiên quyết, kiên trì bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc đi đôi với giữ vững môi trường hoà bình, ổn định để phát triển đất nước”. Đây là một trong những nội dung quan trọng của bài học kinh nghiệm lớn được đúc rút từ thực tiễn xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thể hiện bước phát triển nhận thức mới của Đảng về bảo vệ Tổ quốc; là bước phát triển cụ thể hóa sâu sắc tư duy của Đảng về giải quyết mối quan hệ giữa hai nhiệm vụ chiến lược: Xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới. Trên cơ sở dự báo tình hình thế giới, khu vực tiếp tục sẽ có những diến biến nhanh chóng, phức tạp, khó lường; trong nước vẫn tồn tại các nguy cơ gây bất ổn tác động mạnh mẽ đến công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, Đảng ta đã khẳng định phải tiếp tục kiên quyết, kiên trì bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc đi đôi với giữ vững môi trường hoà bình, ổn định để phát triển đất nước. Theo đó, mục đích, phương châm kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, vùng trời, vùng biển của Tổ quốc phải hướng đến giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước. Kiên quyết, kiên trì dùng mọi biện pháp có thể để đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, vùng trời, vùng biển của Tổ quốc nhưng không phá vỡ môi trường hòa bình, gây bất ổn cho đất nước. Ngược lại, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước phải tạo ra những điều kiện thuận lợi, luôn song hành với thực hiện có hiệu quả mục đích, phương châm kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, vùng trời, vùng biển của Tổ quốc. Giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước không thể được tạo ra bởi nhân nhượng, thỏa hiệp, mà phải bằng ý chí kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, vùng trời, vùng biển của Tổ quốc.

TĂNG CƯỜNG HỘI NHẬP QUỐC TẾ, HỢP TÁC QUỐC PHÒNG VÌ HÒA BÌNH ĐỘC LẬP VÀ PHÁT TRIỂN

Những năm qua, Đảng, Nhà nước ta thực hiện đường lối, chính sách đối ngoại nói chung, đối ngoại quốc phòng nói riêng độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác cùng phát triển. Với quan điểm đó, Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế; chủ động hội nhập, mở rộng hợp tác quốc tế, tăng cường đối ngoại quốc phòng theo phương châm “tích cực, chủ động, chắc chắn, linh hoạt, hiệu quả” trên cơ sở bình đẳng, cùng có lợi: “Thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tụ chủ, hòa bình, hữu nghị hợp tác và phát triển. Đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ đối ngoại...trên nguyên tắc bình đẳng,cùng có lợi”. Nhờ đó, vị thế nước ta trên trường quốc tế được tăng cường; việc kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại được phát huy; lòng tin chiến lược, môi trường hòa bình không ngừng tạo lập, củng cố, tạo điều kiện thuận lợi bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền lãnh thổ, lợi ích quốc gia, dân tộc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước.  Đại hội XIII đã khảng định: “Chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, giải quyết tốt mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ với hội nhập quốc tế… Gắn kết chặt chẽ quá trình chủ động, tích cực hội nhập quốc tế toàn diện và sâu rộng với việc nâng cao sức mạnh tổng hợp, huy động tiềm năng của toàn xã hội”. Với đường lối đúng đắn đó, đến đầu năm 2020, Việt Nam đã thiết lập quan hệ quốc phòng với trên 80 nước và tổ chức quốc tế; đặt Văn phòng Tùy viên quốc phòng tại Liên hợp quốc và 37 nước; có 49 nước đặt Văn phòng Tùy viên quốc phòng, quân sự tại Việt Nam. Việt Nam tích cực tham gia vào các vấn đề chung của thế giới, như: đăng cai tổ chức Hội nghị thượng đỉnh Mỹ - Triều, Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng các nước ASEAN, tham gia lực lượng gìn giữ hoà bình Liên hợp quốc tại Cộng hòa Trung Phi và Nam Xu-đăng,… được quốc tế ghi nhận, đánh giá cao.

Như vậy, tính chất hòa bình, tự vệ, Việt Nam không tham gia liên minh quân sự trong Đai hội XIII là hoàn toàn đúng đắn, có bước phát triểm mới phù hợp của Đảng ta, một mặt vừa bảo đảm vừa giữ vững độc lập, tự chủ, tự cường, mặt khác bảo đảm được thế cân bằng trong quan hệ quốc tế, không để rơi vào vòng xoáy của sự cạnh tranh, giành ảnh hưởng giữa các nước lớn, nhất là không để bị rơi vào thế phải đi với nước này để chống nước khác, tác động tiêu cực đến các mối quan hệ và hội nhập quốc tế; đồng thời, tranh thủ tối đa sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Vì vậy, hiện nay mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân cần tăng cường học tập, quán triệt, nâng cao nhận thức, bảo vệ chủ trương, quan điểm của Đảng trong Văn kiện XIII nói chung về tính chất hòa bình, tự vệ, Việt Nam không tham gia liên minh quân sự nói riêng. Đồng thời, kiên quyết đấu tranh với những quan điểm sai trái của các thế lực thù địch, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng./.

Thứ Ba, 6 tháng 9, 2022

NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN BỔ SUNG, PHÁT TRIỂN VỀ PHƯƠNG THỨC BẢO VỆ TỔ QUỐC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Trung thành, vận dụng sáng tạo lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin về phương thức bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa vào thực tiễn Việt Nam, phương thức bảo vệ Tổ quốc là vấn đề đặc biệt quan trọng trong hệ thống quan điểm lý luận của Đảng về bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Xét từ góc độ nội dung, đó chính là những hình thức, biện pháp cụ thể của phương thức bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, được áp dụng rộng rãi trong thực tiễn hoạt động bảo vệ Tổ quốc. Theo đó, những vấn đề: kết hợp xây dựng với bảo vệ; đấu tranh vũ trang, đấu tranh phi vũ trang, kết hợp đấu tranh vũ trang và phi vũ trang, những vấn đề tự bảo vệ,  bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, xử lý các vấn đề liên quan đến đối tác và đối tượng,… là những vấn đề rất cơ bản, là những cách thức, biện pháp cụ thể của phương thức bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới. Những phương thức cụ thể đó cần được tiếp tục nghiên cứu, làm rõ trong bối cảnh của tình hình mới. 

Hiện nay, sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa đứng trước những thời cơ, thuận lợi và khó khăn, thách thức mới: “Thế giới đang trải qua những biến động to lớn, diễn biến rất nhanh chóng, phức tạp, khó dự báo”, vấn đề xâm phạm chủ quyền quốc gia, tranh chấp lãnh thổ và tài nguyên, xung đột sắc tộc, tôn giáo, can thiệp lật đổ, khủng bố, chiến tranh cục bộ, chiến tranh mạng tiếp tục diễn ra gay gắt ở nhiều khu vực. Các nước lớn điều chỉnh chiến lược, vừa hợp tác, thỏa hiệp, vừa cạnh tranh, đấu tranh, kiềm chế lẫn nhau, tác động mạnh đến cục diện thế giới và các khu vực. Các thế lực thù địch có những điều chỉnh mới trong chiến lược toàn cầu phản cách mạng chống phá chủ nghĩa xã hội, chống phá cách mạng Việt Nam. Chiến lược phức hợp “diễn biến hòa bình”, kết hợp với bạo loạn lật đổ và tạo cớ để sẵn sàng phát động chiến tranh xâm lược được chúng tiến hành một cách ráo riết vừa công khai, trắng trợn, vừa tinh vi, xảo quyệt, vừa ngầm, vừa sâu. Chúng luôn chĩa mũi nhọn vào những vấn đề nhạy cảm như “dân chủ”, “nhân quyền”, “tự do tôn giáo”, “dân tộc” để kích động, chia rẽ, phá hoại công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo. Sự thay đổi trong chiến lược và phương thức chống phá cách mạng nước ta của các thế lực thù địch đòi hỏi phải tiếp tục nghiên cứu bổ sung, phát triển phương thức bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới. Trong đó tập trung:

Một là, tiếp tục nghiên cứu, bổ sung, phát triển quan điểm kết hợp chặt chẽ hai phương thức đấu tranh vũ trang và đấu tranh phi vũ trang bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

Hai là, tiếp tục nghiên cứu, bổ sung, phát triển hình thức, biện pháp đấu tranh quốc phòng bảo vệ Tổ quốc.

Ba là, tiếp tục nghiên cứu, bổ sung, phát triển quan điểm bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, giữ nước từ khi chưa nguy.

Bốn là, tiếp tục khẳng định và phát triển quan điểm về chủ động phòng ngừa, phát hiện sớm và triệt tiêu các nhân tố bất lợi, nhất là các nhân tố bên trong có thể gây ra đột biến.

Năm là, tiếp tục nghiên cứu, bổ sung, phát triển quan điểm xây dựng chủ nghĩa xã hội vững mạnh là phương thức hữu hiệu bảo vệ Tổ quốc.

Sáu là, tiếp tục nghiên cứu, bổ sung, phát triển về hợp tác và đấu tranh, đối tác và đối tượng trong bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

Thứ Hai, 5 tháng 9, 2022

SỰ RA ĐỜI CỦA CHỦ NGHĨA XÃ HỘI HIỆN THỰC LÀ MỘT TẤT YẾU KHÁCH QUAN HỢP QUY LUẬT PHÁT TRIỂN CỦA LỊCH SỬ

Theo Các Mác - Ph.Ăngghen: Lịch sử chẳng qua là sự hoạt động của con người theo đuổi những mục đích của chính mình, nhưng không phải tùy tiện mà tuân theo những qui luật khách quan (Duy vật lịch sử). Động lực chính của sự phát triển lịch sử là do: lao động sản xuất, nghiên cứu khoa học và đấu tranh cách mạng. Yếu tố xét đến cùng của sự phát triển xã hội là sự phát triển không ngừng của lực lượng sản xuất, trong đó con người giữ vai trò quyết định. Quá trình phát triển của lịch sử xã hội loài người là sự thay thế hình thái kinh tế - xã hội này bằng hình thái kinh tế - xã hội khác cao hơn diễn ra như một quá trình lịch sử tự nhiên. Lịch sử xã hội loài người đã và đang trải qua 5 hình thái kinh tế xã hội: Cộng sản nguyên thủy; chiếm hữu nô lệ; chế độ phong kiến; tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa. Đó là quy luật chung, còn từng quốc gia có thể bỏ qua một vài hình thái kinh tế - xã hội tùy điều kiện lịch sử cụ thể.

Sự ra đời của chủ nghĩa hội hiện thực là tất yếu khách quan và hợp qui luật tiến hóa của lịch sử, được C.Mác và Ph.Ăngghen luận giải khoa học dưới góc độ triết học, góc độ kinh tế và góc độ chính trị xã hội giai cấp, đấu tranh giai cấp, không ai có thể bác bỏ được.

Đến giai đoạn V.I.Lênin: CNTB đã chuyển thành CNĐQ với 5 đặc điểm của nó: Hình thành các tổ chức độc quyền; Tư bản tài chính lũng loạn Nhà nước; Xuất khẩu tư bản; Xuất hiện qui luật phát triển không đều; Đấu tranh chia lại thị trường thế giới, tạo ra tiền đề vật chất và tình thế, thời cơ cho cách mạng XHCN. Chỉ có kẻ nào cố tình nhắm mắt, bịt tai mới không nhìn thấy, nghe thấy khi CNTB chuyển thành CNĐQ thì đã thai nghén 1 xã hội mới trong lòng nó rồi. Từ đó, V.Lênin khẳng định: “Không có một lực lượng nào ngăn trở được mặt trời mọc, không có một lực lượng nào ngăn trở được xã hội loài người tiến lên, cũng không có lực lượng nào ngăn trở được CNXH hiện thực ra đời, phát triển. Sớm hay muộn các dân tộc khác nhau trên hành tinh này chắc chắn sẽ đi lên CNXH” “Mặc cho khó khăn, thách thức, thậm chí có bước thụt lùi, song lịch sử cứ tiến về phía trước, không có kẻ nào có thể bẻ quay bánh xe của lịch sử”. Từ đó, V.I.Lênin đã cùng Đảng Bôn sê vich Nga và nhân dân Nga quyết tâm tổ chức và lãnh đạo thành công cách mạng tháng Mười năm1917, biến chủ nghĩa xã hội từ lý luận thành hiện thực, mở ra chương mới cho lịch sử nước Nga và thời đại mới cho xã hội loài người, thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội. Đó là một sự thật lịch sử vĩ đại không thể chối cãi.

Kế thừa tư tưởng C.Mác - Ph.Ăngghen và V.I.Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: Lịch sử xã hội loài người là một quá trình tự nhiên của sự thay thế lần lượt các phương thức sản xuất, phương thức sản xuất là cách làm ra của cải vật chất, tinh thần trong một giai đoạn lịch sử nhất định. Qui luật phổ quát tiến hóa chung này là một tất yếu thép, được qui định bởi sự vận động không ngừng của lực lượng sản xuất xã hội. Quy luật đó được Hồ Chí Minh diễn giải một cách rễ hiểu như sau: “Cách sản xuất và sức sản xuất phát triển và biến đổi mãi, do đó mà tư tưởng con người, chế độ xã hội…. cũng phát triển và biến đổi. Chúng ta đều biết từ xưa tới nay cách sản xuất từ chỗ dùng cành cây, búa đá phát triển dần đến máy móc, sức điện, sức nguyên tử. Chế độ xã hội cũng phát triển từ Cộng sản nguyên thủy đến chiếm hữu Nô lệ, chế độ Phong kiến đến chế độ Tư bản chủ nghĩa và ngày nay gần một nửa loài người đang tiến lên CNXH, và CNCS. Sự phát triển và tiến bộ đó không ai ngăn cản được”.

Bởi ngay từ khi ra đời Chủ nghĩa tư bản đã đầy máu và bùn nhơ ở mỗi lỗ chân lông của nó, cùng với sự phát triển nó đã cắt đứt mọi mối quan hệ của con người với đấng thần linh, dìm lòng mê đạo và máu hiệp sĩ xuống dòng nước lạnh tanh, đặng chỉ để lại mối quan hệ lạnh lùng trả tiền ngay không tình nghĩa. Nên cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản chống giai cấp tư sản diễn ra ngay từ đầu, từ thấp đến cao, từ tự phát đến tự giác bằng Phong trào Cộng sản và Công nhân quốc tế.

Chủ nghĩa tư bản đã phá sập ngay dưới chân nó cái nền tảng mà chúng dựng nên, chúng đã tạo ra những nhân tố, những tiền đề để cách mạng vô sản nổ ra và giành thắng lợi, “Chúng không những rèn ra vũ khí giết mình mà còn đào luyện ra người sử dụng vũ khí là giai cấp vô sản. Vì vậy, sự diệt vong của chủ nghĩa tư bản và thắng lợi của chủ nghĩa xã hội đều tất yếu như nhau”.

Thực tiễn lịch sử đã chứng minh những tư tưởng thiên tài của Các Mác - Ph.Ăngghen, V.I.Lênin, Hồ Chí Minh là hoàn toàn đúng đắn. CNXH từ lý luận thành hiện thực trên 1/6 trái đất tử cách mạng tháng Mười Nga năm 1917, rồi thành hệ thống thế giới sau năm 1945. Chỉ trong một thời gian ngắn, từ điểm xuất phát thấp, hậu quả chiến tranh nặng nề, bị chủ nghĩa đế quốc bao vây cấm vận. Song, với tính ưu việt của chế độ XHCN và sức mạnh tổng hợp, CNXH hiện thực đã: Giành được nhiều thành tựu to lớn trên mọi lĩnh vực; Tạo ra bước ngoặt trong lịch sử loài người quá độ từ CNTB lên CNXH.  Chứng minh loài người hoàn toàn có đủ khả năng đi lên CNXH dưới sự lãnh đạo của Đảng cách mạng của giai cấp công nhân; đánh tan chủ nghĩa phát xít cứu nhân loại khỏi thảm họa diệt chủng; là chỗ dựa vững chắc cho phong trào cách mạng thế giới. Đập tan những luận điệu xuyên tạc của học giả tư sản và cơ hội xét lại, củng cố niềm tin tất thắng vào CNXH và CNCS. Hiện nay, sau khủng hoảng, sụp đổ, CNXH hiện thực vẫn là thực thể xã hội ưu việt, năng động, phát triển và xu thế tất yếu của xã hội loài người.

TIẾP TỤC BẢO VỆ, BỔ SUNG VÀ PHÁT TRIỂN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC Ở CÁC NƯỚC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA HIỆN NAY

Chủ nghĩa xã hội khoa học là lý luận trực tiếp cho phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân và các dân tộc bị áp bức có sức sống trường tồn luôn được bổ sung bởi thực tiễn cách mạng thế giới, nhất là thực tiễn - phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân, thực tiễn quá độ lên chủ nghĩa xã hội, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Với lý luận khoa học và cách mạng do bản chất nội tại của nó, với những bước tiến thăng trầm của lịch sử, dù tiếp cận chủ nghĩa xã hội là một học thuyết, chủ nghĩa xã hội là một phong trào hay chủ nghĩa xã hội là một chế độ thì nó thống nhất với nhau, gắn bó mật thiết với nhau. Thực tiễn phong trào cách mạng của giai cấp công nhân được biểu hiện ở những mức độ khác nhau, nhưng về căn bản hiện nay, quan hệ giữa giai cấp công nhân với giai cấp tư sản về địa vị kinh tế - xã hội là không thay đổi. Điều đó, chứng minh giai cấp công nhân có sứ mệnh thủ tiêu giai cấp tư sản, thiết lập một xã hội mới xã hội xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa.

Từ bản chất nội tại và sức sống của chủ nghĩa xã hội khoa học, vấn đề tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận chủ nghĩa xã hội khoa học là nguyên tắc sống còn đối với những người xã hội chủ nghĩa, đúng như V.I.Lênin đã căn dặn chúng ta rằng: “Chúng ta không hề coi lý luận của Mác như là một cái gì đã xong xuôi hẳn và bất khả xâm phạm; trái lại, chúng ta tin rằng lý luận đó chỉ đặt nền móng cho môn khoa học mà những người xã hội chủ nghĩa cần phải phát triển hơn nữa về mọi mặt, nếu họ không muốn trở thành lạc hậu đối với cuộc sống”.

Thực tiễn biến đổi thì chủ nghĩa xã hội khoa học cần phải không ngừng được bổ sung, phát triển, gắn liền với đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái thù địch bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bởi vì, “Trước đây, khi còn Liên Xô và hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa thì vấn đề đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam dường như không có gì phải bàn, nó mặc nhiên coi như đã được khẳng định. Nhưng từ khi mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và nhiều nước Đông Âu sụp đổ, cách mạng thế giới lâm vào thoái trào thì vấn đề đi lên chủ nghĩa xã hội lại được đặt ra và trở thành tâm điểm thu hút mọi sự bàn thảo, thậm chí tranh luận gay gắt”, thừa cơ, “giậu đổ bìm leo” “…các nhà tư tưởng và lý luận chống cộng và xã hội - dân chủ cũ và mới cả những kẻ hôm qua đã từng là cộng sản hôm nay đang “sám hối” về sự “khờ dại” của mình, ra sức bác bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin, bêu xấu lý tưởng xã hội chủ nghĩa, hết lời ca ngợi chủ nghĩa tư bản. Trong con mắt của họ, thế kỷ XXI là thế kỷ toàn thắng và phồn vinh của chủ nghĩa tư bản trên toàn thế giới”, trực tiếp những luận điểm tập trung chống phá là chúng phủ nhận học thuyết hình thái kinh tế - xã hội, học thuyết về giai cấp và đấu tranh giai cấp, cách mạng xã hội.

Bảo vệ, bổ sung và phát triển chủ nghĩa xã hội khoa học hiện nay cần gắn liền với phòng chống về suy thoái tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống ở một bộ phận cán bộ đảng viên và nhân dân. Mỗi cán bộ đảng viên cần thật sự có niềm tin khoa học vào chủ nghĩa xã hội khoa học, niềm tin vào phong trào cách mạng và tiềm năng hiện thực của nó. Đẩy mạnh nghiên cứu, học tập, nắm vững lý luận, thường xuyên cập nhật bổ sung những nội dung mới làm phong phú, sâu sắc thêm lý luận phấn đấu “Từ nay đến năm 2030, tiếp tục làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn, hoàn thiện hệ thống các quan điểm về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Nâng cao năng lực khoa học phục vụ phát triển công tác lý luận, bảo đảm cung cấp các luận cứ khoa học, lý luận vững chắc cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Đồng thời, đấu tranh quyết liệt với những biểu hiện lười học tập chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng, góp phần làm phong phú, sâu sắc thêm chủ nghĩa xã hội khoa học - bộ phận cấu thành lôgic, biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin./.

Thứ Tư, 15 tháng 6, 2022

THỰC CHẤT LUẬN ĐIỆU “MUỐN THỰC SỰ DÂN CHỦ VÀ PHÁT TRIỂN” PHẢI THỰC HIỆN “ĐA NGUYÊN, ĐA ĐẢNG”

Hiện nay, các thế lực thù địch sử dụng một khối lượng khổng lồ các phương tiện thông tin, truyền thông, nhất là sử dụng các trang mạng xã hội để thực hiện các chiến dịch chống phá tư tưởng quy mô lớn đối với Việt Nam. Các thế lực thù địch đưa ra luận điệu: Các cương lĩnh, đường lối cách mạng của Đảng chứng tỏ sự “chuyên quyền”, “độc đoán”, “đảng trị”. Chúng cho rằng, trong thời đại ngày nay, nếu tiếp tục đi theo con đường XHCN là sai lầm. Chúng “khuyên” chúng ta đi theo mô hình “xã hội dân chủ”, thực hiện “chính trị đa nguyên”, “đa đảng đối lập”, xóa bỏ Điều 4 trong Hiến pháp năm 2013 về hiến định quyền lãnh đạo của Đảng, vì chúng cho rằng “đa nguyên, đa đảng sẽ khơi dậy sự sáng tạo của toàn dân, tốt hơn cho sự phát triển của xã hội”(!).

Đây là một luận điệu hết sức nguy hiểm, thâm độc, bởi lẽ cố tình đánh đồng giữa vấn đề đa nguyên, đa đảng với vấn đề dân chủ và phát triển. Thực chất của luận điệu này là đòi hỏi Đảng Cộng sản Việt Nam phải “từ bỏ vị thế lãnh đạo”, “chuyển đổi thể chế chính trị”, với mục tiêu thâm độc là xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, thực hiện “đa nguyên chính trị”, chuyển hóa chế độ XHCN sang các chế độ xã hội khác. Luận điệu có thể dễ dàng đánh lừa những người có nhận thức chính trị không vững vàng, từ đó, cổ xúy cho việc thiết lập cơ chế đa nguyên, đa đảng tại Việt Nam. Vì vậy, cần nhận thức sâu sắc rằng, sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng nước ta, từ đó đề cao cảnh giác, kiên quyết đấu tranh với mọi luận điệu xuyên tạc, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với sự nghiệp cách mạng của dân tộc.


Thứ Hai, 23 tháng 5, 2022

GIAI CẤP CÔNG NHÂN VIỆT NAM LÀ LỰC LƯỢNG QUAN TRỌNG TRONG PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT CỦA XÃ HỘI

Giai cấp công nhân nước ta là lực lượng đặc biệt quan trọng duy trì và phát triển hoạt động sản xuất, tạo ra khối lượng lớn sản phẩm công nghiệp, đóng góp chủ yếu vào ngân sách Nhà nước, góp phần quan trọng tạo nên thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử trong 35 năm đổi mới.

Bước vào thời kỳ đổi mới, các ngành kinh tế nước ta, nhất là lĩnh vực công nghiệp gặp nhiều khó khăn. Giai cấp công nhân kiên trì khắc phục khó khăn, duy trì và phát triển hoạt động sản xuất, dần thích ứng với cơ chế quản lý mới, nâng cao năng suất lao động, tạo ra khối lượng sản phẩm công nghiệp, đóng góp chủ yếu vào ngân sách Nhà nước. Công nhân là lực lượng lao động trực tiếp thúc đẩy “Sản xuất công nghiệp từng bước phục hồi, giá trị gia tăng ngành công nghiệp, xây dựng tăng bình quân 6,9%/năm; tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo trong cơ cấu công nghiệp tăng… Giá trị ngành công nghiệp, xây dựng năm 2011 tăng 6,68%, năm 2012: 5,75%, năm 2013: 5,43%, năm 2014: 7,14%, năm 2015: 9,29%”. Giá trị ngành công nghiệp hàng năm tăng cao, trong đó có công sức, trí tuệ của giai cấp công nhân, đóng góp chủ yếu vào giá trị tổng sản phẩm trong nước (GDP), góp phần quan trọng vào thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của hơn 35 năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng.

Thứ Tư, 11 tháng 5, 2022

KẾT HỢP SỨC MẠNH DÂN TỘC VỚI SỨC MẠNH THỜI ĐẠI TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

Tăng cường, phát huy nội lực trên cơ sở phát huy cao độ sức mạnh, trí tuệ Việt Nam, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Bằng đường lối độc lập, tự chủ và sáng tạo của Đảng, bằng bàn tay, khối óc và tinh thần hăng say lao động, sáng tạo mà nhân dân ta đã làm nên kỳ tích mới trong thời kỳ đổi mới, thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Từng bước khẳng định bản lĩnh chính trị, uy tín, vị thế Việt Nam trong thời đại mới, từ đó làm cho các nước và các dân tộc trên thế giới nhận rõ con đường độc lập, tự chủ, gắn với chủ nghĩa xã hội mà Đảng ta, nhân dân ta lựa chọn trong điều kiện hiện nay là hoàn toàn đúng đắn, sáng tạo, là nền tảng bền vững cho chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

Trước xu thế toàn cầu hóa cuộc chạy đua giữa các quốc gia, dân tộc trở nên ngày càng quyết liệt vì vậy, chân lý “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, lại tiếp tục tỏa sáng. Đất nước ta hội nhập với thế giới, với khu vực là để học hỏi, tiếp thu tinh hoa của nhân loại, của thời đại, từ đó làm giàu thêm, phong phú hơn nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc Việt Nam; việc tranh thủ ngoại lực là để khơi dậy nội lực, biến ngoại lực thành nội lực, xây dựng đất nước ta giàu mạnh, nhân dân ta có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, chứ quyết không thể tự đánh mất mình, không để tự mình rơi vào tụt hậu, lệ thuộc.

Hơn bao giờ hết, con đường duy nhất đúng là phải quyết tâm để vươn lên, đưa đất nước phát triển bền vững, nhịp bước nhân loại không chờ đợi bất cứ ai, cuộc cạnh tranh toàn cầu luôn tiềm ẩn nguy cơ “mất còn”, không quốc gia, dân tộc nào là ngoại lệ, làm cho tương quan lực lượng và mối quan hệ giữa các quốc gia, các dân tộc ở các khu vực trên thế giới thường xuyên thay đổi. Việc tăng cường, phát huy nội lực, bản lĩnh, trí tuệ Việt Nam sẽ bảo đảm cho đất nước ta phát triển hài hòa, bền vững, không lệ thuộc vào nước ngoài, dần thu hẹp khoảng cách về trình độ phát triển kinh tế với các nước tiên tiến trong khu vực và trên thế giới. Vì thế, với bản lĩnh, trí tuệ, tiềm năng đất nước và con người Việt Nam, cần phải tập trung xử lý, tháo gỡ những cản trở, ách tắc, khắc phục những hạn chế, yếu kém, nhanh chóng đưa nền kinh tế đất nước thoát khỏi tình trạng suy giảm đã kéo dài, phục hồi và tăng cường nhịp độ tăng trưởng. Tăng cường và tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế; hoàn thành tốt nhiệm vụ đổi mới mô hình tăng trưởng, tái cơ cấu nền kinh tế để tạo ra một chất lượng mới, trình độ mới, cao hơn, toàn diện hơn cho sự phát triển kinh tế đất nước, phấn đấu trong thời gian gần đạt ngang tầm các nước trong khu vực và các nước tiên tiến trên thế giới.

Thứ Ba, 26 tháng 4, 2022

CHÀO MỪNG NGÀY GIẢI PHÓNG MIỀN NAM 30/4 VÀ NGÀY QUỐC TẾ LAO ĐỘNG 1/5

Ngày 30 tháng 4 năm 1975 đã đi vào lịch sử dân tộc như một mốc son chói lọi đưa đất nước ta bước vào một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta từ đây tập trung sức lực và trí tuệ hàn gắn vết thương chiến tranh xây dựng cuộc sống mới; xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Chiến thắng 30/4/1975 là thành quả vĩ đại trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội do Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo; là trang sử hào hùng, chói lọi trên con đường dựng nước và giữ nước hàng ngàn năm lịch sử của dân tộc. Quân và dân ta đánh thắng kẻ thù lớn mạnh và hung hãn nhất của loài người tiến bộ; kết thúc oanh liệt cuộc chiến đấu 30 năm giành độc lập tự do, thống nhất cho Tổ quốc; chấm dứt ách thống trị hơn một thế kỷ của chủ nghĩa thực dân cũ và mới trên đất nước ta; là thắng lợi tiêu biểu của lực lượng cách mạng thế giới, góp phần thúc đẩy mạnh mẽ cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì mục tiêu độc lập dân tộc, hoà bình, dân chủ và tiến bộ xã hội; cổ vũ động viên các dân tộc đang tiến hành công cuộc giải phóng dân tộc, chống chủ nghĩa thực dân kiểu mới trên toàn thế giới.

Ngày nay, trong công cuộc đổi mới của đất nước, chúng ta mãi tự hào và biết ơn sự hy sinh to lớn của các anh hùng, các thế hệ cha ông đã chiến đấu hy sinh anh dũng vì độc lập tự do và thống nhất Tổ quốc. Chúng ta càng tự hào, tin tưởng vào sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt tài tình của Đảng Cộng sản Việt Nam, vào tinh thần quật cường bất khuất và trí thông minh, sáng tạo của dân tộc ta, của quân đội ta. Mỗi người dân Việt Nam nguyện tiếp tục phát huy chủ nghĩa anh hùng cách mạng, tinh thần tự lực, tự cường, tinh thần đại đoàn kết toàn dân, quyết tâm vươn lên hoàn thành tốt các chỉ tiêu phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội, an ninh - quốc phòng theo chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng đề ra.

Hòa chung không khí vui tươi phấn khởi chào mừng 47 năm ngày Giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, trong những ngày này cả nước cũng đang hân hoan chào mừng ngày Quốc tế Lao động 01/5, là dịp để giai cấp công nhân và nhân dân lao động cả nước ôn lại truyền thống đấu tranh, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc đồng thời tiếp tục phát huy vai trò của mình và có những đóng góp to lớn vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, theo tinh thần Nghị quyết Ðại hội XIII của Ðảng xác định: Quan tâm giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng, phát triển giai cấp công nhân cả về số lượng và chất lượng; nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ học vấn, chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, tác phong công nghiệp, kỷ luật lao động của công nhân; bảo đảm việc làm, nâng cao thu nhập, cải thiện điều kiện làm việc, nhà ở, các công trình phúc lợi phục vụ công nhân; sửa đổi, bổ sung các chính sách, pháp luật về tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp...nhằm bảo vệ quyền lợi, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của công nhân.

Chào mừng 47 năm ngày Giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, 136 năm ngày Quốc tế Lao động 01/5 là dịp thiết thực cổ vũ, động viên toàn đảng, toàn quân và toàn dân ra sức thi đua thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ, mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội mà Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII đã xác định.

Thứ Tư, 20 tháng 4, 2022

SỰ CHẶT CHẼ, CẨN TRỌNG VÀ MINH BẠCH TRONG BẢO VỆ CHÍNH TRỊ NỘI BỘ ĐẢNG

Dễ dàng thấy rõ sự sự chặt chẽ, cẩn trọng và minh bạch trong Quy định số 58-QĐ/TW “Một số vấn đề bảo vệ chính trị nội bộ Đảng vừa được ban hành.

Công tác bảo vệ chính trị nội bộ luôn được Đảng quan tâm đặc biệt. Xuất phát từ vai trò quyết định của Đảng trong sự nghiệp cách mạng. Có thể nói, Đảng mạnh cách mạng sẽ thành công, dân tộc mới phát triển, dân mới được ấm no, hạnh phúc.

Đảng cũng từ dân tộc mà ra, xuất phát từ dân tộc. Khi bàn về vấn đề này Bác Hồ đã nói: “Nếu cần có đảng phái thì sẽ là Đảng dân tộc Việt Nam. Đảng đó sẽ chỉ có một mục đích làm cho dân tộc ta hoàn toàn độc lập. Đảng viên của đảng đó sẽ là tất cả quốc dân Việt Nam, trừ những kẻ phản quốc và những kẻ tham ô ra ngoài”.

Như vậy, xây dựng đảng vững mạnh tức là có nhiều đảng viên ưu tú hết lòng vì dân vì nước, làm tiền đề để đất nước cường thịnh.

Bảo vệ chính trị nội bộ chính là việc phát triển con người, là phát hiện ra những nhân tố mới, trong sạch, có ý chí phấn đấu, có lý lịch rõ ràng để bố trí, sắp xếp vào đội ngũ, đồng thời cũng loại bỏ được những thành phần, phần tử chống phá, cơ hội, biến chất.

Kể từ khi thống nhất đất nước, xuất phát từ lợi ích của dân tộc chúng ta đã có những quy định rất rõ ràng trong xử lý vấn đề chính trị nội bộ, vấn đề con em và những người tham gia chế độ cũ nhằm bố trí sử dụng họ. Trước đây là Quy định 126 và bây giờ là Quy định 58 của Bộ Chính trị.

Những quy định đó xuất phát từ thực tiễn cách mạng Việt Nam.

Quy định 126 tuy đã cụ thể hoá tiêu chuẩn cụ thể nhưng qua quá trình phát triển của đất nước, qua thực tiễn đổi mới, giai cấp và đấu tranh giai cấp có những bước phát triển mới đòi hỏi cách nhìn, công tác xây dựng đảng, thu hút nhân tài...cần có những đổi mới để phù hợp với thời kỳ mới do vậy Đảng đã thay thế Quy định 126 bằng Quy định 58 để bắt kịp với thực tiễn đất nước.

Trung tuần tháng 2 vừa qua, Quy định 58 đã chính thức được ban hành. Những người làm công tác cán bộ, công tác tổ chức có thêm những cơ sở để thu hút và bố trí đội ngũ. Đó chính là thước đo, là nguồn lực bổ sung sức mạnh cho Đảng.

Có nhiều điểm mới trong quy định để làm rõ việc kết nạp đảng, việc bố trí cán bộ.

Hay việc bổ sung quy định mức giới hạn bố trí đối với cán bộ, đảng viên có vấn đề chính trị phức tạp nhưng không vi phạm quy định này (những trường hợp này được bố trí cao nhất đến uỷ viên ban thường vụ cấp uỷ cấp tỉnh và tương đương; bổ sung trường hợp cán bộ, đảng viên là con liệt sỹ, con thương binh ¼ nhưng có cha, mẹ, người nuôi dưỡng trực tiếp của vợ hoặc chồng vi phạm do làm việc cho chế độ cũ thì có thể bố trí đến uỷ viên ban thường vụ cấp uỷ tỉnh và tương đương).

Hoặc việc quy định mức trần tham gia cấp uỷ, mức trần ứng cử làm đại biểu cơ quan dân cử ở các cấp và làm việc trong cơ quan, bộ phận, vị trí trọng yếu, cơ mật thì Quy định 58 đã chỉ dẫn tương đương đối với các chức vụ chính quyền trong cơ quan quản lý nhà nước các cấp. Điều này đã khắc phục được hạn chế do các nội dung này chưa được quy định cụ thể trong quy định trước đây.

Và còn có những quy định chỉ rõ diện cán bộ, đảng viên có vấn đề chính trị mà cấp uỷ cấp dưới cần phải xin ý kiến cấp uỷ hoặc cơ quan tổ chức cấp trên khi bố trí, sử dụng...

Sự phát triển của đất nước chịu ảnh hưởng quyết định bởi sự phát triển nguồn lực. Vì thế, tiêu chuẩn cán bộ đòi hỏi cần có những thay đổi phù hợp nhằm động viên sức mạnh khối đại đoàn kết dân tộc, khai thác tiềm năng trí tuệ con người là mục tiêu mà Đảng luôn hướng tới. Đó chính là nhân tố giúp Đảng luôn vững mạnh luôn tập hợp được lực lượng làm giàu cho mình bằng trí tuệ của dân tộc.

Chủ Nhật, 17 tháng 4, 2022

TĂNG CƯỜNG ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC, HIỆN THỰC HÓA KHÁT VỌNG PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC

Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng xác định mục tiêu tổng quát: “… phấn đấu đến giữa thế kỷ 21, nước ta trở thành nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa”. Khát vọng phát triển của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta chỉ có thể được hiện thực hóa bằng sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng. Vì vậy, Đảng ta xác định: “Mọi hoạt động của hệ thống chính trị, của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức phải phục vụ lợi ích của nhân dân. Giải quyết hài hòa các quan hệ lợi ích trong xã hội; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; không ngừng cải thiện, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân”. Tiếp tục nắm vững và xử lý tốt mối quan hệ “giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, bảo vệ môi trường”. Đây là cơ sở để nhận thức và giải quyết tốt vấn đề có tính nguyên tắc của phát triển và phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc hiện nay.

Chủ Nhật, 3 tháng 4, 2022

XÂY DỰNG VÀ HOÀN THIỆN CHỦ TRƯƠNG, CHÍNH SÁCH VỀ PHÁT TRIỂN ĐỜI SỐNG VĂN HÓA CHO THANH NIÊN HIỆN NAY

Thực hiện phương châm gắn tăng trưởng kinh tế gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội trong từng bước phát triển, trong từng chiến lược, kế hoạch; nhằm xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh cho thanh niên, bảo đảm phát triển văn hóa nâng cao chất lượng cuộc sống của thanh niên, bảo vệ môi trường sinh thái - nhân văn.

Tăng cường đầu tư phát triển các thiết chế văn hóa ở cơ sở như nhà văn hóa, trung tâm học tập cộng đồng, điểm vui chơi, giải trí, xây dựng tủ sách truyền thống, phòng lưu niệm,… để thanh niên có điều kiện học tập, tìm hiểu về văn hóa truyền thống dân tộc.

Thứ Ba, 29 tháng 3, 2022

THẾ GIỚI CÓ NHIỀU BIẾN ĐỘNG NHƯNG KHUYNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN THỜI ĐẠI KHÔNG THAY ĐỔI

Xem xét trên cơ sở lý luận và thực tiễn lịch sử xã hội loài người đều cho thấy, mỗi bước chuyển từ một hình thái kinh tế - xã hội này đến hình thái cao hơn đều diễn biến trong thời gian rất dài, có khi vài trăm năm hoặc vài nghìn năm. Vậy nên việc Đảng ta phân định giai đoạn hiện nay của thời đại “quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới” là tư duy sáng tạo, có tính khoa học xác thực và cần thiết. Theo đó, việc nghiên cứu đặc điểm và xu hướng phát triển của thời đại cũng được thực hiện trong khung khổ giai đoạn hiện nay của thời đại.

Khi đã xác định thời đại ngày nay là thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, mở đầu bằng Cách mạng XHCN Tháng Mười vĩ đại ở nước Nga, thì rõ ràng nội dung của thời đại ngày nay có hai vấn đề chính: Một là, thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội; hai là, mở đầu bằng Cách mạng XHCN Tháng Mười vĩ đại ở nước Nga. Nhận định về nội dung thời đại như vậy là sự khái quát mang tính lý luận và thực tiễn sâu sắc, đầy tính thuyết phục.

Tuy nhiên, sau khi chế độ XHCN ở Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ, các thế lực thù địch lợi dụng sự kiện này để công kích, xuyên tạc Chủ nghĩa Mác-Lênin, bài bác những luận điểm cơ bản nhất về thời đại. Lập luận của luận điệu sai trái là, nếu nói thời đại hiện nay là thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội thì nay chủ nghĩa xã hội sụp đổ rồi, thời đại này đương nhiên là của chủ nghĩa tư bản; rằng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản đã tàn lụi thì dù có trăm năm sau cũng không thể gượng dậy được nữa.

Cách nhìn nhận như vậy rõ ràng là thiếu kiến thức lịch sử và thiển cận. Quá trình chuyển biến và thay thế một thời đại này bằng thời đại khác không thể diễn ra nhanh chóng được mà phải qua một chặng đường dài. Quá trình đó là một xu thế tất yếu của xã hội loài người, nhưng diễn ra quanh co, phức tạp, chứa đựng nhiều biến cố, có cả bước tiến mạnh mẽ và cũng có cả những bước thụt lùi.

Sự đổ vỡ của XHCN ở Đông Âu và Liên Xô đương nhiên là tổn thất nặng nề đối với phong trào cộng sản. Sự sụp đổ ấy có nhiều nguyên nhân, nhưng nó không thuộc về bản chất của chế độ XHCN, càng không phải vì thế mà làm mất đi nội dung thời đại. Lịch sử đã cho thấy thời đại tư bản chủ nghĩa thay thế thời đại phong kiến đâu phải dễ dàng.

Quá trình chuyển biến đó diễn ra hàng mấy trăm năm, trải qua biết bao phức tạp bởi sự chống trả quyết liệt của các thế lực phong kiến. Tình hình hiện nay cũng tương tự như vậy. Thế lực đế quốc không từ một thủ đoạn nào để mưu toan chặn đứng phong trào cộng sản. Điều đó càng thể hiện tính chất phức tạp của thời đại ngày nay.

Kẻ thù tư tưởng của chúng ta công khai tuyên bố rằng, chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô đã sụp đổ thì giá trị của Cách mạng Tháng Mười Nga cũng chấm hết. Đây là kết luận vội vã và hồ đồ. Đành rằng thành quả mà Cách mạng Tháng Mười Nga đem lại đã bị đổ vỡ tại ngay quê hương của nó, nhưng đó không phải là sự chấm dứt lý tưởng cao đẹp của Cách mạng Tháng Mười Nga.

Vả chăng, lịch sử đã chứng minh, không có một cuộc cách mạng nào, kể cả các cuộc cách mạng vĩ đại nhất, lại đủ khả năng kết thúc ngay công việc xóa bỏ xã hội cũ và xây dựng xong ngay xã hội mới. Quá trình chuyển từ xã hội phong kiến lên xã hội tư bản chủ nghĩa đã phải trải qua hàng trăm năm với nhiều cuộc cách mạng tư sản: Cách mạng Anh năm 1688, các cuộc cách mạng tư sản Pháp vào các năm 1830, 1848, 1871.

Sự đột phá của Cách mạng Tháng Mười Nga làm cho chủ nghĩa tư bản bị đổ vỡ một mảng lớn. Thế giới bừng tỉnh, bung ra với sức mạnh mới của sự hình thành và phát triển của chủ nghĩa xã hội làm sụp đổ hoàn toàn hệ thống thuộc địa, giải phóng xã hội, giải phóng con người.

Thành quả của Cách mạng Tháng Mười Nga đã tạo cho loài người có khả năng kìm giữ sự lộng hành của chủ nghĩa tư bản, làm thay đổi cả những yếu tố bên trong của chủ nghĩa tư bản. Những thay đổi trong chiến lược kinh tế, chính trị để thích nghi, những thay đổi trong các chính sách phúc lợi xã hội ở các nước tư bản phát triển hiện nay đều bắt nguồn từ kết quả của xã hội đấu tranh của những người lao động và sâu xa hơn là được ảnh hưởng những yếu tố tích cực của Cách mạng Tháng Mười Nga.

Từ những phân tích trên đây, chúng ta càng thống nhất với nhận định của Đảng ta rằng, tình hình cụ thể trong từng thời kỳ của thế giới có những biến động nhưng điều đó không làm thay đổi nội dung của thời đại; loài người vẫn đang trong thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội. Các mâu thuẫn cơ bản trên thế giới vẫn tồn tại và phát triển, có mặt sâu sắc hơn, nội dung và hình thức biểu hiện có nhiều nét mới.