Hiển thị các bài đăng có nhãn tập đoàn. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn tập đoàn. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 12 tháng 1, 2021

THỰC HIỆN QUYỀN TỰ VỆ CHÍNH ĐÁNG

Sau chiến thắng năm 1975, nhân dân Việt Nam tha thiết mong muốn hòa bình để khôi phục và phát triển đất nước. Chúng ta đã thực hiện chủ trương giảm quân thường trực kể cả các quân khu ở phía Nam để tập trung cho nhiệm vụ hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục và xây dựng, phát triển đất nước.

Trước hành động khiêu khích, xâm phạm biên giới Tây Nam Việt Nam của quân Pôn Pốt, Đảng, Nhà nước ta luôn nhất quán quan điểm mong muốn Việt Nam và Campuchia đàm phán ký kết hiệp ước về biên giới giữa hai nước trên tinh thần tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của nhau, tiếp tục phát triển tình đoàn kết, hữu nghị giữa nhân dân hai nước. Chúng ta thực hiện nghiêm các thỏa thuận tại cuộc gặp mặt đại diện Việt Nam và Campuchia tại Phnôm Pênh diễn ra vào tháng 4-1976.

Kiên trì chủ trương xây dựng đường biên giới hòa bình, hữu nghị với Campuchia, Quân ủy Trung ương Đảng ta đã chỉ thị cho các quân khu, tỉnh có đường biên giới với Campuchia tăng cường đoàn kết với nhân dân Campuchia, tránh mọi sự khiêu khích. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng, tháng 12-1976, Đảng, Nhà nước Việt Nam tiếp tục khẳng định lập trường của mình: “Ra sức bảo vệ và phát triển mối quan hệ đặc biệt giữa nhân dân Việt Nam với nhân dân Lào và Campuchia, tăng cường tình đoàn kết chiến đấu, lòng tin cậy, sự hợp tác lâu dài và sự giúp đỡ lẫn nhau về mọi mặt giữa nước ta với hai nước anh em trên nguyên tắc hoàn toàn bình đẳng, tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau; tôn trọng lợi ích của nhau, làm cho ba nước vốn gắn bó với nhau trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc sẽ mãi mãi gắn bó với nhau trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước, vì độc lập và phồn vinh của mỗi nước”.

Tuy nhiên, bất chấp mọi nỗ lực ngoại giao hòa bình của Việt Nam, tập đoàn Pôn Pốt ra sức tuyên truyền xuyên tạc lịch sử, chủ động gây ra các vụ xung đột, lấn chiếm biên giới Tây Nam Việt Nam; huy động phần lớn sức mạnh quân sự, hàng chục sư đoàn chủ lực và nhiều trung đoàn địa phương tiến hành cuộc chiến tranh xâm chiếm biên giới Tây Nam Việt Nam. Đi đến đâu, chúng tàn phá làng mạc, giết hại dã man người dân, kể cả người già, phụ nữ, trẻ em Việt Nam.

Những hành động xâm lược và diệt chủng tàn bạo của tập đoàn Pôn Pốt là không thể dung tha. Đáp lời kêu gọi khẩn thiết của Mặt trận Đoàn kết dân tộc cứu nước Campuchia, của nhân dân Campuchia, Đảng, Nhà nước, Quân đội và nhân dân Việt Nam đã thực hiện quyền tự vệ chính đáng và thiêng liêng của mình để bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ tính mạng và tài sản của nhân dân; đồng thời cùng với lực lượng vũ trang và nhân dân Campuchia đánh đổ chế độ diệt chủng, giúp đỡ những người cách mạng chân chính Campuchia làm lại cuộc cách mạng đã bị phản bội.

Với dã tâm xâm lược, mở đầu cuộc chiến tranh, Pôn Pốt liên tiếp mở 3 cuộc tiến công quy mô lớn sang lãnh thổ Việt Nam. Ngày 30-4-1977, chúng đánh vào 14/16 xã biên giới thuộc tỉnh An Giang, tàn phá các bản làng, trường học, cơ sở sản xuất của ta, bắn pháo vào những nơi đông dân cư ở sát biên giới và vào sâu trong lãnh thổ Việt Nam. Các cuộc tiến công và pháo kích của quân Pôn Pốt vào An Giang tính đến ngày 19-5-1977 đã giết hại 222 người và làm 614 người dân Việt Nam bị thương, phá nhiều nhà cửa, tài sản của nhân dân...

Trước hành động xâm lược trắng trợn của quân Pôn Pốt, các lực lượng biên phòng và dân quân, du kích các xã Vĩnh Xương, Vĩnh Gia, Nhân Hưng… đã anh dũng chiến đấu, ngăn chặn địch. Quân đội ta đã sử dụng 1 trung đoàn (thuộc Sư đoàn 330), 1 trung đoàn tàu thuyền và 2 tiểu đoàn địa phương An Giang đánh trả, diệt 300 tên, buộc quân Pôn Pốt rút về bên kia biên giới. Ngày 23-5-1977, Quân ủy Trung ương ra chỉ thị cho lực lượng vũ trang ở phía Nam: “Kiên quyết bảo vệ chủ quyền lãnh thổ của ta, không dung thứ bất cứ sự xâm lấn nào của lực lượng khiêu khích phản động Campuchia vào lãnh thổ ta; đồng thời tôn trọng chủ quyền lãnh thổ của Campuchia. Tìm mọi cách làm nhụt tinh thần của bọn khiêu khích. Tuyên truyền vận động nhân dân bạn và tranh thủ sự đồng tình của dư luận, tạo điều kiện ổn định một bước biên giới với Campuchia. Đập tan âm mưu chia rẽ các nước anh em trên bán đảo Đông Dương”.

Thực hiện chỉ thị của Quân ủy Trung ương, các đơn vị Quân khu 5, Quân khu 7, Quân khu 9, Quân đoàn 3, Quân đoàn 4 tổ chức điều chỉnh lực lượng, phương tiện, xây dựng phương án, sẵn sàng chiến đấu. Tổng cục Hậu cần triển khai một số kho, bảo đảm yêu cầu chiến đấu; các binh chủng Công binh, Pháo binh triển khai một số đơn vị sẵn sàng đánh địch ở các hướng; mạng thông tin liên lạc từ quân khu tới các đồn, chốt biên phòng được tăng cường thêm lực lượng và phương tiện.

Từ ngày 25-9-1977, quân Pôn Pốt tập trung 9 sư đoàn chủ lực cùng lực lượng địa phương mở cuộc tiến công lớn thứ 2 đánh sang địa bàn các tỉnh An Giang, Kiên Giang, Long An, Đồng Tháp lên hướng Tây Ninh, gây nhiều tội ác đối với nhân dân Việt Nam. Riêng ở 3 xã thuộc các huyện Tân Biên, Bến Cầu (Tây Ninh), quân Pôn Pốt đã tàn sát trên một nghìn người dân.

Trước diễn biến mới của cuộc chiến tranh, do ta chưa tổ chức được tuyến phòng thủ biên giới, Bộ Tổng Tham mưu quyết định sử dụng một bộ phận lực lượng chủ lực cơ động của Bộ đánh lui các cuộc tiến công của quân Pôn Pốt ở nhiều khu vực trên biên giới, giành lại những khu vực bị lấn chiếm, sau đó lui về củng cố lực lượng.

Phát hiện ta đã lui quân về phía sau, ngày 15-11-1977, quân Pôn Pốt lại mở cuộc tiến công mới nhằm đánh chiếm thị xã Tây Ninh. Trước tình hình đó, từ 5-12-1977 đến 5-1-1978, Quân đoàn 4, Quân đoàn 3 và Quân khu 7, Quân khu 9 tập trung 8 sư đoàn mở đợt phản công trên các hướng đường 7, đường 1, đường 2, truy kích quân Pôn Pốt sâu vào đất Campuchia 20-30km; đánh thiệt hại 5 sư đoàn, làm thất bại kế hoạch đánh chiếm thị xã Tây Ninh của địch.

Với âm mưu thủ đoạn nham hiểm “vừa ăn cướp, vừa la làng”, tập đoàn Pôn Pốt đưa chiến tranh biên giới ra trước dư luận thế giới: Ngày 31-12-1977, chúng ra tuyên bố vu khống Quân đội Việt Nam “tiến công xâm lược Campuchia dân chủ” nhằm cô lập Việt Nam trên trường quốc tế. Cũng trong ngày 31-12-1977, Chính phủ ta ra tuyên bố về vấn đề biên giới Việt Nam- Campuchia, nêu rõ lập trường và nguyên tắc của ta là: Kiên quyết bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ mình; luôn luôn tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Campuchia, làm hết sức mình để bảo vệ tình đoàn kết chiến đấu và hữu nghị Việt Nam - Campuchia; vạch trần âm mưu thủ đoạn và những tội ác man rợ của tập đoàn Pôn Pốt đối với đồng bào ta ở các tỉnh vùng biên giới Tây Nam.

Tinh thần xây dựng, lập trường chính nghĩa của Đảng, Nhà nước ta mong muốn giải quyết vấn đề biên giới giữa hai nước Việt Nam- Campuchia thông qua đàm phán hòa bình, tôn trọng lẫn nhau được dư luận thế giới đồng tình ủng hộ. Tuy nhiên, mọi nỗ lực ngoại giao nhằm thiết lập một vùng phi quân sự dọc biên giới của Chính phủ ta đều bị tập đoàn Pôn Pốt từ chối. Chúng tiếp tục phát động chiến tranh xâm lược biên giới Tây Nam nước ta.

Thứ Hai, 11 tháng 1, 2021

LỘ DIỆN BỘ MẶT PHẢN ĐỘNG CỦA TẬP ĐOÀN PÔN PỐT

Từ lâu, nhân dân Việt Nam và Campuchia đã xây dựng tình hữu nghị, đoàn kết cùng chống kẻ thù chung, đặc biệt đã kề vai sát cánh trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược để giành độc lập, tự do cho dân tộc. Tuy nhiên, do bị các thế lực phản động, thù địch nước ngoài kích động, lợi dụng, từ những năm cuối cuộc kháng chiến chống Mỹ (1970 -1975), quân Pôn Pốt đã tiến hành một số vụ tiến công, bắt cóc giết hại cán bộ, bộ đội Việt Nam hoạt động ở chiến trường Campuchia, đồng thời gây chia rẽ nội bộ những người cộng sản Campuchia. Chỉ tính riêng 6 tháng đầu năm 1973, quân Pôn Pốt gây ra 102 vụ, sát hại và làm bị thương 103 bộ đội Việt Nam, cướp hàng chục tấn lương thực và vũ khí.

Thực hiện âm mưu chiến lược phá hoại mối quan hệ liên minh đoàn kết chiến đấu giữa 3 nước Campuchia - Việt Nam - Lào nói chung và giữa hai nước Việt Nam - Campuchia nói riêng, tháng 4-1975, sau khi lên nắm quyền, tập đoàn Pôn Pốt đã phản bội lại sự nghiệp cách mạng của nhân dân Campuchia và phá hoại truyền thống đoàn kết, hữu nghị của nhân dân hai nước, thực hiện chính sách diệt chủng ở Campuchia và xâm lược biên giới Tây Nam của Việt Nam.

Cụ thể, ở trong nước, chúng phạm sai lầm đặc biệt nghiêm trọng, thực thi chính sách diệt chủng tàn khốc, cưỡng bức lao động khổ sai, tra tấn hành hạ dã man người dân Campuchia; biến trường học, nhà chùa thành nhà tù, khắp mọi nơi đầy những hố chôn người tập thể… Chỉ trong 3 năm 8 tháng và 20 ngày (từ tháng 4-1975 đến cuối năm 1978), chế độ Pôn Pốt đã giết hại gần 3 triệu người dân Campuchia vô tội, xóa bỏ mọi cơ sở xã hội, xóa bỏ thành thị, xóa bỏ sản xuất công nghiệp và thủ công nghiệp, xóa bỏ quan hệ tiền tệ, buôn bán và đẩy Campuchia đứng trước thảm họa diệt vong. Chế độ hà khắc ban hành đã trùm lên đất nước Campuchia đau thương: Không tự do đi lại, không tự do hội họp, không tự do ngôn luận, không tự do tín ngưỡng, không tự do học hành, không tự do hôn nhân, không bệnh viện, không tiêu tiền, không buôn bán, không chùa chiền...

Được các thế lực phản động nước ngoài hậu thuẫn, tập đoàn phản động Pôn Pốt chủ trương phá nát mối quan hệ đoàn kết, hữu nghị truyền thống lâu đời giữa Việt Nam và Campuchia; ra sức vu khống Việt Nam, kích động tư tưởng dân tộc hẹp hòi; kích động xét lại quan hệ hai nước, đòi hoạch định lại biên giới Việt Nam- Campuchia, vô cớ coi Việt Nam là kẻ thù số 1 và tiến hành hàng loạt những cuộc xâm lấn biên giới, giết hại dân thường. Năm 1975, khi đất nước Việt Nam vừa thống nhất, Pôn Pốt đã cho quân xâm lược các đảo, biên giới đất liền Tây Nam nước ta. Ngày 3-5-1975, chúng đánh chiếm đảo Phú Quốc; ngày 10-5-1975, chúng lại tiếp tục đánh chiếm đảo Thổ Chu, bắt và giết hơn 500 dân thường. Trên đất liền, chúng khiêu khích bộ đội biên phòng ta, cho dân di dời cột mốc biên giới ở một số điểm thuộc các tỉnh Tây Ninh, Kon Tum, Đắk Lắk. Tháng 10-1975, chúng xâm nhập khu vực Pa Chàm (Lổ Cồ), xâm canh các khu vực Mộc Bài, Khuốc, Vạt Sa, Tà Nốt, Tà Bạt. Cuối năm 1975 đầu năm 1976, quân Pôn Pốt bất ngờ tiến hành một số vụ xâm nhập vào sâu lãnh thổ Việt Nam, có nơi trên 10km như ở vùng sông Sa Thầy (Gia Lai, Kon Tum), gây ra tội ác với nhân dân Việt Nam.

Tháng 1-1976, Đại hội lần thứ IV của Đảng Cộng sản Campuchia (do Pôn Pốt làm Bí thư) xác định: “Tai họa nhất cần phải chú ý là Việt Nam…”. Trong thời gian này, được sự giúp đỡ từ bên ngoài, Pôn Pốt càng đẩy mạnh các hoạt động quân sự phá hoại ta ở vùng biên giới Tây Nam. Cuối tháng 2 đầu tháng 3 năm 1976, quân Pôn Pốt khiêu khích hai đồn biên phòng số 7 và số 8 ở Bu Prăng (Đắk Lắk). Cuối năm 1976, chúng tăng cường các hoạt động khiêu khích, lấn chiếm ở vùng biên giới Tây Nam nước ta. Trên địa bàn Quân khu 7, chúng gây ra 280 vụ khiêu khích, lấn chiếm 20 điểm trên biên giới. Ở địa bàn Quân khu 5 và Quân khu 9, các vụ xâm lấn ngày càng tăng với tính chất ngày càng nghiêm trọng hơn.

Đi đôi với hành động xâm lược, tập đoàn Pôn Pốt ra sức tuyên truyền, bôi nhọ hình ảnh Việt Nam, kích động tâm lý chống Việt Nam, coi Việt Nam là “kẻ thù truyền kiếp”, “kẻ thù số 1”. Lấy cớ làm sạch nội bộ, chúng tiến hành phân loại dân, thực hiện nhiều cuộc thanh trừng đẫm máu, trong đó tập trung vào số cán bộ trước đây được đào tạo ở Việt Nam.

Cùng với các hoạt động khiêu khích, xâm lược thô bạo đến biên giới Tây Nam của Việt Nam, trong 2 năm (từ 30-4-1975 đến 30-4-1977), Pôn Pốt đã ráo riết chuẩn bị chiến tranh. Chúng phân chia lại đơn vị hành chính, tổ chức bộ máy chính quyền thôn, xã, huyện, tỉnh theo kiểu quân sự, thanh trừng những người chống đối, kích động tâm lý chống Việt Nam; xây dựng lực lượng, phát triển quân chủ lực từ 7 sư đoàn khi mới giải phóng lên 12 sư đoàn quân chính quy với đầy đủ thành phần binh chủng, hàng vạn quân địa phương, trong đó điều động 41% quân số và trang thiết bị áp sát biên giới Việt Nam. Trong hai tháng 3 và 4-1977, quân Pôn Pốt liên tiếp mở nhiều cuộc hành quân diễn tập dọc biên giới với nước ta dưới danh nghĩa “phòng thủ khu vực”, “bảo đảm an ninh nội địa”, nhưng thực chất đó là các cuộc điều quân ra biên giới. Pôn Pốt tuyên bố: “Mâu thuẫn Việt Nam- Campuchia là mâu thuẫn chiến lược sống còn, không thể điều hòa được, cũng không thể giải quyết bằng thương lượng mà phải dùng biện pháp quân sự”. Cuối tháng 4-1977, Pôn Pốt điều động 5 sư đoàn và hàng trăm khẩu pháo, xe tăng áp sát biên giới Việt Nam, thực hiện âm mưu xâm lược quy mô lớn vào lãnh thổ vùng biên giới Tây Nam của nước ta.

Đêm ngày 30-4-1977, lợi dụng lúc quân và dân ta kỷ niệm 2 năm ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, tập đoàn Pôn Pốt đã mở cuộc tiến công trên toàn tuyến biên giới tỉnh An Giang, chính thức bắt đầu cuộc chiến tranh xâm lược biên giới Tây Nam của Việt Nam.

Thứ Năm, 18 tháng 8, 2016

Phải chăng có “Những điều không thể hiểu nổi?”

Đảng Cộng sản Việt Nam trong quá trình lãnh đạo sự nghiệp cách mạng, rất chú trọng phát huy tính ưu việt của chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa và coi đó vừa là mục tiêu, vừa là động lực để phát triển đất nước. Đảng, Nhà nước ta luôn chú trọng thực hiện phương châm dân biết, dân bàn, dân làm và dân kiểm tra, công khai minh bạch các vấn đề xã hội. Đảng, Nhà nước ta không bao giờ bao che cho các hành vi tham ô, tham nhũng, có hành vi làm trái với pháp luật và làm tổn hại đến tài sản của đất nước, niềm tin của nhân dân. Những vụ việc tham ô, tham nhũng, hai máy bay Su – 30 MK2 và CaSa - 12 của Quân chủng PK-KQ gặp nạn trên biển và việc Tập đoàn Formosa xả chất thải gây ô nhiễm ven biển miền Trung, đều được Đảng, Nhà nước chỉ đạo giải quyết kịp thời, công khai nguyên nhân của vụ việc để nhân dân cùng chia sẻ và cùng giải quyết. Mặc dù, Đảng, Nhà nước ta đã công khai minh bạch, chính xác, kịp thời về nguyên nhân của hai máy bay Su - 30 MK2 và CaSa - 12 của Quân chủng PK-KQ gặp nạn trên biển và việc Tập đoàn Formosa xả chất thải gây ô nhiễm ven biển miền Trung trên nhiều phương tiện thông tin đại chúng. Mặc dù vậy, trong thời gian qua vẫn có không ít các đối tượng phản động, chống đối cực đoan đã tán phát nhiều bài viết có nội dung tuyên truyền, xuyên tạc sự thật, chống lại Đảng, Nhà nước ta. Có những kẻ từ bỏ quê hương, từ bỏ đồng bào, từ bỏ Tổ quốc, đang sống lưu vong ở nước ngoài, sống bằng nghề  bồi bút lớn tiếng cho rằng  “ Những điều không thể hiểu nổi”? Phải chăng do ông ta cố ý hay do xa Tổ quốc thiếu thông tin hay lợi dụng vụ việc đó để cố tình vu khống cho Đảng, Nhà nước ta không dân chủ, không minh bạch, không giải trình một số vụ việc cho nhân dân biết...để tiếp tục bài ca không có gì xa lạ là “Đảng độc quyền lãnh đạo thì không có dân chủ”?
Lịch sử của xã hội loài người cho thấy có nhiều thuộc tính để đánh giá trình độ dân chủ của một chế độ xã hội, trong đó tính minh bạch và giải trình là một thuộc tính quan trọng. Trong thực hiện chế độ dân chủ ở các nước xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay rất chú trọng tính minh bạch, vì đó là sự thể hiện mối quan hệ giữa giai cấp công nhân cầm quyền thông qua vai trò lãnh đạo của chính Đảng, quản lý của Nhà nước với nhân dân. Không phải đến bây giờ mới xuất hiện tính minh bạch mà nó xuất hiện rất sớm, song nó cũng không phải là thuộc tính cố hữu của bất cứ xã hội nào, nhất là trong các xã hội người bóc lột người trước đây và kể cả trong xã hội tư bản chủ nghĩa hiện nay.
Theo tiếng Việt nên hiểu Minh bạch, xét dưới góc độ hành động là động từ, dùng để chỉ những hành động thể hiện sự rõ ràng, rành mạch trong bất cứ công việc nào. “Minh bạch - rõ ràng”; còn xét dưới tính chất của sự việc, trạng thái của hành động thì minh bạch còn là tính từ, trạng từ, với nguyên gốc của từng từ cụ thể có thể hiểu: minh là sáng; bạch là trắng; theo đó, minh bạch cũng được hiểu với tính chất là rõ ràng. Theo tiếng Việt phổ thông: “Minh bạch. Rõ ràng, rành mạch”. Những từ đồng nghĩa với minh bạch được thừa nhận là rành mạch, sáng tỏ; còn những từ trái nghĩa cùng được hiểu một cách thống nhất là: ám muội, bất minh, khuất tất, mờ ám. Tiếng Anh, còn có các từ: clear transparent với đồng nghĩa chỉ tính chất của sự việc, hành động là trong suốt, dễ hiểu, dễ nhận thấy rõ, minh bạch...
Giải trình, trước hết theo cách hiểu thông thường thì giải trìnhgiải thích, trình bày nhằm làm sáng rõ một vấn đề gì. Trong tiếng Anh cỏ từ: Explain với nghĩa là giải thích, thanh minh. Còn trong tiếng Việt, nghĩa của “Giải trình. Trình bày, giải thích, thuyết minh”... Như vậy, giải trình được hiểu với các từ nguyên nghĩa là trình bày, giải thích, nói rõ, thuyết minh, làm sáng rõ một vấn đề gì đó.
Thực tế diễn ra hai máy bay Su - 30 MK2 và CaSa - 12 của Quân chủng PK-KQ gặp nạn trên biển và việc Tập đoàn Formosa xả chất thải gây ô nhiễm ven biển miền Trung là điều mỗi người dân yêu nước không ai muốn để xảy ra. Đảng, Nhà nước ta, các cơ quan chức năng đã công khai minh bạch nguyên nhân vụ việc trên các phương tiện thông tin đại chúng, huy động mọi nguồn lực trong nước và ngoài nước để khắc phục hậu quả, hỗ trợ và chia sẻ những mất mát cho những quân nhân bị nạn, ngư dân miền Trung. Hiện nay các cơ quan chức năng từ Trung ương đến các địa phương tiếp tục kiểm điểm làm rõ trách nhiệm của mỗi cấp, mỗi ngành để rút ra những bài học kinh nghiệm, không để tái diễn những vụ việc tương tự. Đại diện cho Tập đoàn Formosa xả chất thải gây ô nhiễm ven biển miền Trung đã xin lỗi Đảng, Nhà nước và toàn thể nhân dân ta, cũng đã nhận rõ trách nhiệm của mình và xin bồi thường 500 triệu USD. Ngoài ra các tổ chức chính trị - xã hội, những nhà hảo tâm đã phát huy truyền thống dân tộc “thương người như thể thương thân” đã có nhiều hoạt động quyên góp tiền, gạo để giúp đỡ đông bào ven biển miền Trung và những quân nhân bị nạn.
 Đảng, Nhà nước ta có minh bạch và giải trình công khai những vụ việc đã xảy ra trên các phương tiện thông tin nên đã thu hút được sự quan tâm chia sẻ của đồng bào trong nước và ngoài nước; đồng thời đó cũng là một trong những minh chứng của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay. Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đang phát huy tối đa những thuộc tính dân chủ xã hội theo phương châm là của dân, do dân và vì dân mà thường gọi là chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa. Đây là một chế độ xã hội mà ý Đảng, lòng dân luôn phấn đấu hướng tới và nó khác về chất so với những xã hội còn có sự bóc lột người, đặc biệt là xã hội tư bản chủ nghĩa. Điều căn bản nhất quy định mức độ phát triển của các thuộc tính minh bạch và giải trình lại chính là sự phát triển của nền kinh tế dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất. Song cùng với sự phát triển của kinh tế, nhu cầu đầu tiên của đời sống xã hội sẽ kéo theo những tập quán, thói quen về minh bạch và giải trình, đòi hỏi sự phát triển thích ứng và tương thích của hệ thống luật pháp. Luật pháp định hình và được thực thi một cách nghiêm minh, thường xuyên, liên tục lại là điều kiện để minh bạch và giải trình trở thành nếp sống và văn hóa luật pháp của chế độ xã hội đó. Mặc dù là độc Đảng nhưng Đảng Cộng sản Việt Nam luôn luôn lắng nghe ý kiến của nhân dân và vì nhân dân, thường xuyên quan tâm công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng để thực sự vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng, tổ chức; đáp ứng ngang tầm đòi hỏi của nhiệm vụ lãnh đạo sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới. Đảng Cộng sản Việt Nam là một mẫu mực thực hành dân chủ trong sinh hoạt Đảng, lãnh đạo sự nghiệp đổi mới đồng bộ các lĩnh vực của đời sống xã hội để từng bước thực hiện mục tiêu: “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, văn minh” ./.