Hiển thị các bài đăng có nhãn đoàn kết. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn đoàn kết. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 12 tháng 3, 2024

PHÊ PHÁN LUẬN ĐIỆU CHO RẰNG, CÁC DÂN TỘC Ở VIỆT NAM KHÔNG CÓ SỰ ĐOÀN KẾT, THỐNG NHẤT.

Hiện nay, các thế lực thù địch đang triệt để lợi dụng vấn đề dân tộc chống phá cách mạng việt Nam, trong đó chúng tuyên truyền, xuyên tạc đặc điểm các dân tộc Việt Nam và cho rằng các dân tộc ở Việt Nam phân tán, biệt lập, không có sự đoàn kết, thống nhất. Thực tiễn đặc điểm các dân tộc Việt Nam đã hoàn toàn bác bỏ luận điệu đó, thể hiện trên các nội dung sau:

Việt Nam là quốc gia đa tộc người; có truyền thống đoàn kết trong đấu tranh dựng nước và giữ nước, xây dựng cộng đồng dân tộc thống nhất. Việt Nam có 54 tộc người. Các dân tộc nước ta có truyền thống đoàn kết trong đấu tranh dựng nước và giữ nước, khối đại đoàn kết dân tộc không ngừng được củng cố, mở rộng và nâng cao. Tính thống nhất quốc gia đa tộc người được thể hiện trên mọi lĩnh vực đời sống của quốc gia dân tộc. Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, lãnh đạo cách mạng, các dân tộc trên đất nước ta đã phát huy cao độ truyền thống đoàn kết, là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng.

Các dân tộc cư trú đan xen, có mối giao lưu mật thiết từ sớm và ngày càng được tăng cường. Xuyên suốt tiến trình lịch sử dựng nước và giữ nước, các dân tộc nước ta cư trú đan xen, cài răng lược trong phạm vi của tỉnh, huyện, xã và cả các ấp, bản, mường. Đồng bào dân tộc thiểu số chủ yếu ở  các vùng rừng núi, biên giới, có vị trí chiến lược về mọi mặt. Ở Việt Nam không có dân tộc nào có lãnh thổ riêng. Hiện nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng, trong bối cảnh hội nhập, mở cửa, mối quan hệ giữa các dân tộc nước ta ngày càng gắn bó, tăng cường.

Đời sống kinh tế - xã hội của các dân tộc ngày càng được nâng lên, tạo cơ sở vững chắc cho quan hệ tốt đẹp giữa các dân tộc. Ngót 40 năm đổi mới, cùng với những thành tựu to lớn của cả nước, đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của các dân tộc thiểu số ngày càng được nâng lên rõ rệt, tỷ lệ giảm nghèo ở vùng dân tộc thiểu số nhanh hơn so với cả nước; chính sách xã hội và an sinh xã hội được đẩy mạnh ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi. Đảng, Nhà nước có chủ trương, chính sách ưu tiên phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số với hàng chục dự án, đề án, chương trình mục tiêu quốc gia.

Các dân tộc có ngôn ngữ và bản sắc văn hóa riêng, tạo dựng nên một nền văn hóa Việt Nam đa dạng, phong phú, thống nhất, đậm đà bản sắc dân tộc. Mỗi dân tộc đều có ngôn ngữ, văn hóa, phong tục tập quán riêng, tạo nên bản sắc văn hóa tộc người độc đáo, giàu sức sống. Các tộc người cùng nhau sáng tạo nên những giá trị văn hoá chung thống nhất, nổi bật là truyền thống đoàn kết, cố kết cộng đồng; tinh thần yêu nước; lối sống nhân ái, khoan dung; tinh thần cần cù, kiên cường bất khuất. Các tộc người đều sử dụng song ngữ hay đa ngữ, nhưng đều lấy tiếng Việt làm phương tiện giao tiếp của cả dân tộc. 

Thứ Tư, 17 tháng 1, 2024

NỘI DUNG QUAN ĐIỂM VỀ ĐOÀN KẾT DÂN TỘC, GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ DÂN TỘC TRONG CƯƠNG LĨNH XÂY DỰNG ĐẤT NƯỚC TRONG THỜI KỲ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI (NĂM 1991)?

Cương lĩnh xác định các nội dung cơ bản sau:

Về đoàn kết dân tộc, Cương lĩnh xác định: “Các dân tộc trong nước bình đẳng, đoàn kết và giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ” là một đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng. Không ngừng củng cố, tăng cường đoàn kết dân tộc là một bài học kinh nghiệm lớn trong quá trình lãnh đạo cách mạng.  

Đoàn kết dân tộc được xác định là một trong những phương hướng cơ bản trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc cần nắm vững. Thực hiện chính sách đại đoàn kết dân tộc, củng cố và mở rộng Mặt trận dân tộc thống nhất, tập hợp mọi lực lượng phấn đấu vì sự nghiệp dân giàu, nước mạnh. Thực hiện chính sách đối ngoại hoà bình, hợp tác và hữu nghị với tất cả các nước; trung thành với chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân, đoàn kết với các nước xã hội chủ nghĩa, với tất cả các lực lượng đấu tranh vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới.

Về giải quyết vấn đề dân tộc, lần đầu tiên, chính sách bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc đã được đưa vào trong Cương lĩnh: “Thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc, tạo mọi điều kiện để các dân tộc phát triển đi lên con đường văn minh tiến bộ, gắn bó mật thiết với sự phát triển chung của cộng đồng các dân tộc Việt Nam”.

Khẳng định chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước tađoàn kết, bình đẳng, giúp đỡ lẫn nhau giữa các dân tộc, cùng xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc, đồng thời giữ gìn và phát huy bản sắc tốt đẹp của mỗi dân tộc.

Khẳng  định quan điểm tôn trọng lợi ích, truyền thống văn hoá, ngôn ngữ, tập quán, tín ngưỡng của các dân tộc. Chống tư tưởng dân tộc lớn và dân tộc hẹp hòi, kì thị và chia rẽ dân tộc. Các chính sách kinh tế - xã hội phải phù hợp với đặc thù của các vùng và các dân tộc, nhất là các dân tộc thiểu số. 

Thứ Năm, 13 tháng 10, 2022

NHẬN THỨC ĐÚNG VỀ QUAN ĐIỂM, CHÍNH SÁCH DÂN TỘC CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC TA HIỆN NAY

Âm mưu, thủ đoạn lợi dụng vấn đề dân tộc để chống phá cách mạng Việt Nam của các thế lực thù địch hiện nay là đa dạng, với tính chất rất nguy hiểm. Chúng đã kết hợp các hoạt động chống phá trên lĩnh vực tư tưởng với tổ chức lực lượng và trực diện đấu tranh chống chính quyền, đòi quốc tế hóa vấn đề dân tộc... đi đến mục tiêu cao hơn là loại bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa, chia Việt Nam thành nhiều “quốc gia” trong sự khống chế của chúng. Những thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch nhằm làm cho cuộc sống của một bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số ở nước ta đã khó khăn lại càng khó khăn hơn. Tuy nhiên, các thủ đoạn chống phá điên cuồng của chúng có đạt được hay không phụ thuộc vào tinh thần cảnh giác, khả năng ngăn chặn sự chủ động tiến công của ta và quan trọng là phụ thuộc vào sự nhận thức đúng đắn các quan điểm, chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước ta hiện nay.

Kế thừa truyền thống đoàn kết cùng nhau dựng nước và giữ nước, trung thành, kiên định với chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta khẳng định vấn đề dân tộc và đại đoàn kết toàn dân là vấn đề chiến lược cơ bản, lâu dài của cách mạng Việt Nam. Đảng ta luôn nhất quán thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc, tạo mọi điều kiện để các dân tộc phát triển đi lên, bằng con đường văn minh, tiến bộ, gắn bó mật thiết với sự phát triển chung của cộng đồng các dân tộc Việt Nam.

Xuất phát từ tình hình, nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam hiện nay, Đại hội XIII của Đảng tiếp tục khẳng định: “Đại đoàn kết toàn dân tộc là đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam, là động lực và nguồn lực to lớn trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức do Đảng lãnh đạo. Phát huy mạnh mẽ mọi nguồn lực, mọi tiềm năng sáng tạo của nhân dân để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”

Đại hội lần thứ XIII của Đảng còn chỉ rõ “Đoàn kết các dân tộc có vị trí chiến lược trong sự nghiệp cách mạng của nước ta. Tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách, bảo đảm các dân tộc bình đẳng, tôn trọng, đoàn kết, giải quyết hài hòa quan hệ giữa các dân tộc, giúp nhau cùng phát triển, tạo chuyển biến rõ rệt trong phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội vùng có đông đồng bào dân tộc thiểu số, nhất là các vùng Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ, tây duyên hải miền Trung... Tăng cường kiểm tra, giám sát, đánh giá kết quả thực hiện các chủ trương, chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ở các cấp. Chống kỳ thị dân tộc; nghiêm trị những âm mưu, hành động chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc”

Những quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về dân tộc hiện nay có thể khái quát trên những nội dung cơ bản sau đây:

Một là, vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc là vấn đề chiến lược cơ bản, lâu dài, đồng thời là vấn đề cấp bách hiện nay của cách mạng Việt Nam.

Hai là, các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng tiến bộ, cùng nhau phấn đấu thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; kiên quyết đấu tranh với mọi âm mưu chia rẽ dân tộc.

Ba là, phát triển toàn diện chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và an ninh – quốc phòng trên địa bàn vùng dân tộc và miên núi; gắn tăng trưởng kinh tế với giải quyết các vấn đề xã hội; quan tâm phát triển, bồi dưỡng nguồn nhân lực, chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số; giữ gìn và phát huy những giá trị, bản sắc văn hóa truyền thông các dân tộc thiểu số trong sự nghiệp phát triển chung của cộng đồng dân tộc Việt Nam thống nhất.

Bốn là, ưu tiên đầu tư phát triển kinh tế - xã hội các vùng dân tộc và miền núi; khai thác có hiệu quả tiềm năng, thế mạnh của từng vùng, đi đôi với bảo vệ môi trường sinh thái; phát huy nội lực, tinh thần tự lực, tự cường của đồng bào dân tộc, đồng thời tăng cường sự quan tâm hỗ trợ của Trung ương và sự tương trợ, giúp đỡ của các địa phương trong cả nước.

Năm là, công tác dân tộc và thực hiện chính sách dân tộc là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của các cấp các ngành, của toàn bộ hệ thống chính trị.

Nhận thức đúng những quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về dân tộc ở trên, chính là nhiệm vụ thiết thực, hiệu quả trong tham gia phòng, chống lợi dụng dân tộc, góp phần đập tan mọi âm mưu, thủ đoạn lợi dụng vấn đề dân tộc của các thế lực thù địch, giữ vững an ninh, chính trị và trật tự an toàn xã hội trên toàn lãnh thổ Việt Nam.

Thứ Năm, 8 tháng 9, 2022

ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM ĐOÀN KẾT THỐNG NHẤT

Trên trang mạng gần đây xuất hiện bài viết: “Đảng Cộng sản Việt Nam có thật sự đoàn kết?” của một phần tử khiêu khích. Bài viết cho rằng: “Lúc này Đảng Cộng sản Việt Nam đang trong tình trạng chia rẽ, phân tán lớn nhất từ trước tới nay”. “Đoàn kết là vấn đề sống chết của một tổ chức. Nhưng Đảng Cộng sản Việt Nam từ ngày thành lập là một tổ chức bí mật có sự đoàn kết nội bộ đảng không? Câu trả lời là không. Không những là không mà lúc này Đảng Cộng sản Việt Nam còn đang trong tình trạng chia rẽ, phân tán lớn nhất từ trước đến nay. Sự tranh chấp, kèn cựa mất đoàn kết và dẫn đến thanh toán lẫn nhau trong Đảng Cộng sản Việt Nam hoàn toàn diễn ra trong bí mật, hoặc che đậy bằng nhiều hình thức khác. Nhiều vụ chưa được phanh phui, nhiều vụ người ngoài chỉ suy đoán, tuy vậy có những vụ bị phơi bày công khai”. “Những cán bộ trong cả ba tổ chức cộng sản này (Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng, Đông Dương Cộng sản Liên đoàn) tranh nhau mở rộng mạng lưới cơ sở, phát triển đảng viên và “lãnh địa” ảnh hưởng của mình. Hai đảng An Nam cộng sản Đảng và Tân Việt có số đảng viên và phương thức hoạt động mà giới lãnh đạo đều là trí thức vượt trội những người trong Đông Dương cộng sản đảng. Cả 3 đảng này chia rẽ, tranh giành quần chúng”. “Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhìn ra sự đoàn kết trong đảng chỉ là sự đoàn kết xuôi chiều, có nghĩa nôm na “ai sao tôi vậy”, “thứ nhất đồng ý thứ hai ngồi lỳ”, ủng hộ tuyệt đối tất cả những gì đảng ủy đưa ra. Điều này phản ánh rõ sự nhát sợ của đảng viên, họ sợ mất lòng cấp trên, mất an toàn cho bản thân, phụ họa theo ý kiến của người đứng đầu, sợ va chạm, sợ bị đánh giá, chụp mũ là tự chuyển hóa, tự diễn biến; hai lưỡi đao lơ lửng trên đầu rơi xuống bất cứ lúc nào trên cổ họ”…

Rõ ràng, đây là giọng điệu của kẻ thù địch, chống phá Đảng, xuyên tạc lịch sử, đổi trắng thay đen.

Phải nói rằng, từ ngày thành lập đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn đoàn kết thống nhất. Từ thời kỳ thành lập Đảng và Đảng hoạt động bí mật, vấn đề đoàn kết thống nhất trong Đảng đã được đặt ra. Đến khi Đảng tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân tiến lên cách mạng xã hội chủ nghĩa, vấn đề đoàn kết thống nhất trong Đảng càng được đặt ra và giải quyết một cách nghiêm túc, mang lại sự thống nhất trong Đảng.

Khi Đảng Cộng sản Việt Nam chưa thành lập, trong nước có ba tổ chức cộng sản, được gọi là tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam, đó là Đông Dương Cộng sản Đảng (thành lập ngày 17-6-1929), An Nam Cộng sản Đảng (thành lập ngày 7-8-1929), Đông Dương Cộng sản Liên đoàn (thành lập ngày 1-1-1030).

Ba tổ chức cộng sản này có mối bất hòa, không thống nhất được với nhau, nên các đảng viên cộng sản ở trong nước muốn có một đảng cộng sản thống nhất để lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Người có đủ tư cách và uy tín để lập một đảng cộng sản thống nhất ở Việt Nam chỉ có thể là Nguyễn Ái Quốc, đại diện Quốc tế Cộng sản, một nhà hoạt động chính trị nổi tiếng. Đó là lý do dẫn đến việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.

Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam diễn ra tại một địa điểm ở đảo Cửu Long thuộc quần đảo Hương Cảng (Hồng Kông) từ ngày 3 đến ngày 7-2-1930. Đây là Hội nghị hợp nhất giữa ba tổ chức cộng sản trong nước thành lập trước đó là Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng, Đông Dương Cộng sản Liên đoàn.

Đại biểu chính thức dự Hội nghị: Nguyễn Ái Quốc, thay mặt Quốc tế Cộng sản, Chủ trì; Trịnh Đình Cửu và Nguyễn Đức Cảnh, thay mặt Đông Dương Cộng sản Đảng; Châu Văn Liêm và Nguyễn Thiệu, thay mặt An Nam Cộng sản Đảng. Đại biểu hoạt động ở nước ngoài là Lê Hồng Sơn và Hồ Tùng Mậu. Đông Dương Cộng sản Liên đoàn mới thành lập (ngày 1-1-1930), lại nhận được giấy mời chậm, nên không kịp cử đại biểu đi dự. Tuy nhiên, sau khi Đảng được thành lập, Đông Dương Cộng sản Liên đoàn đã làm đơn xin gia nhập Đảng Cộng sản Việt Nam và đã được Đảng chấp nhận.

Hôm khai mạc Hội nghị, Nguyễn Ái Quốc nói lý do về Hội nghị này. Sau đó, các đại biểu thảo luận ý kiến của Nguyễn Ái Quốc về “việc hợp nhất tất cả các nhóm cộng sản thành một tổ chức chung, tổ chức này sẽ là một Đảng Cộng sản chân chính”.

Các đại biểu của Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng đều tán thành ý kiến có tính chất đề xuất của đồng chí Nguyễn Ái Quốc.

Hội nghị nhất trí: “Đặt tên Đảng mới là Đảng Cộng sản Việt Nam”. Đến Hội nghị Trung ương tháng 10-1930, Đảng đổi tên thành Đảng Cộng sản Đông Dương.

Hội nghị thảo luận chỉ ra những sai lầm của Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng và kêu gọi sự thống nhất trong Đảng.

Hội nghị thành lập Đảng thông qua các văn kiện quan trọng do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo, được Hội nghị thảo luận và nhất trí thông qua:

“Năm điểm lớn”.

“Chánh cương vắn tắt của Đảng”.

“Sách lược vắn tắt của Đảng”.

“Chương trình tóm tắt của Đảng”.

“Điều lệ vắn tắt của Đảng Cộng sản Việt Nam”.

“Báo cáo tóm tắt Hội nghị”.

“Lời kêu gọi”.

Các văn kiện của Hội nghị thành lập Đảng nêu rõ cách mạng Việt Nam là cách mạng tư sản dân quyền và cách mạng thổ địa để đi tới xã hội cộng sản. Sau này, phát triển lý luận thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân tiến lên cách mạng xã hội chủ nghĩa.

Từ ngày Đảng thống nhất giữa ba tổ chức cộng sản, tình hình trong Đảng tốt đẹp hơn nhiều. Đảng thống nhất, các tổ chức đảng trong cả nước đoàn kết, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, không có tình trạng chia rẽ, cát cứ, phân tán, chia cắt, bè phái, như các phần tử khiêu khích đã viết. Điều này làm cho công tác phát triển Đảng được nhanh chóng, các tổ chức cơ sở đảng cũng phát triển mạnh. Mặc dù sống trong hoàn cảnh bị thực dân khủng bố, Đảng vẫn lớn mạnh không ngừng.

Trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và cách mạng xã hội chủ nghĩa, nội bộ Đảng không có mâu thuẫn trên toàn cục, mà chỉ có mâu thuẫn nội bộ giữa cá nhân đảng viên này với cá nhân đảng viên khác (không phải là mâu thuẫn đối kháng) và giải quyết mâu thuẫn đó bằng phê bình và tự phê bình. Phê bình và tự phê bình là phương pháp hoạt động cải tạo mang tính chất cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam; còn trong xã hội, nó cũng là phương pháp hoạt động của toàn dân; là một trong những động lực của sự phát triển của xã hội; là nguyên tắc giáo dục và tự giáo dục của con người về mặt đạo đức. Phê bình và tự phê bình là cuộc đấu tranh giữa cái mới và cái cũ, giữa cái tiến bộ và cái bảo thủ, cuộc đấu tranh vốn có trong sự phát triển của tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.

C.Mác coi phê bình là một trong những phương tiện đấu tranh giai cấp của giai cấp công nhân. V.I.Lênin đã nhiều lần nhấn mạnh ý nghĩa thiết thực của phê bình và tự phê bình đối với việc thực hiện cách mạng xã hội chủ nghĩa, đối với hoạt động của Đảng Cộng sản.

Chủ tịch Hồ Chí Minh rất coi trọng phê bình và tự phê bình. Người viết:

“Mục đích phê bình cốt để giúp nhau sửa chữa, giúp nhau tiến bộ. Cốt để sửa đổi cách làm việc cho tốt hơn, đúng hơn. Cốt đoàn kết và thống nhất nội bộ”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh nhân mạnh về đoàn kết trong Đảng. Trong Di chúc, Người viết:

“Điều mong muốn cuối cùng của tôi là: Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước VIệt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”.

Trên đây là tôi đã phân tích những vấn đề cơ bản về đoàn kết thống nhất trong Đảng. Những người cố tình cho rằng, “Đảng đang bị chia rẽ, phân tán lớn nhất từ trước tới nay” là không phản ánh đúng thực tế khách quan của lịch sử, cần phải phê phán và bác bỏ.

GS,TS Đàm Đức Vượng

Thứ Tư, 9 tháng 3, 2022

SỰ VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐOÀN KẾT TÔN GIÁO CỦA ĐẢNG TẠI ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU TOÀN QUỐC LẦN THỨ XIII

Với chủ trương “tôn trọng tự do tín ngưỡng, tôn giáo” của Đảng và Nhà nước Việt Nam, thời gian qua, về cơ bản, tình hình tôn giáo ổn định, các tổ chức tôn giáo và đại bộ phận chức sắc hoạt động đúng quy định pháp luật, đóng góp tích cực vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tuy nhiên, do mặt trái của toàn cầu hóa và cơ chế thị trường, âm mưu “chính trị hóa tôn giáo” của các thế lực thù địch đã làm cho đời sống tôn giáo chịu tác động tiêu cực, tiềm ẩn nhiều “nguy cơ”. Trong đó, nổi lên các vấn đề như: lợi dụng tôn giáo để hoạt động chống Đảng và Nhà nước; vi phạm pháp luật, gây chia rẽ đoàn kết dân tộc, gây mất an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội; thành lập các hội, nhóm mang danh tôn giáo, đạo lạ; tổ chức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo mê tín, trục lợi, làm lệch chuẩn văn hóa, đạo đức xã hội...

Mốc đánh dấu bước chuyển biến quan trọng trong nhận thức của Đảng về tôn giáo là trong Nghị quyết 24-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX, Đảng ta nêu lên vấn đề “đạo đức tôn giáo” với cách nhìn “có nhiều điều phù hợp với công cuộc xây dựng xã hội mới”. Đến Nghị quyết số 25-NQ/TW năm 2003, lần đầu tiên Trung ương Đảng ra nghị quyết riêng về công tác tôn giáo. Nghị quyết khẳng định: Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Đảng, Nhà nước thực hiện nhất quán chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc, với nội dung cốt lõi là của công tác tôn giáo là công tác vận động quần chúng. Trong Chỉ thị số 18-CT/TW (2018) của Bộ Chính trị khóa XII đã đề cập đến thuật ngữ “nguồn lực” khi nhận định về những đóng góp của các tôn giáo.

Hiện nay, Nhà nước đã công nhận và cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo cho 43 tổ chức, thuộc 16 tôn giáo với hơn 27 triệu tín đồ, chiếm khoảng 28% dân số cả nước, trên 55.000 chức sắc, gần 150.000 chức việc, gần 30.000 cơ sở thờ tự. 16 tôn giáo gồm: Phật giáo, Công giáo, Tin lành, Cao Đài, Phật giáo Hòa Hảo, Hồi giáo, Tôn giáo Baha’I, Tịnh độ Cư sỹ Phật hội, Cơ đốc Phục lâm, Phật giáo Tứ Ân Hiếu nghĩa, Minh Sư đạo, Minh lý đạo - Tam Tông Miếu, Bà-la-môn giáo, Mặc môn, Phật giáo Hiếu Nghĩa Tà Lơn, Bửu Sơn Kỳ Hương. Quan điểm của Đảng về “các nguồn lực của các tôn giáo” xác định là những nguồn lực của các tôn giáo, tổ chức tôn giáo được Nhà nước công nhận nêu trên. Các nguồn lực của các tôn giáo rất đa dạng: nguồn lực con người có tôn giáo; nguồn lực từ cơ sở vật chất, khả năng vận động, huy động tài chính; những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của tôn giáo.... Các nguồn lực tôn giáo đã tham gia vào quá trình phát triển xã hội, trong đó ưu thế, đóng góp tiêu biểu ở các lĩnh vực giáo dục, an sinh xã hội, từ thiện nhân đạo.

Nhận thức vai trò quan trọng của vấn đề tôn giáo tại Việt Nam, trên cơ sở tình hình thực tiễn và vận dụng, phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo nói chung và đoàn kết tôn giáo, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đưa ra những nhận định, quan điểm, chủ trương mới về tôn giáo.

Vấn đề đoàn kết tôn giáo nằm trong tổng thể các nội dung của công tác tôn giáo, công tác xây dựng và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc mà Đảng nêu ra. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng xác định một trong những nhiệm vụ trọng tâm để đưa đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới là: “Vận động, đoàn kết, tập hợp các tổ chức tôn giáo, chức sắc, tín đồ “sống tốt đời đẹp đạo”, đóng góp tích cực cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Bảo đảm cho các tổ chức tôn giáo và hoạt động theo quy định pháp luật và hiến chương, điều lệ được Nhà nước công nhận. Phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp và các nguồn lực của các tôn giáo cho sự nghiệp phát triển đất nước. Kiên quyết đấu tranh và xử lý nghiêm minh những đối tượng lợi dụng tôn giáo chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa; chia rẽ, phá hoại đoàn kết tôn giáo và khối đại đoàn kết dân tộc”.

Quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết tôn giáo trong điều kiện mới của đất nước, Đảng đã tiếp tục nêu cao điểm tương đồng giữa cách mạng với tôn giáo, giữa lý tưởng xã hội chủ nghĩa với lý tưởng tôn giáo, coi đó là một trong những cơ sở quan trọng để thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc. Đảng khẳng định trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay, tồn tại nhiều thành phần kinh tế, nhiều bộ phận, tầng lớp dân cư có nhu cầu, nguyện vọng, đặc điểm đời sống, tâm lý, theo những tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau. Mặt khác, trong bối cảnh tiếp tục đẩy mạnh hội nhập quốc tế sâu rộng, có nhiều tôn giáo truyền bá vào nước ta, các hoạt động tôn giáo cũng có mối liên hệ quốc tế rộng mở hơn. Vì vậy, để thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc, Đảng phải chú trọng tìm điểm tương đồng, tôn trọng những khác biệt không trái với lợi ích dân tộc, chủ trương giải quyết những mâu thuẫn về lợi ích thỏa đáng, phù hợp thì mới có được sự đồng lòng, tin tưởng và phát huy cao nhất sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân. Ở thời kỳ Hồ Chí Minh lãnh đạo đất nước, cơ sở để thực hiện đoàn kết tôn giáo là mục tiêu đánh đổ đánh đổ đế quốc, thực dân để giành độc lập dân tộc và đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội - chế độ xã hội công bằng, tốt đẹp cho tất cả mọi người. Kế thừa quan điểm đó, ngày nay Đảng định hình rõ nét hơn ở mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, “khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc”.

Nhằm tiếp tục phát huy hơn nữa vai trò của tôn giáo trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, Văn kiện Đại hội XIII của Đảng ghi rõ: “Phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp và các nguồn lực của các tôn giáo cho sự phát triển đất nước”.

Bên cạnh đề cao các giá trị đạo đức, văn hóa của tôn giáo, đặc biệt nhấn mạnh vai trò của tôn giáo “vào giữ gìn và nâng cao đạo đức truyền thống xã hội, xây dựng đời sống văn hóa ở các khu dân cư, góp phần ngăn chặn các tệ nạn xã hội”, Đảng nêu ra các giải pháp giải quyết vấn đề tôn giáo và phát huy sức mạnh của tôn giáo để xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong điều kiện xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; gắn chặt chẽ với yêu cầu tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, hoàn thiện hệ thống pháp luật. So với Đại hội XII, Đại hội XIII không chỉ chủ trương “kiên quyết đấu tranh với những hành vi lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc” mà còn phải làm tốt công tác “Vận động, đoàn kết, tập hợp các tổ chức tôn giáo, chức sắc, tín đồ sống “tốt đời đẹp đạo”, đóng góp tích cực cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”; mặt khác, “Xử lý hài hòa các vấn đề dân tộc, tôn giáo, bức xúc xã hội, không để xảy ra các “điểm nóng”. Đây chính là sự vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh trong bối cảnh các thế lực thù địch đẩy mạnh lợi dụng tôn giáo xâm phạm an ninh quốc gia, phá vỡ khối đại đoàn kết dân tộc, gây mất trật tự xã hội như hiện nay.

Đảng nhất quán chủ trương tôn trọng, quan tâm, thể chế hóa trong luật pháp và đảm bảo trên thực tế đối với quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo cho mọi người. Đối tượng bảo đảm ở đây được mở rộng, bao gồm các tổ chức, nhân dân trong nước và các tổ chức, cá nhân người nước ngoài có tôn giáo khi họ sinh sống, học tập, làm việc ở Việt Nam cũng như người Việt ở nước ngoài khi về quê hương.

Văn kiện Đại hội nêu lên một giải pháp quan trọng của công tác vận động tôn giáo là nâng cao năng lực, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về công tác tôn giáo. Các cơ quan chức năng có nhiệm vụ giúp đỡ, giải quyết các nhu cầu hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng, tâm linh của quần chúng; chủ động lắng nghe, giải quyết kịp thời nguyện vọng chính đáng của đồng bào theo đạo; bảo đảm cho các tổ chức tôn giáo hoạt động theo quy định của pháp luật và hiến chương, điều lệ được Nhà nước công nhận. Đồng thời, phê phán, đấu tranh, xử lý các biểu hiện tiêu cực liên quan đến tôn giáo trong đó chú trọng “phòng ngừa, và xử lý nghiêm minh những đối tượng lợi dụng tôn giáo chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa; chia rẽ, phá hoại đoàn kết tôn giáo và khối đại đoàn kết toàn dân tộc”.

Có thể khẳng định, trên cơ sở quán triệt, vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh và sự nhận thức đầy đủ hơn, sáng rõ hơn về tình hình tôn giáo trong thực tiễn Việt Nam, tại Đại hội XIII, Đảng đã có những chủ trương, giải pháp phù hợp, giải quyết thấu đáo những vấn đề liên quan đến tôn giáo - những vấn đề luôn nhạy cảm, phức tạp trong tiến trình cách mạng Việt Nam; qua đó góp phần quan trọng củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phát huy nguồn lực tôn giáo, thực hiện thắng lợi mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”./.


PHƯƠNG THỨC THỰC HIỆN ĐOÀN KẾT TÔN GIÁO THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

Về phương thức thực hiện đoàn kết tôn giáo, Hồ Chí Minh đã nêu lên một số vấn đề mang tính định hướng như sau:

Lấy lợi ích quốc gia, dân tộc và quyền lợi cơ bản của con người làm mẫu số chung trong việc giải quyết vấn đề dân tộc - tôn giáo: Trong điều kiện của cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh chỉ ra rằng, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân chỉ được thực hiện khi đất nước độc lập, bởi: “Nước không độc lập thì tôn giáo không được tự do nên chúng ta phải làm cho nước độc lập đã”. Đồng thời, Người chỉ rõ chỉ trên cơ sở lợi ích chung vì độc lập dân tộc, vì quyền tự do, hạnh phúc của mỗi con người không phân biệt giai tầng, giới tính, dân tộc, tôn giáo, thì mới có thể giải quyết thỏa đáng mối quan hệ dân tộc - tôn giáo.

Trong mối quan hệ giữa dân tộc và tôn giáo, Hồ Chí Minh luôn đặt vấn đề dân tộc là ưu tiên hàng đầu, song không bao giờ xem nhẹ vấn đề tôn giáo. Từ quan điểm và cách thức của Người, giáo hội các tôn giáo đề ra tôn chỉ, mục đích hành đạo theo hướng gắn bó với dân tộc như: “sống phúc âm giữa lòng dân tộc” (Công giáo); “sống phúc âm phụng sự Thiên chúa, phụng sự Tổ quốc và dân tộc” (Tin lành); “đạo pháp - dân tộc và chủ nghĩa xã hội” (Phật giáo); “nước vinh, đạo sáng” (đạo Cao đài), “chấn hưng nền đạo gắn bó với dân tộc; phù hợp với chính sách và pháp luật của Nhà nước góp phần tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” (Phật giáo, Hoà Hảo).

Trân trọng các giá trị tốt đẹp trong các tôn giáo; chấp nhận sự khác biệt, phát huy những điểm tương đồng giữa các tôn giáo, giữa triết lý tôn giáo và lý tưởng cộng sản: Hồ Chí Minh không bao giờ có thái độ thiên kiến, bài xích, mà nhìn nhận tôn giáo trên bình diện văn hóa, đạo đức, với quan niệm tôn giáo mang những giá trị gắn chặt với con người, vì con người, vì thế mang giá trị nhân văn sâu sắc. Người tổng kết: “Chúa Giêsu dạy: Đạo đức là bác ái. Phật Thích Ca dạy: Đạo đức là từ bi. Khổng Tử dạy: Đạo đức là nhân nghĩa” và nhận ra những tư tưởng, quan điểm đó có những nét tương đồng với lý tưởng xã hội chủ nghĩa mà Người đang hướng tới. Với cái nhìn rộng mở và nhân ái, Hồ Chí Minh nhận thấy những ước mơ về một xã hội bình đẳng, tự do, nhân ái của những người sáng lập ra tôn giáo là phù hợp với lí tưởng của những người cộng sản và cuộc kháng chiến của dân tộc trong đó có sự tham gia của đồng bào các tôn giáo là hoàn toàn đúng đắn và phù hợp với tinh thần của Chúa và Phật là phải thương yêu, đùm bọc nhau để chống lại kẻ thù tàn bạo, hung ác.

Trong điều kiện Việt Nam, Hồ Chí Minh chủ trương không tiến hành cuộc đấu tranh trực diện với giáo lý của các tôn giáo, tránh việc kẻ địch sẽ lợi dụng để vu khống, để tuyên truyền luận điệu “cộng sản là vô thần”, “cộng sản nắm chính quyền sớm muộn gì cũng sẽ tiêu diệt tôn giáo”. Người chấp nhận và tôn trọng sự khác biệt; đề cao, phát huy những điểm tương đồng giữa giữa giáo lý tôn giáo và chủ nghĩa cộng sản; ghi nhận, động viên, khích lệ những đóng góp đồng bào các tôn giáo trong sự nghiệp cách mạng của dân tộc. Người nêu rõ: “Mục đích Chính phủ ta theo đuổi là chiến đấu vì nền độc lập và đem lại hạnh phúc cho nhân dân. Song, để đạt tới hạnh phúc đó cho mọi người thì cần phải xây dựng chủ nghĩa xã hội. Nếu Đức Chúa Giêsu sinh ra vào thời đại chúng ta và phải đặt mình trước những nỗi khổ đau của người đương thời, chắc ngài sẽ là một người xã hội chủ nghĩa đi theo con đường cứu khổ loài người”. Đó là sự phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam, thể hiện tư duy rộng mở và tinh thần nhân văn cao cả của Hồ Chí Minh.

Tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và đối xử bình đẳng với các tôn giáo: Trong quan niệm của Hồ Chí Minh, nhân dân có quyền tự do lựa chọn, tin hoặc không tin, theo hoặc không theo một tôn giáo nào; các tôn giáo bình đẳng với nhau không phân biệt lớn nhỏ, không vì đề cao niềm tin tôn giáo của mình mà nhạo báng, coi khinh tôn giáo của người khác.

Dưới sự chỉ đạo của Người, quyền tự do tín ngưỡng của nhân dân đã được khẳng định trong chủ trương, đường lối của Đảng và thể chế hóa trong văn bản pháp luật của Nhà nước. Hiến pháp đầu tiên nước ta năm 1946, Chương II, mục B đã ghi rõ: “Mọi công dân Việt Nam có quyền tự do tín ngưỡng”. Tôn trọng các tổ chức và hoạt động tôn giáo, Người nhấn mạnh: “Chính quyền không can thiệp vào nội bộ tôn giáo; riêng về Công giáo, quan hệ về tôn giáo giữa giáo hội Việt Nam với Tòa thánh La Mã là vấn đề nội bộ của Công giáo”. Bên cạnh đó, Người gắn việc thực hiện quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng của nhân dân với nghĩa vụ và trách nhiệm công dân: “không tách rời bổn phận kính Chúa của người Công giáo với bổn phận yêu nước của người công dân”, “Hoạt động tôn giáo không được cản trở sản xuất của nhân dân, không được trái với chính sách và pháp luật của Nhà nước”. Người yêu cầu các nhà tu hành, các chức sắc tôn giáo khi truyền bá tôn giáo “có nhiệm vụ giáo dục cho các tín đồ lòng yêu nước, nghĩa vụ của công dân, ý thức tôn trọng chính quyền nhân dân và pháp luật của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa”.

Đấu tranh chống âm mưu lợi dụng tôn giáo của các thế lực phản động: Tôn trọng tự do tín ngưỡng của nhân dân, nhưng Hồ Chí Minh luôn đặt ra vấn đề phải phân biệt được nhu cầu tín ngưỡng chân chính của quần chúng với âm mưu lợi dụng tôn giáo của các thế lực thù địch. Đối với bọn đầu sỏ, ngoan cố và những kẻ lợi dụng và giả danh tôn giáo để chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, chống phá cách mạng, Hồ Chí Minh nêu rõ: phải quyết liệt “trừng trị theo pháp luật” và “Chính phủ sẽ nghiêm trị những kẻ lừa bịp, cưỡng bức đồng bào phải lìa bỏ quê hương, sa vào một đời sống tối tăm cực khổ về phần xác cũng như phần hồn”.

Đối với đồng bào các tôn giáo, Hồ Chí Minh chỉ ra rằng, tự do tín ngưỡng là một vấn đề nhạy cảm, dễ bị lực lượng phản cách mạng lợi dụng nhằm xuyên tạc, phá hoại tình đoàn kết gắn bó giữa đồng bào lương - giáo, giữa đồng bào theo các tôn giáo khác nhau. Bởi vậy, đồng bào các tôn giáo cần nâng cao cảnh giác “chớ mắc mưu những kẻ tuyên truyền lừa bịp”.

Đối với cán bộ Đảng, Nhà nước, Mặt trận và các đoàn thể quần chúng, Hồ Chí Minh yêu cầu cần gương mẫu chấp hành chính sách tôn giáo; ra sức giải thích cho đồng bào các tôn giáo hiểu chính sách của Đảng, Nhà nước; đồng thời kiên quyết sửa chữa những sai lầm, khuyết điểm trong việc thực hiện chính sách tôn giáo. Người phê phán những hiện tượng như “Đối với nông dân Công giáo, có đội đã đưa chủ nghĩa Mác - Lênin ra giải thích. Nhiều cán bộ, hễ nói đến cha cố, không phân biệt tốt xấu, cứ gọi là thằng, làm cho nông dân Công giáo khó chịu”. Đó là nguyên nhân khiến đồng bào có đạo hiểu sai về chính sách của Đảng, tạo cớ cho kẻ thù kích động, xuyên tạc, phá hoại.

Tôn trọng các chức sắc tôn giáo và quan tâm đến giáo dân, hướng họ vào các hoạt động lợi ích chung của toàn dân tộc: Hồ Chí Minh luôn đánh giá cao vai trò, uy tín của hàng ngũ giáo sĩ, nhà tu hành - những người có tầm ảnh hưởng rất lớn đối với các tín đồ tôn giáo. Bởi vậy, Người cho rằng tôn trọng, vận động, thuyết phục hàng ngũ chức sắc tôn giáo là biện pháp quan trọng để thực hiện chính sách đoàn kết lương giáo, hòa hợp dân tộc. Bằng thái độ trân trọng, tin tưởng, chân thành, cầu thị, Hồ Chí Minh đã quy tụ được nhiều chức sắc có uy tín lớn trong các tôn giáo như linh mục Phạm Bá Trực, ông Cao Triều Phát - lãnh tụ Cao Đài vùng Hậu Giang, v.v. tích cực tham gia đấu tranh bảo vệ nền độc lập dân tộc, xây dựng khối đoàn kết tôn giáo.

Bên cạnh đề cao vai trò của vị giáo chủ, giáo sĩ, Hồ Chí Minh dành sự quan tâm sâu sắc đến đời sống của đồng bào tín đồ tôn giáo, nhất là tín đồ thuộc các dân tộc thiểu số. Người đã gửi nhiều thư, điện đến đồng bào Công giáo, đồng bào các dân tộc, biểu dương công trạng và tinh thần hăng hái tham gia kháng chiến của đồng bào, thăm hỏi nhân dịp các ngày lễ lớn của các tôn giáo. Đặc biệt, đối với đồng bào lầm đường lạc lối, đã từng quay lưng với cách mạng và dân tộc, Người bày tỏ thương xót với những cực khổ của bà con ở nơi đất khách, quê người, đồng thời chủ trương “Không được báo thù báo oán. Đối với những kẻ đi lầm đường lạc lối, đồng bào ta cần phải dùng chính sách khoan hồng. Lấy lời khôn lẽ phải mà bày cho họ”, bởi “Trừ một bọn rất ít đại Việt gian, đồng bào ta ai cũng có lòng yêu nước. Tuy có một số đồng bào lầm lạc, qua một thời gian, những người ấy dần dần giác ngộ và quay trở về với Tổ quốc”.

Với chủ trương và những biện pháp đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã giải quyết sáng tạo, phù hợp vấn đề tôn giáo, đoàn kết chặt chẽ lương - giáo, đồng bào các tôn giáo khác nhau, cùng góp sức cuộc đấu tranh giải phóng và đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đó là nền tảng lý luận, định hướng cho Đảng trong việc giải quyết vấn đề tôn giáo ở Việt Nam trong giai đoạn cách mạng trước đây và hiện nay.

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐOÀN KẾT TÔN GIÁO

Đoàn kết tôn giáo là một nội dung quan trọng trong chiến lược đại đoàn kết dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Với Người, đại đoàn kết dân tộc, trong đó có đoàn kết tôn giáo là vấn đề xuyên suốt, cốt yếu của cách mạng, không phải là một thủ đoạn chính trị nhất thời. Điều mà Người luôn hướng đến là sự đoàn kết lâu dài, tự giác, tự nguyện, chân thành, thực sự theo phương châm “Ai có tài, có đức, có sức, có lòng phụng sự Tổ quốc và phục vụ nhân dân thì ta đoàn kết với họ”. Như vậy, mục tiêu của đoàn kết là nhằm tập hợp mọi lực lượng yêu nước, phát huy tối đa sức mạnh các nguồn lực để giành lại độc lập cho dân tộc và tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Hồ Chí Minh nhấn mạnh: Đoàn kết là nhân tố quyết định thành công của sự nghiệp cách mạng.

Việt Nam là một quốc gia đa tôn giáo, vì vậy vấn đề đoàn kết tôn giáo có ý nghĩa rất quan trọng trong đời sống xã hội và tác động mạnh mẽ đến tiến trình cách mạng. Giải quyết vấn đề này không chỉ là thực hiện đoàn kết giữa đồng bào có đạo và không có đạo, mà còn cần thực hiện đoàn kết trong nội bộ các tôn giáo, đoàn kết giữa đồng bào có tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau. Trong thực hiện đoàn kết tôn giáo, Hồ Chí Minh chú trọng cả đoàn kết giữa những người cộng sản với đồng bào các tôn giáo. Theo Người, mặc dù thế giới quan của những người cộng sản và những người có tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau, song đều có điểm chung về lợi ích của quốc gia, dân tộc, do đó phải sát cánh cùng nhau để đấu tranh cho mục tiêu chung của dân tộc. Hơn nữa, là người lãnh đạo cách mạng, những người cộng sản phải là hạt nhân để quy tụ, tập hợp, thu hút quần chúng, trong đó có quần chúng theo đạo tham gia cách mạng.

Thứ Sáu, 4 tháng 3, 2022

BA NGUYÊN TẮC CƠ BẢN CỦA HIẾN PHÁP NĂM 1946 CỦA NƯỚC VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA

Ngày 20/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 34-SL về việc thành lập Ủy ban dự thảo Hiến pháp của Chính phủ lâm thời gồm 7 người là: Hồ Chí Minh, Vĩnh Thụy (tên của vua Bảo Đại sau khi thoái vị), Đặng Thái Mai, Vũ Ngọc Khánh, Lê Văn Hiến, Nguyễn Lương Bằng, Đặng Xuân Khu (Trường Chinh), do Chủ tịch Hồ Chí Minh làm Trưởng ban. Nhiệm vụ của Ủy ban: nghiên cứu xác định mô hình, xây dựng cấu trúc của một bản Hiến pháp dân chủ hoàn toàn mới, vừa đảm bảo tính lâu dài, vừa phù hợp với điều kiện thực tế ở nước ta.

Tháng 11/1945, Ban dự thảo đã hoàn thành công việc và Bản dự thảo Hiến pháp được công bố cho toàn dân thảo luận. Người dân Việt Nam hăng hái tham gia đóng góp ý kiến cho Bản dự thảo Hiến pháp với những nội dung thể hiện mơ ước và khao khát ngàn đời về độc lập dân tộc, về các quyền và tự do của con người Việt Nam. Ngày 9/11/1946, tại Kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa I đã thông qua bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.

Ba nguyên tắc cơ bản của bản Hiến pháp 1946 được trình bày gồm lời nói đầu: 1. Đoàn kết toàn dân không phân biệt giống nòi, gái, trai, giai cấp, tôn giáo; 2. Bảo đảm các quyền tự do dân chủ; 3. Thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân. Bản Hiến pháp 1946 của nước ta, có 7 chương, 70 điều. Chương I quy định chính thể của Việt Nam là Dân chủ cộng hòa. Chương II quy định nghĩa vụ và quyền lợi công dân, xác nhận sự bình đẳng về mọi phương diện của tất cả công dân Việt Nam trước pháp luật. Chương III quy định về nghị viện nhân dân. Chương IV quy định về Chính phủ - cơ quan hành chính cao nhất của toàn quốc. Chương V quy định phương diện hành chính, bộ, tỉnh, huyện, xã; quy định về cơ quan hành chính (ủy ban hành chính và hội đồng nhân dân) các cấp. Chương VI quy định về cơ quan tư pháp bao gồm tòa án tối cao, các tòa án phúc thẩm, các tòa án đệ nhị cấp và sơ cấp. Chương VII quy định về việc sửa đổi Hiến pháp, trong đó có quyền phúc quyết Hiến pháp của dân.

  Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “... một vết tích lịch sử Hiến pháp đầu tiên trong cõi Á Đông... Bản hiến pháp đó chưa hoàn toàn nhưng nó đã làm nên theo một hoàn cảnh thực tế. Hiến pháp đó tuyên bố với thế giới nước Việt Nam đã độc lập. Hiến pháp đó tuyên bố với thế giới biết dân tộc Việt Nam đã có đủ mọi quyền tự do… Hiến pháp đó đã nêu một tinh thần đoàn kết chặt chẽ giữa các dân tộc Việt Nam và một tinh thần liêm khiết, công bình của các giai cấp”.

Thứ Tư, 16 tháng 2, 2022

GIÁO DỤC TRUYỀN THỐNG ĐOÀN KẾT, TÌNH NGHĨA, TƯƠNG THÂN, TƯƠNG ÁI CHO THANH NIÊN VIỆT NAM HIỆN NAY

Trong các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, truyền thống đoàn kết, tinh thần nhân nghĩa, tương thân, tương ái là những nét đẹp đặc sắc của con người Việt Nam. Lòng nhân ái, bao dung của nhân dân đã gắn chặt với vận mệnh, với sự tồn vong của dân tộc, với sự hùng cường của đất nước. Truyền thống của người dân Việt Nam còn là ý chí kiên cường, bất khuất, dám xả thân, hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc; dám vươn lên để tìm đường thoát khỏi đói nghèo, xây dựng đất nước cường thịnh. Người Việt Nam gắn bó với nhau trong tình làng, nghĩa xóm và phát huy được sức mạnh của dân tộc: đồng tình, đồng sức, đồng lòng, đồng minh. Cho nên, người Việt Nam từ lâu sống với nhau có tình có nghĩa. Tình nghĩa ấy được Chủ tịch Hồ Chí Minh nâng lên thành tình nghĩa đồng bào, đồng chí, tình nghĩa năm châu bốn biển một nhà.

Khi nghiên cứu, tiếp thu lý luận Mác - Lênin phải dựa trên nền tảng các giá trị truyền thống của dân tộc. Người nhấn mạnh: Hiểu chủ nghĩa Mác - Lênin là phải sống với nhau có tình, có nghĩa. Nếu thuộc bao nhiêu kinh sách mà sống không có tình nghĩa thì sao gọi là hiểu chủ nghĩa Mác - Lênin được... Tư tưởng đại nhân, đại nghĩa ở Hồ Chí Minh là phấn đấu vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, vì tự do, hạnh phúc của con người, là cứu nước, độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội, tạo mọi điều kiện cho con người phát triển. Trong văn hóa đạo đức Việt Nam, chữ “Nghĩa” có ý là lẽ phải, ngay thẳng. Hồ Chí Minh nói: ai làm điều gì có lợi cho nhân dân, cho Tổ quốc đều là bạn; ai làm điều gì có hại cho nhân dân và Tổ quốc đều là kẻ thù. Đây là những giá trị xuyên suốt mọi thời đại, trước tác động của mặt trái kinh tế thị trường tới đoàn viên, thanh niên thì việc giáo dục nội dung truyền thống đoàn kết, tinh thần nhân nghĩa, tương thân, tương ái cho thanh niên Viên Nam hiện nay là vấn đề cấp bách.

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ UỐNG NƯỚC NHỚ NGUỒN, ĐOÀN KẾT, NHÂN HẬU, THỦY CHUNG, BAO DUNG, CẦN CÙ, LAO ĐỘNG SÁNG TẠO

Từ xa xưa, trong sâu thẳm đời sống tâm linh người Việt luôn tôn trọng, thành kính và biết ơn các thế hệ đi trước. Các thành viên “trong gia đình trên kính dưới nhường, thờ phụng tổ tiên”; “Thờ phụng những người đã quá cố” đã trở thành “một việc rất thiêng liêng và thiết tha của người An Nam, thể hiện lòng hiếu thảo, biết ơn những người đã sinh thành, nuôi dưỡng, dạy dỗ mình. Trong hàng ngàn năm lịch sử, cha ông ta đã có tinh thần cố kết cộng đồng để đấu tranh dựng nước và giữ nước. Có được những thành quả đó là do biết bao nhiêu mồ hôi và xương máu của ông cha ta, của những người anh hùng dân tộc đã xây đắp, gìn giữ và phát huy như: “Hai Bà Trưng, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung, Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám”. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, tinh thần đoàn kết là nhân tố quan trọng tạo nên sức mạnh của dân tộc, quyết định đến sự tồn vong của đất nước. Người chỉ rõ: “Sử ta dạy cho ta bài học này: Lúc nào dân ta đoàn kết muôn người như một thì nước ta độc lập, tự do. Trái lại lúc nào dân ta không đoàn kết thì bị nước ngoài xâm lấn”.

Tiếp thu, giáo dục và phát huy truyền thống “ăn quả nhớ người trồng cây”, Người căn dặn: “Chúng ta phải ghi nhớ công lao của các vị anh hùng dân tộc, các vị ấy là tiêu biểu của một dân tộc anh hùng”.Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, một năm nước ta có bốn mùa nhưng nhận thấy rõ nhất là hai mùa khí hậu đặc trưng: Mùa hè nóng ẩm với gió mùa tây nam và mùa đông lạnh khô với gió mùa đông bắc, để tồn tại và phát triển, nhân dân ta đã tích cực chinh phục, cải tạo tự nhiên, tiến hành lao động sản xuất. Vì thế, “Nhân dân ta sẵn có truyền thống tốt đẹp là lao động cần cù, sinh hoạt giản dị". Trong cuộc sống dù vất vả, khó khăn đến đâu, nhưng nhân dân ta vẫn luôn động viên, tương trợ, đùm bọc, giúp đỡ lẫn nhau về cả vật chất tinh thần để vượt qua hoạn nạn với phương châm “lá lành đùm lá rách”. Trong sinh hoạt ứng xử cộng đồng, gia đình, nhân dân ta luôn thể hiện tính  nhân văn, kính trọng người già, thương yêu con trẻ, thờ cúng tổ tiên. Bởi: “Nhân dân ta từ lâu đã sống với nhau có tình có nghĩa như thế”.

Thứ Hai, 14 tháng 2, 2022

SÒNG PHẲNG VỚI LỊCH SỬ KHÔNG PHẢI LÀ KÍCH ĐỘNG HẬN THÙ

Trân trọng giới thiệu bài viết của bà Nguyễn Thị Bình - nguyên Phó Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về cuộc chiến bảo vệ biên giới phía Bắc năm 1979 của quân và dân ta.

"Chiến tranh biên giới phía Bắc là một câu chuyện buồn trong lịch sử, một câu chuyện buồn trong quan hệ Việt Nam - Trung Quốc.

Dẫu vậy, nó vẫn là lịch sử.

Và đã là lịch sử thì phải nhìn nhận nó với sự thật đầy đủ.

Sẽ không thể không nhắc đến ngày 17/2/1979, ngày mà cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc đã nổ ra; ngày mà hàng ngàn con em chúng ta đã hy sinh để bảo vệ biên cương của Tổ quốc.

Nhắc để dân ta nhớ, biết ơn và tôn vinh những chiến sĩ và đồng bào đã hy sinh để bảo vệ biên cương Tổ quốc, như chúng ta đã và sẽ vẫn tôn vinh bao nhiêu anh hùng liệt sĩ trong cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc.

Không những dân ta cần hiểu, mà nhân dân Trung Quốc cũng như nhân dân các nước cũng phải hiểu đúng: đâu là sự thật, đâu là lẽ phải và coi đó là bài học.

Không thể quên lãng nó.

Nhiều người dân Trung Quốc đã hiểu sai cơ bản về cuộc chiến tranh biên giới đó. Nhưng tính chính nghĩa của Việt Nam trong cuộc chiến đó là sự thật không thể chối cãi.

Có thể nào nghĩ rằng Việt Nam vừa ra khỏi cuộc chiến tranh vô cùng ác liệt kéo dài 30 năm, đang tập trung hàn gắn vết thương chiến tranh và đứng trước vô vàn khó khăn lại có thể khiêu khích Trung Quốc, một nước lớn, một nước xã hội chủ nghĩa đã ủng hộ và giúp đỡ mình trong cuộc chiến tranh cứu nước vừa qua?

Thực tế là quân dân Việt Nam khi đó đã phải chống lại một cuộc chiến tranh biên giới to lớn để bảo vệ biên cương Tổ quốc.

Theo tôi, không chỉ đưa vào sách giáo khoa những sự thật lịch sử về Hoàng Sa, Trường Sa mà ngay cả cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc cũng cần được nhắc đến đầy đủ.

Con em chúng ta cần biết và có quyền biết lịch sử, biết những gì mà ông cha đã làm, để tự hào và tiếp nối truyền thống.

Tôi muốn nhấn mạnh rằng: Ta tôn trọng lịch sử, sòng phẳng với lịch sử không có nghĩa là chúng ta kích động hận thù.

Chúng ta biết sự thật, để hiểu đâu là lẽ phải và để rút ra bài học cho các mối quan hệ quốc tế trong bối cảnh phức tạp ngày nay.

Tôi ủng hộ con đường ngoại giao khôn ngoan, mềm mỏng, tôn trọng các nguyên tắc quốc tế.

Kinh nghiệm trong đấu tranh, né tránh hay im lặng đều không có lợi, vì như vậy chúng ta không làm rõ được sự thật, phải trái, đúng sai, có khi còn khuyến khích đối phương, khiến họ cho rằng ta yếu thế và ngày càng lấn tới.

Tuy nhiên không bình tĩnh cân nhắc trong ứng xử cũng sẽ khiến cho tình hình thêm phức tạp, không có lợi cho sự nghiệp.

Vậy bài học rút ra từ quá khứ mất mát của chúng ta là gì đây? Việt Nam là một dân tộc hòa hiếu.

Xưa đến nay, ta rất chú trọng xây dựng quan hệ láng giềng tốt với Trung Quốc dù trong lịch sử hai nước đã có bao lần xung đột.

Trong tình hình hiện nay, chúng ta cần một môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng và phát triển đất nước và cần những bạn bè tốt để hợp tác nên Việt Nam càng coi trọng quan hệ hữu nghị với Trung Quốc – một nước lớn đang có những bước phát triển thần kỳ.

Nhưng như bất cứ dân tộc nào, chủ quyền quốc gia đối với Việt Nam là thiêng liêng và chúng ta sẽ kiên quyết bảo vệ bằng mọi giá, đồng thời chúng ta chủ trương mọi tranh chấp lãnh thổ được giải quyết bằng phương pháp hòa bình, có sự tôn trọng lẫn nhau.

Trong đấu tranh, chúng ta đã làm đúng theo lời dạy của Bác Hồ: "Dĩ bất biến, ứng vạn biến”, luôn giữ vững lập trường nguyên tắc độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia, nhưng vẫn linh hoạt, mềm dẻo trong sách lược.

Tôi tin vào sức mạnh của chính nghĩa, của lẽ phải, tin vào sức mạnh của khối đoàn kết toàn dân và tin ở sự đồng tình và ủng hộ của nhân dân thế giới.

Ta cần hành động theo tinh thần đó.

Nhưng tôi cũng muốn nhấn mạnh rằng sẽ khó để bảo vệ chủ quyền nếu đất nước không có nội lực, không có nền tảng vững chắc về kinh tế, chính trị, an ninh quốc phòng với đoàn kết dân tộc mạnh mẽ.

Đây là nhiệm vụ quan trọng nhất mà chúng ta cần phấn đấu”.

Nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình/Theo GDVN

Thứ Sáu, 14 tháng 1, 2022

NGUYÊN TẮC, NỘI DUNG THỰC HIỆN ĐOÀN KẾT CÁC DÂN TỘC Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

Đoàn kết dân tộc phải trên cơ sở các nguyên tắc: Thống nhất giữa lợi ích của quốc gia dân tộc với quyền lợi cơ bản của các dân tộc; tin vào dân, dựa vào dân, phấn đấu vì quyền lợi của nhân dân các dân tộc; đoàn kết một cách tự giác, có tổ chức, có lãnh đạo, lâu dài, chặt chẽ; đoàn kết phải chân thành, thẳng thắn, thân ái. Phương thức để thực hiện đoàn kết dân tộc là: tuyên truyền, vận động, giáo dục, thuyết phục; xây dựng, củng cố, phát triển hệ thống chính trị vùng dân tộc thiểu số; kết hợp đồng bộ, hiệu quả các giải pháp nhằm mở rộng đến mức cao nhất trận tuyến cách mạng và thu hẹp đến mức tối đa trận tuyến thù địch; đoàn kết dân tộc gắn với đoàn kết quốc tế. Mục tiêu hướng đến cũng chính là cơ sở của khối đoàn kết dân tộc nhằm phát triển toàn diện các lĩnh vực chính trị, kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, cải thiện và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân các dân tộc, giữ vững ổn định chính trị-xã hội, phát huy sức mạnh của các dân tộc trong xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Việc củng cố, xây dựng, phát huy đoàn kết các dân tộc là một bộ phận của khối đại đoàn kết toàn dân tộc Việt Nam - bao gồm đoàn kết trong Đảng, đoàn kết các giai cấp, tầng lớp nhân dân, đoàn kết các dân tộc, tôn giáo, đoàn kết giữa người Việt Nam ở trong nước và người Việt Nam ở nước ngoài, đoàn kết quốc tế. Củng cố và tăng cường đoàn kết dân tộc góp phần quan trọng để phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc Việt Nam. Nói cách khác, đoàn kết dân tộc ở đây là đoàn kết trên phương diện tộc người ở nước ta, khác với đại đoàn kết toàn dân tộc là đoàn kết trên phương diện quốc gia dân tộc Việt Nam.

Nội dung thực hiện đoàn kết các dân tộc ở Việt Nam hiện nay tập trung vào các vấn đề chủ yếu sau đây:

Thứ nhất, tập trung tuyên truyền, phổ biến, giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiệm của mọi tổ chức, cá nhân trong hệ thống chính trị các cấp, các lực lượng đứng chân và toàn thể đồng bào các dân tộc trên địa bàn về chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, địa phương về dân tộc và đoàn kết các dân tộc; về truyền thống yêu nước, đoàn kết của các dân tộc địa phương; sự đoàn kết, nhất trí, đồng thuận giữa các dân tộc với Đảng, Nhà nước, lực lượng vũ trang...

Thứ hai, phát triển toàn diện vùng dân tộc thiểu số cả về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh gắn với thực hiện tốt chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước; không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào các dân tộc, tạo nền tảng kinh tế - xã hội vững chắc của khối đoàn kết các dân tộc. Điều này đảm bảo lợi ích thiết thực của đồng bào các dân tộc, là cơ sở quan trọng của khối đoàn kết các dân tộc nước ta, đồng thời đảm bảo giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa các dân tộc, củng cố niềm tin của đồng bào với Đảng, Nhà nước, chính quyền địa phương và lực lượng vũ trang.

Thứ ba, tổ chức thực hiện tốt các phong trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động cách mạng nhằm thu hút sự tham gia của đồng bào các dân tộc như: phong trào thi đua xây dựng nông thôn mới; cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu  dân cư”, “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc”, “Mái ấm cho người nghèo nơi biên giới, hải đảo”… Quan tâm giải quyết kịp thời các vấn đề xã hội bức xúc nảy sinh trên địa bàn; phòng, chống, ngăn chặn tư tưởng và hành động chia rẽ dân tộc, tư tưởng dân tộc lớn, dân tộc nhỏ...

Thứ tư, đẩy mạnh đấu tranh phòng chống các âm mưu, thủ đoạn lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo hòng phá hoại, chia rẽ dân tộc, các hoạt động làm mất ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn. Chủ động đấu tranh ngăn chặn, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn lợi dụng dân tộc, tôn giáo của các thế lực thù địch như: kích động ly khai, “tự trị”, truyền đạo trái pháp luật, đảm bảo an ninh trật tự, chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia.

QUAN ĐIỂM CƠ BẢN CỦA ĐẢNG TA VỀ ĐOÀN KẾT CÁC DÂN TỘC

Trên cơ sở quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta khẳng định đoàn kết dân tộc là nguyên tắc cơ bản, nhất quán về dân tộc và giải quyết vấn đề dân tộc ở Việt Nam cùng với các nguyên tắc: bình đẳng, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển. Đảng chỉ rõ: Ngay từ khi mới ra đời và trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn xem vấn đề dân tộc, công tác dân tộc và đoàn kết các dân tộc có vị trí chiến lược quan trọng trong cách mạng nước ta. Trong cách mạng giải phóng dân tộc, Đảng xác định một nhiệm vụ quan trọng của cách mạng bấy giờ là đoàn kết công nông các dân tộc để tập hợp lực lượng cách mạng, giải phóng dân tộc. Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, trong bối cảnh “thù trong, giặc ngoài”, Pháp quay trở lại xâm lược nước ta, Đảng chủ trương tăng cường đoàn kết dân tộc để “kháng chiến và kiến quốc”, coi: Chính sách dân tộc thiểu số là một bộ phận quan trọng trong chính sách đại đoàn kết của Đảng, và khẳng định: Chính sách của Đảng và Chính phủ lúc này là làm cho các dân tộc đoàn kết chặt chẽ, đặng kháng chiến, đánh bại quân xâm lược và cùng nhau xây dựng một quốc gia Việt Nam độc lập, thống nhất, dân chủ, tự do, phú cường. Trong đó mọi dân tộc đều bình đẳng và giúp đỡ nhau cùng tiến. Trong thời kỳ đổi mới, Nghị quyết số 24, Hội nghị lần thứ Bảy khóa IX của Đảng về Công tác dân tộc đã khẳng định: Vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc là vấn đề chiến lược cơ bản, lâu dài, đồng thời cũng là vấn đề cấp bách hiện nay của cách mạng Việt Nam. Quan điểm đoàn kết các dân tộc của Đảng dựa trên cơ sở  thống nhất lợi ích chung của quốc gia dân tộc, là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh: Bảo đảm các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau, cùng phát triển. Việc củng cố, phát huy khối đoàn kết dân tộc là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của cả hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở.

Như vậy, đoàn kết dân tộc ở nước ta là sự liên kết, gắn bó, cố kết, xích lại gần nhau, có trách nhiệm với nhau giữa các dân tộc - tộc người trong nước, tạo thành một khối vững chắc trên cơ sở lợi ích và mục tiêu chung là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Đó là khối đoàn kết 54 dân tộc, đoàn kết giữa dân tộc đa số - dân tộc Kinh với các dân tộc thiểu số, đoàn kết giữa các dân tộc thiểu số với nhau; đoàn kết giữa các dân tộc với Đảng, Nhà nước, tạo thành một khối vững chắc dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, trên cơ sở mục tiêu, nguyên tắc: bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển, vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Đoàn kết các dân tộc vừa là vấn đề chiến lược, cội nguồn sức mạnh và nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng nước ta, đồng thời là nguyên tắc cơ bản, nhất quán, xuyên suốt trong quan điểm, chính sách của Đảng, Nhà nước về dân tộc và giải quyết vấn đề dân tộc ở nước ta, nhằm khơi dậy, phát huy sức mạnh của cả 54 dân tộc, sức mạnh truyền thống và hiện đại, sức mạnh về vật chất và tinh thần, đặc biệt là sức mạnh về con người trong sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.

Ở đây, đoàn kết dân tộc là sự đoàn kết giữa 54 dân tộc nước ta với nhau, đồng thời là sự đoàn kết, gắn bó giữa các dân tộc với Đảng, Nhà nước, với hệ thống chính trị địa phương và lực lượng vũ trang đứng chân trên một địa bàn cụ thể cũng như cả nước. Đó là biểu hiện sự gắn bó chặt chẽ trong quan hệ dân tộc trên phương diện mối quan hệ giữa các tộc người với nhau, giữa các tộc người với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước - chủ thể lãnh đạo, quản lý và là hạt nhân của khối đoàn kết dân tộc.