Hiển thị các bài đăng có nhãn Việt Nam - Campuchia. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Việt Nam - Campuchia. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 9 tháng 1, 2023

PHÁT HUY NỀN TẢNG CHÂN LÝ LỊCH SỬ NGÀY 07/01

Cách đây 44 năm, ngày 7.01.1979 đã đi vào lịch sử như mốc son của tinh thần đoàn kết quốc tế trong sáng, thủy chung, tình hữu nghị đặc biệt giữa Việt Nam và Campuchia. Nhờ sự giúp đỡ của quân tình nguyện Việt Nam, Campuchia thoát khỏi họa diệt chủng Pol Pot và bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên hòa bình, hòa hợp dân tộc và phát triển.

Cuộc đấu tranh cao cả được lịch sử khắc ghi

Trong chiều dài lịch sử, Việt Nam và Campuchia luôn đoàn kết bên nhau chống kẻ thù chung, giành độc lập, tự do cho mỗi nước. Tuy nhiên, sau khi lên nắm quyền lãnh đạo Campuchia tháng 4.1975, tập đoàn Pol Pot đã tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược biên giới Việt Nam đồng thời, thực hiện chính sách diệt chủng tàn bạo đối với nhân dân Campuchia.

Đáp lời kêu gọi của Mặt trận đoàn kết dân tộc cứu nước Campuchia và xuất phát từ truyền thống đoàn kết, gắn bó, giúp đỡ lẫn nhau giữa hai dân tộc, sau khi thực hiện quyền tự vệ chính đáng, chặn đứng hành động gây chiến tranh xâm lược biên giới Tây Nam Việt Nam của tập đoàn phản động Pol Pot; Việt Nam đã kề vai, sát cánh cùng với lực lượng vũ trang cách mạng và nhân dân Campuchia tiến hành nhiều chiến dịch, nhiều trận đánh và đến ngày 7.1.1979 đã hoàn toàn giải phóng thủ đô Phnom Penh.

Đây là chiến thắng có ý nghĩa lịch sử vô cùng trọng đại, đưa Campuchia thoát khỏi chế độ diệt chủng, hồi sinh đất nước và bước vào kỷ nguyên độc lập, tự do. Trong thông điệp chúc mừng kỷ niệm 44 năm Ngày thành lập Mặt trận Đoàn kết Phát triển Tổ quốc Campuchia, Thủ tướng Samdech Techo Hun Sen từng khẳng định: “Đại thắng 7.1.1979 đã chấm dứt thời kỳ đen tối nhất trong lịch sử Campuchia, mở ra một kỷ nguyên mới. Nhân dân Campuchia chúng ta đã giành lại quyền tự do và cơ hội tái thiết tổ quốc của chúng ta. Mọi người dân đều hiểu rõ rằng nếu không có sự ra đời của Mặt trận 2.12 và chiến thắng ngày 7.1, chúng ta không có ngày hôm nay, đó là chân lý lịch sử".

Năm 2022, tại lễ kỷ niệm 45 năm Ngày Thủ tướng Hun Sen sang Việt Nam tìm kiếm sự trợ giúp của quân tình nguyện Việt Nam để giải phóng Campuchia khỏi chế độ diệt chủng Khmer Đỏ, Thủ tướng Phạm Minh Chính chỉ ra, hành trình lật đổ chế độ diệt chủng Pol Pot, đưa đất nước Campuchia hồi sinh, thể hiện sự hợp tác và đoàn kết đặc biệt giữa hai dân tộc, góp phần vun đắp cho quan hệ hữu nghị truyền thống quý báu Campuchia - Việt Nam.

Theo Thủ tướng Phạm Minh Chính, đây là cuộc đấu tranh cao cả, trong đó các chuyên gia, quân tình nguyện Việt Nam, đã kề vai sát cánh với những người con anh hùng của đất nước Campuchia để đánh đổ chế độ diệt chủng, hồi sinh Campuchia, vun đắp cho tình đoàn kết, gắn bó, hữu nghị truyền thống tốt đẹp giữa hai dân tộc Việt Nam - Campuchia, khẳng định chính nghĩa và đóng góp vào những lý tưởng cao đẹp của các lực lượng tiến bộ trên thế giới.

Cũng tại buổi lễ, Thủ tướng Hun Sen khẳng định "lịch sử cũng khắc ghi về hành động của quân đội Việt Nam để cứu người dân Campuchia khỏi chế độ diệt chủng Pol Pot”. Nhà lãnh đạo Campuchia đồng thời nhấn mạnh: “Sự giúp đỡ của nhân dân Việt Nam thể hiện tinh thần hữu nghị trong sáng, tốt đẹp giữa hai nước, nhân dân hai nước. Tôi tin tưởng mối quan hệ này sẽ mãi mãi xanh tươi, đời đời bền vững".

Mốc son đoàn kết quốc tế trong sáng

Ông Mak Chan Narith - quan chức Bộ Quan hệ với Quốc hội, Thượng viện và Thanh tra Campuchia - từng chia sẻ: "Bản thân tôi cũng như mọi người dân Campuchia luôn ghi nhớ công lao và sự anh dũng cao cả mà quân đội tình nguyện Việt Nam, Chính phủ Việt Nam và nhân dân Việt Nam đã dành cho dân tộc chúng tôi, giúp chúng tôi đi lên từ bàn tay trắng, để có sự phát triển như ngày hôm nay".

Theo ông Trần Văn Thông - nguyên tham tán chính trị Đại sứ quán Việt Nam tại Campuchia - thực tiễn đã chứng minh với thắng lợi lịch sử ngày 7.1, nhân dân Campuchia đã khép lại trang sử đen tối của những hố chôn tập thể và những cánh đồng chết, thực hiện công cuộc hồi sinh dân tộc và mở ra kỷ nguyên độc lập, hòa bình, tự do và phát triển cho đất nước Campuchia; đồng thời hồi sinh tình hữu nghị Campuchia - Việt Nam, mở ra thời kỳ mới cho quan hệ hữu nghị và hợp tác Việt Nam - Campuchia phát triển gắn bó, hiểu biết và tin cậy lẫn nhau.

Ông Nguyễn Văn Triệu - Phó Chủ tịch Thường trực Hội hữu nghị Việt Nam - Campuchia Thành phố Hồ Chí Minh từng nhận định, ngày 7.1.1979 đã đi vào lịch sử như là mốc son của tinh thần đoàn kết quốc tế trong sáng, thủy chung; của tình hữu nghị đặc biệt giữa hai dân tộc Việt Nam - Campuchia, đưa đất nước Campuchia thoát khỏi họa diệt chủng, bước vào một kỷ nguyên mới: Độc lập, tự do, hồi sinh, đồng thời mở ra một trang mới trong quan hệ láng giềng giữa hai nước.

Trong khi đó, Tổng lãnh sự Campuchia tại Thành phố Hồ Chí Minh Sok Dareth khẳng định, ngày 7.1.1979 không chỉ là bước ngoặt lịch sử khép lại trang sử của thời kỳ đen tối dưới chế độ diệt chủng Pol Pot mà còn mở ra kỷ nguyên mới, thắp sáng hy vọng mới, sự sống mới, hòa bình, ổn định phát triển kinh tế - xã hội, hội nhập của Campuchia vào khu vực và thế giới. Người Campuchia mãi mãi tri ân và ghi nhớ công lao quý báu của Việt Nam, luôn nhớ rằng ngày 7.1 là ngày sinh lần thứ hai của họ. Đây là chân lý của lịch sử mà không ai có thể xuyên tạc, vu khống hay lãng quên được.

Viết tiếp chặng đường phát triển

Ngày nay, quan hệ hữu nghị Việt Nam và Campuchia tiếp tục được tiếp thêm sức mạnh từ những truyền thống vốn có từ lâu đời trong lịch sử. Quan hệ Việt Nam - Campuchia đã và đang được củng cố và phát triển vững chắc theo phương châm láng giềng tốt đẹp, hữu nghị truyền thống, hợp tác toàn diện, bền vững lâu dài.

Những năm qua, quan hệ Việt Nam - Campuchia phát triển tốt đẹp trên nhiều mặt. Năm 2022, hai nước có nhiều hoạt động trao đổi đoàn cấp cao: Chuyến thăm chính thức Campuchia của Thủ tướng Phạm Minh Chính và ngay sau đó là chuyến thăm của Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ tới Campuchia cùng trong tháng 11.2022; Thường trực Ban Bí thư Võ Văn Thưởng thăm chính thức Campuchia tháng 10.2022...

Nhìn lại chặng đường 44 năm qua, chúng ta tự hào và vui mừng nhận thấy quan hệ láng giềng tốt đẹp, hữu nghị truyền thống, hợp tác toàn diện, bền vững lâu dài giữa Việt Nam và Campuchia luôn được các thế hệ lãnh đạo và nhân dân hai nước dày công vun đắp đang tiếp tục không ngừng được củng cố và phát triển tốt đẹp, mang lại lợi ích thiết thực cho nhân dân hai nước.

Theo: THANH HÀ

Thứ Ba, 12 tháng 1, 2021

THỰC HIỆN QUYỀN TỰ VỆ CHÍNH ĐÁNG

Sau chiến thắng năm 1975, nhân dân Việt Nam tha thiết mong muốn hòa bình để khôi phục và phát triển đất nước. Chúng ta đã thực hiện chủ trương giảm quân thường trực kể cả các quân khu ở phía Nam để tập trung cho nhiệm vụ hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục và xây dựng, phát triển đất nước.

Trước hành động khiêu khích, xâm phạm biên giới Tây Nam Việt Nam của quân Pôn Pốt, Đảng, Nhà nước ta luôn nhất quán quan điểm mong muốn Việt Nam và Campuchia đàm phán ký kết hiệp ước về biên giới giữa hai nước trên tinh thần tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của nhau, tiếp tục phát triển tình đoàn kết, hữu nghị giữa nhân dân hai nước. Chúng ta thực hiện nghiêm các thỏa thuận tại cuộc gặp mặt đại diện Việt Nam và Campuchia tại Phnôm Pênh diễn ra vào tháng 4-1976.

Kiên trì chủ trương xây dựng đường biên giới hòa bình, hữu nghị với Campuchia, Quân ủy Trung ương Đảng ta đã chỉ thị cho các quân khu, tỉnh có đường biên giới với Campuchia tăng cường đoàn kết với nhân dân Campuchia, tránh mọi sự khiêu khích. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng, tháng 12-1976, Đảng, Nhà nước Việt Nam tiếp tục khẳng định lập trường của mình: “Ra sức bảo vệ và phát triển mối quan hệ đặc biệt giữa nhân dân Việt Nam với nhân dân Lào và Campuchia, tăng cường tình đoàn kết chiến đấu, lòng tin cậy, sự hợp tác lâu dài và sự giúp đỡ lẫn nhau về mọi mặt giữa nước ta với hai nước anh em trên nguyên tắc hoàn toàn bình đẳng, tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau; tôn trọng lợi ích của nhau, làm cho ba nước vốn gắn bó với nhau trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc sẽ mãi mãi gắn bó với nhau trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước, vì độc lập và phồn vinh của mỗi nước”.

Tuy nhiên, bất chấp mọi nỗ lực ngoại giao hòa bình của Việt Nam, tập đoàn Pôn Pốt ra sức tuyên truyền xuyên tạc lịch sử, chủ động gây ra các vụ xung đột, lấn chiếm biên giới Tây Nam Việt Nam; huy động phần lớn sức mạnh quân sự, hàng chục sư đoàn chủ lực và nhiều trung đoàn địa phương tiến hành cuộc chiến tranh xâm chiếm biên giới Tây Nam Việt Nam. Đi đến đâu, chúng tàn phá làng mạc, giết hại dã man người dân, kể cả người già, phụ nữ, trẻ em Việt Nam.

Những hành động xâm lược và diệt chủng tàn bạo của tập đoàn Pôn Pốt là không thể dung tha. Đáp lời kêu gọi khẩn thiết của Mặt trận Đoàn kết dân tộc cứu nước Campuchia, của nhân dân Campuchia, Đảng, Nhà nước, Quân đội và nhân dân Việt Nam đã thực hiện quyền tự vệ chính đáng và thiêng liêng của mình để bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ tính mạng và tài sản của nhân dân; đồng thời cùng với lực lượng vũ trang và nhân dân Campuchia đánh đổ chế độ diệt chủng, giúp đỡ những người cách mạng chân chính Campuchia làm lại cuộc cách mạng đã bị phản bội.

Với dã tâm xâm lược, mở đầu cuộc chiến tranh, Pôn Pốt liên tiếp mở 3 cuộc tiến công quy mô lớn sang lãnh thổ Việt Nam. Ngày 30-4-1977, chúng đánh vào 14/16 xã biên giới thuộc tỉnh An Giang, tàn phá các bản làng, trường học, cơ sở sản xuất của ta, bắn pháo vào những nơi đông dân cư ở sát biên giới và vào sâu trong lãnh thổ Việt Nam. Các cuộc tiến công và pháo kích của quân Pôn Pốt vào An Giang tính đến ngày 19-5-1977 đã giết hại 222 người và làm 614 người dân Việt Nam bị thương, phá nhiều nhà cửa, tài sản của nhân dân...

Trước hành động xâm lược trắng trợn của quân Pôn Pốt, các lực lượng biên phòng và dân quân, du kích các xã Vĩnh Xương, Vĩnh Gia, Nhân Hưng… đã anh dũng chiến đấu, ngăn chặn địch. Quân đội ta đã sử dụng 1 trung đoàn (thuộc Sư đoàn 330), 1 trung đoàn tàu thuyền và 2 tiểu đoàn địa phương An Giang đánh trả, diệt 300 tên, buộc quân Pôn Pốt rút về bên kia biên giới. Ngày 23-5-1977, Quân ủy Trung ương ra chỉ thị cho lực lượng vũ trang ở phía Nam: “Kiên quyết bảo vệ chủ quyền lãnh thổ của ta, không dung thứ bất cứ sự xâm lấn nào của lực lượng khiêu khích phản động Campuchia vào lãnh thổ ta; đồng thời tôn trọng chủ quyền lãnh thổ của Campuchia. Tìm mọi cách làm nhụt tinh thần của bọn khiêu khích. Tuyên truyền vận động nhân dân bạn và tranh thủ sự đồng tình của dư luận, tạo điều kiện ổn định một bước biên giới với Campuchia. Đập tan âm mưu chia rẽ các nước anh em trên bán đảo Đông Dương”.

Thực hiện chỉ thị của Quân ủy Trung ương, các đơn vị Quân khu 5, Quân khu 7, Quân khu 9, Quân đoàn 3, Quân đoàn 4 tổ chức điều chỉnh lực lượng, phương tiện, xây dựng phương án, sẵn sàng chiến đấu. Tổng cục Hậu cần triển khai một số kho, bảo đảm yêu cầu chiến đấu; các binh chủng Công binh, Pháo binh triển khai một số đơn vị sẵn sàng đánh địch ở các hướng; mạng thông tin liên lạc từ quân khu tới các đồn, chốt biên phòng được tăng cường thêm lực lượng và phương tiện.

Từ ngày 25-9-1977, quân Pôn Pốt tập trung 9 sư đoàn chủ lực cùng lực lượng địa phương mở cuộc tiến công lớn thứ 2 đánh sang địa bàn các tỉnh An Giang, Kiên Giang, Long An, Đồng Tháp lên hướng Tây Ninh, gây nhiều tội ác đối với nhân dân Việt Nam. Riêng ở 3 xã thuộc các huyện Tân Biên, Bến Cầu (Tây Ninh), quân Pôn Pốt đã tàn sát trên một nghìn người dân.

Trước diễn biến mới của cuộc chiến tranh, do ta chưa tổ chức được tuyến phòng thủ biên giới, Bộ Tổng Tham mưu quyết định sử dụng một bộ phận lực lượng chủ lực cơ động của Bộ đánh lui các cuộc tiến công của quân Pôn Pốt ở nhiều khu vực trên biên giới, giành lại những khu vực bị lấn chiếm, sau đó lui về củng cố lực lượng.

Phát hiện ta đã lui quân về phía sau, ngày 15-11-1977, quân Pôn Pốt lại mở cuộc tiến công mới nhằm đánh chiếm thị xã Tây Ninh. Trước tình hình đó, từ 5-12-1977 đến 5-1-1978, Quân đoàn 4, Quân đoàn 3 và Quân khu 7, Quân khu 9 tập trung 8 sư đoàn mở đợt phản công trên các hướng đường 7, đường 1, đường 2, truy kích quân Pôn Pốt sâu vào đất Campuchia 20-30km; đánh thiệt hại 5 sư đoàn, làm thất bại kế hoạch đánh chiếm thị xã Tây Ninh của địch.

Với âm mưu thủ đoạn nham hiểm “vừa ăn cướp, vừa la làng”, tập đoàn Pôn Pốt đưa chiến tranh biên giới ra trước dư luận thế giới: Ngày 31-12-1977, chúng ra tuyên bố vu khống Quân đội Việt Nam “tiến công xâm lược Campuchia dân chủ” nhằm cô lập Việt Nam trên trường quốc tế. Cũng trong ngày 31-12-1977, Chính phủ ta ra tuyên bố về vấn đề biên giới Việt Nam- Campuchia, nêu rõ lập trường và nguyên tắc của ta là: Kiên quyết bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ mình; luôn luôn tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Campuchia, làm hết sức mình để bảo vệ tình đoàn kết chiến đấu và hữu nghị Việt Nam - Campuchia; vạch trần âm mưu thủ đoạn và những tội ác man rợ của tập đoàn Pôn Pốt đối với đồng bào ta ở các tỉnh vùng biên giới Tây Nam.

Tinh thần xây dựng, lập trường chính nghĩa của Đảng, Nhà nước ta mong muốn giải quyết vấn đề biên giới giữa hai nước Việt Nam- Campuchia thông qua đàm phán hòa bình, tôn trọng lẫn nhau được dư luận thế giới đồng tình ủng hộ. Tuy nhiên, mọi nỗ lực ngoại giao nhằm thiết lập một vùng phi quân sự dọc biên giới của Chính phủ ta đều bị tập đoàn Pôn Pốt từ chối. Chúng tiếp tục phát động chiến tranh xâm lược biên giới Tây Nam nước ta.

Thứ Sáu, 4 tháng 1, 2019

PHÁT TRIỂN MỐI QUAN HỆ ĐOÀN KẾT, HỮU NGHỊ TRUYỀN THỐNG, HỢP TÁC TOÀN DIỆN VIỆT NAM – CAMPUCHIA TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY


1. Quan hệ Việt Nam - Campuchia trên về chính trị – ngoại giao, an ninh – quốc phòng
Việt Nam và Campuchia là hai nước láng giềng, có mối quan hệ hữu nghị truyền thống, đoàn kết cùng chống kẻ thù chung, đặc biệt là đã kề vai sát cánh trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược để giành độc lập, tự do cho dân tộc. Đặc biệt là thắng lợi trong cuộc chiến tranh xoả bỏ tham vọng của Tập đoàn Pôn Pốt - Ieng xa ri và các thế lực thù địch vào những năm 70, 80 của thế kỷ trước.
Ngày nay, với phương châm “láng giềng tốt đẹp, hữu nghị truyền thống, hợp tác toàn diện, bền vững lâu dài”, quan hệ Việt Nam - Campuchia vẫn đang không ngừng phát triển trên mọi lĩnh vực. Hai bên tiếp tục duy trì trao đổi cấp cao của đảng, nhà nước, chính phủ, quốc hội cũng như giữa các bộ, ngành, địa phương và giao lưu nhân dân, nhất là các tỉnh có chung biên giới. Qua đó, khẳng định quyết tâm cùng nhau vun đắp cho mối quan hệ đoàn kết, hữu nghị truyền thống, hợp tác tốt đẹp giữa hai nước, coi đây là nhân tố quan trọng đảm bảo thắng lợi cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của mỗi nước, đồng thời tạo động lực thúc đẩy mạnh mẽ hơn nữa quan hệ giữa hai nước.
Hợp tác an ninh - quốc phòng nhằm đáp ứng tình hình và nhiệm vụ bảo vệ đi đôi với xây dựng đất nước là mong muốn chung của cả hai quốc gia. Trên thực tế, hai bên đã chủ động tạo hành lang pháp lý, thúc đẩy, triển khai nhiều hoạt động quan trọng ở hai bên biên giới như việc phân giới, cắm mốc (đạt 84%;16% còn lại đang được quản lý ổn định);  phối hợp tổ chức hàng chục lượt tuần tra chung (cả trên bộ và trên biển); tổ chức giao lưu, kết nghĩa đồn trạm thôn bản, đấu tranh phòng chống tội phạm; hợp tác, đào tạo, trao đổi kinh nghiệm.... Đáng chú ý là các hình thức, phương pháp phối hợp, hợp tác không ngừng được đổi mới, sát với đặc điểm, tình hình của khu vực và mỗi nước. Ví dụ như trong đàm phán xây dựng Nghị định thư, các văn kiện pháp lý và hình thức viện  trợ. Mới nhất Chính phủ (trực tiếp là BQP viện trợ cho Campuchia 10 triêu USD để xây dựng trụ sở làm việc của BQP Campuchia). Bên cạnh đó, các hoạt động đa phương cũng được tiến hành sâu, rộng và giành được nhiều kết quả quan trọng. Đặc biệt, hai bên luôn tìm được tiếng nói đồng thuận, tin cậy và ủng hộ lẫn nhau tại các diễn đàn quốc tế và khu vực.
2. Về kinh tế, văn hóa, khoa học - kỹ thuật
Về hợp tác kinh tế, thương mại và đầu tư, hai bên thực hiện cơ chế mở cửa thông thoáng và đạt nhiều kết quả tích cực. Kim ngạch thương mại hai chiều hằng năm đạt khoảng 3,3 tỷ USD, trong đó kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Campuchia đạt khoảng 1,8 tỷ USD. Tại cuộc họp lần thứ 15 Ủy ban Hỗn hợp về hợp tác kinh tế, văn hóa, khoa học, kỹ thuật giữa hai nước (15/3/2017) hai bên đã nhất trí phấn đấu đưa kim ngạch thương mại song phương đạt 5 tỷ USD. Tính đến tháng 4/2017, Việt Nam có 190 dự án, tổng số vốn đăng ký 2,89 tỷ USD, là nhà đầu tư lớn thứ 5 (sau Trung Quốc, Hàn Quốc, EU và Malaixia) trong tổng số 50 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào Campuchia. Campuchia có 12 dự án còn hiệu lực đầu tư vào Việt Nam với tổng số vốn đăng ký hơn 54 triệu USD, đứng thứ 49 trong tổng số 103 quốc gia và vùng lãnh thổ có hoạt động đầu tư tại Việt Nam.
Về đào tạo, phát triển nguồn nhân lực, được hai Đảng, hai Nhà nước đặc biệt quan tâm, coi đây là vấn đề trọng yếu có tầm chiến lược, nhằm hình thành một đội ngũ cán bộ hiểu biết lẫn nhau giữa các ngành, các lĩnh vực, làm nòng cốt trong duy trì và thúc đẩy mối quan hệ hữu nghị của hai nước. Hằng năm, Việt Nam cấp cho Camphuchia hơn 1.000 suất học bổng; tính đến quý I năm 2017, có gần 4.000 sinh viên Campuchia đang học tập và nghiên cứu tại Việt Nam. Cùng với đó, hai bên cũng nhất trí tăng cường hợp tác trên các lĩnh vực văn hóa, y tế, du lịch, an sinh xã hội. Tiêu biểu là, Campuchia thường xuyên tham gia các Festival nghệ thuật tại Việt Nam; ta đã tổ chức các Tuần Văn hóa Việt Nam tại Campuchia; khánh thành Bệnh viện Chợ Rẫy - Phnom Pênh (năm 2014); khánh thành cầu Long Bình - Chrây Thom (tháng 4/2017) bắc qua sông biên giới nối liền tỉnh An Giang, Việt Nam với Can-đan, Campuchia… Đây là những biểu tượng trong sáng và cao cả của tình hữu nghị thủy chung, hợp tác hiệu quả giữa hai nước, phục vụ thiết thực cho phát triển kinh tế - xã hội, thúc đẩy giao lưu, thương mại, nâng cao đời sống nhân dân, tăng cường kết nối giữa Việt Nam và Campuchia cũng như với các nước trong khu vực.
3. Dự báo tình hình và triển vọng phát triển quan hệ Việt Nam - Campuchia
a) Dự báo tình hình
Những năm tới, tình hình thế giới tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường. Tình trạng xâm phạm chủ quyền, tranh chấp lãnh thổ, tài nguyên, xung đột sắc tộc, tôn giáo, can thiệp lật đổ, khủng bố, di cư tự do, vấn đề hạt nhân, chiến tranh cục bộ, chiến tranh mạng…diễn ra gay gắt ở nhiều khu vực. Châu Á - Thái Bình Dương, trong đó có Đông Nam Á là trung tâm phát triển năng động, có vị trí chiến lược, có vai trò ngày càng quan trọng trong đời sống quốc tế, song tiềm ẩn nguy cơ bất ổn do sự cạnh tranh của các nước lớn. Hiện nay, các cường quốc, nhất là Trung Quốc, Mỹ đang dùng tổng thể các công cụ về ngoại giao, kinh tế, chính trị, quân sự… để lôi kéo, phân hóa ASEAN tranh giành ảnh hưởng, bảo vệ lợi ích của mình, thách thức vai trò trung tâm của ASEAN, đe dọa nguy cơ xung đột vũ trang, nhất là Biển Đông.
Đối với Campuchia, vừa qua Đảng CPP của Thủ tướng Hun-Xen thắng cử, song tình hình nội bộ còn nhiều vấn đề phức tạp. Một số đảng đối lập tại Campuchia lợi dụng, kích động tư tưởng dân tộc cực đoan, chĩa mũi nhọn vào vấn đề Việt kiều, biên giới, lãnh thổ với Việt Nam, lấy đây làm chiêu bài để tranh giành quyền lực, gây bất ổn tình hình an ninh chính trị, nhất là khu vực biên giới, phương hại tới quan hệ giữa hai nước. Trong khi đó, các nước lớn, các thế lực bên ngoài lợi dụng bất ổn, mở rộng vị thế, tăng cường ảnh hưởng, chi phối ngày càng sâu rộng tại Campuchia, điều chỉnh đường lối, chính sách của Campuchia gây bất lợi cho Việt Nam.
b) Triển vọng phát triển quan hệ Việt Nam - Campuchia
Trước tình hình mới, lãnh đạo cấp cao Việt Nam, Campuchia tiếp tục khẳng định và nhấn mạnh tầm quan trọng của mối quan hệ hữu nghị truyền thống và hợp tác toàn diện giữa hai đảng, hai nhà nước, coi đây là mối quan hệ chiến lược lâu dài, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển của mỗi nước, cần phải được giữ gìn, phát huy và truyền tiếp cho các thế hệ mai sau. Hai nước đều mong muốn tiếp tục củng cố, phát triển mối quan hệ “láng giềng tốt đẹp, hữu nghị truyền thống, hợp tác toàn diện, bền vững lâu dài” lên tầm cao mới, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của mỗi nước.
Trong chuyến thăm cấp Nhà nước Vương quốc Campuchia của Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng, từ ngày 20 - 22/7/2017, Thủ tướng Hun Xen nhất trí hoàn toàn với đề nghị 5 điểm của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng về phương hướng tăng cường quan hệ giữa hai Đảng, hai nước trong thời gian tới là:
Thứ nhất, tăng cường, duy trì thường xuyên, hiệu quả các cuộc gặp gỡ, tiếp xúc giữa lãnh đạo cấp cao hai đảng, hai nước; đồng thời, mở rộng hợp tác rộng rãi giữa các bộ, ngành, các tổ chức nhân dân, các địa phương, nhất là các địa phương có chung biên giới nhằm giúp đỡ nhau một cách thiết thực, có hiệu quả; không ngừng đẩy mạnh công tác giáo dục cho các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là thế hệ trẻ về tình đoàn kết hữu nghị truyền thống và quan hệ hợp tác toàn diện Việt Nam - Campuchia.
Thứ hai, đặc biệt chú trọng tăng cường hợp tác về quốc phòng, an ninh; tiếp tục phối hợp thực hiện tốt Nghị định thư đã ký. Điểm nhấn là kiên quyết không để bất cứ lực lượng chính trị, quân sự nào sử dụng lãnh thổ của nước này để đe dọa đến an ninh nước kia; bên cạnh hợp tác truyền thống, hai bên cũng nhất trí cùng mở rộng ra các lĩnh vững vực hợp tác khác mà hai bên cùng quan tâm
Thứ ba, đẩy mạnh kết nối hai nền kinh tế Việt Nam - Campuchia phát triển bền vững, lâu dài trên nguyên tắc bổ sung, tương trợ lẫn nhau và cùng có lợi.
Thứ tư, tăng cường trao đổi thông tin và phối hợp hoạt động hiệu quả tại các tổ chức quốc tế, khu vực và các diễn đàn hợp tác đa phương; cùng với các nước trong khu vực tìm những giải pháp hữu hiệu đảm bảo giữ vững môi trường hòa bình, an ninh và phát triển ở khu vực; nỗ lực xây dựng cộng đồng ASEAN đoàn kết, vững mạnh; thúc đẩy thực hiện các sáng kiến hợp tác Tiểu vùng sông Mê Kông
 Về vấn đề Biển Đông, hai bên tiếp tục phối hợp chặt chẽ với các nước có liên quan thúc đẩy giải quyết các tranh chấp ở Biển Đông bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế và các cam kết khu vực, thực hiện đầy đủ và hiệu quả DOC, sớm đạt được COC nhằm duy trì hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn, tự do hàng hải và hàng không ở Biển Đông.
Thứ năm, hai bên nỗ lực thực hiện hiệu quả các hiệp ước, hiệp định, tuyên bố chung và các thỏa thuận đã ký; đẩy nhanh tiến độ, sớm hoàn thành công tác cắm mốc phụ, cọc dấu và tiến tới ký kết văn kiện pháp lý nhằm hoàn thành toàn bộ công tác phân giới, cắm mốc trên đất liền; xây dựng đường biên giới hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển bền vững giữa hai nước; thúc đẩy đàm phán và hợp tác an ninh biển trong vịnh Thái Lan giữa ba nước: Campuchia, Việt Nam và Thái Lan; đồng thời, kiên quyết đấu tranh với những luận điệu và hành động lợi dụng vấn đề biên giới để phá hoại quan hệ giữa hai nước.