Hiển thị các bài đăng có nhãn hợp tác. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn hợp tác. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 1 tháng 4, 2023

THÚC ĐẨY HỢP TÁC THƯƠNG MẠI VIỆT NAM – TRUNG QUỐC BỀN VỮNG, CÂN BẰNG

Đồng thời với việc cùng xây dựng quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện, Việt Nam và Trung Quốc duy trì thường xuyên các cơ chế hợp tác kinh tế thương mại song phương, đưa quan hệ hợp tác kinh tế, thương mại song phương phát triển ngày càng ổn định theo hướng bền vững, cân bằng.

Trung Đối tác thương mại lớn nhất, Trong các buổi tiếp Bí thư Tỉnh ủy Vân Nam (Trung Quốc) Vương Ninh đang ở thăm nước ta ngày 28-3, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đánh giá cao sự phát triển tích cực trên nhiều mặt trong quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện giữa Việt Nam và Trung Quốc thời gian qua, trong đó có những kết quả đáng khích lệ về giao lưu, hợp tác hữu nghị giữa các địa phương biên giới của Việt Nam với tỉnh Vân Nam.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng mong muốn tỉnh Vân Nam và các địa phương biên giới Việt Nam là tiên phong trong thực hiện nhận thức chung giữa Lãnh đạo cấp cao, tiếp tục quán triệt về tình hữu nghị và tầm quan trọng của quan hệ Việt - Trung, cụ thể hóa Tuyên bố chung đạt được trong chuyến thăm chính thức Trung Quốc từ ngày 30-10 đến ngày 1-11-2022, góp phần thúc đẩy quan hệ hợp tác, hữu nghị truyền thống giữa hai Đảng, hai nước. Bí thư Tỉnh ủy Vân Nam khẳng định, tỉnh Vân Nam sẽ tiếp tục phối hợp chặt chẽ với các địa phương Việt Nam quán triệt, thực hiện tốt nhận thức chung và thỏa thuận quan trọng giữa hai Tổng Bí thư của hai Đảng, cũng như những nhận thức chung đạt được tại Hội nghị giữa Bí thư các tỉnh Tây Bắc của Việt Nam và tỉnh Vân Nam; tăng cường giao lưu hữu nghị giữa các cấp, các ngành; đẩy mạnh hợp tác thực chất, cùng có lợi giữa hai bên, nhất là trong lĩnh vực kinh tế - thương mại, nông nghiệp, du lịch; cùng nhau phối hợp quản lý tốt đường biên giới giữa hai nước.

Cùng ngày 28-3, trong cuộc điện đàm đầu tiên với Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Trung Quốc Tần Cương kể từ khi ông nhậm chức hồi cuối tháng 12-2022, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Bùi Thanh Sơn khẳng định, Việt Nam coi trọng quan hệ láng giềng hữu nghị, đối tác hợp tác chiến lược toàn diện với Trung Quốc, coi đây là ưu tiên hàng đầu trong tổng thể chính sách đối ngoại. Bộ trưởng Bùi Thanh Sơn đề nghị hai bên có biện pháp thiết thực thúc đẩy hợp tác thương mại theo hướng cân bằng, bền vững, nỗ lực giải quyết vướng mắc, tồn tại trong một số dự án, thúc đẩy kết nối vận tải, sớm khôi phục hợp tác hiệu quả, bền vững trong lĩnh vực du lịch.

Chuyến thăm của Bí thư Tỉnh ủy Vân Nam và cuộc điện đàm giữa Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam - Trung Quốc cho thấy quan hệ hai Đảng, hai nước duy trì đà phát triển tốt đẹp và có nhiều tiến triển thực chất, trong đó hợp tác kinh tế - thương mại là một trong những trọng tâm. Từ năm 2004, Trung Quốc đã trở thành đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam và đến nay, Trung Quốc là thị trường nhập khẩu lớn nhất và thị trường xuất khẩu lớn thứ hai của Việt Nam. Trong khi đó, Việt Nam là đối tác thương mại lớn nhất của Trung Quốc trong ASEAN, đối tác thương mại lớn thứ 7 và là thị trường xuất khẩu lớn thứ 5, cũng là thị trường nhập khẩu lớn thứ 9 của Trung Quốc trên thế giới.

Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và Trung Quốc dù chịu tác động bởi đại dịch Covid-19 vẫn đạt 175,57 tỷ USD, trong đó xuất khẩu của Việt Nam đạt 57,7 tỷ USD, còn nhập khẩu 117,87 tỷ USD. Trong quan hệ thương mại, tính bổ sung lẫn nhau trong cơ cấu xuất nhập khẩu hàng hóa giữa hai nước vẫn rất lớn. Việt Nam xuất khẩu sang Trung Quốc các sản phẩm nông sản nhiệt đới, thủy sản, dệt may, điện thoại, máy tính, sản phẩm điện tử, đồng thời nhập khẩu từ Trung Quốc các mặt hàng nguyên liệu phục vụ sản xuất, nông sản ôn đới... Trung Quốc cũng là thị trường xuất khẩu quan trọng đối với một số mặt hàng nông sản của Việt Nam.

Hướng tới cân bằng cán cân thương mại, Trung Quốc là đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam từ gần 20 năm nay nhưng hợp tác trong lĩnh vực này giữa hai nước chưa thực sự bền vững, nhất là Việt Nam là bên nhập siêu quá lớn, gấp tới hơn 2 lần trong năm 2022 vừa qua. Nhiều mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam sang Trung Quốc về nông sản, thủy sản… có khi chưa thông suốt, thuận lợi. Thực trạng trao đổi thương mại trên đây đã được Việt Nam và Trung Quốc nhìn nhận, trao đổi nhiều biện pháp tháo gỡ để hợp tác trong lĩnh vực phát triển cân bằng, bền vững.

Trong Thông cáo chung đưa ra trong chuyến thăm chính thức Trung Quốc từ ngày 30-10 đến ngày 1-11-2022 của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Việt Nam và Trung Quốc nhất trí áp dụng các biện pháp thiết thực nhằm giảm bớt vấn đề mất cân bằng thương mại giữa hai nước, thúc đẩy xuất nhập khẩu nhiều hơn nữa các sản phẩm nông sản, thực phẩm chất lượng cao của cả hai nước. Phía Trung Quốc sẽ tích cực thúc đẩy tiến trình mở cửa thị trường cho khoai lang, các loại hoa quả có múi, tổ yến và một số nông thủy sản của Việt Nam. Phía Việt Nam sẽ tích cực thúc đẩy tiến trình mở cửa thị trường cho sữa của Trung Quốc.

Tại cuộc điện đàm với Thủ tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường hồi tháng 9-2022, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã đề nghị hai bên tích cực phối hợp để đưa kim ngạch thương mại song phương tăng trưởng ổn định, cân bằng. Người đứng đầu Chính phủ nước ta đề nghị Trung Quốc tạo thuận lợi về thông quan, mở rộng nhập khẩu hàng hóa, nhất là đẩy nhanh tiến độ mở cửa thị trường cho nông sản của Việt Nam; khôi phục toàn diện hoạt động tại các cặp cửa khẩu biên giới và nâng cao năng lực thông quan; phối hợp triển khai, tận dụng tốt cơ hội đến từ các hiệp định thương mại tự do đa phương.

Trao đổi giữa Bộ Thương mại hai nước thời gian qua, phía Việt Nam đã đưa ra một số đề xuất nhằm tiếp tục tháo gỡ khó khăn và khôi phục thông quan tại các cửa khẩu biên giới; tạo thuận lợi cho hoạt động vận tải đường sắt giữa hai nước và hoạt động quá cảnh Trung Quốc đi nước thứ ba; tạo thuận lợi cho hoạt động xuất khẩu, mở rộng thị trường Trung Quốc đối với nông sản, thủy sản Việt Nam. Việt Nam đề nghị Trung Quốc hỗ trợ, tạo thuận lợi cho hoạt động xúc tiến thương mại và tăng cường hợp tác về quản lý thị trường.

Trung Quốc coi trọng các đề xuất của Việt Nam, hiện đang phối hợp với cơ quan liên quan Việt Nam hoàn tất đàm phán Nghị định thư mở cửa thị trường Trung Quốc đối với một số mặt hàng nông sản của Việt Nam trong thời gian tới; mong muốn mở rộng nhập khẩu các loại nông sản chất lượng cao từ Việt Nam. Phía Trung Quốc một lần nữa nhấn mạnh, sẵn sàng phối hợp bảo đảm duy trì thông suốt, tránh gián đoạn và nâng cao hiệu suất thông quan tại các cửa khẩu biên giới với phía Việt Nam.

Nhằm hướng tới cân bằng cán cân thương mại giữa Việt Nam và Trung Quốc, tại buổi tiếp Bí thư Tỉnh ủy Vân Nam Vương Ninh, Thủ tướng Phạm Minh Chính đề nghị hai bên mở rộng hợp tác cùng có lợi với trọng tâm là tạo bước chuyển lớn về hợp tác kinh tế - thương mại, kết nối giao thông đường bộ, đường sắt, du lịch và giáo dục. Theo đó, Thủ tướng mong muốn tỉnh Vân Nam phối hợp duy trì ổn định, nâng cao hiệu suất thông quan hàng hóa tại các cửa khẩu biên giới hai nước, nhập khẩu nhiều hơn nữa nông, thủy sản chất lượng cao của Việt Nam, tạo điều kiện và dành ưu đãi cho các doanh nghiệp Việt Nam dự các hội chợ quốc tế tại Vân Nam.

Bí thư Tỉnh ủy Vân Nam khẳng định, tỉnh Vân Nam mong muốn cùng các địa phương Việt Nam thực hiện tốt nhận thức chung của Lãnh đạo cấp cao hai Đảng, hai nước, duy trì trao đổi các cấp; tăng cường trao đổi về các dự án kết nối cơ sở hạ tầng; thúc đẩy hợp tác kinh tế, sẵn sàng mở rộng quy mô thương mại, trong đó tăng cường nhập khẩu nông sản của Việt Nam vào thị trường Vân Nam và qua Vân Nam đến với các tỉnh thành lân cận… góp phần củng cố và đưa quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Trung Quốc - Việt Nam đi vào chiều sâu đem lại lợi ích thiết thực cho các địa phương và nhân dân hai nước.


Chủ Nhật, 20 tháng 11, 2022

TĂNG CƯỜNG HỘI NHẬP QUỐC TẾ, HỢP TÁC QUỐC PHÒNG VÌ HÒA BÌNH ĐỘC LẬP VÀ PHÁT TRIỂN

Những năm qua, Đảng, Nhà nước ta thực hiện đường lối, chính sách đối ngoại nói chung, đối ngoại quốc phòng nói riêng độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác cùng phát triển. Với quan điểm đó, Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế; chủ động hội nhập, mở rộng hợp tác quốc tế, tăng cường đối ngoại quốc phòng theo phương châm “tích cực, chủ động, chắc chắn, linh hoạt, hiệu quả” trên cơ sở bình đẳng, cùng có lợi: “Thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tụ chủ, hòa bình, hữu nghị hợp tác và phát triển. Đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ đối ngoại...trên nguyên tắc bình đẳng,cùng có lợi”. Nhờ đó, vị thế nước ta trên trường quốc tế được tăng cường; việc kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại được phát huy; lòng tin chiến lược, môi trường hòa bình không ngừng tạo lập, củng cố, tạo điều kiện thuận lợi bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền lãnh thổ, lợi ích quốc gia, dân tộc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước.  Đại hội XIII đã khảng định: “Chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, giải quyết tốt mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ với hội nhập quốc tế… Gắn kết chặt chẽ quá trình chủ động, tích cực hội nhập quốc tế toàn diện và sâu rộng với việc nâng cao sức mạnh tổng hợp, huy động tiềm năng của toàn xã hội”. Với đường lối đúng đắn đó, đến đầu năm 2020, Việt Nam đã thiết lập quan hệ quốc phòng với trên 80 nước và tổ chức quốc tế; đặt Văn phòng Tùy viên quốc phòng tại Liên hợp quốc và 37 nước; có 49 nước đặt Văn phòng Tùy viên quốc phòng, quân sự tại Việt Nam. Việt Nam tích cực tham gia vào các vấn đề chung của thế giới, như: đăng cai tổ chức Hội nghị thượng đỉnh Mỹ - Triều, Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng các nước ASEAN, tham gia lực lượng gìn giữ hoà bình Liên hợp quốc tại Cộng hòa Trung Phi và Nam Xu-đăng,… được quốc tế ghi nhận, đánh giá cao.

Như vậy, tính chất hòa bình, tự vệ, Việt Nam không tham gia liên minh quân sự trong Đai hội XIII là hoàn toàn đúng đắn, có bước phát triểm mới phù hợp của Đảng ta, một mặt vừa bảo đảm vừa giữ vững độc lập, tự chủ, tự cường, mặt khác bảo đảm được thế cân bằng trong quan hệ quốc tế, không để rơi vào vòng xoáy của sự cạnh tranh, giành ảnh hưởng giữa các nước lớn, nhất là không để bị rơi vào thế phải đi với nước này để chống nước khác, tác động tiêu cực đến các mối quan hệ và hội nhập quốc tế; đồng thời, tranh thủ tối đa sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Vì vậy, hiện nay mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân cần tăng cường học tập, quán triệt, nâng cao nhận thức, bảo vệ chủ trương, quan điểm của Đảng trong Văn kiện XIII nói chung về tính chất hòa bình, tự vệ, Việt Nam không tham gia liên minh quân sự nói riêng. Đồng thời, kiên quyết đấu tranh với những quan điểm sai trái của các thế lực thù địch, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng./.

Thứ Tư, 12 tháng 10, 2022

KHÔNG THỂ XUYÊN TẠC ĐƯỜNG LỐI, CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA VIỆT NAM

Lợi dụng một số hoạt động đối ngoại của Việt Nam trong thời gian qua, nhất là khi Việt Nam đẩy mạnh quan hệ với Mỹ. Các thế lực thù địch đẩy mạnh các hoạt động chống phá. Họ xuyên tạc rằng, Đảng và Nhà nước Việt Nam trên thực tế đã từ bỏ chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ và đang ngấm ngầm “theo chân” nước này để chống nước kia; thâm độc hơn, chúng còn cho rằng đó là “đường lối trung dung”, là “đi dây” trong quan hệ với các nước lớn, như thế là “tự cô lập” mình, “tước đi cơ hội hợp tác với các nước lớn để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Sự thật không phải như vậy, như chúng ta đã biết, hiện nay, Hòa bình, hợp tác và phát triển là xu thế lớn của thời đại, dù đang gặp những trở ngại, thách thức. Mỗi nước trên thế giới đều có quan hệ với các nước khác, nhất là chú trọng quan hệ với các nước lớn với những nội dung, hình thức và mức độ khác nhau. Đó vừa là xu thế, vừa là phương thức cơ bản bảo đảm an ninh và phát triển của mỗi nước. Phù hợp với xu thế đó, gần 35 năm qua, từ khi tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, Việt Nam luôn thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa, chủ động, tích cực hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế trên nhiều lĩnh vực. Do vậy, cần khẳng định rằng, chỉ có nhất quán và thực hiện tốt đường lối, chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại, không phụ thuộc vào bất cứ nước lớn hay nhóm nước nào thì chúng ta mới có thể tận dụng tốt nhất các cơ hội, điều kiện thuận lợi phục vụ cho sự phát triển đất nước. Điều đó tuyệt đối không thể gọi là “lạc hậu, lỗi thời”, là “trung dung”, “đi dây” trong quan hệ với các nước lớn.

Trên thực tế, chúng ta đã và đang thúc đẩy quan hệ với các nước lớn cũng như với các nhóm nước, tổ chức trên thế giới. Chúng ta chủ động tham gia các cơ chế, các diễn đàn khu vực và toàn cầu để vừa thích ứng với các trào lưu, xu thế chung của thế giới, vừa phục vụ một cách tốt nhất các lợi ích quốc gia - dân tộc.

Hiện nay, chúng ta vừa tăng cường quan hệ với Trung Quốc, vừa làm sâu sắc hơn quan hệ với Mỹ trên cơ sở mối quan hệ hợp tác giữa Việt Nam và các nước này ngày càng trở nên tốt đẹp, thực chất và hiệu quả hơn. Đó là quan điểm, lập trường và chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước Việt Nam, tuyệt nhiên không phải là chúng ta đang “nghiêng về bên này để chống bên kia” như sự xuyên tạc của các thế lực thù địch.

Thứ Năm, 11 tháng 11, 2021

NHẬN THỨC CHỦ NGHĨA XÃ HỘI VÀ CHỦ NGHĨA TƯ BẢN CÙNG TỒN TẠI, VỪA HỢP TÁC, VỪA ĐẤU TRANH

Thế giới hiện nay là thế giới toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế; là cả một không gian mở, đan xen lợi ích, tùy thuộc lẫn nhau. Một khi khủng hoảng kinh tế ở một khu vực hoặc một nước lớn sẽ kéo theo khủng hoảng toàn cầu; một khi giá dầu mỏ lên xuống thất thường và đột biến đủ làm cho kinh tế thế giới bị ảnh hưởng…

Như vậy, cùng với việc đổi mới nhận thức của toàn nhân loại, đặc biệt là của giới lãnh đạo các nước về trách nhiệm chung đối với sự phát triển thế giới, những nhân tố khách quan nêu trên vừa thúc đẩy, đòi hỏi, vừa tạo điều kiện cho việc cùng tồn tại và hợp tác cùng phát triển đối với tất cả các nước.

Trong khi nhận thức rõ sự hợp tác giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản hiện nay là khá toàn diện, thì không thể quên rằng giữa hai chiều hướng phát triển này vẫn chứa đựng những mâu thuẫn vốn có.

Các thế lực hiếu chiến và thù địch chưa bao giờ từ bỏ dã tâm muốn xóa sổ chủ nghĩa xã hội. “Diễn biến hòa bình” là một trong những chiến lược tổng thể của chủ nghĩa đế quốc nhằm thực hiện mục tiêu đó. Đây là cuộc chiến tranh không khói súng nhưng thực sự là kế sách nham hiểm phá vỡ thành lũy của chủ nghĩa xã hội từ bên trong.

Tất cả những thủ đoạn mà các thế lực đế quốc đã và đang sử dụng đối với các nước XHCN, cũng như đối với giai cấp những người lao động trên toàn thế giới cho thấy, cuộc đấu tranh giai cấp hiện nay không kém phần gay gắt, quyết liệt và phức tạp.

Bởi vậy, trong điều kiện mở cửa, hội nhập với thế giới, thu hút vốn đầu tư, công nghệ và hợp tác, giao lưu với các nước tư bản, các nước XHCN phải luôn kiên định bảo vệ nền tảng tư tưởng và giữ vững định hướng XHCN, hợp tác cùng phát triển nhưng luôn cảnh giác và sẵn sàng đấu tranh bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc và mục tiêu, lý tưởng của mình.

Từ một nước kinh tế kém phát triển, nếu chúng ta biết tranh thủ những thời cơ, những thuận lợi và biết vượt qua những thách thức, những nguy cơ, chúng ta có thể “phát triển rút ngắn” lên CNXH bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa theo quan điểm của V.I.Lênin.

Thứ Sáu, 24 tháng 9, 2021

VIỆT NAM CHUNG NHỊP ĐẬP SẺ CHIA, HỢP TÁC, CÙNG THẮNG ĐẠI DỊCH

Chiều 22/9 (theo giờ New York, tức rạng sáng 23/9 giờ Việt Nam), trong khuôn khổ chuyến công tác tham dự Phiên thảo luận chung cấp cao Đại hội đồng Liên hợp quốc khóa 76, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc đã có bài phát biểu quan trọng tại diễn đàn trọng thể này.  

Trong bài phát biểu, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc đã đưa ra nhiều ý kiến đánh giá lớn cùng các đề xuất cụ thể nhằm thúc đẩy hợp tác đa phương với Liên hợp quốc là trung tâm và lấy luật pháp quốc tế làm nền tảng, để cùng ứng phó với các thách thức toàn cầu phức tạp như chiến tranh, xung đột, tranh chấp tài nguyên, biến đổi khí hậu và đặc biệt là đại dịch COVID-19 đang tác động tiêu cực đến hoà bình, an ninh và phát triển trên toàn thế giới.

Chủ tịch nước cho rằng vấn đề cấp bách nhất hiện nay là cần kiểm soát đại dịch COVID-19 thông qua hợp tác quốc tế, nhất là ưu tiên cung cấp vaccine cho những nước có tỷ lệ tiêm chủng còn thấp, đồng thời tạo điều kiện để các nước đang phát triển hợp tác sản xuất và tham gia chuỗi cung ứng vaccine.

Trước những tác động sâu sắc của đại dịch làm bộc lộ rõ những yếu kém của hệ thống quản trị toàn cầu, Chủ tịch nước cho rằng cần nỗ lực trên tinh thần tự cường của mỗi quốc gia, dựa trên sự hợp tác và liên kết của tất cả các quốc gia, để từ đó có thể biến các thách thức thành những cơ hội cho phát triển thông qua đẩy nhanh chuyển đổi số và ứng dụng công nghệ mới, nâng cao năng suất lao động, năng lực cạnh tranh và sức tự cường của nền kinh tế.

Đây cũng là cơ hội để các quốc gia chuyển đổi xanh, thúc đẩy phát triển bền vững thông qua các nỗ lực giảm thiểu và xử lý các tác động tiêu cực đang ngày càng gia tăng của biến đổi khí hậu. 

Tuy nhiên, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc nhấn mạnh những nỗ lực này sẽ không thể mang lại kết quả nếu không có môi trường hoà bình, an ninh, ổn định ở mỗi quốc gia, khu vực và thế giới.

Chủ tịch nước cho biết Việt Nam và các nước thành viên ASEAN đang nỗ lực tăng cường vai trò trung tâm của Hiệp hội trong duy trì hòa bình, an ninh và thịnh vượng tại Đông Nam Á và châu Á-Thái Bình Dương; chia sẻ tiếng nói chung của cộng đồng quốc tế về tầm quan trọng của duy trì hoà bình, ổn định, bảo đảm an ninh, an toàn, tự do hàng hải và hàng không ở Biển Đông; yêu cầu các bên liên quan kiềm chế, không có hành động làm phức tạp tình hình, giải quyết hoà bình các tranh chấp, khác biệt trên cơ sở Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS) năm 1982; thực thi đầy đủ Tuyên bố về cách ứng xử của các bên trên Biển Đông (DOC) và hướng đến hoàn tất Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC) thực chất và hiệu lực, phù hợp với luật pháp quốc tế, đặc biệt là UNCLOS năm 1982. 

Chia sẻ về tình hình Việt Nam, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc nhấn mạnh khát vọng của dân tộc Việt Nam xây dựng đất nước hùng cường, với Nhà nước pháp quyền, của dân, do dân và vì dân, khơi dậy lòng yêu nước mãnh liệt, ý chí quật cường, khối đại đoàn kết và phát huy năng lực đổi mới sáng tạo của toàn dân tộc.

Chủ tịch nước khẳng định đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, có hiệu quả, là thành viên tích cực, đóng góp trách nhiệm vào nỗ lực chung của cộng đồng quốc tế.

Việt Nam đã nỗ lực thúc đẩy đối thoại, hợp tác, cùng nhiều sáng kiến quan trọng trên cương vị Uỷ viên không thường trực Hội đồng Bảo an nhiệm kỳ 2020-2021, tăng cường tham gia các hoạt động gìn giữ hoà bình của Liên hợp quốc.

Chủ tịch nước bày tỏ tin tưởng mặc dù chặng đường phía trước còn nhiều gian nan, song Nhà nước và nhân dân Việt Nam sẽ cùng người dân trên toàn thế giới chung nhịp đập sẻ chia, yêu thương, hợp tác để cùng nhau sớm chiến thắng đại dịch, xây dựng một thế giới hòa bình, phát triển phồn vinh, người dân hạnh phúc.

MỐI QUAN HỆ NGHĨA TÌNH ĐẶC BIỆT GIỮA VIỆT NAM VÀ CU BA

Ngay sau ngày cách mạng Cuba thành công (1/1/1959), Cộng hòa Cuba là quốc gia Mỹ Latinh đầu tiên thiết lập quan hệ ngoại giao đầy đủ với Việt Nam (2/12/1960). Mối quan hệ tốt đẹp giữa Việt Nam - Cu Ba đã được các nhà lãnh tụ cách mạng tiền bối José Martí, Fidel Castro, Hồ Chí Minh, cũng như các thế hệ lãnh đạo Cuba và Việt Nam dày công vun đắp.

Trong suốt hơn nửa thế kỷ qua, kể từ ngày hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao, hai dân tộc Việt Nam - Cuba đã luôn kề vai sát cánh trong cuộc đấu tranh vì độc lập, tự do cũng như trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa ở mỗi nước. Việt Nam mãi mãi ghi nhớ với lòng biết ơn sâu sắc về sự ủng hộ mạnh mẽ và giúp đỡ chí tình mà Đảng Cộng sản và nhân dân Cuba anh em đã dành cho nhân dân Việt Nam trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc trước đây, cũng như trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay. Tình đoàn kết thủy chung, trong sáng, đầy tinh thần quốc tế cao cả đó của Cuba được thể hiện vô cùng sinh động trong những câu nói bất hủ của Tổng Tư lệnh Fidel Castro: “Vì Việt Nam, Cuba sẵn sàng hiến dâng cả máu của mình”, “Trong hòa bình, Cuba sẵn sàng đổ mồ hôi để góp phần xây dựng lại Việt Nam mười lần to đẹp hơn như Chủ tịch Hồ Chí Minh hằng mong muốn”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng từng khẳng định: “Việt Nam và Cuba cách xa nhau hàng vạn dặm nhưng lòng dân hai nước gần gũi như anh em một nhà”. Thực hiện di huấn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, các thế hệ lãnh đạo và nhân dân Việt Nam luôn khẳng định: “Đoàn kết, ủng hộ Cuba là lương tâm và trách nhiệm của những người cộng sản và toàn thể nhân dân Việt Nam!”.

Trong thời kỳ khó khăn nhất của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của Việt Nam, Đảng, Nhà nước và nhân dân Cuba anh em luôn dành cho Việt Nam sự ủng hộ và giúp đỡ vô cùng quý báu, có hiệu quả về cả tinh thần lẫn vật chất. Cuba đã thành lập Ủy ban toàn quốc đoàn kết với nhân dân miền Nam Việt Nam, tiền thân của Hội Hữu nghị Cuba - Việt Nam sau này. Ngay từ buổi đầu cách mạng, Cuba đã giành cho Việt Nam sự ủng hộ, giúp đỡ quý báu và có hiệu quả thông qua giáo dục, đào tạo nhân lực, viện trợ đường, thuốc men, phương tiện y tế, vật tư - một số thiết bị quân sự đặc chủng và 10 công trình xây dựng ở miền Bắc, nâng cấp đường Trường Sơn, khu vực Quảng trị - Thừa Thiên Huế, phục vụ vận chuyển vũ khí, khí tài nặng cho chiến trường miền Nam. Ðài Phát thanh Cuba thời kỳ đó dành riêng một kênh phát bằng tiếng Anh sang Mỹ để giới thiệu với nhân dân Mỹ về tình hình Việt Nam góp phần tranh thủ dư luận tiến bộ Mỹ để ủng hộ Việt Nam và yêu cầu chấm dứt chiến tranh.

Sau năm 1975, Cuba tiếp tục duy trì hợp tác giúp đỡ Việt Nam về khoa học - công nghệ; viện trợ xây dựng Nhà máy đường Tây Ninh, cung cấp các giống cây trồng và tham gia việc thẩm định nhiều công trình xây dựng, phát triển ở Việt Nam. Tình đoàn kết và sự ủng hộ qu‎ý báu của những người đồng chí, anh em Cuba đã góp phần to lớn trong việc tăng cường thế và lực cho cách mạng Việt Nam vào thời điểm quyết định trên cả ba mặt trận kinh tế, chính trị và ngoại giao; là nguồn cổ vũ mạnh mẽ cho toàn quân và toàn dân Việt Nam trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và tái thiết đất nước.

Việt Nam luôn giành cho Cuba tình đoàn kết, hữu nghị và hợp tác anh em chân thành, gắn bó, coi việc đoàn kết, giúp đỡ Cuba là nghĩa vụ xuất phát từ lương tâm và tình cảm quốc tế trong sáng mang tính truyền thống của dân tộc. Sau chiến tranh giải phóng và bước vào công cuộc tái thiết đất nước, Việt Nam đã hợp tác giúp Cuba kinh nghiệm thắng lợi của “Chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc chống xâm lược”; nhân dân Việt Nam đã đồng lòng chịu đựng thiếu thốn, thậm chí hy sinh lợi ích để hỗ trợ phần nào giúp Cuba vượt qua những thời điểm khó khăn nhất của “Thời kỳ đặc biệt”, hợp tác giúp Cuba sản xuất lúa, gạo và phát triển lương thực (Dự án lúa gạo hộ gia đình, Chương trình hợp tác phát triển sản xuất lương thực giai đoạn 2010 - 2015 và giai đoạn 2018 - 2022)…, tiếp tục vững vàng trước mọi âm mưu và hành động chống phá, lật đổ của các thế lực thù địch. Đồng thời, hết lòng trao đổi, chia sẻ với Cuba những kinh nghiệm về xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội, hội nhập quốc tế. Tình cảm đoàn kết và sự ủng hộ của Việt Nam đối với Cuba luôn được thể hiện nhất quán và mạnh mẽ thông qua phát biểu của lãnh đạo Đảng, Nhà nước cũng như lập trường của Việt Nam trên các diễn đàn quốc tế.

Thứ Hai, 20 tháng 9, 2021

CHỦ TỊCH NƯỚC NGUYỄN XUÂN PHÚC THĂM CHÍNH THỨC CUBA: CHUYẾN THĂM CỦA LỊCH SỬ VÀ NGHĨA TÌNH

Nhận lời mời của Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Cuba, Chủ tịch nước Cộng hòa Cuba Miguel Díaz-Canel, sáng 18-9 (theo giờ Việt Nam), Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc dẫn đầu đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam đã lên đường thăm hữu nghị chính thức Cuba từ 18 đến 21-9.

Thể hiện mạnh mẽ tình đoàn kết

Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Đặng Hoàng Giang cho biết chuyến thăm có ý nghĩa hết sức đặc biệt, là chuyến thăm của lịch sử và nghĩa tình. Chuyến thăm thể hiện mạnh mẽ tình đoàn kết, sự ủng hộ chặt chẽ của Việt Nam dành cho Cuba trong bối cảnh hai nước đang gặp những khó khăn nhất định do đại dịch Covid-19 toàn cầu.

Cụ thể, hai nước đã ủng hộ lẫn nhau về vaccine, y tế, lương thực... Đại sứ Việt Nam tại Cuba Lê Thanh Tùng cho biết, chuyến thăm chính thức Cuba lần này của Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc là chuyến thăm của một nguyên thủ Nhà nước nước ngoài đầu tiên đến thăm Cuba kể từ khi xảy ra đại dịch Covid-19 từ đầu năm 2020 và cũng là chuyến thăm đầu tiên giữa Việt Nam và Cuba sau khi hai nước bước vào nhiệm kỳ mới. Trong chuyến thăm này, lãnh đạo Đảng và Nhà nước hai nước sẽ đánh giá về quan hệ hợp tác song phương, tập trung thảo luận và thống nhất về phương hướng cũng như các biện pháp để làm sao tăng cường, làm sâu sắc hơn nữa mối quan hệ hợp tác đoàn kết anh em toàn diện giữa Việt Nam và Cuba, nhất là trên các lĩnh vực kinh tế, thương mại, đầu tư và hợp tác trên các lĩnh vực mà hai bên có thế mạnh và có thể bổ sung cho nhau.

Quan hệ ngoại giao Việt Nam - Cuba được thiết lập ngày 2-12-1960, trên cơ sở nhiều điểm tương đồng. Thời điểm đó, nhân dân Việt Nam tập trung nỗ lực thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đồng thời đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Ở phía Tây bán cầu, nhân dân Cuba cũng phải đương đầu với sự chống phá ác liệt của các thế lực đế quốc, phản động để bảo vệ chính quyền non trẻ do Tổng Tư lệnh Fidel Castro đứng đầu.

Mối quan hệ hữu nghị đặc biệt giữa hai Đảng, hai Nhà nước và nhân dân hai nước Việt Nam - Cuba đã được các lãnh tụ cách mạng tiền bối José Martí, Fidel Castro, Hồ Chí Minh, cũng như các thế hệ lãnh đạo Cuba và Việt Nam dày công vun đắp, ngày càng đơm hoa kết trái.

Tăng cường hợp tác nhiều mặt

Trao đổi thương mại giữa Việt Nam và Cuba giảm mạnh do tác động của dịch Covid-19, trong đó chủ yếu Việt Nam xuất siêu. Một điểm nhấn trong hợp tác thương mại là ngày 1-4-2020, Hiệp định thương mại Việt Nam - Cuba ký ngày 9-11-2018 đã chính thức có hiệu lực với nhiều cam kết ưu đãi thương mại mới, đem lại lợi ích cho doanh nghiệp hai nước và tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa song phương.

Về hợp tác nông nghiệp, Việt Nam hỗ trợ Cuba thông qua nhiều chương trình, dự án có ý nghĩa.

Dự án hợp tác hỗ trợ Cuba phát triển sản xuất lúa gạo quy mô hộ gia đình giai đoạn 2011 - 2015 với tổng số vốn đầu tư 43 triệu USD đã đạt kết quả tích cực. Các dự án hỗ trợ Cuba sản xuất bắp, đậu tương và nuôi trồng thủy sản đã kết thúc giai đoạn 1 và đang tiếp tục thực hiện giai đoạn 2. Hai bên đang tiếp tục nghiên cứu và triển khai các dự án nông nghiệp - thủy sản khác, trong đó Chính phủ ta đã phê duyệt Dự án “Hợp tác Việt Nam - Cuba phát triển sản xuất lúa gạo giai đoạn 2019-2023” và bước đầu đưa vào triển khai. Bộ Quốc phòng Việt Nam cũng đang hỗ trợ Cuba phát triển cây bắp cao sản thông qua việc cung cấp giống và chuyển giao kỹ thuật.

Trong các lĩnh vực đầu tư khác, một số doanh nghiệp Việt Nam đang thúc đẩy các dự án đầu tư về viễn thông, xây dựng hạ tầng du lịch, hạ tầng khu công nghiệp, vật liệu xây dựng, sản xuất bột giặt và tã lót tại đặc khu phát triển Mariel. Trước những thay đổi về chính sách quản lý kinh tế, môi trường đầu tư của Cuba, doanh nghiệp Việt Nam ngày càng quan tâm đầu tư tại nước này.

Trong lĩnh vực ngoại giao đa phương, hai bên duy trì quan hệ hợp tác ủng hộ lẫn nhau tại các tổ chức quốc tế và diễn đàn đa phương, nhất là tại Liên hiệp quốc. Gần đây, Việt Nam bày tỏ ủng hộ Cuba ứng cử vào Hội đồng nhân quyền nhiệm kỳ 2021-2023; tích cực thúc đẩy, hỗ trợ Cuba ký kết Hiệp ước Thân thiện và hợp tác ở Đông Nam Á (TAC/ASEAN) (10-11-2020). Cuba đã ủng hộ Việt Nam ứng cử vào Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc nhiệm kỳ 2020 -2021.

Thứ Ba, 7 tháng 9, 2021

BÔI NHỌ TÌNH ĐOÀN KẾT QUÂN DÂN: TẬN CÙNG CỦA SỰ THÂM ĐỘC

Sau chuỗi ngày dài thực hiện giãn cách xã hội, TP Hồ Chí Minh và một số tỉnh, thành phố phía Nam đang cần lắm sự ủng hộ, giúp đỡ của cả nước để vượt qua làn sóng thứ 4 của dịch COVID-19.

Với tinh thần cả nước cùng miền Nam chống dịch COVID-19, lực lượng vũ trang đã khẩn trương chi viện cho miền Nam, góp phần chặt đứt nguồn lây nhiễm của biến thể Delta trong cộng đồng, giúp người dân ổn định cuộc sống…

Thế nhưng trước việc Quân đội, Công an tăng cường cho miền Nam chống dịch, các thế lực phản động, thù địch cùng những đối tượng bất mãn, cơ hội chính trị, với âm mưu thâm độc, đã xuyên tạc, bịa đặt, tung những thông tin không chính xác trên một số trang mạng xã hội, hòng bôi xấu những việc làm tốt đẹp của các chiến sỹ Quân đội, Công an, phá hoại tình đoàn kết quân - dân…

Vậy sự thực là như thế nào?

Trước hết cần nói rõ, việc tăng cường hỗ trợ cho miền Nam là “mệnh lệnh trái tim”. Đợt bùng phát dịch lần thứ tư từ cuối tháng 4/2021, ở TP Hồ Chí Minh và các tỉnh khu vực phía Nam diễn biến rất phức tạp, số ca dương tính tăng cao. Sau những tháng oằn mình chống dịch mà hiệu quả chưa như mong muốn, tất cả các cơ quan trong hệ thống chính trị cho tới mỗi người dân Nam Bộ đều đã và đang đối diện với những khó khăn chồng chất. Áp lực giữ cho số ca nhiễm không tăng nhanh, giảm thiểu người tử vong, giúp dân không bị đói và giữ gìn an ninh trật tự, an toàn xã hội là thách thức nặng nề. Việc giãn cách xã hội bắt buộc và kéo dài đã khiến nguồn lực con người, vật chất tới giới hạn. Rất nhiều sức ép lên cuộc sống của người dân thành phố trong những vùng đỏ, vùng cam. Nhu cầu cần được giúp đỡ của người dân, đặc biệt là tại các tỉnh, thành phố phía Nam gặp khó khăn do dịch bệnh, là rất lớn.

Bởi vậy, cùng với sử dụng lực lượng tại chỗ, Quân đội đã tăng cường lực lượng từ nơi khác đến các địa bàn "điểm nóng" để kịp thời hỗ trợ chống dịch, bảo đảm sức khỏe, tính mạng, đời sống nhân dân. Lực lượng chi viện này có nhiệm vụ tham gia xây dựng, duy trì hoạt động của các bệnh viện dã chiến, xét nghiệm, tiêm vắc xin, thực hiện quy định giãn cách xã hội, hỗ trợ lương thực, thực phẩm, đồ dùng thiết yếu đến tận tay người dân…

Cũng vì thế, gần 1.400 cán bộ, học viên từ Học viện Quân y đã tăng cường vào miền Nam, triển khai thành khoảng 450 tổ quân y cơ động, phối hợp hoạt động với các trạm y tế xã, phường để thực hiện các biện pháp hỗ trợ y tế theo nhiệm vụ được phân công, thực hiện cùng ăn, cùng ở với nhân dân.

Lực lượng Bộ đội Hóa học cũng kịp thời có mặt, đảm bảo thực hiện công tác tiêu tẩy, khử trùng ở những ổ dịch, hạn chế mức thấp nhất sự lây lan của dịch bệnh trong cộng đồng. Các đơn vị của Quân đội được huy động trở thành những khu cách ly an toàn. Quân đội triển khai hàng trăm tổ cơ động phòng, chống dịch từ các bệnh xá quân y và đội y học dự phòng của các quân khu, quân đoàn...

Nhiều tuần nay, người dân TP Hồ Chí Minh đã quen thân với hình ảnh cán bộ, chiến sỹ Quân đội không quản ngại khó khăn, gian khổ, bất chấp hiểm nguy, bất cứ ở đâu xuất hiện "điểm nóng" về dịch COVID-19 là họ có mặt, xông pha trên tuyến đầu. Các anh không đắn đo, nề hà bất cứ công việc gì, từ truy vết, sàng lọc, lấy mẫu, xét nghiệm, điều trị, tổ chức cách ly tập trung, tiêm vaccine… đến cung ứng lương thực, thực phẩm, hàng hóa thiết yếu, chăm lo bữa ăn, bảo đảm sinh hoạt cho nhân dân và người bệnh.

Cán bộ, chiến sĩ các đơn vị Quân đội đã thể hiện rõ phẩm chất cao quý Bộ đội Cụ Hồ. Sự có mặt kịp thời của các anh đã tiếp thêm cho nhân dân niềm tin, nghị lực, quyết tâm để vượt qua khó khăn, đẩy lùi đại dịch COVID-19.

Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng khi có mặt ở Sân bay Nội Bài (Hà Nội) tiễn và động viên lực lượng quân y tăng cường vào miền Nam chống dịch, đã khẳng định: “Được Chính phủ giao, Quân đội quyết tâm bằng mọi cách, bằng mọi biện pháp, sử dụng mọi lực lượng, với khả năng của mình và vượt cả khả năng của mình, quyết tâm cùng với nhân dân TP Hồ Chí Minh, các tỉnh Bình Dương, Long An, Đồng Nai và các địa bàn có dịch, khắc phục dịch triệt để và đưa cuộc sống của người dân trở lại bình thường”.

Cùng với Quân đội, hàng ngàn cán bộ, chiến sỹ Công an nhân dân đã tiến vào các vùng dịch nguy hiểm nhất ở TP Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam. Nhiệm vụ của họ là tham gia hỗ trợ công tác phòng, chống dịch COVID-19; bảo vệ an ninh trật tự, an toàn xã hội, vì cuộc sống bình an của nhân dân. Trong đợt dịch thứ 4, Bộ Công an là đơn vị đầu tiên khẩn trương thành lập Bộ Chỉ huy tiền phương phụ trách tại phía Nam. Đây là đầu mối để kích hoạt công tác phòng, chống dịch trong lực lượng Công an, xử lý, giải quyết ngay những vấn đề cấp bách phát sinh trong công tác phòng, chống dịch tại địa bàn.

Chia sẻ về lực lượng Công an nhân dân trong cuộc chiến chống dịch, tại lễ khánh thành Bệnh viện dã chiến Phước Lộc, huyện Nhà Bè, hôm 30/8, Trung tướng Nguyễn Duy Ngọc, Thứ trưởng Bộ Công an cho biết: Sau hơn một năm tham gia tuyến đầu chống dịch, hơn 2.000 cán bộ, chiến sĩ đã nhiễm bệnh, 10 người hy sinh.

Thế là rất rõ!

Theo số liệu của Ban Chỉ đạo phòng, chống dịch COVID-19 TP Hồ Chí Minh và Hệ thống Quốc gia quản lý ca bệnh COVID-19 ghi nhận, số ca mắc mới và số ca tử vong do COVID-19 tại địa bàn hiện vẫn rất cao. Đại dịch tiếp tục diễn biến phức tạp, nhưng đang có những tín hiệu lạc quan khi hơn một tuần nay, Thành phố mở chiến dịch "truy vét" các ca mắc COVID-19 trong cộng đồng nhằm "xanh hóa" các vùng nguy cơ, bóc tách sớm F0 để có phương án điều trị phù hợp. Việc đẩy mạnh điều trị người mắc COVID-19 tại nhà cũng đang có biến chuyển mạnh, hiệu quả rõ rệt khi có sự trợ giúp từ lực lượng quân y và lực lượng tình nguyện viên. Phân tích tỷ lệ tử vong trong 7 ngày qua cho thấy, số ca tử vong đã giảm đáng kể bất chấp số lượng ca mắc mới vẫn tăng cao…

Vậy nhưng trên không gian mạng, lại xuất hiện những bài viết với luận điệu xuyên tạc rằng: Quân đội là phải canh gác bảo vệ biên giới; quân đội vào TP Hồ Chí Minh là để trấn áp dân ra đường... Trơ tráo hơn, tổ chức khủng bố Việt Tân đã cắt gắp nhiều hình ảnh xe bọc thép tung lên mạng để xuyên tạc rằng: “Hà Nội huy động lực lượng quân đội vào Sài Gòn để dẹp loạn nếu dân đói làm loạn", "Quân đội hiện diện khắp đường phố Sài Gòn là để răn đe dân chứ không phải chống dịch!”. Tổ chức khủng bố này còn phán rằng: “Suốt mùa dịch người dân chả nhận được sự hỗ trợ nào của Nhà nước”, rồi cuối cùng cũng "lòi ra" âm mưu thâm độc, hòng bôi xấu Đảng, Nhà nước, Quân đội nhân dân Việt Nam.

Lại có kẻ ra rả luận điệu rằng, việc huy động Quân đội tham gia chống dịch COVID-19 là trái Hiến pháp, pháp luật. Từ những lập luận mù mờ, suy diễn một chiều, chúng rêu rao việc sử dụng Quân đội là vì “lý do an ninh, quốc phòng” chứ không vì nhiệm vụ phòng, chống dịch bệnh.

Đằng sau những bài viết: “Chống dịch như chống giặc: Kẽm gai, quân đội, công an, pháo đài… sẽ còn thêm gì nữa?”, “Quân đội đi chợ cho dân, dân sợ mất hồn!”... rõ ràng là luận điệu xuyên tạc, bịa đặt, động cơ chống phá các chủ trương chống dịch, bôi nhọ, hạ thấp uy tín của Đảng, Nhà nước và lực lượng vũ trang nhân dân. Ý đồ sâu xa của chúng là muốn cho Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh, thành phố phía Nam thất bại trong cuộc chiến chống dịch COVID-19, xã hội bạo loạn, từ đó đánh mất sự ổn định của đất nước.

Bọn chúng không một chút quan tâm đến số phận hàng triệu con người và hàng triệu gia đình sẽ ra sao nếu miền Nam “vỡ” vì dịch COVID-19. Bản chất xấu xa của những thế lực thù địch, phản động và những kẻ bất mãn, cơ hội chính trị không bao giờ thay đổi. Chúng luôn tìm mọi thủ đoạn nhằm chống phá, làm suy yếu sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước và gây rối loạn đất nước Việt Nam. Mỗi thành quả mà toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đạt được, đều khiến những kẻ này thêm cay cú và bằng mọi thủ đoạn để chống phá.

Nhưng cũng từ trong nỗ lực phòng, chống đại dịch COVID-19, chúng ta lại càng thấy rõ và hiểu hơn nghĩa đồng bào, tinh thần đoàn kết, sẻ chia, thương yêu giúp đỡ lẫn nhau của người Việt Nam trên mọi miền đất nước. Khi các tỉnh, thành phố phía Bắc chịu ảnh hưởng của dịch thì Quân đội nhân dân, cùng Công an nhân dân, ngành Y tế và các địa phương cả nước, trong đó có Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh, thành phố phía Nam khẩn trương giúp đỡ tích cực, hiệu quả.

Nay miền Nam đối diện với những khó khăn chồng chất bởi đại dịch thì đương nhiên, cả nước lại hướng về miền Nam ruột thịt. Trong đó, Quân đội luôn khẳng định vai trò của "Đội quân chiến đấu - Đội quân công tác - Đội quân lao động sản xuất", là lực lượng nòng cốt, xung kích đi đầu trong phòng, chống thiên tai, dịch bệnh, cứu hộ, cứu nạn, khắc phục sự cố môi trường. Trong những nỗ lực phòng, chống đại dịch COVID-19, cán bộ, chiến sĩ toàn quân thực sự là chỗ dựa vững chắc, tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân, xứng đáng là Quân đội của nhân dân, Quân đội trong lòng dân.

Với tinh thần đoàn kết, thống nhất, quyết tâm cao, chắc chắn toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta sẽ vượt qua mọi trở ngại, chiến thắng đại dịch COVID-19. Đất nước sẽ thực hiện tốt nhất Lời kêu gọi phòng, chống đại dịch COVID -19 của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, ngày 29/7/2021, với tin tưởng sâu sắc rằng "Cả nước góp sức, toàn Đảng, toàn dân đồng lòng, thống nhất ý chí và hành động, cùng với sự giúp đỡ chí tình của đồng bào ta ở nước ngoài và bạn bè quốc tế, nhất định chúng ta sẽ chiến thắng đại dịch COVID-19 và phải chiến thắng cho bằng được, góp phần xứng đáng vào sự nỗ lực chung của toàn nhân loại vì một thế giới an toàn, lành mạnh, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và thịnh vượng, xứng đáng với truyền thống anh hùng vẻ vang của Đất nước ta, Dân tộc ta!”.

Nguồn: Hạnh Quỳnh (TTXVN)

Thứ Sáu, 6 tháng 8, 2021

TRẬT TỰ THẾ GIỚI ĐANG THAY ĐỔI

Trên thế giới, hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn, dòng chảy chính và lợi ích chung của các nước. Tuy nhiên, thế giới vẫn phải đối mặt với những thách thức an ninh, những vấn đề phức tạp, trong đó có sự cạnh tranh chiến lược giữa các nước, nhất là các nước lớn. Tương quan lực lượng trên thế giới đang phát triển và thay đổi nhanh chóng, sự khác biệt về lợi ích chiến lược giữa các nước lớn, những biến động trong công nghệ và kỹ thuật số, tình hình chính trị nội bộ các nước, cùng những tác động qua lại phức tạp giữa các yếu tố này. Cùng với đó là sự trỗi dậy đồng thời của chủ nghĩa dân túy, cánh hữu và cực đoan, hành xử nước lớn theo lối chính trị cường quyền, áp đặt, vị kỷ, bỏ qua lợi ích chính đáng, hợp pháp của các nước khác, cũng như lợi ích chung của khu vực và cộng đồng quốc tế. Bên cạnh đó, tình trạng ô nhiễm môi trường và biến đổi khí hậu ngày càng trầm trọng. Cục diện thế giới tồn tại từ trước đến nay đang đứng trước nguy cơ bị phá vỡ.

Thứ Năm, 18 tháng 3, 2021

THẮT CHẶT QUAN HỆ ĐOÀN KẾT, HỮU NGHỊ ĐẶC BIỆT VÀ HỢP TÁC TOÀN DIỆN VIỆT NAM - CU BA

Sáng 16/3, Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh đã điện đàm với Bộ trưởng Ngoại giao Cuba Bruno Rodriguez Parrilla để trao đổi về phương hướng, biện pháp tiếp tục tăng cường mối quan hệ hữu nghị, hợp tác đặc biệt giữa hai nước.

Tại cuộc điện đàm, Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Phạm Bình Minh đã chuyển lời thăm hỏi của Lãnh đạo Cấp cao của Đảng, Nhà nước và Chính phủ Việt Nam tới Lãnh đạo Cấp cao của Đảng, Nhà nước và Chính phủ Cuba; khẳng định lập trường nhất quán của Việt Nam luôn đứng bên cạnh đoàn kết và ủng hộ Cuba.

Bộ trưởng Bruno bày tỏ Cuba coi trọng và mong muốn làm sâu sắc hơn nữa mối quan hệ truyền thống đặc biệt và hợp tác toàn diện với Việt Nam, đánh giá cao các nỗ lực của Việt Nam đối phó với dịch Covid-19, đồng thời duy trì đà tăng trưởng kinh tế.

Hai bên đánh giá cao kết quả của phiên Tham khảo chính trị lần thứ VI cấp Thứ trưởng Ngoại giao vừa được thực hiện theo hình thức trực tuyến ngày 2/3/2021, qua đó thống nhất được một chương trình hợp tác song phương toàn diện, thiết thực.

Hai Bộ trưởng Ngoại giao khẳng định quyết tâm triển khai các cam kết cấp cao nhằm thắt chặt quan hệ đoàn kết, hữu nghị đặc biệt và hợp tác toàn diện Việt Nam – Cuba, triển khai hiệu quả chương trình nghị sự song phương năm 2021, trong đó tăng cường trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm và tham vấn về các vấn đề cùng quan tâm; phối hợp chặt chẽ và ủng hộ lẫn nhau tại các tổ chức quốc tế và diễn đàn đa phương./.

Thứ Ba, 19 tháng 1, 2021

CUỘC ĐÀM PHÁN QUAN TRỌNG VỀ VỊNH BẮC BỘ VÀ BIỂN ĐÔNG

Việt Nam và Trung Quốc tổ chức đàm phán vòng XIV Nhóm công tác về vùng biển ngoài cửa vịnh Bắc Bộ, và vòng XI Nhóm công tác bàn bạc về hợp tác cùng phát triển trên Biển Đông.

Ngày 7-1, Việt Nam và Trung Quốc tổ chức đàm phán trực tuyến vòng XIV Nhóm công tác về vùng biển ngoài cửa vịnh Bắc Bộ, và vòng XI Nhóm công tác bàn bạc về hợp tác cùng phát triển trên biển Việt Nam – Trung Quốc.

Trưởng nhóm công tác phía Việt Nam là ông Nguyễn Đăng Thắng – vụ trưởng, Ủy ban Biên giới quốc gia, Bộ Ngoại giao Việt Nam.

Trưởng nhóm công tác phía Trung Quốc là ông Dương Nhân Hỏa – đại diện các vấn đề biên giới và biển, Bộ Ngoại giao Trung Quốc.

“Trong bầu không khí hữu nghị, thẳng thắn và xây dựng, hai bên đã trao đổi ý kiến về các công việc của hai nhóm công tác; nhất trí căn cứ lộ trình đã thống nhất tiếp tục thúc đẩy đàm phán phân định vùng biển ngoài cửa vịnh Bắc Bộ và hợp tác cùng phát triển tại Biển Đông đạt tiến triển tích cực theo đúng quy định của luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển (UNCLOS) năm 1982 mà hai nước đều là thành viên”, Bộ Ngoại giao Việt Nam thông tin.

Hai bên cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tuân thủ nghiêm túc các nhận thức chung của lãnh đạo cấp cao hai Đảng, hai nước về việc xử lý thỏa đáng vấn đề trên biển và Thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển Việt Nam – Trung Quốc, kiểm soát bất đồng, không có các hành động làm phức tạp tình hình, mở rộng tranh chấp, giữ gìn hòa bình, ổn định trên biển.

Hai bên nhất trí tiếp tục tổ chức đàm phán vòng XV Nhóm công tác về vùng biển ngoài cửa vịnh Bắc Bộ và vòng XII Nhóm công tác bàn bạc về hợp tác cùng phát triển trên biển Việt Nam - Trung Quốc vào thời điểm phù hợp do hai bên thỏa thuận qua đường ngoại giao.

Thứ Ba, 12 tháng 1, 2021

TỔNG PHẢN CÔNG, CÙNG QUÂN DÂN CAMPUCHIA ĐÁNH ĐỔ CHẾ ĐỘ DIỆT CHỦNG

Bị thiệt hại nặng nhưng do được hỗ trợ về vũ khí, trang bị và cố vấn quân sự từ bên ngoài, quân Pôn Pốt lại tiếp tục chuẩn bị lực lượng, tập trung quân về biên giới Việt Nam. Tháng 1-1978, Pôn Pốt đưa thêm 2 sư đoàn ra biên giới, tiếp tục gây xung đột, liên tục tiến công lấn chiếm, bắn pháo vào những nơi đông dân cư, gây nhiều tội ác với đồng bào ta.

Trước tình hình đó, Bộ Tổng tham mưu điều động Sư đoàn 341 (Quân đoàn 4) tăng cường cho Quân khu 9, sẵn sàng chiến đấu; đồng thời ra lệnh cho các đơn vị ta trên toàn tuyến biên giới Tây Nam nâng cao cảnh giác, thực hiện phòng ngự tích cực để hỗ trợ cho Đảng, Nhà nước ta thực hiện đấu tranh chính trị và ngoại giao.

Ngày 5-2-1978, Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra tuyên bố ba điểm: (1) Chấm dứt mọi hoạt động quân sự, rút lực lượng vũ trang cách biên giới 5km; (2) Hội đàm tiến tới ký hiệp ước hữu nghị và không xâm lược, ký hiệp ước về biên giới; (3) Thoả thuận về một hình thức thích hợp bảo đảm thông lệ quốc tế và giám sát quốc tế.

Phớt lờ thiện chí của ta, quân Pôn Pốt tiếp tục huy động lực lượng áp sát biên giới và cho quân tiến công, xâm nhập nhiều điểm trên địa phận nước ta; lực lượng của ta đã kiên quyết đánh trả, giành lại các khu vực bị lấn chiếm.

Từ ngày 26-3-1978, các đơn vị Quân đội ta chuyển sang tiến công, đẩy quân Pôn Pốt lùi xa dần biên giới và dồn đối phương vào thế bị động, đối phó. Đòn phản công quyết liệt của Việt Nam trên tất cả các mặt trận quân sự, chính trị, ngoại giao đã đẩy quân Pôn Pốt vào tình thế khó khăn và tác động lớn đến tình hình chính trị nội bộ Campuchia; đồng thời hỗ trợ trực tiếp cho phong trào nổi dậy của lực lượng cách mạng Campuchia phát triển, đỉnh cao là cuộc nổi dậy từ ngày 26-5-1978 ở Quân khu Đông, làm suy yếu một bộ phận lực lượng quân Pôn Pốt. Lực lượng cách mạng Campuchia đã lập được những khu căn cứ du kích có điều kiện thuận lợi về nhiều mặt, nhất là những khu căn cứ gần Việt Nam, từng bước hình thành sự chỉ đạo thống nhất.

Ngày 15-6-1978, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương họp bàn về chống lại cuộc chiến tranh xâm lược ở biên giới Tây Nam và tình hình căng thẳng ở biên giới phía Bắc, trong đó quyết định phát động chiến tranh nhân dân, kiên quyết phản công và tiến công địch một cách chủ động, liên tục bằng mọi lực lượng, với các quy mô nhỏ, vừa và lớn, đánh địch cả trong và ngoài biên giới, tiêu diệt, tiêu hao và làm tan rã một bộ phận quan trọng sinh lực địch.

Sau cuộc nổi dậy của lực lượng cách mạng Campuchia ở Quân khu Đông ngày 26-5-1978, quân Pôn Pốt vừa ráo riết thanh trừng nội bộ, vừa phải đối phó với lực lượng cách mạng Campuchia vẫn đang tiếp tục hoạt động ở nhiều nơi. Để hỗ trợ cho lực lượng cách mạng Campuchia tồn tại và phát triển, tạo thế cho hoạt động của ta vào mùa khô 1979, từ ngày 14-6 đến 30-9-1978, ta sử dụng Quân đoàn 3, Quân đoàn 4 và 2 sư đoàn (thuộc Quân khu 7), 2 sư đoàn (thuộc Quân khu 5) mở tiếp đợt tiến công lớn trên các hướng đường 1, đường 7, vùng giáp biên giới Tây Ninh và đường 19 kéo dài nhằm tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch, tiến tới làm suy yếu một bước lực lượng quân Pôn Pốt.

Do bị bất ngờ hoàn toàn về thời gian, quy mô và phương thức hoạt động của ta, quân Pôn Pốt rơi vào thế bị động, ngay ngày đầu đã bị ta đánh thiệt hại và tê liệt một số sư đoàn. Cuộc tiến công của ta đã hỗ trợ kịp thời cho lực lượng cách mạng Campuchia ở Quân khu Đông, buộc quân Pôn Pốt bị động đối phó trên cả 2 mặt trận biên giới và nội địa. Ở nhiều khu vực quan trọng, lực lượng nổi dậy đã lập được căn cứ, dựa vào dân để phát triển lực lượng. Phối hợp với lực lượng cách mạng Campuchia trong đợt tiến công này, ta loại khỏi vòng chiến đấu 6 sư đoàn, làm suy yếu nghiêm trọng lực lượng chủ lực quân Pôn Pốt, đẩy lùi hầu hết quân Pôn Pốt ra khỏi đất Việt Nam.

Trong thời gian từ tháng 5 đến tháng 11-1978, Việt Nam đã giúp lực lượng vũ trang cách mạng Campuchia phát triển được 15 tiểu đoàn, 5 khung tiểu đoàn, 24 đội công tác, xây dựng được các tổ chức đảng, chuẩn bị thành lập mặt trận và bộ máy lãnh đạo. Với sự giúp đỡ của Việt Nam, ngày 2-12-1978, tại vùng giải phóng thuộc xã Chơng Th’nu, huyện Snuol, tỉnh Kratié (Campuchia), Mặt trận Đoàn kết dân tộc cứu nước Campuchia ra mắt nhân dân Campuchia, công bố cương lĩnh cách mạng 11 điểm, trong đó nêu rõ quyết tâm đoàn kết, tập hợp mọi lực lượng yêu nước nổi dậy đánh đổ tập đoàn phản động Pôn Pốt, xóa bỏ chế độ diệt chủng tàn ác, thiết lập chế độ dân chủ nhân dân; khẳng định tăng cường tình đoàn kết với nhân dân Việt Nam và nhân dân yêu chuộng hòa bình, công lý trên thế giới; kêu gọi chính phủ các nước, các tổ chức quốc tế giúp đỡ mọi mặt cho cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân Campuchia.

Phát hiện quân Pôn Pốt có ý định tập trung 5 sư đoàn và 4 trung đoàn tiến công đánh chiếm Tây Ninh, sau đó sẽ mở rộng địa bàn đánh chiếm lãnh thổ Việt Nam, ngày 6 và 7-12-1978, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương thông qua quyết tâm tổng phản công- tiến công chiến lược tiêu diệt quân địch, hoàn thành cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam của Tổ quốc; đồng thời sẵn sàng hỗ trợ lực lượng vũ trang cách mạng Campuchia nổi dậy đánh đổ tập đoàn Pôn Pốt diệt chủng, giành chính quyền về tay nhân dân.

Phát hiện sự chuẩn bị của ta, quân Pôn Pốt tập trung phần lớn lực lượng chủ lực bố trí dọc biên giới với Việt Nam, toàn bộ phía sau hầu như trống rỗng. Ngày 23-12-1978, quân Pôn Pốt huy động 10 trong số 19 sư đoàn đang bố trí ở biên giới mở cuộc tiến công trên toàn tuyến biên giới Tây Nam nước ta.

Trước hành động xâm lược của quân Pôn Pốt và đáp lời kêu gọi khẩn thiết của Mặt trận Đoàn kết dân tộc cứu nước Campuchia, ngày 23-12-1978, Quân tình nguyện Việt Nam cùng với lực lượng vũ trang cách mạng Campuchia mở cuộc tổng phản công- tiến công trên toàn tuyến biên giới. Ngày 26-12-1978, toàn bộ hệ thống phòng thủ vòng ngoài của quân Pôn Pốt bị phá vỡ. Đến ngày 31-12-1978, quân và dân ta đã hoàn thành nhiệm vụ đánh đuổi quân Pôn Pốt, thu hồi toàn bộ chủ quyền lãnh thổ của Tổ quốc bị kẻ thù lấn chiếm. Ngày 2-1-1979, ba cụm quân chủ lực của Pôn Pốt, mỗi cụm 5 sư đoàn, án ngữ các trục đường tiến về Phnôm Pênh (đường 1, đường 7 và đường 2) cơ bản bị tiêu diệt và tan rã. Ngày 5 và 6-1-1979, trên tất cả các hướng, quân Pôn Pốt không cản được Quân tình nguyện Việt Nam truy kích và tiến sát Thủ đô Phnôm Pênh. Ngày 6-1-1979, Quân tình nguyện Việt Nam và lực lượng vũ trang của Mặt trận Đoàn kết dân tộc cứu nước Campuchia bắt đầu tổng công kích vào Thủ đô Phnôm Pênh. Sau 2 ngày tổng công kích, ngày 7-1-1979, Thủ đô Phnôm Pênh hoàn toàn được giải phóng. Ngày 8-1-1979, Hội đồng nhân dân cách mạng Campuchia được thành lập và ra tuyên bố: Xóa bỏ hoàn toàn chế độ diệt chủng của tập toàn Pôn Pốt, thành lập chế độ Cộng hòa nhân dân Campuchia. Việt Nam cùng nhiều nước đã công nhận nước Cộng hòa nhân dân Campuchia. Ngày 17-1-1979, toàn bộ đất nước Campuchia được giải phóng; phần lớn lực lượng Pôn Pốt bị tiêu diệt và tan rã, số còn lại lẩn trốn vào rừng trên tuyến biên giới phía Tây, Tây Bắc Campuchia.

Từ ngày 23-12-1978 đến 17-1-1979, Quân tình nguyện Việt Nam cùng với lực lượng vũ trang cách mạng Campuchia đã tiêu diệt và làm tan rã 18 sư đoàn quân Pôn Pốt, diệt 12 nghìn tên, bắt 8.800 tên, gọi hàng 3.200 tên và làm tan rã tại chỗ 44 nghìn tên; giải phóng trên 4 triệu dân Campuchia, thu hồi toàn bộ cơ sở vật chất và phương tiện kỹ thuật quân sự của quân Pôn Pốt; đập tan bộ máy thống trị của tập đoàn phản động Pôn Pốt từ trung ương đến cơ sở.

Trong thời gian gần hai năm chiến tranh, quân Pôn Pốt giết hại và bắt hơn 30 nghìn dân thường tại các xã biên giới của Việt Nam, 400 nghìn người dân mất nhà cửa, trên 3 nghìn nhà bị bỏ hoang; nhiều nhà thờ, trường học, chùa chiền bị chúng đốt phá...

Thắng lợi trong cuộc đấu tranh bảo vệ biên giới Tây Nam của Tổ quốc có ý nghĩa rất to lớn đối với Việt Nam: Một lần nữa khẳng định nhân dân Việt Nam với ý chí độc lập, tự chủ và tinh thần đại đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế trong sáng, sẵn sàng đập tan bất kỳ âm mưu và hành động chống phá nào của các thế lực phản động, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; đồng thời thể hiện tinh thần quốc tế cao cả, mối quan hệ truyền thống gắn bó thủy chung, lâu đời, sự giúp đỡ trong sáng, chí nghĩa, chí tình của Đảng, Nhà nước, Quân đội và nhân dân Việt Nam đối với nhân dân Campuchia.

Chiến thắng ngày 7-1-1979 có ý nghĩa lịch sử đặc biệt to lớn đối với vận mệnh đất nước Campuchia: Đã xóa bỏ hoàn toàn chế độ diệt chủng của tập toàn Pôn Pốt, thành lập chế độ Cộng hòa nhân dân Campuchia; cứu nhân dân Campuchia ra khỏi thảm họa diệt chủng, giành lại quyền được sống, quyền làm người và bước vào kỷ nguyên độc lập, tự do thật sự, hồi sinh đất nước và dân tộc, xây dựng cuộc sống hòa bình, tươi đẹp.

Thắng lợi vĩ đại ngày 7-1-1979 cũng là thắng lợi chung của nhân dân hai nước Việt Nam - Campuchia, thể hiện sức mạnh của tinh thần đoàn kết quốc tế, sự thủy chung, trọn nghĩa vẹn tình giữa hai dân tộc Việt Nam - Campuchia. Với thắng lợi ngày 7-1-1979, quan hệ hai nước Việt Nam- Campuchia chuyển sang thời kỳ mới- thời kỳ khôi phục, vun đắp tình đoàn kết, hữu nghị truyền thống và hợp tác toàn diện giữa hai nước dựa trên nguyên tắc hòa bình, tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, tôn trọng lợi ích chính đáng của nhau vì sự phát triển và phồn vinh của mỗi nước. Chiến thắng chế độ diệt chủng Pôn Pốt đã góp phần giữ vững hoà bình, ổn định ở khu vực Đông Nam Á và trên thế giới; đấu tranh vạch trần bản chất của chế độ phân biệt chủng tộc, sắc tộc, chế độ độc tài và cảnh báo cho nhân loại cảnh giác trước nguy cơ của chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi và chủ nghĩa phát xít mới.

Thứ Năm, 10 tháng 12, 2020

HIỆN THỰC HÓA QUYỀN CON NGƯỜI BẰNG NHỮNG CHÍNH SÁCH THIẾT THỰC, VIỆC LÀM NHÂN VĂN

1. Quyền con người là giá trị phổ quát của nhân loại và được hầu hết các quốc gia trên thế giới thừa nhận, trong đó có Việt Nam. Tuy vậy, khi nhìn nhận vấn đề quyền con người, quyền công dân cần phải có quan điểm khách quan, toàn diện gắn với thể chế chính trị, lịch sử, văn hóa truyền thống và điều kiện kinh tế-xã hội của mỗi quốc gia dân tộc. Không nên xem xét, nhận định quyền con người, quyền công dân theo con mắt “thầy bói xem voi”, chỉ nhìn thấy vài ba hiện tượng bên ngoài rồi đánh giá thành bản chất. Vì cách nhìn nhận hẹp hòi, thiên kiến như vậy có thể tạo ra mâu thuẫn, xung khắc giữa chủ thể nhận định, đánh giá và đối tượng bị nhận định, đánh giá, từ đó gây bất lợi cho việc củng cố mối quan hệ hòa bình, hữu nghị, hợp tác, phát triển giữa các quốc gia trên thế giới.

Là một nước đang phát triển, Việt Nam luôn thiện chí hợp tác với các quốc gia, các tổ chức quốc tế nhằm không ngừng cải thiện, bảo đảm những quyền cơ bản, chính đáng của con người. Nhưng chúng ta không chấp nhận một số tổ chức phi chính phủ ở nước ngoài như: Theo dõi nhân quyền thế giới (HRW), Phóng viên không biên giới (RSF) thường xuyên có cái nhìn sai trái, nhận định rất thiếu khách quan về tình hình dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam. Mặt khác, chúng ta cũng đề cao cảnh giác, kiên quyết vạch trần, lên án những phần tử có tư tưởng thâm thù với chế độ, cũng như các đối tượng đội lốt “đấu tranh vì dân chủ, nhân quyền” nhưng lại có lời lẽ đơm đặt, bôi nhọ những giá trị cơ bản của quyền con người chân chính và rêu rao xuyên tạc Đảng, Nhà nước Việt Nam không tôn trọng, bảo đảm quyền con người nhằm mưu đồ chống phá cách mạng Việt Nam.

2. Khi nói đến một thể chế chính trị tiến bộ, một quốc gia văn minh, thì không thể không nói đến thể chế chính trị, quốc gia đó có quan tâm đến việc bảo đảm những quyền cơ bản của con người hay không. Chế độ chính trị XHCN mà Việt Nam đang nỗ lực xây dựng, thực hiện là một chế độ của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Vì vậy, từ khi lập quốc theo thể chế dân chủ XHCN đến nay, Việt Nam đã kiên trì theo đuổi mục tiêu không ngừng thúc đẩy, bảo vệ và bảo đảm quyền con người cho mọi người dân.

Tuy không phải là quốc gia đầu tiên đề ra các vấn đề về quyền cơ bản của con người, nhưng Việt Nam là một trong số ít quốc gia sớm tiếp cận về quyền con người. Trong bản Tuyên ngôn Độc lập khai sinh nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa ngày 2-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tuyên bố: “Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”. Như vậy, thông qua khẳng định các giá trị của một dân tộc là quyền bình đẳng, quyền sống, quyền sung sướng, quyền tự do, Chủ tịch Hồ Chí Minh muốn nhấn mạnh quyền con người chỉ thực sự được bảo đảm khi gắn liền với quyền độc lập, tự do của dân tộc.

Quốc hiệu Việt Nam từ khi thành lập chính quyền cách mạng đến nay cũng nhất quán một khẩu hiệu: “Độc lập-Tự do-Hạnh phúc”. Điều đó có nghĩa là, mục tiêu trước sau như một mà cả dân tộc Việt Nam kiên trì thực hiện là bảo đảm dân tộc độc lập, dân quyền tự do, dân sinh hạnh phúc.

Nếu bản “Tuyên ngôn thế giới về quyền con người” mà Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 10-12-1948, trong đó vấn đề hàng đầu mà tuyên ngôn này khuyến nghị cộng đồng quốc tế và các quốc gia dân tộc phải thực hiện là bảo đảm “Tự do, công lý và hòa bình”; thì vấn đề quyền tự do trong bản Tuyên ngôn Độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được nêu ra trước 3 năm so với bản “Tuyên ngôn thế giới về quyền con người”. Nhắc lại điều đó để thấy, với tầm nhìn vượt thời đại của mình, lãnh tụ Hồ Chí Minh đã thay mặt nhân dân và dân tộc Việt Nam khẳng định Việt Nam luôn tôn trọng các giá trị quyền con người và cam kết thực hiện quyền con người trước cộng đồng quốc tế ngay từ khi thành lập chính quyền cách mạng công nông đầu tiên ở Đông Nam Á.

Qua nhiều lần xây dựng, sửa đổi Hiến pháp, từ các bản Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1980, Hiến pháp năm 1992 đến Hiến pháp năm 2013 luôn giữ một vấn đề căn cốt là hiến định các quyền con người và quyền công dân. Trong đó, Hiến pháp năm 2013 đã thiết kế một chương về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Ngay sau Điều 1 hiến định về chủ quyền địa lý, Điều 2 Hiến pháp năm 2013 đã khẳng định nguyên tắc chủ quyền tối cao thuộc về nhân dân, đó là: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân”. Cũng lần đầu tiên, chữ “Nhân Dân” được viết hoa trong bản Hiến pháp để nhấn mạnh đến vị trí, vai trò quyết định của nhân dân trong tiến trình lịch sử và sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc. Trong giai đoạn 2014-2019, Nhà nước Việt Nam đã ban hành hơn 100 văn bản luật và pháp lệnh liên quan đến việc bảo đảm quyền con người, quyền công dân.

Thứ Ba, 8 tháng 12, 2020

EU – ASEAN NÂNG CẤP QUAN HỆ LÊN ĐỐI TÁC CHIẾN LƯỢC

Ngày 1-12, Phó thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Bình Minh, đại diện cho Việt Nam trong vai trò Chủ tịch ASEAN, đã tham dự Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN-EU lần thứ 23 theo hình thức trực tuyến.

Hội nghị có sự tham dự của các Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN, Tổng Thư ký ASEAN, Bộ trưởng Ngoại giao các nước thành viên Liên minh châu Âu (EU), cùng với Phó Chủ tịch Ủy ban châu Âu, đại diện Cấp cao EU về Chính sách Đối ngoại và An ninh. Hai bên đã đưa ra quyết định quan trọng chính thức nâng cấp quan hệ ASEAN - EU lên Đối tác chiến lược sau quyết định về nguyên tắc được đưa ra tại Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN - EU lần thứ 22 vào tháng 1-2019.

ASEAN và EU tiếp tục khẳng định tầm quan trọng của mối quan hệ “đối tác trong liên kết” giữa hai tổ chức khu vực được đánh giá là thành công nhất, cam kết mạnh mẽ tăng cường phối hợp, thúc đẩy hợp tác đa phương khu vực và quốc tế, trên cơ sở chia sẻ các giá trị, lợi ích chung về một trật tự quốc tế dựa trên luật lệ. ASEAN đánh giá cao EU là đối tác quan trọng hàng đầu của ASEAN.

Trong thời gian tới, hai bên nhất trí tiếp tục phối hợp chặt chẽ trong kiểm soát, đẩy lùi đại dịch Covid-19, khắc phục các tác động của dịch bệnh và đẩy mạnh phục hồi. ASEAN hoan nghênh EU triển khai chương trình trị giá 800 triệu Euro hỗ trợ ASEAN phòng ngừa dịch bệnh, đề nghị EU tích cực ủng hộ Quỹ ASEAN Ứng phó Covid-19, Kho dự phòng vật tư y tế khẩn cấp của ASEAN và hỗ trợ ASEAN triển khai Khung phục hồi tổng thể ASEAN.

Tại Hội nghị, EU công bố sáng kiến mới triển khai Chương trình hỗ trợ y tế sẵn sàng ứng phó đại dịch tại Đông Nam Á trong khuôn khổ gói trợ giúp trị giá 350 triệu Euro của EU dành cho ASEAN nhằm hỗ trợ nâng cao năng lực y tế điều phối, ứng phó dịch bệnh tại khu vực. Các Bộ trưởng đã thông qua Tuyên bố chung ASEAN-EU về Kết nối, trên cơ sở thúc đẩy gắn kết Kế hoạch tổng thể về Kết nối ASEAN 2025 và Chiến lược kết nối Á-Âu của EU.

Trao đổi về tình hình quốc tế và khu vực, các Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN và EU đều nhất trí cần bảo đảm một môi trường hòa bình, an ninh và ổn định trong khu vực, tạo thuận lợi cho các nước tập trung nỗ lực ứng phó đại dịch Covid-19, đồng thời chia sẻ tầm nhìn và khẳng định cam kết đề cao luật pháp quốc tế, thúc đẩy chủ nghĩa đa phương, xây dựng trật tự khu vực và quốc tế dựa trên luật lệ, tăng cường hợp tác giải quyết các thách thức toàn cầu, hỗ trợ thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững.

Các nước khẳng định tầm quan trọng của việc duy trì hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn, tự do hàng hải và hàng không tại Biển Đông, tuyến hàng hải huyết mạch của thế giới, là nơi chiếm tới 40% lượng hàng hóa của EU đi qua; ủng hộ thúc đẩy đối thoại và xây dựng lòng tin, tự kiềm chế, không tiến hành các hoạt động làm phức tạp thêm tình hình hay gia tăng tranh chấp, không quân sự hóa, giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, trên cơ sở luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS) 1982; ủng hộ các nỗ lực sớm nối lại đàm phán nhằm đạt được Bộ Quy tắc Ứng xử ở Biển Đông (COC) hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với luật pháp quốc tế, UNCLOS 1982, nhấn mạnh khung khổ pháp lý cho mọi hoạt động trên biển và đại dương.

Phát biểu tại Hội nghị, Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh khẳng định, Việt Nam ủng hộ chính thức nâng cấp quan hệ ASEAN-EU lên Đối tác chiến lược. Phó Thủ tướng hoan nghênh EU ủng hộ vai trò trung tâm và đoàn kết của ASEAN trong định hình cấu trúc khu vực rộng mở, minh bạch, bao trùm và dựa trên luật lệ, với các cơ chế do ASEAN chủ trì là nền tảng, đóng góp duy trì hòa bình, an ninh, ổn định và thượng tôn pháp luật ở khu vực.

Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh đề nghị EU, với kinh nghiệm liên kết khu vực được ghi nhận, tích cực hợp tác, chia sẻ kinh nghiệm, hỗ trợ ASEAN trong thu hẹp khoảng cách phát triển, gắn kết các tiểu vùng với tiến trình phát triển chung của ASEAN, hướng tới phát triển đồng đều và bền vững.

Chia sẻ ý kiến đánh giá của các nước về tình hình Biển Đông, Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh khẳng định quan điểm của Việt Nam phù hợp với lập trường nguyên tắc của ASEAN được khẳng định tại Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 36, tháng 6-2020, Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN lần thứ 53, tháng 9-2020 cũng như tại Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 37, tháng 11-2020, đề nghị các quốc gia cùng đề cao tinh thần hợp tác và trách nhiệm xây dựng Biển Đông thành vùng biển của hòa bình, ổn định và hợp tác.

Chủ Nhật, 2 tháng 2, 2020

KHÔNG THAM GIA LIÊN MINH QUÂN SỰ ĐI VỚI NƯỚC NÀY, CHỐNG NƯỚC KIA CỦA VIỆT NAM LÀ PHÙ HỢP VỚI XU THẾ PHÁT TRIỂN HÒA BÌNH THẾ GIỚI


Điều này hoàn toàn đúng đắn. Xu thế chủ đạo của thế giới hiện nay là: Hòa bình, hợp tác và phát triển. Trong đó, hòa bình là mục tiêu, đồng thời là giá trị chung của cộng đồng quốc tế, khát vọng vĩnh hằng của nhân loại tiến bộ. Ngay kể cả các cường quốc, vốn trước đây đã trà đạp, xâm phạm, phá hoại nền hòa bình thế giới thì nay cũng rất cần môi trường hòa bình để hợp tác và phát triển đất nước. Không có môi trường hòa bình, thì không thể hợp tác và theo đó, không thể phát triển, vì lợi ích quốc gia dân tộc.
Việt Nam là một thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, phải có trách nhiệm chung tay giữ vững môi trường hòa bình để hợp tác, phát triển. Vì thế, “Chính sách Quốc phòng của Việt Nam mang tính chất hòa bình và tự vệ; kiên quyết, kiên trì đấu tranh giải quyết mọi tranh chấp, bất đồng bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế”.

KHÔNG PHẢI CỨ THAM GIA LIÊN MINH QUÂN SỰ, HOẶC LÀ ĐỒNG MINH QUÂN SỰ VỚI MỘT QUỐC GIA, MỘT TỔ CHỨC QUÂN SỰ NÀO ĐÓ MỚI TRANH THỦ VÀ TẬN DỤNG ĐƯỢC SỨC MẠNH TỪ BÊN NGOÀI

Xét ở một khía cạnh nào đó thì có thể thấy rằng nếu chúng ta tham gia liên minh quân sự, hoặc là đồng minh quân sự với một quốc gia, một tổ chức quân sự nào đó thì vẫn có thể tranh thủ và tận dụng được sức mạnh từ bên ngoài để tăng cường sức mạnh cho đất nước. Việt Nam không tham gia liên minh quân sự, không là đồng minh quân sự với bất kỳ quốc gia, hoặc tổ chức quân sự nào, không có nghĩa là chúng ta đóng cửa, khép kín không quan hệ, liên kết, hợp tác với ai trong lĩnh vực quốc phòng, quân sự, an ninh. Đảng ta đã có chủ trương về hội nhập quốc tế trên lĩnh vực quốc phòng; đối ngoại quốc phòng, đối ngoại quân sự, hợp tác quân sự. Thông qua đó, chúng ta vẫn có thể tranh thủ và tận dụng được sức mạnh từ bên ngoài để tăng cường sức mạnh quốc gia, bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Trong Sách Trắng Quốc phòng Việt Nam 2019 khẳng định: “Tăng cường hợp tác quốc phòng với các nước để nâng cao khả năng bảo vệ đất nước và giải quyết các thách thức an ninh chung. Tùy theo diễn biến của tình hình và trong những điều kiện cụ thể, Việt Nam sẽ cân nhắc phát triển các mối quan hệ quốc phòng, quân sự cần thiết với mức độ thích hợp trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của nhau cũng như các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, hợp tác cùng có lợi, vì lợi ích chung của khu vực và cộng đồng quốc tế”. Mặt khác, “Việt Nam không chấp nhận hợp tác quốc phòng dưới áp lực hoặc bất kỳ điều kiện cưỡng chế nào”.