Thứ Ba, 2 tháng 1, 2024

LÀ CHÍNH MÌNH - HIỂU SAO CHO ĐÚNG?

 Quân đội là “trường học lớn” của tuổi trẻ. Từ “ngôi trường” ấy đã có biết bao tấm gương sáng về tinh thần tự hào, tự tôn dân tộc, biết khắc phục khó khăn, thử thách để vươn lên, đem về vinh quang cho Tổ quốc, tiêu biểu trong thời gian gần đây nhất như: Nữ kình ngư Nguyễn Thị Ánh Viên, vận động viên bắn súng Hoàng Xuân Vinh, vận động viên điền kinh Nguyễn Văn Lai, cùng với đó là nhiều gương mặt trẻ lăn xả vào huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, nghiên cứu khoa học, giáo dục, phát triển kinh tế, giúp dân xóa đói, giảm nghèo... Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng và lãnh đạo, chỉ huy các cơ quan, đơn vị trong toàn quân cũng thường xuyên quan tâm, khuyến khích, động viên những cán bộ, chiến sĩ có thành tích xuất sắc trong thực hiện nhiệm vụ bằng những chế độ, chính sách cụ thể, thiết thực, như: Thăng quân hàm trước niên hạn; đề bạt, bổ nhiệm chức vụ công tác; luân chuyển thực tế; đào tạo, bồi dưỡng... và Đề án “Thu hút, trọng dụng nhân tài trong Quân đội” đang triển khai xây dựng là một minh chứng điển hình. Vậy nên, sống trong quân ngũ không thể có chuyện “không được là chính mình”.

Đến đây, tôi chợt nhớ tới câu chuyện “muốn được làm chính mình” của nhân vật Hiếu trong bộ phim “Cuộc chiến không giới tuyến”. Bởi thích tự do làm những điều mình muốn, Hiếu đã tìm mọi cách để không tham gia quân ngũ. Để rồi, chưa kịp thành công, chàng trai trẻ ấy đã để lại cho gia đình “một đống nợ”. Nghe bà nội của Hiếu tâm sự cùng con gái, chắc hẳn rất nhiều khán giả đã không cầm được lòng mình: “Đời tao, nhìn theo bố mày đi công tác, rồi lại đến lượt nhìn anh mày đi công tác... thứ tao quen nhất chỉ là cái bóng sau lưng thôi”. Song, dẫu đã chịu muôn vàn nỗi đau, sự thiệt thòi, nhưng bà vẫn mạnh mẽ, can trường, chủ động động viên, thậm chí yêu cầu Hiếu - người cháu trai duy nhất ở bên cạnh bản thân lúc xế chiều phải cố gắng nối nghiệp ông cha. Trong đôi mắt ngấn lệ, bà khẳng khái: “Đấy, cho cháu muốn làm gì thì làm, giờ thì cháu làm ra một đống nợ! Còn nhập ngũ, cháu đã vào ngày nào đâu mà biết không hợp? Cháu phải vào để quân đội dạy cho cháu cách làm một con người... chứ bà không sống mãi mà lo cho cháu được đâu”. Để rồi, sau quãng thời gian tân binh ngắn ngủi, chàng trai khờ dại, non nớt ngày nào đã rắn rỏi, trưởng thành. Không những vậy, Hiếu còn giác ngộ sâu sắc lý tưởng cách mạng, sự thiêng liêng, cao cả khi được cống hiến cho Tổ quốc. Bởi thế, anh đã tiếp tục viết đơn xin được đi học để phục vụ lâu dài trong quân đội.

Trong tiểu thuyết nổi tiếng “Thép đã tôi thế đấy” của nhà văn Xô viết Nikolai Alekseevich Ostrovsky có đoạn: “Thép đã tôi trong lửa đỏ và nước lạnh, lúc đó thép trở nên không hề biết sợ”. Chủ tịch Hồ Chí Minh muôn vàn kính yêu của chúng ta cũng đã dạy: “Gạo đem vào giã bao đau đớn/ Gạo giã xong rồi, trắng tựa bông/ Sống ở trên đời người cũng vậy/ Gian nan rèn luyện mới thành công”. Do đó, có thể thấy được giá trị và ý nghĩa của tinh thần kiên trì, bền bỉ trong rèn luyện bản lĩnh, trí tuệ đối với sự trưởng thành, phát triển cũng như chặng đường thành công của mỗi con người.

Từ văn học, nghệ thuật, điện ảnh... cho đến cuộc sống, giá trị cao đẹp của “Bộ đội Cụ Hồ” lại càng được khẳng định rõ nét. Điển hình như câu chuyện về gia đình ông Huỳnh Văn Đó, ở xã Tân Hải, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau, là du kích Nam Bộ, có con trai Huỳnh Văn Kết là cựu Quân tình nguyện Việt Nam tại Campuchia, thương binh hạng 1/4. Ông Kết có hai con trai công tác trong lực lượng vũ trang: Anh trai Huỳnh My là Trung úy công an, còn em Huỳnh Văn Hợp đang học năm thứ hai Trường Sĩ quan Chính trị. Đáng chú ý, dẫu đã một lần dang dở mơ ước vì lý do sức khỏe nhưng Huỳnh Văn Hợp vẫn không từ bỏ khao khát được trở thành người sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam; quyết tâm lặn lội từ Nam ra Bắc lần 2 để đi theo con đường mình đã chọn. Nếu không phải là người kiên định, nếu không có lòng quả cảm, liệu chàng trai ấy có đủ can đảm để đi theo con đường mà ông, cha, anh đã lựa chọn, nhất là khi bản thân đã chứng kiến những cơn đau mà mỗi khi trái gió trở trời bố vẫn phải nghiến răng chịu đựng sau những cống hiến thời trai trẻ?

Từ một vài ví dụ điển hình, chúng ta càng cảm thấy khâm phục những tấm gương dám hy sinh vì non sông gấm vóc bao nhiêu, lại càng bất bình với một số người, dẫu chưa đóng góp được gì cho Tổ quốc nhưng đã vội đề cao giá trị của bản thân họ bấy nhiêu!

Dù ở thời chiến hay thời bình, “Bộ đội Cụ Hồ” luôn sẵn sàng nhận về mình những công việc khó khăn nhất. Còn nhớ, trong cuộc chiến với đại dịch Covid-19, Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đã nhấn mạnh: “Chúng tôi sẽ cố gắng làm và làm hết mình... Cái gì khó quá thì cứ giao cho quân đội”. Qua đó khẳng định ý chí quyết tâm của toàn thể cán bộ, chiến sĩ quân đội trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, đúng với lời thề: “Thắng không kiêu, bại không nản, dù gian lao khổ hạnh cũng không sờn lòng, vào sống ra chết cũng không nản chí”.

Mỗi người là chính mình hay không là chính mình không phải do môi trường quyết định, mà phụ thuộc vào bản lĩnh và ý chí của chính họ. Nếu đã chọn lực lượng vũ trang làm điểm khởi đầu của sự nghiệp thì các bạn hãy luôn tự hào và quyết tâm đi hết con đường ấy một cách vinh quang nhất. Dẫu biết rằng bảo vệ Tổ quốc vừa là trách nhiệm, vừa là bổn phận của tất cả mọi người, nhưng quân đội, công an tuyệt nhiên không ép buộc bất cứ ai phải phục vụ lâu dài trong môi trường ấy. Vậy nên, trước khi quyết định bất cứ một việc gì, các bạn hãy suy nghĩ thật kỹ, đừng để “đứt gánh giữa đường”. Còn tư tưởng “rời bỏ hàng ngũ quân đội, công an để được làm chính mình” nếu không phải là hành động "câu view" của những TikToker chuyên “kiếm tiền bẩn” thì cũng chỉ là viện cớ của một sự thất bại - thất bại ngay từ trong suy nghĩ./. 

MÔI TRƯỜNG NÀO CŨNG CÓ QUY TẮC, QUY ĐỊNH RIÊNG

Tục ngữ có câu: “Quốc có quốc pháp, gia có gia quy”, từ gia đình -“tế bào của xã hội” đến cộng đồng quốc tế, ở đâu cũng có quy tắc, quy định riêng. Theo đó, để tồn tại, phát triển, mỗi cá nhân nhất thiết phải tôn trọng, chấp hành và tuyệt đối không được phép tự ý vượt quá những “lằn ranh đỏ” mà tổ chức đặt ra. Điều đó nhắc nhở chúng ta rằng, tự do mà mỗi người có được là “tự do trong khuôn khổ” chứ không phải “tự do vô tổ chức, vô kỷ luật”. Vậy nên, bất cứ ai cho rằng “rời bỏ hàng ngũ quân đội, công an để được làm chính mình” chỉ là sự mơ hồ ảo tưởng, một suy nghĩ viển vông, vô căn cứ.

Quân đội là lực lượng nòng cốt trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa thiêng liêng, cao cả. Để hoàn thành trọng trách được Đảng, Tổ quốc và nhân dân giao phó, mỗi cán bộ, chiến sĩ đều phải trải qua quá trình rèn luyện đặc biệt với những đòi hỏi rất cao cả về trí lực lẫn thể lực. Vậy nên, kỷ luật và ý thức tổ chức kỷ luật là hai thành tố không thể thiếu, luôn song hành, trở thành nét đặc trưng riêng của “Bộ đội Cụ Hồ”. Trong đó, "kỷ luật là sức mạnh của Quân đội”, còn ý thức tổ chức kỷ luật tự giác, nghiêm minh là nét đẹp cao quý trong phẩm chất, nhân cách người quân nhân cách mạng và những người tự do nhất chính là những người tự giác chấp hành kỷ luật nghiêm minh nhất. Ý chí sắt đá, sẵn sàng đương đầu với mọi khó khăn, gian khổ cũng giống như “ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong” từ lâu đã thấm sâu vào nếp sống, nếp nghĩ của các thế hệ cán bộ, chiến sĩ; là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, góp phần quan trọng tạo nên sức mạnh chiến đấu, chiến thắng của Quân đội ta. Ngược lại, đối với những người “cả thèm chóng chán”, “dễ làm khó bỏ” thì dẫu có đi đâu, làm gì cũng sẽ có chung một kết quả, đó là sự thất bại. 

ĐỪNG ĐỂ THẤT BẠI NGAY TỪ TRONG SUY NGHĨ

Thời gian qua, trên các nền tảng mạng xã hội, nhất là TikTok, xuất hiện một số TikToker (người dùng TikTok) làm các video clip kiểu như: “Có lẽ tôi sẽ từ bỏ quân đội để được làm chính mình”; “Có nên rời khỏi ngành công an để bắt đầu làm lại?”...

Không biết quan điểm của bạn về mấy TikToker nói trên như thế nào, còn đối với chúng ta - những người đang công tác trong quân đội, tôi cho rằng đó là suy nghĩ tầm thường của một bộ phận thanh niên không có bản lĩnh, lập trường, phai nhạt về lý tưởng, đạo đức cách mạng... nên sinh ra tư tưởng “đứng núi này trông núi nọ”.

Tầm thường từ tư tưởng “đứng núi này trông núi nọ”.

Trên thực tế, đã có người rời bỏ hàng ngũ quân đội, công an để được “làm chính mình” (theo tự nhận của một số TikToker). Nhưng mơ ước của những “anh hùng bàn phím” đã nhanh chóng vụn vỡ, khiến họ thất bại thảm hại, để rồi cay đắng thừa nhận rằng, bệnh “đứng núi này trông núi nọ” chẳng thể nào vươn tới đỉnh cao.

Tư tưởng “đứng núi này trông núi nọ” xuất hiện ở mọi lứa tuổi, giới tính, công việc... nhưng thường tập trung vào nhóm người phải làm việc trong môi trường vất vả, nhiều áp lực, thu nhập thấp. Tuy nhiên, điều kiện công tác, vị trí việc làm chỉ là nhân tố khách quan, còn nguyên nhân chính dẫn đến hiện tượng nêu trên là do sự bồng bột, thiếu kiên định, ngại rèn luyện; chưa suy nghĩ thấu đáo đã quyết định nóng vội khiến cho bản thân phải trả giá đắt.

Thực tiễn đã chứng minh, con người ta phải “có làm thì mới có ăn”. Vậy mà, một số bạn trẻ vẫn đắm mình trong lối sống ảo, thích hưởng thụ nhưng lười lao động; muốn làm giàu nhanh nhưng tư duy kinh tế trống rỗng. Chính vì vậy mà họ không ngại vay mượn bằng mọi giá để liều mình “lao như thiêu thân”, đầu tư vào các tài khoản mã hóa, ứng dụng kiếm tiền ảo, các sàn giao dịch chứng khoán trên mạng chưa được cơ quan quản lý nhà nước cấp phép... Mặc dù lãnh đạo, chỉ huy các cấp và cơ quan chức năng đã thường xuyên tuyên truyền, cảnh báo, nhưng họ vẫn dửng dưng để ngoài tai, đem niềm tin đặt vào những lời chèo kéo của đám “cò mồi”, hệ quả là bị “sập bẫy” và không có đường lui. Cực chẳng đã, bố mẹ vốn đã nhọc nhằn, vất vả lo toan cuộc sống mưu sinh, nay lại còng lưng gánh nợ, thậm chí bán đất, bán nhà để trả nợ cho con. Không những thế, vì coi thường pháp luật mà không ít người đã vướng vào vòng lao lý, tù tội.

Quân đội là môi trường đặc thù với muôn vàn gian lao nhưng rất đỗi vinh quang. Gần 80 năm xây dựng, chiến đấu, trưởng thành, dưới sự lãnh đạo, rèn luyện của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, Quân đội ta luôn giữ vững bản chất, truyền thống, luôn được dân trọng, dân mến, dân tin. Tuyệt đại đa số cán bộ, chiến sĩ an tâm tư tưởng, sẵn sàng nhận và hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao phó; giữ vững và phát huy phẩm chất cao quý Bộ đội Cụ Hồ. Tuy nhiên, do tác động của mặt trái kinh tế thị trường và ảnh hưởng tiêu cực của mạng xã hội; cùng với đó là tư tưởng ngại khó, ngại khổ nên trong một bộ phận nhỏ sĩ quan trẻ đã có biểu hiện “đứng núi này trông núi nọ” với suy nghĩ “rời bỏ hàng ngũ quân đội để làm lại từ đầu”. Đó là điều vô cùng đáng trách, đi ngược lại với lời thề danh dự của người quân nhân cách mạng; ảnh hưởng xấu đến tư tưởng, tình cảm của đồng chí, đồng đội; tạo cớ để các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị xuyên tạc, chống phá.

Trong cuộc sống, ai cũng có mơ ước, khát vọng riêng của đời mình. Song, điều đó không đồng nghĩa quay lưng lại với sự nghiệp mà chính bản thân đã lựa chọn để đi theo tiền tài, danh vọng hư vô. Hơn nữa, được phục vụ lâu dài trong quân đội hay công an từ lâu đã trở thành khao khát của biết bao lớp thanh niên, thậm chí có những bạn trẻ phải lận đận thi hết lần này, lần khác vẫn chưa thành công thì một số ít sĩ quan trẻ - những người đã được đào tạo bài bản lại hoài nghi, dao động, phai nhạt mục tiêu, lý tưởng, cổ xúy cho những hành động sai trái. Nói cách khác, “đứng núi này trông núi nọ” là sự thất bại ngay từ trong tư tưởng của chính những người vẫn tự cho là mình khôn ngoan, sáng suốt. 

KHEN CHÊ ĐÚNG MỨC

“… KHEN, CHÊ PHẢI ĐÚNG MỨC. KHEN NHƯNG KHEN QUÁ LỜI, “SUY TÔN” NGƯỜI ĐƯỢC KHEN THÌ CHÍNH NGƯỜI ĐƯỢC KHEN XẤU HỔ. ĐẬP NHƯNG ĐẬP BẬY THÌ NGƯỜI TA KHÔNG PHỤC...”[1].

Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong một buổi họp của Bộ Chính trị tiếp tục cho ý kiến về nội dung Đại hội Văn nghệ, ngày 06/11/1962, đăng trên Báo Nhân dân, số 3148, ra ngày 07/11/1962.

Sáng ngày 06/11/1962, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự cuộc họp của Bộ Chính trị để cho ý kiến về nội dung Đại hội Văn nghệ. Khi bàn về chủ trương tổ chức cho anh em văn nghệ sĩ đi một đợt thực tế dài hạn ở nông thôn, Người đã tán thành chủ trương này và có những lời căn dặn quý báu đối với các văn nghệ sĩ đi thực hiện nhiệm vụ này. Đây là sự nhắc nhở sâu sắc, có giá trị định hướng về nhận thức, tư tưởng đối với mỗi văn nghệ sĩ cần nêu cao ý thức trách nhiệm, bám sát thực tiễn, khen, chê phải đúng mức; nói cách khác, Người yêu cầu các văn nghệ sĩ phải phản ánh trung thực và khách quan cuộc sống lao động, chiến đấu và sinh hoạt hằng ngày của nhân dân ở vùng nông thôn.

Thực hiện lời căn dặn của Bác, các thế hệ văn nghệ sĩ nước nhà đã thường xuyên bám sát đời sống nông thôn, lăn lộn trên đồng ruộng, gò đồi, cũng như trên các chiến trường đầy khói lửa; hòa mình vào cuộc sống lao động sản xuất, chiến đấu và sinh hoạt hằng ngày của nhân dân, từ đó cho ra đời nhiều tác phẩm văn học, nghệ thuật có giá trị, tích cực cổ vũ cái đúng, cái tốt, cái đẹp, đồng thời phê phán những thói hư tật xấu, lên án cái ác, cái thấp hèn… góp phần quan trọng vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

 Ngày nay, trước bối cảnh phức tạp, khó lường của tình hình thế giới, khu vực và trong nước, lời căn dặn của Bác vẫn giữ nguyên giá trị, là bài học sâu sắc định hướng nhận thức, tư tưởng, phương châm hành động của các văn nghệ sĩ; bồi dưỡng cái tâm và cái tài, cổ vũ động viên các văn nghệ sĩ bám sát cơ sở, đi sâu khám phá cuộc sống lao động sản xuất và sinh hoạt hằng ngày của nhân dân, qua đó sáng tạo nên nhiều tác phẩm văn học, nghệ thuật hay và tốt để phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Đối với Quân đội ta, thấm nhuần lời dạy của Bác, đội ngũ văn nghệ sĩ Quân đội đã thường xuyên bám sát các đơn vị cơ sở, nhất là những đơn vị đóng quân ở vùng sâu, vùng xa, biên giới và hải đảo; lăn lộn cùng với bộ đội trên các thao trường, bãi tập, nơi bộ đội làm công tác dân vận, tham gia phòng, chống thiên tai, bão lũ, tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn... để phản ánh trung thực cuộc sống học tập, công tác và sinh hoạt của bộ đội. Thường xuyên làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục nhằm định hướng nhận thức, tư tưởng và hành động của cán bộ, chiến sĩ; tích cực đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; tuyên truyền, cổ vũ động viên kịp thời những tấm gương người tốt, việc tốt, đồng thời phê phán những cái xấu, cái tiêu cực, góp phần xây dựng đời sống văn hóa, tinh thần phong phú, lành mạnh, để mỗi đơn vị quân đội thực sự là cái nôi nuôi dưỡng những giá trị văn hóa, nhân cách quân nhân, bồi đắp phẩm chất ”Bộ đội Cụ Hồ” trong thời kỳ mới./. 

CÁI GỐC CỦA THAM NHŨNG

"Suy thoái đạo đức, lối sống - cái gốc của tham nhũng!"

Trong cuốn sách “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, góp phần xây dựng Đảng và Nhà nước ta ngày càng trong sạch, vững mạnh”, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã thể hiện tư tưởng nhất quán, kiên định và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác xây dựng Đảng, về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực... Đã nêu vấn đề gợi mở, định hướng và đưa ra nhiều giải pháp có giá trị quan trọng trong công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực hiện nay.

Cuốn sách đã góp phần tăng thêm niềm tin cho cán bộ, đảng viên và Nhân dân quyết tâm trị tận gốc tham nhũng.

Ngay trong bài tổng quan về cuốn sách, tư tưởng chủ đạo xuyên suốt toàn bộ các bài viết, bài phát biểu, kết luận của Tổng Bí thư là tập trung trả lời một số câu hỏi lớn như:

- Tham nhũng, tiêu cực là gì?

- Tác hại của tham nhũng, tiêu cực?

- Nhận thức của Đảng, Nhà nước ta về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực?

-  Kết quả đạt được và bài học rút ra từ thực tiễn?

- Phải làm gì và làm như thế nào để tiếp tục ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng , tiêu cực trong thời gian tới?

Cuốn sách của Tổng Bí thư như một bức tranh toàn cảnh về thực trạng công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của Đảng trong những nhiệm kỳ gần đây, đặc biệt nêu quyết tâm và những cách làm hiệu quả trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.

Với cách phân tích sâu sắc, nhìn thẳng vào sự thật, nói đúng sự thật, khi đọc cuốn sách, người đọc sẽ hiểu  thế nào là tham nhũng, tiêu cực, vì sao nó được ví như “khuyết tật bẩm sinh” của quyền lực, là giặc nội sinh nguy hiểm, đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ.

Nguyên nhân cơ bản và sâu xa của tham nhũng là do" chủ nghĩa cá nhân", do suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên, những người “có ít nhiều quyền hành trong bộ máy chính trị ”. Những người này, ban đầu có phẩm chất đạo đức tốt, lối sống trong sạch, lành mạnh. Tuy nhiên, khi trong tay có quyền hành thì đã không thắng được “giặc ở trong lòng”, dẫn đến suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống. Chính sự suy thoái này là cái gốc của tiêu cực, từ đó nảy sinh lòng tham, dẫn đến tham ô, tham nhũng, lãng phí.

Việc phòng chống tiêu cực, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống là một công việc rất quan trọng và vô cùng khó khăn, phức tạp, đòi hỏi phải tiến hành một cách kiên quyết, kiên trì, liên tục bền bỉ, không ngừng nghỉ ở tất cả các cấp, các ngành, các lĩnh vực; được thực hiện đồng bộ các biện pháp chính trị, tư tưởng, tổ chức, hành chính, kinh tế, hình sự; với những bước đi vững chắc, tích cực, chủ động và có trọng tâm, trọng điểm.

Như vậy, phòng chống tiêu cực, mà trọng tâm là phòng chống sự suy thoái trong cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, chính là trị tận gốc của tham nhũng. Bản thân cán bộ, đảng viên trước hết phải nhận thức rõ vai trò, trách nhiệm của mình, tích cực rèn luyện, phấn đấu để không sa vào chủ nghĩa cá nhân, không suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống để không dám, không thể, không cần và không muốn tham nhũng.

Mỗi đảng viên, mỗi cán bộ lãnh đạo hãy sờ vào gáy mình mà "tự soi tự sửa" trước khi Tổ chức và pháp luật sờ sờ tới!!! 

CẦN HIỂU ĐÚNG CHẾ ĐỘ SỞ HỮU TOÀN DÂN VỀ ĐẤT ĐAI Ở VIỆT NAM

Lợi dụng việc Nhà nước ta tổ chức lấy ý kiến các tầng lớp nhân dân đối với dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi), các thế lực thù địch, phản động đã ra sức tuyên truyền, xuyên tạc cho rằng: “Ở Việt Nam, đất đai thuộc sở hữu toàn dân là sự khôn lỏi của Nhà nước, làm cho hàng triệu người khốn khổ; sở hữu toàn dân về đất đai là thực hiện quyền làm chủ của nhân dân trên hình thức còn thực tế đã tước quyền sở hữu của nhân dân”.

Cần hiểu đúng chế độ sở hữu toàn dân về đất đai ở Việt Nam

Đất đai là một bộ phận quan trọng của lãnh thổ quốc gia Việt Nam, được hình thành, tồn tại và phát triển cùng với lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc. Đó chính là thành quả của sự nghiệp giữ nước và dựng nước lâu dài của cả dân tộc, là thành quả từ công sức, xương máu của bao thế hệ cha ông chúng ta, cho nên không thể để cho một tầng lớp hay nhóm người nào đó có quyền độc chiếm sở hữu.

Quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân thì đất đai của quốc gia phải thuộc sở hữu của toàn dân và được sử dụng phục vụ cho mục đích chung của nhân dân.

Điều 53, Hiến pháp năm 2013 quy định: “Đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý”. Thể chế Hiến pháp năm 2013, Luật Đất đai (sửa đổi) tiếp tục khẳng định quan điểm này. Trong nền kinh tế Việt Nam, chế độ công hữu tư liệu sản xuất (trong đó có đất đai) giữ vai trò chủ đạo giúp tạo ra sự bình đẳng về kinh tế, tạo cơ sở để người dân thực hiện quyền bình đẳng và quyền làm chủ của mình trên các lĩnh vực khác của đời sống.

Xét cả góc độ lý luận và thực tiễn, chế độ sở hữu toàn dân về đất đai ở Việt Nam hiện nay thể hiện tính đúng đắn, phù hợp điều kiện cụ thể của nước ta cũng như định hướng XHCN mà chúng ta lựa chọn.

Nhà nước với tư cách đại diện chủ sở hữu có thể thực hiện vai trò kiểm soát, quản lý và điều tiết quan hệ đất đai trên cơ sở bảo đảm bình đẳng của người dân với tư cách là chủ sở hữu thật sự đối với tài nguyên đất nhằm hưởng lợi tối đa từ nguồn tài nguyên này một cách công bằng; khắc phục và hạn chế thấp nhất sự phân hóa giàu nghèo, bất bình đẳng về thu nhập từ đất đai.  

Ở nhiều nước tư bản như Mỹ, Canada, Hàn Quốc… thực hiện chế độ đa sở hữu về đất đai gồm sở hữu tư nhân, sở hữu tập thể, sở hữu của các cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, đa phần diện tích đất ở và đất sản xuất, kinh doanh đều thuộc sở hữu tư nhân mà chủ yếu là các nhà tư bản. Đây là một trong những nguyên nhân làm gia tăng tình trạng phân hóa giàu nghèo, phân hóa xã hội ngày càng sâu sắc tại các quốc gia này. Hàn Quốc công nhận quyền sở hữu tư nhân về đất đai nhưng khi cần nhà nước vẫn có thể trưng thu.

Cũng phải thấy rõ rằng, những sai lầm và thiếu sót thời gian qua trong lĩnh vực đất đai như tham nhũng, tiêu cực, hình thành các tranh chấp, “điểm nóng” không phải do chế độ sở hữu toàn dân về đất đai gây ra.

Muốn giải quyết những vấn đề này thì phải bắt đầu từ việc sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện chính sách, pháp luật, trong đó có việc sửa đổi Luật Đất đai hiện hành và các quy định về quản lý, sử dụng đất đai; đẩy mạnh cải cách hành chính, minh bạch hóa, công khai hóa cơ chế quản lý, sử dụng đất đai; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc thực thi pháp luật về đất đai, kịp thời phát hiện, phòng ngừa và xử lý nghiêm các sai phạm./. 

CON ĐƯỜNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI LÀ ĐÍCH ĐẾN HIỆN THỰC

Hoàn toàn có cơ sở khoa học để khẳng định chắc chắn rằng: con đường đi đến CNXH ở Việt Nam không hề viễn vông, bất định như CNTB và các thế lực thù địch xuyên tạc. Ngược lại nó được minh chứng thuyết phục, sinh động cả về lý luận và thực tiễn.

 Trước hết, Chủ nghĩa xã hội là sự vận động tất yếu của lịch sử. Bằng hai phát kiến vĩ đại là học thuyết giá trị thặng dư và chủ nghĩa duy vật lịch sử, C.Mác đã luận giải thuyết phục sự vận động, phát triển của xã hội loài người. Dựa trên các quy luật vận động nội tại của xã hội, nhất là quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ lực lượng sản xuất và quy luật mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng, C.Mác đã đi đến khẳng định: “Sự phát triển của những hình thái kinh tế - xã hội là một quá trình lịch sử tự nhiên”. Ở đây C.Mác và Ph.Ănghen đã phát triển CNXH từ không tưởng thành khoa học khi luận chứng nó từ quy luật vận động của lịch sử như sự vận động tất yếu của các quy luật kinh tế, quy luật xã hội đã hình thành ngay trong lòng CNTB. Vì vậy, V.I.Lênin đã nhấn mạnh: “C.Mác hoàn toàn chỉ dựa vào những quy luật kinh tế của sự vận động xã hội hiện đại mà kết luận rằng xã hội TBCN nhất định sẽ phải chuyển biến thành xã hội XHCN” và “Chỉ có học thuyết kinh tế của C.Mác là đã giải thích được địa vị thực sự của giai cấp công nhân trong toàn bộ chế độ TBCN”. Như vậy, biện chứng khách quan của lịch sử chính là sự vận động phát triển không ngừng của các hình thái kinh tế - xã hội. Theo đó, hình thái kinh tế - xã hội CSCN tất yếu sẽ thay thế hình thái kinh tế - xã hội TBCN. Con đường đi lên của nhân loại không gì khác là chủ nghĩa cộng sản mà giai đoạn thấp là CNXH - Đó là tất yếu của lịch sử chứ không phải là ảo vọng hay sự tự biện của những người cộng sản.

 Thứ hai, mục tiêu của CNXH là không xa vời mà rất cụ thể. Đó là xóa bỏ chế độ người bóc lột người, xóa bỏ sự phân chia giai cấp, xây dựng một xã hội bình đẳng, tự do, hạnh phúc. Ở CNXH có sự khác biệt rất căn bản so với tất cả các phương thức sản xuất trước đó chính là nằm ở mục tiêu hay con đường đi tới. Nếu như trong xã hội trước đây chỉ là sự thay thế phương thức sản xuất này bằng phương thức sản xuất khác thông qua một cuộc cách mạng xã hội. Tuy nhiên, đó chỉ là thay thế giai cấp thống trị này bằng giai cấp thống trị khác, quần chúng cần lao vẫn là giai cấp bị trị, vẫn chịu sự bóc lột bằng cách này hoặc cách khác. Cách mạng XHCN đi trái lại với quy luật thay thế giai cấp thống trị quần chúng cần lao. CNXH là một xã hội được xây dựng nhằm hướng tới mục tiêu giải phóng giai cấp, giải phóng con người, xóa bỏ triệt để chế độ người bóc lột người.

 Mục tiêu này cũng đã được các nhà kinh điển Chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ ra rất rõ ràng, cụ thể:

 Ngay trong “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”, C.Mác đã khẳng định cả về lý luận và thực tiễn sự vận động phát triển của cách mạng vô sản thế giới. Trên cơ sở khẳng định những mâu thuẫn nội tại không thể điều hòa trong xã hội tư bản, C.Mác đã chứng minh CNTB nhất định sẽ bị thay thế bằng xã hội mới - xã hội chủ nghĩa. “Tuyên ngôn Đảng Cộng sản” chỉ rõ sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân với bộ tham mưu chiến đấu là Đảng cộng sản nhằm đấu tranh lật đổ chế độ áp bức, bóc lột của CNTB, xây dựng một xã hội văn minh, tiến bộ, bình đẳng. Luận điểm này được C.Mác khẳng định: “Sự sụp đổ của giai cấp tư sản và thắng lợi của giai cấp vô sản đều là tất yếu như nhau”.

 Kế thừa tư tưởng của C.Mác và Ph.Ănghen về CNXH và con đường đi lên CNXH, dựa trên thực tiễn xây dựng CNXH sau cách mạng tháng Mười Nga, V.I.Lênin khẳng định: “Tất cả các dân tộc đều sẽ đi đến CNXH, đó là điều không tránh khỏi, nhưng tất cả các dân tộc đều tiến tới CNXH không phải một cách hoàn toàn giống nhau; mỗi một dân tộc sẽ đưa đặc điểm của mình vào hình thức này hay hình thức khác của chế độ dân chủ, vào loại này hay loại khác của chuyên chính vô sản, vào nhịp độ này hay nhịp độ khác của việc cải tạo XHCN đối với các mặt khác nhau của đời sống xã hội”. Rõ ràng với luận điểm này, V.I.Lênin đã chỉ ra xu thế tất yếu của thời đại là quá độ đi lên CNXH trên toàn thế giới với mục tiêu rất cụ thể là xây dựng thành công CNXH. Tuy nhiên ở mỗi quốc gia, dân tộc khác nhau thì lựa chọn con đường, cách thức, biện pháp khác nhau. Mỗi quốc gia phải dựa vào đặc điểm tình hình cụ thể của mình để định hình con đường đi lên CNXH phù hợp. Tùy theo tư duy, nhận thức, cách thức tổ chức thực hiện ở từng Đảng cộng sản, từng quốc gia khác nhau sẽ có độ dài ngắn trên con đường đi đến đích khác nhau. V.I.Lênin không chỉ chỉ ra con đường đi lên CNXH mà còn hiện thực hóa nó bằng các chính sách cụ thể để xây dựng CNXH. Chính V.I.Lênin là người tổ chức, lãnh đạo cách mạng tháng Mười Nga năm 1917 thành công, khai sinh ra và tổ chức xây dựng nhà nước XHCN đầu tiên trên thế giới.

 Chủ tịch Hồ Chí Minh trong quá trình bôn ba tìm đường cứu nước, Người đến Châu Âu, Châu Phi, Châu Mỹ Latinh nhưng đều không thể tìm thấy con đường giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp. Cho đến khi Người bắt gặp Luận cương của V.I.Lênin về Dân tộc và thuộc địa, Người đã nhất quyết đưa con thuyền cách mạng Việt Nam đi theo con đường cách mạng vô sản. Vì chỉ cách mạng vô sản mới đảm bảo cho dân tộc Việt Nam được độc lập, người dân Việt Nam được tự do, ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành. Người khẳng định “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mạng nhất là chủ nghĩa Mác - Lênin”. Vì ở chủ nghĩa Mác - Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh tìm thấy con đường giải phóng dân tộc và mục tiêu, lí tưởng cách mạng XHCN phù hợp với ý chí, nguyện vọng của toàn thể dân tộc Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng ý thức rất rõ việc giải phóng dân tộc đã rất khó khăn, xây dựng CNXH còn khó khăn hơn rất nhiều, nó đòi hỏi sự đoàn kết, đồng thuận của toàn thể nhân dân. Người chỉ ra: “Chủ nghĩa xã hội là nhằm nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân và do nhân dân tự xây dựng lấy”.

 Thứ ba, Chủ nghĩa xã hội là chế độ xã hội đã được hiện thực hóa trên thực tế - khác biệt về chất so với các chế độ xã hội trước đó. Cách mạng tháng Mười Nga nổ ra và giành thắng lợi đã mở ra thời đại mới - thời đại quá độ từ CNTB lên CNXH và cách mạng vô sản trên toàn thế giới. Cách mạng tháng Mười Nga là cuộc cách mạng vĩ đại nhất trong lịch sử nhân loại, có tiếng vang và tầm ảnh hưởng sâu sắc đối với việc xây dựng chế độ xã hội mới tốt đẹp - xã hội XHCN. Trước năm 1917 chưa có cuộc cách mạng nào trong lịch sử có thể biến khát vọng tự do, bình đẳng của quần chúng cần lao thành hiện thực. Thắng lợi của Cách mạng tháng Mười Nga là kết quả hiện thực hóa lý tưởng cộng sản chủ nghĩa trên thực tế, biến khát vọng sống hòa bình, độc lập, tự do, bình đẳng thành hiện thực. Từ đây học thuyết của chủ nghĩa Mác về CNXH khoa học đã trở thành CNXH hiện thực với đầy đủ hình hài của một xã hội tương lai. Cách mạng tháng Mười Nga đã giải phóng giai cấp vô sản Nga thoát khỏi ách áp bức, bóc lột của giai cấp tư sản; giải phóng giai cấp nông dân khỏi gông cùm của địa chủ phong kiến; giải phóng các dân tộc trong đế quốc Nga ra khỏi xiềng xích của chế độ Nga hoàng. Đồng thời mở đường cho nhân dân Liên Xô xây dựng chế độ mới - chế độ XHCN; Biến đế quốc Nga nghèo nàn về kinh tế, lạc hậu về chính trị, yếu kém về quốc phòng thành một cường quốc XHCN, xứng đáng là thành trì của hòa bình và cách mạng vô sản toàn thế giới - đó là những hiện thực không thể bác bỏ, phủ nhận.

 Thứ tư, Chủ nghĩa xã hội đang được xây dựng toàn diện cả về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội ở Việt Nam. Đây là minh chứng sinh động, cụ thể về một mô hình CNXH được xác định qua 8 đặc trưng cơ bản về mục tiêu; về trình độ lực lượng sản xuất; quan hệ sản xuất; nền văn hóa; về con người, về nhà nước pháp quyền XHCN… 8 đặc trưng này là sự khái quát hóa mô hình của CNXH, nó không chỉ dừng lại trong chiến lược, trong nghị quyết mà được hiện thực hóa trong đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội. Biểu hiện cụ thể nhất là thực hiện dân chủ XHCN “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Đó là những minh chứng rõ ràng, thuyết phục nhất về sự hiện thực hóa nội hàm của con đường đi lên CNXH. Bởi xét cho cùng giá trị của cách mạng XHCN đều kết tinh ở chỗ người dân làm chủ cái gì, thụ hưởng được cái gì. Và cũng chính điều này khẳng định sự khác biệt về bản chất của chế độ XHCN so với chế độ TBCN. Rõ ràng là chúng ta không chỉ xác định con đường mà chúng ta còn nỗ lực cao độ để đi trên con đường CNXH; chúng ta không phải xác định mục tiêu xa vời mà được cụ thể hóa sinh động trong việc thụ hưởng các giá trị CNXH của mỗi người dân Việt Nam. Đó cũng là những lí lẽ sắc sảo nhất về sự gắn kết giữa lý luận và thực tiễn của con đường cách mạng XHCN ở Việt Nam.

Kiên định niềm tin vào con đường chủ nghĩa xã hội đã chọn: Cả lý luận và thực tiễn cho thấy con đường CNXH là con đường đúng đắn, hiện thực, phù hợp với xu thế thời đại và khát vọng của dân tộc Việt Nam. Xây dựng CNXH là kiến tạo một kiểu xã hội mới về chất, đây là cả một sự nghiệp sáng tạo vĩ đại, đầy gian nan thử thách, một sự nghiệp tự giác, liên tục, hướng đích lâu dài, không thể chủ quan nóng vội, cũng không bi quan dao động, lung lay niềm tin. Vì vậy, cần thống nhất tư tưởng, nhận thức về CNXH và con đường đi lên CNXH trên cơ sở đó kiên định niềm tin vào tương lai và sự thắng lợi của CNXH. Đồng thời phát huy mạnh mẽ vai trò của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị cho quá trình xây dựng CNXH. Đó cũng chính là cội nguồn sức mạnh để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta nỗ lực phấn đấu, cống hiến, xây dựng và hiện thực hóa CNXH trên đất nước Việt Nam./.