Hiển thị các bài đăng có nhãn luật pháp quốc tế. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn luật pháp quốc tế. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 29 tháng 8, 2022

PHẢN BÁC LUẬN ĐIỆU CHO RẰNG: VIỆT NAM ĐÃ THỪA NHẬN CHỦ QUYỀN CỦA TRUNG QUỐC TẠI HOÀNG SA VÀ TRƯỜNG SA

Từ trước đến nay, các học giả Trung Quốc luôn viện dẫn nội dung Bức thư của Thủ tướng Phạm Văn Đồng gửi các nhà lãnh đạo Trung Quốc ngày 14 - 9 - 1958, xem đây là bằng chứng cho rằng Việt Nam đã thừa nhận chủ quyền của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Ngày 17 - 4 - 2020, Trung Quốc gửi công hàm lên Liên Hợp Quốc để khẳng định chủ quyền với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (thuộc chủ quyền của Việt Nam), trong đó, Trung Quốc khẳng định Chính phủ Việt Nam cũng đã công nhận điều này thông qua công hàm 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng.

Vậy sự thật lịch sử về nội dung Bức thư của Thủ tướng Phạm Văn Đồng gửi Thủ tướng Trung Quốc ngày 14 - 9 - 1958 như thế nào?

Văn kiện (Sách trắng) của Bộ Ngoại giao nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1982 nêu rõ: “Nội dung công hàm không hề nói tới Hoàng Sa và Trường Sa, thậm chí không nói đến cả vấn đề lãnh thổ một cách chung chung, và lại càng không nói gì về việc “công nhận” chủ quyền của Trung Quốc đối với hai quần đảo đó. Bắc Kinh đã cố tình biến cử chỉ hữu nghị chân thành của Việt Nam thành một tuyên bố “công nhận” Hoàng Sa và Trường Sa là của Trung Quốc để rồi lớn tiếng vu cáo “Việt Nam lật lọng”.Trong cuộc gặp các nhà lãnh đạo Trung Quốc vào tháng 4 - 1977, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nói rõ: “Công hàmngày 14 - 9 - 1958 của Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chỉ biểu thị thái độ ghi nhận và tán thành tuyên bố ngày 4/9/1958 của Trung Quốc về hải phận 12 hải lý, hoàn toàn không nói gì đến quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa mà lúc đó Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chưa có chủ quyền, nên Trung Quốc không thể coi đó là văn bản xác nhận chủ quyền của Trung Quốc trên hai quần đảo”.Trong cuộc họp báo quốc tế về tình hình Biển Đông ngày 16 - 6 - 2014, Bộ Ngoại giao Việt Nam nêu rõ,Trung Quốc đã cố tình xuyên tạc lịch sử và diễn giải sai lịch sử khi viện dẫn Công thư của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng năm 1958 và một số tài liệu, ấn phẩm được xuất bản ở Việt Nam trước năm 1975 như là bằng chứng về việc Việt Nam công nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với Hoàng Sa.

Chủ quyền Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa là thiêng liêng, không thể nhân nhượng, không thể thỏa hiệp, không thể đánh đổi. Nhà nước Việt Nam chưa bao giờ thừa nhận chủ quyền của Trung Quốc ở quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa, luôn kiên quyết bác bỏ yêu sách chủ quyền phi lý và kiên trì đấu tranh trước những hành động của Trung Quốc xâm phạm chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa.Trong các tuyên bố chính thức của Chính phủ Việt Nam và các Công hàm gửi Liên Hợp Quốc, Việt Nam luôn khẳng định lập trường pháp lý về chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Savà các vùng biển đảo thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam được xác định trên cơ sở Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS 1982). Việt Nam không công nhận bất kỳ yêu sách biển nào của Trung Quốc dựa trên cái gọi là “đường chín đoạn” tại Biển Đông. Việt Nam khẳng định,Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982 là cơ sở pháp lý duy nhất, quy định toàn diện và triệt để về phạm vi quyền được hưởng vùng biển giữa Việt Nam và Trung Quốc.

Thứ Hai, 14 tháng 2, 2022

KHÔNG THỂ THAY ĐỔI CHỦ QUYỀN QUỐC GIA BẰNG NGÔN TỪ - TÊN GỌI ĐƯỢC

Cách đây không lâu, trên internet, mạng xã hội đã có kẻ vu cáo rằng: “Việt Nam đã ngầm bán Hoàng Sa cho Tầu cộng”- Rằng: “Đó là lý do vì sao cho đến nay Hà Nội vẫn không đả động gì đến quần đảo này,…và cả quần đảo Trường Sa nữa!”. Vậy sự thật như thế nào?

Trước khi đi vào chủ đề, tác giả xin được cung cấp thông tin liên quan:

“Ngày 12 thánh 1 năm 2022 Bộ Ngoại giao Mỹ đã công bố một báo cáo trong đó đưa ra những lập luận pháp lý bác bỏ những yêu sách sai trái của Trung Quốc ở Biển đông. Thông tin mạng cho biết - Bắc Kinh đã phản ứng gay gắt với Báo cáo này. Tuy nhiên, điều đáng lưu ý là Trung Quốc dường như đang hướng đến một lập luận pháp lý mới (Tứ Sa), thay cho lập luận mà họ đặt tên là “Đường 9 đoạn”, để củng cố những yêu sách chủ quyền ở Biển đông”.

Thông tin vụ việc này báo chí khu vực Đông Nam Á đã lập tức phản ứng: “Ngoại trưởng Malaysia Saifuddin Abdullah trong phát biểu mới đây lưu ý rằng Bắc Kinh hiện “không nhắc đến “Đường 9 đoạn”, mà tập trung nhiều hơn để biện minh về cái mà họ gọi là “Tứ Sa”. Ông Saifuddin Abdullah nói rằng các nước ASEAN cũng đã nhận ra sự thay đổi này trong cách lập luận của Bắc Kinh và yêu sách này “thậm chí nguy hiểm hơn”yêu sách cũ (đường 9 đoạn).

Vậy cái gọi là “Tứ Sa”là gì?

Theo một nghiên cứu đáng tin cậy, Tứ Sa chỉ mới ra đời khi Bắc Kinh “trỗi dậy”- Tập Cận Bình muốn hiện thực hoá “Giấc mộng Trung Hoa… biến Trung Quốc trở thành siêu cường duy nhất thống trị thế giới. Muốn làm được vậy, Trung Quốc phải trở thành cường quốc biển. Mà muốn trở thành cường quốc biển- thì đầu tiên mà Trung Quốc phải giành lấy Biển Đông- cửa ngõ đi ra thế giới rộng lớn. Đây chính là nguyên nhân dẫn đến cái gọi là “Tứ Sa”, nói cách khác đây là một thủ đoạn, một mưu toan độc chiến Biển Đông- biến Biển Đông thành “ao nhà”của mình.

Để độc chiếm Biển Đông, Trung Quốc phải tìm cho được một cơ sở pháp lý nào đó,… Trước hết là đó là việc họ đã “phát hiện”ra cái gọi là “Đường lưỡi bò 9 đoạn đứt khúc”(dựa trên một bản đồ được xuất bản nội bộ của chính quyền Tưởng Giới Thạch từ năm 1948. Trong bản đồ đó “Đường lưỡi bò 9 đoạn”bao trùm cả bốn nhóm thực thể lớn trên Biển Đông, bao gồm: quần đảo Hoàng Sa (Paracels), Trường Sa (Spratlys) và Pratas (Trung Quốc gọi là Đông Sa) và bãi cạn Macclesfield (Trung quốc gọi là Trung Sa). Theo một số học giả Trung quốc- thì họ có 4 lý giải về “Đường lưỡi bò”đó là:

1) Đây là đường biên giới thể hiện yêu sách chủ quyền đối với các đảo và các thực thể bên trong đường này;

2) Đây là đường biên giới quốc gia trên biển;

3) Đây là đường liên quan đến lịch sử (quyền lịch sử hoặc vùng nước lịch sử);

4) Đây là đường thể hiện phân định biển trong tương lai.

Các học giả này cho rằng “Đường lưỡi bò”là “Chủ quyền quyền lịch sử của Trung Quốc…” nhưng đáng tiếc yêu sách chủ quyền tham lam này đã bị Tòa Trọng tài Luật Biển bác bỏ trong vụ Philipin kiện Tầu cộng, 2016.

Trần Thuần Nhất- Một học giả Đài Loan nhận xét rằng: “Lý thuyết này (về Đường lưỡi bò 9 đoạn) không có cơ sở pháp lý phù hợp theo luật biển.Trước đây, nhiều nhà nghiên cứu Luật biển cho rằng: “Đường lưỡi bò được vẽ ra một cách tùy tiện, không có tọa độ để xác định và là một đường đứt khúc nên không thể xem là một đường biên giới đúng luật…”.

Thất bại về pháp lý (về Đường lưỡi bò 9 đoạn) trước Phán quyết Biển Đông của Tòa Luật biển (năm 2016), năm 2017, mấy học giả “dối)”Trung Quốc- lại đưa ra một học thuyết mới- Đó là khái niệm “Tứ Sa”. Trong lập luận này, Trung Quốc tuyên bố chủ quyền đối với quần đảo Pratas, quần đảo Hoàng Sa, quần đảo Trường Sa và bãi ngầm Mcclesfield với tên gọi lần lượt là Đông sa, Tây sa, Nam sa và Trung sa. Thay vì được xem là một nhóm các thực thể tranh chấp, Trung Quốc coi mỗi nhóm đảo và đá ngầm trên là một quần đảo gồm nhiều thực thể khác nhau, với ranh giới biển cụ thể, có chủ quyền và quyền được xác lập xung quanh đó một vùng đặc quyền kinh tế.

Như vậy, trong 4 cách giải thích về “Đường lưỡi bò 9 đoạn”, thì hai cách giải thích đã bị vô hiệu hoá bởi Toà trọng tài trong Vụ Philippines kiện Trung Quốc, đó là giải thích về “quyền lịch sử”và “đường biên giới quốc gia”. Chỉ còn lại hai cách giải thích, đó là đường này thể hiện yêu sách chủ quyền đối với các đảo và các thực thể bên trong đường này, và cách giải thích đây là “đường phân định biển trong tương lai”. Một tài khoản cho rằng, Tầu cộng tham lam nhưng ngô nghê…Làm gì có chuyện chủ quyền quốc gia trong tương lai”. Một tài khoản khác thì cho rằng: Đường phân định biển trong tương lai chỉ là một cách nói để xoa dịu dư luận quốc tế phản ứng, sẽ không “trợ giúp gì cho Trung Quốc độc chiếm biển Đông. Vì thế, Trung Quốc chỉ còn một cách giải thích duy nhất, đó là yêu sách chủ quyền với tất cả các nhóm đảo và các thực thể bên trong đường này (Đường lưỡi bò 9 đoạn) ”(SIC). Lập luận này đương nhiên là không có cơ sở pháp lý.

Việt Nam xác định chủ quyền với toàn bộ quần đảo Hoàng Sa không chỉ về pháp lý, mà còn là hiện diện, trên những thực thể này. Còn nhớ, Hoàng Sa – trước ngày Miền Nam hoàn toàn giải phóng do chính quyền Sài Gòn quản lý. Trong bối cảnh quân đội Việt Nam đang tấn công như vũ bão giải phóng hoàn toàn Miền Nam, Trung Quốc đã sử dụng vũ lực cướp quần đảo Hoàng Sa, 1974 do quân đội Sài Gòn chiếm đóng. Lịch sử còn ghi lại rằng…khi quân đội Sài Gòn chiếm giữ Hoàng Sa chuẩn bị phản cộng quân Tầu cộng những chính quyền Sài Gòn đã không đồng ý, vì biết rằng Hoa Kỳ đã thỏa thuận với Bắc Kinh để Tầu cộng chiếm quần đảo này. Còn quần đảo Trường Sa của Việt Nam thì đã bị nhiều quốc gia chiếm đóng-từ 1988. Cho đến nay, phần lớn quần đảo này do Việt Nam sở hữu.

Để kết thúc bài viết, Bắc Hà xin được cung cấp thông tin về Luật biển liên quan đến Hoàng Sa, và Trường Sa:

Theo nguyên tắc (quan trọng nhất) của luật biển quốc tế: “Đất thống trị biển”, thì các cấu trúc lúc chìm, lúc nổi và các bãi ngầm không thể là căn cứ để yêu sách chủ quyền được, … Do đó, lập luận của Trung Quốc (Về đường lưỡi bò 9 đọn – phi lý) để yêu sách các vùng nước và thềm lục địa kèm theo là vi phạm nghiêm trọng luật biển quốc tế – UNCLOS. Nói cách khác phán quyết năm 2016, Toà trọng tài đã phủ nhận chủ quyền về lịch sử đối với vùng nước bên trong “Đường lưỡi bò 9 đoạn”của Tầu cộng.

Đến đây thì chúng ta có thể thấy: “Đường lưỡi bò 9 đoạn hay “Tứ sa”đều không có gì khác nhau. Đó chỉ là những thủ đoạn nhằm thực hiện mưu đồ độc chiếm biển Đông của Trung Quốc mà thôi. Nhưng vì “Đường lưỡi bò 9 đoạn”đã bị Toà trọng tài Luật biển bác bỏ, cho nên Trung Quốc đã “phát minh”ra cái gọi là “Tứ Sa”… Nói một cách khác: “Tứ sa”hay bất cứ tên gọi gì cũng không thể thay đổi chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo này.

Thứ Năm, 11 tháng 11, 2021

YÊU CẦU TRUNG QUỐC RÚT TÀU CÁ KHỎI VÙNG BIỂN CỦA VIỆT NAM

Tại cuộc họp báo thường kỳ chiều 4-11 diễn ra theo hình thức trực tuyến, trả lời câu hỏi về phản ứng của Việt Nam trước việc nhiều tàu Trung Quốc hoạt động tại Bãi Ba Đầu, Quần đảo Trường Sa của Việt Nam, Phó Phát ngôn Bộ Ngoại giao Phạm Thu Hằng nêu rõ: Việt Nam có đầy đủ cơ sở pháp lý và chứng cứ lịch sử để khẳng định chủ quyền đối với quần đảo Trường Sa phù hợp với luật pháp quốc tế; được hưởng chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với các vùng biển của mình xác lập phù hợp với Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS) năm 1982.

Việt Nam kiên quyết, kiên trì thực hiện các biện pháp phù hợp với luật pháp quốc tế để bảo vệ các quyền hợp pháp và chính đáng đó.

Việc các tàu Trung Quốc hoạt động trong phạm vi lãnh hải của Sinh Tồn Đông thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam đã xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam, vi phạm các quy định của UNCLOS 1982, đi ngược lại tinh thần và nội dung của Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC).

Việt Nam yêu cầu Trung Quốc rút tàu cá khỏi khu vực nói trên và tôn trọng chủ quyền của Việt Nam; thiện chí thực hiện UNCLOS 1982; nghiêm chỉnh tuân thủ DOC; tạo môi trường thuận lợi cho việc đạt được Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC) giữa ASEAN và Trung Quốc; đóng góp vào việc duy trì hòa bình, an ninh, ổn định và trật tự pháp lý trên biển tại khu vực.

Trả lời câu hỏi của phóng viên đề nghị Bộ Ngoại giao đánh giá về việc “5 nhà báo điều hành fanpage Báo Sạch trên Facebook bị buộc tội đăng tải thông tin xuyên tạc và tuyên án tù”, Phó phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Phạm Thu Hằng nhấn mạnh, chính sách nhất quán của Việt Nam tôn trọng, bảo vệ và thúc đẩy quyền con người, trong đó có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí.

Điều này được quy định cụ thể trong Hiến pháp năm 2013, các văn bản pháp luật liên quan và được thể hiện rõ ràng qua sự phát triển mạnh mẽ của báo chí Việt Nam trong thời gian qua. Những nỗ lực và thành tựu của Việt Nam đều được cộng đồng quốc tế ghi nhận và đánh giá cao.

Như ở các quốc gia khác, tại Việt Nam, các hành vi lợi dụng quyền con người để vi phạm pháp luật đều bị xử lý theo quy định pháp luật. Vụ việc đã được báo chí đưa tin công khai, quá trình điều tra, xét xử theo đúng trình tự, thủ tục, quy định của pháp luật Việt Nam.

“Ngoài hành vi bị xét xử trong vụ án này, các bị cáo đã bị tước thẻ nhà báo từ nhiều năm trước vì có hành vi sai phạm, gây ảnh hưởng đến cơ quan, doanh nghiệp và người dân. Họ không thể được coi là nhà báo”, Phó phát ngôn Bộ Ngoại giao Phạm Thu Hằng cho biết thêm.

Thứ Tư, 4 tháng 8, 2021

TỰ DO BÁO CHÍ, TỰ DO NGÔN LUẬN PHẢI TRONG KHUÔN KHỔ CỦA PHÁP LUẬT

Bác bỏ những luận điệu xuyên tạc, sai trái về quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận ở nước ta, các cơ quan báo chí có những bài viết chuyên sâu như: “Hiện thực bác bỏ luận điệu vu cáo tự do báo chí” (Báo Công an nhân dân), “Tự do ngôn luận-nhận thức thấu đáo, ứng xử chuẩn mực và trách nhiệm công dân” (Báo Quân đội nhân dân), “Phủ nhận tự do báo chí ở Việt Nam là cố tình xuyên tạc và kích động dư luận” (Báo Điện tử Đài Tiếng nói Việt Nam)…

Trong đó nhấn mạnh: Nhà nước Việt Nam luôn tôn trọng, bảo đảm quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận của mọi công dân và cũng như các quốc gia khác, để giữ gìn kỷ cương và bảo đảm sự ổn định để phát triển, Nhà nước Việt Nam không cho phép lợi dụng những quyền này để tuyên truyền, kích động lật đổ chính quyền, phá hoại khối đoàn kết dân tộc, xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân.

Phân tích sự khác nhau về bản chất của “tự do ngôn luận” và “ngôn luận tự do”, PGS, TS Nguyễn Văn Dững chỉ ra rằng: Tự do ngôn luận cần bảo đảm tuân thủ chuẩn mực pháp lý, chuẩn mực văn hóa, giao tiếp, là quyền cơ bản của công dân tham gia trao đổi, chia sẻ, tranh luận và phản biện xã hội vì mục đích xây dựng, vì lợi ích công; chứ không phải lợi dụng quyền này để thỏa mãn và mưu lợi cá nhân, để xâm hại lợi ích công và chuẩn mực văn hóa cộng đồng. Còn ngôn luận tự do là tự do nói năng, phát ngôn, bình luận, chia sẻ, tán phát thông tin một cách tùy tiện, vô lối…. Nếu ai cũng nói năng bừa bãi, phát ngôn tùy tiện, chia sẻ thông tin bất chấp đúng-sai, thật-giả lẫn lộn, không chỉ làm cho xã hội rơi vào tình trạng rối nhiễu thông tin mà còn có thể tạo ra những cuộc khủng hoảng thông tin xã hội một cách trầm trọng, từ đó gây mất ổn định an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội.

PGS, TS Tường Duy Kiên, Viện trưởng Viện Nghiên cứu quyền con người (Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh) cho biết, các quy định của Luật Báo chí của chúng ta là phù hợp với các quy định của luật pháp quốc tế. Đăng phát những thông tin chống Nhà nước đều là những hành vi pháp luật Việt Nam nghiêm cấm.