Hiển thị các bài đăng có nhãn chủ nghĩa xã hội. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn chủ nghĩa xã hội. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 6 tháng 5, 2024

XÂY DỰNG NIỀM TIN VÀO CHỦ NGHĨA XÃ HỘI TRONG CUỘC ĐẤU TRANH TƯ TƯỞNG, LÍ LUẬN HIỆN NAY

Công tác tư tưởng, lý luận là một bộ phận rất quan trọng trong toàn bộ hoạt động cách mạng của Đảng ta. Công tác tư tưởng, lý luận giữ vai trò to lớn trong việc xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, góp phần làm cho hệ tư tưởng vô sản thâm nhập sâu vào quần chúng nhân dân, khơi dậy và phát huy sức mạnh của cả dân tộc và sức mạnh thời đại, đưa cách mạng nước ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Khẳng định vị trí, vai trò cực kỳ quan trọng của công tác tư tưởng, lý luận, Nghị quyết Trung ương 5 khoá IX của Đảng chỉ rõ: “Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn coi trọng công tác tư tưởng, lý luận là một bộ phận quan trọng của công tác xây dựng Đảng, là nhân tố hàng đầu cấu thành hoạt động lãnh đạo cách mạng. Sinh mệnh của Đảng cũng như sự thành bại của cách mạng có quan hệ trực tiếp với hoạt động tư tưởng, lý luận của Đảng”([1]).

Công tác tư tưởng, lý luận trong quân đội là một bộ phận hữu cơ trong công tác tư tưởng, lý luận của Đảng, là một mặt cơ bản cấu thành hoạt động công tác Đảng, công tác chính trị. Thực tiễn xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của quân đội đã khẳng định vai trò tích cực và hiệu quả to lớn của công tác tư tưởng, lý luận trong việc xây dựng bản chất giai cấp công nhân, tạo nên sức mạnh chính trị, tinh thần của quân đội, đảm bảo cho quân đội luôn là công cụ bạo lực sắc bén, là lực lượng chính trị trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân, thật sự là đội quân chiến đấu, đội quân sản xuất và đội quân công tác, góp sức làm cho các Nghị quyết của Đảng trở thành hiện thực sinh động trong cuộc sống, thực tiễn hoạt động của quân đội. Ngày nay, bước sang thời kỳ mới, toàn Đảng, toàn dân tiếp tục thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đang thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện đất nước… Trong điều kiện cuộc đấu tranh giữa ta và địch trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận hết sức phức tạp, chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, chủ nghĩa đế quốc, đứng đầu là đế quốc Mỹ thực hiện chiến lược “diễn biến hoà bình” để chống phá các nước xã hội chủ nghĩa còn lại. Những mặt trái của cơ chế thị trường đang hàng ngày tác động vào cán bộ, đảng viên và nhân dân ta. Do vậy, việc chúng ta nghiên cứu để nắm chắc được mục tiêu, nhiệm vụ của công tác tư tưởng, lý luận của Đảng ta cũng như phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp nâng cao hiệu quả công tác tư tưởng, lý luận trong quân đội nhằm xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị hoàn thành tốt mọi nhiệm được giao là vấn đề bức thiết trong giai đoạn hiện nay.

Thời gian qua, có nhiều cán bộ, đảng viên đã phát huy được vai trò gương mẫu trong thực hiện nhiệm vụ chính trị, rèn luyện đạo đức, lối sống, năng động sáng tạo dám chịu trách nhiệm; có phong cách làm việc dân chủ “nói đi đôi với làm”, gần gũi quần chúng, bám sát thực tiễn, cơ sở, được quần chúng, chiến sĩ tin yêu mến phục. Song trước diễn biến ngày càng phức tạp của tình hình và sự tác động tiêu cực xã hội, trong quân đội vẫn còn tình trạng suy thoái về đạo đức, lối sống, tệ quan liêu tham nhũng lãng phí trong một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa được ngăn chặn và đẩy lùi, chủ nghĩa cá nhân có chiều hướng phát triển. Đáng quan tâm là cán bộ, cấp uỷ viên vi phạm kỷ luật còn chiếm tỷ lệ cao, đó trực tiếp ảnh hưởng đến uy tín, sức chiến đấu của đảng bộ và quân đội. Sự suy thoái về đạo đức lối sống, tệ quan liêu trong một bộ phận cán bộ, đảng viên nếu không được tiếp tục đấu tranh, khắc phục kịp thời sẽ làm suy giảm lòng tin của cán bộ chiến sĩ và nhân dân đối với quân đội, sẽ là cơ hội tốt cho kẻ thù thực hiệm âm mưu “phi chính trị hoá” quân đội - nguy cơ trực tiếp đe dọa đến sự tồn tại của quân đội cách mạng…

Chính vì vậy, một trong những nhiệm vụ trọng tâm của công tác xây dựng Đảng mà Nghị quyết Trung ương 9 khoá IX đặc biệt quan tâm là: “Nâng cao chất lượng và tăng cường hiệu quả công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, kiên quyết khắc phục sự suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ đáng viên”([2]). Cũng như trong Nghị quyết trung ương 5 khóa X xác định về vai trò của “Công tác tư tưởng, lý luận và báo chí trước yêu cầu mới”. Nên vấn đề giáo dục chính trị - tư tưởng, rèn luyện đạo đức cánh mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên trong quân đội đã trở thành vấn đề cấp bách, một nội dung trọng yếu của công tác xây dựng Đảng bộ quân đội hiện nay, nhằm “khắc phục có hiệu quả sự suy thoái về chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện tham nhũng, quân phiệt, vi phạm dân chủ, coi thường kỷ cương, kỷ luật, lối sống cơ hội, cá nhân thực dụng”[3].

Xây dựng đảng bộ trong sạch vững mạnh ngang tầm với nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc XHCN trong giai đoạn cách mạng mới, làm cho mọi đảng viên xứng đáng với danh hiệu cao quí: người đảng viên cộng sản. Theo đó phải tiến hành đồng bộ nhiều giải pháp, trước mắt cần tập trung thực hiện tốt những nội dung chủ yếu sau:

Một là, tiếp tục nâng cao chất lượng việc học tập chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối quan điểm của Đảng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên.

Hội nghị Trung ương 9 (khoá IX) tiếp tục coi đây là một biện pháp quan trọng hàng đầu, nhằm tăng cường sức chiến đấu và năng lực lãnh đạo của Đảng, nâng cao lập trường giai cấp công nhân, giác ngộ chính trị cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, củng cố trận địa chính trị tư tưởng, làm cơ sở cho việc nâng cao đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân, củng cố vững chắc niềm tin của cán bộ, chiến sĩ và nhân dân đối với quân đội, với Đảng và Nhà nước. Hiện nay sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN của nhân dân ta diễn ra trong bối cảnh quốc tế và trong nước hết sức phức tạp. Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh vẫn đang bị các thế lực phản động tiến công từ nhiều hướng nhằm xuyên tạc, phủ nhận chân lý và sức sống của nó. Trong tình hình đó một bộ phận cán bộ, đảng viên nhận thức không đầy đủ, thiếu sâu sắc, thậm chí sai lệch bản chất cáng mạng, khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh dẫn đến có “những quan điểm sai trái, nhận thức mơ hồ về mục tiêu lý tưởng”, thái độ và động cơ chính trị không đúng đắn. Do vậy, việc giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối quan điểm của Đảng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên là vấn đề vừa cơ bản, vừa cấp thiết.

Việc học tập phải được tiến hành thường xuyên liên tục, gắn với yêu cầu nhiệm vụ quân đội, yêu cầu của công tác xây dựng Đảng bộ quân đội, gắn với cuộc sống thực tiễn của người cán bộ, đảng viên. Đặc biệt phải thực hiện tốt chỉ thị của Ban Bí thư Trung ương Đảng “về đẩy mạnh nghiên cứu, tuyên truyền giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn mới”, phải “đưa việc học tập, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh thành một trong những nội dung sinh hoạt của mỗi chi bộ”[4]. Trong học tập cần tiến hành đồng bộ, vận dụng tổng hợp các hình thức phương pháp, đặc biệt phải kết hợp chặt chẽ công tác tư tưởng với công tác tổ chức để quản lý, giáo dục, rèn luyện đảng viên nhất là đảng viên giữ cương vị chủ trì; kết hợp chặt chẽ giữa việc tổ chức học tập tập trung với tự học tập, rèn luyện của cán bộ, đảng viên, coi “học tập là nghĩa vụ bắt buộc đối với mọi cán bộ, đảng viên và phải được qui định thành chế độ”, bởi vì “lười học tập, lười suy nghĩ, không thường xuyên tiếp nhận thông tin mới, những hiểu biết mới cũng là biểu hiện của sự suy thoái”.

Hai là, nâng cao chất lượng, hiệu quả tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt đảng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đánh giá rất cao vai trò của tự phê bình và phê bình. Theo Người “Thang thuốc hay nhất là thiết thực tự phê bình và phê bình” và phải “Luôn luôn dùng và khéo dùng cách phê bình và tự phê bình thì nhất định khuyết điểm sẽ hết dần, ưu điểm nhất định thêm lên và Đảng ta nhất định thắng lợi”. Quán triệt tinh thần ấy, Đại hội IX của Đảng đó xác định “Tiếp tục đưa tự phê bình và phê bình trong các cấp uỷ và tổ chức đảng từ Trung ương đến cơ sở thành nền nếp thường xuyên và theo định kỳ”.

Thông qua tự phê bình và phê bình để đấu tranh chống những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, tham nhũng, những biểu hiện tiêu cực, lạc hậu trong đội ngũ cán bộ, đảng viên, làm lành mạnh hoá các mối quan hệ ở cơ quan, đơn vị. Trong tiến hành tự phê bình và phê bình các cấp uỷ, tổ chức đảng phải “Có biện pháp thiết thực khuyến khích tự phê bình, tự giác sửa chữa khuyết điểm. Xây dựng và thực hiện qui chế khuyến khích, biểu dương, bảo vệ người có tinh thần đấu tranh tố cáo những vi phạm”; phải gắn kết quả tự phê bình và phê bình với xem xét tư cách đảng viên, với phân loại, cất nhắc bổ nhiệm, sử dụng cán bộ; phải thường xuyên tiến hành kiểm tra, rút kinh nghiệm về tự phê bình và phê bình, xem xét sự chuyển biến về đạo đức, lối sống của đội ngũ cán bộ, đảng viên sau tự phê bình và phê bình, tránh làm qua loa chiếu lệ, hình thức chủ nghĩa. Chống những biểu hiện hữu khuynh không dám phê bình hoặc lợi dụng phê bình và tự phê bình để đả kích hạ bệ lẫn nhau, gây mất đoàn kết nội bộ.

Ba là, đẩy mạnh đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân trong cán bộ, đảng viên.

Chủ nghĩa cá nhân là căn nguyên của những yếu kém trong tổ chức đảng, tổ chức chỉ huy các cấp trong quân đội hiện nay, là mảnh đất tốt để chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch gieo mầm “phi chính trị hoá” quân đội. Chống chủ nghĩa cá nhân là cuộc đấu tranh lâu dài, gian khổ không được nóng vội chủ quan, phải kết hợp đồng bộ nhiều biện pháp, phát huy sức mạnh của mọi tổ chức, mọi người.

Trước hết, cần thực hiện tốt qui chế dân chủ ở cơ sở, đặc biệt là nâng cao chất lượng Ngày sinh hoạt văn hoá - chính trị tinh thần ở cơ sở, mở rộng dân chủ đi đôi với tăng cường kỷ luật, kỷ cương, chống mọi biểu hiện của dân chủ hình thức, dân chủ cực đoan vô chính phủ. Tiếp tục bổ sung hoàn thiện qui chế làm việc của cấp uỷ, qui định rõ quyền hạn chế độ trách nhiệm theo hướng tăng quyền lực tập thể, tăng trách nhiệm cá nhân.

Thứ hai, tăng cường hướng dẫn kiểm tra thực hiện nghiêm qui định: những điều đảng viên không được làm và các qui chế, qui định về kinh tế tài chính, xây dựng cơ bản, mua sắm trang bị của đơn vị và quân đội. Đồng thời làm tốt công tác kiểm tra của đảng, công tác thanh tra của chỉ huy và giám sát của quần chúng chiến sĩ, giúp cán bộ, đảng viên, giữ gìn phẩm chất người cộng sản trong điều kiện môi trường mới. Kiên quyết xử lý những đảng viên, tổ chức đảng vi phạm nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt đảng, đặc biệt là nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách. Những đảng viên vi phạm điều cấm, tham ô, tham nhũng, quan liêu, quân phiệt, thoái hoá biến chất sa đọa về đạo đức lối sống cần phải được xử lý nghiêm khắc, càng ở cương vị cao nếu vi phạm thì càng phải xử lý nghiêm, kiên quyết “Không dùng hình thức xử lý nội bộ, kỷ luật hành chính, thay cho việc xử lý hình sự đối với người đó có đủ chứng cứ về hành vi phạm tội đến mức phải xử lý hình sự”.

Đó là những giải pháp cơ bản, chủ yếu có ý nghĩa quyết định việc nâng cao chất lượng hiệu quả giáo dục chính trị tư tưởng, rèn luyện đạo đức, lối sống cách mạng chống chủ nghĩa cá nhân cho cán bộ, đảng viên trong quân đội. Các giải pháp này phải được tiến hành đồng thời, kết hợp chặt chẽ với nhau, trong đó vai trò chủ quan của từng cán bộ, đảng viên giữ vị trí quyết định.

Công tác tư­ tu­ởng, lý luận của Đảng nói chung và trong quân đội nói riêng trư­ớc tình hình mới đã và đang đặt ra nhiều vấn đề cần phải đư­ợc đổi mới và kiện toàn cả về nội dung hình thức và ph­ương pháp tiến hành. Nhiệm vụ của công tác t­ư tư­ởng, lý luận trong quân đội rất nặng nề đòi hỏi phải tiếp tục phân tích đánh giá dự báo để định hư­ớng tư­ tưởng cho cán bộ, chiến sĩ, nâng cao hơn nữa tinh thần chiến đấu, chủ động tiến công, kiên quyết đấu tranh chống lại những quan điểm thù địch sai trái. Do vậy việc tiếp tục quán triệt nắm chắc mục tiêu, quan điểm chỉ đạo của Đảng về công tác t­ư tư­ởng lý luận và phư­ơng hư­ớng yêu cầu nhiệm vụ giải pháp nâng cao hiệu quả công tác t­ư tưởng lý luận trong quân đội nhằm kiên định với mục tiêu lý tư­ởng của Đảng, bảo vệ vững chắc trận địa tư­ tư­ởng góp phần xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị xứng đáng là công cụ bạo lực sắc bén bảo vệ Đảng, bảo vệ chính quyền trong giai đoạn hiện nay./.

 

 

 

 

[4] 

Thứ Hai, 29 tháng 1, 2024

CHỦ NGHĨA XÃ HỘI LÀ ĐÍCH ĐẾN HIỆN THỰC

Hoàn toàn có cơ sở khoa học để khẳng định chắc chắn rằng: Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam không hề viễn vông, bất định như chủ nghĩa tư bản mà các thế lực thù địch xuyên tạc. Ngược lại nó được minh chứng thuyết phục, sinh động cả về lý luận và thực tiễn.

Trước hết, Chủ nghĩa xã hội là sự vận động tất yếu của lịch sử. Bằng hai phát kiến vĩ đại là học thuyết giá trị thặng dư và chủ nghĩa duy vật lịch sử, C.Mác đã luận giải thuyết phục sự vận động, phát triển của xã hội loài người. Dựa trên các quy luật vận động nội tại của xã hội, nhất là quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ lực lượng sản xuất và quy luật mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng, C.Mác đã đi đến khẳng định: “Sự phát triển của những hình thái kinh tế - xã hội là một quá trình lịch sử tự nhiên”. Ở đây C.Mác và Ph.Ănghen đã phát triển CNXH từ không tưởng thành khoa học khi luận chứng nó từ quy luật vận động của lịch sử như sự vận động tất yếu của các quy luật kinh tế, quy luật xã hội đã hình thành ngay trong lòng CNTB. Vì vậy, V.I.Lênin đã nhấn mạnh: “C.Mác hoàn toàn chỉ dựa vào những quy luật kinh tế của sự vận động xã hội hiện đại mà kết luận rằng xã hội TBCN nhất định sẽ phải chuyển biến thành xã hội XHCN” và “Chỉ có học thuyết kinh tế của C.Mác là đã giải thích được địa vị thực sự của giai cấp công nhân trong toàn bộ chế độ TBCN”. Như vậy, biện chứng khách quan của lịch sử chính là sự vận động phát triển không ngừng của các hình thái kinh tế - xã hội. Theo đó, hình thái kinh tế - xã hội XHCN tất yếu sẽ thay thế hình thái kinh tế - xã hội TBCN. Con đường đi lên của nhân loại không gì khác là CNCS mà giai đoạn thấp là CNXH - Đó là tất yếu của lịch sử chứ không phải là ảo vọng hay sự tự biện của những người cộng sản.

Thứ hai, mục tiêu của CNXH là không xa vời mà rất cụ thể. Đó là xóa bỏ chế độ người bóc lột người, xóa bỏ sự phân chia giai cấp, xây dựng một xã hội bình đẳng, tự do, hạnh phúc. Ở CNXH có sự khác biệt rất căn bản so với tất cả các phương thức sản xuất trước đó chính là nằm ở mục tiêu hay con đường đi tới. Nếu như trong xã hội trước đây chỉ là sự thay thế phương thức sản xuất này bằng phương thức sản xuất khác thông qua một cuộc cách mạng xã hội. Tuy nhiên, đó chỉ là thay thế giai cấp thống trị này bằng giai cấp thống trị khác, quần chúng cần lao vẫn là giai cấp bị trị, vẫn chịu sự bóc lột bằng cách này hoặc cách khác. Cách mạng XHCN đi trái lại với quy luật thay thế giai cấp thống trị quần chúng cần lao. CNXH là một xã hội được xây dựng nhằm hướng tới mục tiêu giải phóng giai cấp, giải phóng con người, xóa bỏ triệt để chế độ người bóc lột người.

Mục tiêu này cũng đã được các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ ra rất rõ ràng, cụ thể:

Ngay trong “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”, C.Mác đã khẳng định cả về lý luận và thực tiễn sự vận động phát triển của cách mạng vô sản thế giới. Trên cơ sở khẳng định những mâu thuẫn nội tại không thể điều hòa trong xã hội tư bản, C.Mác đã chứng minh CNTB nhất định sẽ bị thay thế bằng xã hội mới - XHCN. “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” chỉ rõ sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân với bộ tham mưu chiến đấu là Đảng cộng sản nhằm đấu tranh lật đổ chế độ áp bức, bóc lột của CNTB, xây dựng một xã hội văn minh, tiến bộ, bình đẳng. Luận điểm này được C.Mác khẳng định: “Sự sụp đổ của giai cấp tư sản và thắng lợi của giai cấp vô sản đều là tất yếu như nhau”.

Kế thừa tư tưởng của C.Mác và Ph.Ănghen về CNXH và con đường đi lên CNXH, dựa trên thực tiễn xây dựng CNXH sau cách mạng tháng Mười Nga, V.I.Lênin khẳng định: “Tất cả các dân tộc đều sẽ đi đến CNXH, đó là điều không tránh khỏi, nhưng tất cả các dân tộc đều tiến tới CNXH không phải một cách hoàn toàn giống nhau; mỗi một dân tộc sẽ đưa đặc điểm của mình vào hình thức này hay hình thức khác của chế độ dân chủ, vào loại này hay loại khác của chuyên chính vô sản, vào nhịp độ này hay nhịp độ khác của việc cải tạo XHCN đối với các mặt khác nhau của đời sống xã hội”. Rõ ràng với luận điểm này, V.I.Lênin đã chỉ ra xu thế tất yếu của thời đại là quá độ đi lên CNXH trên toàn thế giới với mục tiêu rất cụ thể là xây dựng thành công CNXH. Tuy nhiên ở mỗi quốc gia, dân tộc khác nhau thì lựa chọn con đường, cách thức, biện pháp khác nhau. Mỗi quốc gia phải dựa vào đặc điểm tình hình cụ thể của mình để định hình con đường đi lên CNXH phù hợp. Tùy theo tư duy, nhận thức, cách thức tổ chức thực hiện ở từng Đảng cộng sản, từng quốc gia khác nhau sẽ có độ dài ngắn trên con đường đi đến đích khác nhau. V.I.Lênin không chỉ chỉ ra con đường đi lên CNXH mà còn hiện thực hóa nó bằng các chính sách cụ thể để xây dựng CNXH. Chính V.I.Lênin là người tổ chức, lãnh đạo cách mạng tháng Mười Nga năm 1917 thành công, khai sinh ra và tổ chức xây dựng nhà nước XHCN đầu tiên trên thế giới.

Chủ tịch Hồ Chí Minh trong quá trình bôn ba tìm đường cứu nước, Người đến Châu Âu, Châu Phi, Châu Mỹ Latinh nhưng đều không thể tìm thấy con đường giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp. Cho đến khi Người bắt gặp Luận cương của V.I.Lênin về Dân tộc và thuộc địa, Người đã nhất quyết đưa con thuyền cách mạng Việt Nam đi theo con đường cách mạng vô sản. Vì chỉ cách mạng vô sản mới đảm bảo cho dân tộc Việt Nam được độc lập, người dân Việt Nam được tự do, ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành. Người khẳng định “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mạng nhất là chủ nghĩa Mác - Lênin”. Vì ở chủ nghĩa Mác - Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh tìm thấy con đường giải phóng dân tộc và mục tiêu, lí tưởng cách mạng XHCN phù hợp với ý chí, nguyện vọng của toàn thể dân tộc Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng ý thức rất rõ việc giải phóng dân tộc đã rất khó khăn, xây dựng CNXH còn khó khăn hơn rất nhiều, nó đòi hỏi sự đoàn kết, đồng thuận của toàn thể nhân dân. Người chỉ ra: “Chủ nghĩa xã hội là nhằm nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân và do nhân dân tự xây dựng lấy”.

Thứ ba, Chủ nghĩa xã hội là chế độ xã hội đã được hiện thực hóa trên thực tế - khác biệt về chất so với các chế độ xã hội trước đó. Cách mạng tháng Mười Nga nổ ra và giành thắng lợi đã mở ra thời đại mới - thời đại quá độ từ CNTB lên CNXH và cách mạng vô sản trên toàn thế giới. Cách mạng tháng Mười Nga là cuộc cách mạng vĩ đại nhất trong lịch sử nhân loại, có tiếng vang và tầm ảnh hưởng sâu sắc đối với việc xây dựng chế độ xã hội mới tốt đẹp - xã hội XHCN. Trước năm 1917 chưa có cuộc cách mạng nào trong lịch sử có thể biến khát vọng tự do, bình đẳng của quần chúng cần lao thành hiện thực. Thắng lợi của Cách mạng tháng Mười Nga là kết quả hiện thực hóa lý tưởng cộng sản chủ nghĩa trên thực tế, biến khát vọng sống hòa bình, độc lập, tự do, bình đẳng thành hiện thực. Từ đây học thuyết của chủ nghĩa Mác về CNXH khoa học đã trở thành CNXH hiện thực với đầy đủ hình hài của một xã hội tương lai. Cách mạng tháng Mười Nga đã giải phóng giai cấp vô sản Nga thoát khỏi ách áp bức, bóc lột của giai cấp tư sản; giải phóng giai cấp nông dân khỏi gông cùm của địa chủ phong kiến; giải phóng các dân tộc trong đế quốc Nga ra khỏi xiềng xích của chế độ Nga hoàng. Đồng thời mở đường cho nhân dân Liên Xô xây dựng chế độ mới - chế độ XHCN; Biến đế quốc Nga nghèo nàn về kinh tế, lạc hậu về chính trị, yếu kém về quốc phòng thành một cường quốc XHCN, xứng đáng là thành trì của hòa bình và cách mạng vô sản toàn thế giới - đó là những hiện thực không thể bác bỏ, phủ nhận.

Thứ tư, Chủ nghĩa xã hội đang được xây dựng toàn diện cả về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội ở Việt Nam. Đây là minh chứng sinh động, cụ thể về một mô hình CNXH được xác định qua 8 đặc trưng cơ bản về mục tiêu; về trình độ lực lượng sản xuất; quan hệ sản xuất; nền văn hóa; về con người, về nhà nước pháp quyền XHCN… 8 đặc trưng này là sự khái quát hóa mô hình của CNXH, nó không chỉ dừng lại trong chiến lược, trong nghị quyết mà được hiện thực hóa trong đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội. Biểu hiện cụ thể nhất là thực hiện dân chủ XHCN “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Đó là những minh chứng rõ ràng, thuyết phục nhất về sự hiện thực hóa nội hàm của con đường đi lên CNXH. Bởi xét cho cùng giá trị của cách mạng XHCN đều kết tinh ở chỗ người dân làm chủ cái gì, thụ hưởng được cái gì. Và cũng chính điều này khẳng định sự khác biệt về bản chất của chế độ XHCN so với chế độ TBCN. Rõ ràng là chúng ta không chỉ xác định con đường mà chúng ta còn nỗ lực cao độ để đi trên con đường CNXH; chúng ta không phải xác định mục tiêu xa vời mà được cụ thể hóa sinh động trong việc thụ hưởng các giá trị CNXH của mỗi người dân Việt Nam. Đó cũng là những lí lẽ sắc sảo nhất về sự gắn kết giữa lý luận và thực tiễn của con đường cách mạng XHCN ở Việt Nam.

Kiên định niềm tin vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội đã chọn: Cả lý luận và thực tiễn cho thấy con đường đi lên CNXH là con đường đúng đắn, hiện thực, phù hợp với xu thế thời đại và khát vọng của dân tộc Việt Nam. Xây dựng CNXH là kiến tạo một kiểu xã hội mới về chất, đây là cả một sự nghiệp sáng tạo vĩ đại, đầy gian nan thử thách, một sự nghiệp tự giác, liên tục, hướng đích lâu dài, không thể chủ quan nóng vội, cũng không bi quan dao động, lung lay niềm tin. Vì vậy, cần thống nhất tư tưởng, nhận thức về CNXH và con đường đi lên CNXH trên cơ sở đó kiên định niềm tin vào tương lai và sự thắng lợi của CNXH. Đồng thời phát huy mạnh mẽ vai trò của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị cho quá trình xây dựng CNXH. Đó cũng chính là cội nguồn sức mạnh để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta nỗ lực phấn đấu, cống hiến, xây dựng và hiện thực hóa CNXH trên đất nước Việt Nam./. 

Thứ Ba, 2 tháng 1, 2024

CON ĐƯỜNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI LÀ ĐÍCH ĐẾN HIỆN THỰC

Hoàn toàn có cơ sở khoa học để khẳng định chắc chắn rằng: con đường đi đến CNXH ở Việt Nam không hề viễn vông, bất định như CNTB và các thế lực thù địch xuyên tạc. Ngược lại nó được minh chứng thuyết phục, sinh động cả về lý luận và thực tiễn.

 Trước hết, Chủ nghĩa xã hội là sự vận động tất yếu của lịch sử. Bằng hai phát kiến vĩ đại là học thuyết giá trị thặng dư và chủ nghĩa duy vật lịch sử, C.Mác đã luận giải thuyết phục sự vận động, phát triển của xã hội loài người. Dựa trên các quy luật vận động nội tại của xã hội, nhất là quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ lực lượng sản xuất và quy luật mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng, C.Mác đã đi đến khẳng định: “Sự phát triển của những hình thái kinh tế - xã hội là một quá trình lịch sử tự nhiên”. Ở đây C.Mác và Ph.Ănghen đã phát triển CNXH từ không tưởng thành khoa học khi luận chứng nó từ quy luật vận động của lịch sử như sự vận động tất yếu của các quy luật kinh tế, quy luật xã hội đã hình thành ngay trong lòng CNTB. Vì vậy, V.I.Lênin đã nhấn mạnh: “C.Mác hoàn toàn chỉ dựa vào những quy luật kinh tế của sự vận động xã hội hiện đại mà kết luận rằng xã hội TBCN nhất định sẽ phải chuyển biến thành xã hội XHCN” và “Chỉ có học thuyết kinh tế của C.Mác là đã giải thích được địa vị thực sự của giai cấp công nhân trong toàn bộ chế độ TBCN”. Như vậy, biện chứng khách quan của lịch sử chính là sự vận động phát triển không ngừng của các hình thái kinh tế - xã hội. Theo đó, hình thái kinh tế - xã hội CSCN tất yếu sẽ thay thế hình thái kinh tế - xã hội TBCN. Con đường đi lên của nhân loại không gì khác là chủ nghĩa cộng sản mà giai đoạn thấp là CNXH - Đó là tất yếu của lịch sử chứ không phải là ảo vọng hay sự tự biện của những người cộng sản.

 Thứ hai, mục tiêu của CNXH là không xa vời mà rất cụ thể. Đó là xóa bỏ chế độ người bóc lột người, xóa bỏ sự phân chia giai cấp, xây dựng một xã hội bình đẳng, tự do, hạnh phúc. Ở CNXH có sự khác biệt rất căn bản so với tất cả các phương thức sản xuất trước đó chính là nằm ở mục tiêu hay con đường đi tới. Nếu như trong xã hội trước đây chỉ là sự thay thế phương thức sản xuất này bằng phương thức sản xuất khác thông qua một cuộc cách mạng xã hội. Tuy nhiên, đó chỉ là thay thế giai cấp thống trị này bằng giai cấp thống trị khác, quần chúng cần lao vẫn là giai cấp bị trị, vẫn chịu sự bóc lột bằng cách này hoặc cách khác. Cách mạng XHCN đi trái lại với quy luật thay thế giai cấp thống trị quần chúng cần lao. CNXH là một xã hội được xây dựng nhằm hướng tới mục tiêu giải phóng giai cấp, giải phóng con người, xóa bỏ triệt để chế độ người bóc lột người.

 Mục tiêu này cũng đã được các nhà kinh điển Chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ ra rất rõ ràng, cụ thể:

 Ngay trong “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”, C.Mác đã khẳng định cả về lý luận và thực tiễn sự vận động phát triển của cách mạng vô sản thế giới. Trên cơ sở khẳng định những mâu thuẫn nội tại không thể điều hòa trong xã hội tư bản, C.Mác đã chứng minh CNTB nhất định sẽ bị thay thế bằng xã hội mới - xã hội chủ nghĩa. “Tuyên ngôn Đảng Cộng sản” chỉ rõ sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân với bộ tham mưu chiến đấu là Đảng cộng sản nhằm đấu tranh lật đổ chế độ áp bức, bóc lột của CNTB, xây dựng một xã hội văn minh, tiến bộ, bình đẳng. Luận điểm này được C.Mác khẳng định: “Sự sụp đổ của giai cấp tư sản và thắng lợi của giai cấp vô sản đều là tất yếu như nhau”.

 Kế thừa tư tưởng của C.Mác và Ph.Ănghen về CNXH và con đường đi lên CNXH, dựa trên thực tiễn xây dựng CNXH sau cách mạng tháng Mười Nga, V.I.Lênin khẳng định: “Tất cả các dân tộc đều sẽ đi đến CNXH, đó là điều không tránh khỏi, nhưng tất cả các dân tộc đều tiến tới CNXH không phải một cách hoàn toàn giống nhau; mỗi một dân tộc sẽ đưa đặc điểm của mình vào hình thức này hay hình thức khác của chế độ dân chủ, vào loại này hay loại khác của chuyên chính vô sản, vào nhịp độ này hay nhịp độ khác của việc cải tạo XHCN đối với các mặt khác nhau của đời sống xã hội”. Rõ ràng với luận điểm này, V.I.Lênin đã chỉ ra xu thế tất yếu của thời đại là quá độ đi lên CNXH trên toàn thế giới với mục tiêu rất cụ thể là xây dựng thành công CNXH. Tuy nhiên ở mỗi quốc gia, dân tộc khác nhau thì lựa chọn con đường, cách thức, biện pháp khác nhau. Mỗi quốc gia phải dựa vào đặc điểm tình hình cụ thể của mình để định hình con đường đi lên CNXH phù hợp. Tùy theo tư duy, nhận thức, cách thức tổ chức thực hiện ở từng Đảng cộng sản, từng quốc gia khác nhau sẽ có độ dài ngắn trên con đường đi đến đích khác nhau. V.I.Lênin không chỉ chỉ ra con đường đi lên CNXH mà còn hiện thực hóa nó bằng các chính sách cụ thể để xây dựng CNXH. Chính V.I.Lênin là người tổ chức, lãnh đạo cách mạng tháng Mười Nga năm 1917 thành công, khai sinh ra và tổ chức xây dựng nhà nước XHCN đầu tiên trên thế giới.

 Chủ tịch Hồ Chí Minh trong quá trình bôn ba tìm đường cứu nước, Người đến Châu Âu, Châu Phi, Châu Mỹ Latinh nhưng đều không thể tìm thấy con đường giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp. Cho đến khi Người bắt gặp Luận cương của V.I.Lênin về Dân tộc và thuộc địa, Người đã nhất quyết đưa con thuyền cách mạng Việt Nam đi theo con đường cách mạng vô sản. Vì chỉ cách mạng vô sản mới đảm bảo cho dân tộc Việt Nam được độc lập, người dân Việt Nam được tự do, ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành. Người khẳng định “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mạng nhất là chủ nghĩa Mác - Lênin”. Vì ở chủ nghĩa Mác - Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh tìm thấy con đường giải phóng dân tộc và mục tiêu, lí tưởng cách mạng XHCN phù hợp với ý chí, nguyện vọng của toàn thể dân tộc Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng ý thức rất rõ việc giải phóng dân tộc đã rất khó khăn, xây dựng CNXH còn khó khăn hơn rất nhiều, nó đòi hỏi sự đoàn kết, đồng thuận của toàn thể nhân dân. Người chỉ ra: “Chủ nghĩa xã hội là nhằm nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân và do nhân dân tự xây dựng lấy”.

 Thứ ba, Chủ nghĩa xã hội là chế độ xã hội đã được hiện thực hóa trên thực tế - khác biệt về chất so với các chế độ xã hội trước đó. Cách mạng tháng Mười Nga nổ ra và giành thắng lợi đã mở ra thời đại mới - thời đại quá độ từ CNTB lên CNXH và cách mạng vô sản trên toàn thế giới. Cách mạng tháng Mười Nga là cuộc cách mạng vĩ đại nhất trong lịch sử nhân loại, có tiếng vang và tầm ảnh hưởng sâu sắc đối với việc xây dựng chế độ xã hội mới tốt đẹp - xã hội XHCN. Trước năm 1917 chưa có cuộc cách mạng nào trong lịch sử có thể biến khát vọng tự do, bình đẳng của quần chúng cần lao thành hiện thực. Thắng lợi của Cách mạng tháng Mười Nga là kết quả hiện thực hóa lý tưởng cộng sản chủ nghĩa trên thực tế, biến khát vọng sống hòa bình, độc lập, tự do, bình đẳng thành hiện thực. Từ đây học thuyết của chủ nghĩa Mác về CNXH khoa học đã trở thành CNXH hiện thực với đầy đủ hình hài của một xã hội tương lai. Cách mạng tháng Mười Nga đã giải phóng giai cấp vô sản Nga thoát khỏi ách áp bức, bóc lột của giai cấp tư sản; giải phóng giai cấp nông dân khỏi gông cùm của địa chủ phong kiến; giải phóng các dân tộc trong đế quốc Nga ra khỏi xiềng xích của chế độ Nga hoàng. Đồng thời mở đường cho nhân dân Liên Xô xây dựng chế độ mới - chế độ XHCN; Biến đế quốc Nga nghèo nàn về kinh tế, lạc hậu về chính trị, yếu kém về quốc phòng thành một cường quốc XHCN, xứng đáng là thành trì của hòa bình và cách mạng vô sản toàn thế giới - đó là những hiện thực không thể bác bỏ, phủ nhận.

 Thứ tư, Chủ nghĩa xã hội đang được xây dựng toàn diện cả về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội ở Việt Nam. Đây là minh chứng sinh động, cụ thể về một mô hình CNXH được xác định qua 8 đặc trưng cơ bản về mục tiêu; về trình độ lực lượng sản xuất; quan hệ sản xuất; nền văn hóa; về con người, về nhà nước pháp quyền XHCN… 8 đặc trưng này là sự khái quát hóa mô hình của CNXH, nó không chỉ dừng lại trong chiến lược, trong nghị quyết mà được hiện thực hóa trong đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội. Biểu hiện cụ thể nhất là thực hiện dân chủ XHCN “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Đó là những minh chứng rõ ràng, thuyết phục nhất về sự hiện thực hóa nội hàm của con đường đi lên CNXH. Bởi xét cho cùng giá trị của cách mạng XHCN đều kết tinh ở chỗ người dân làm chủ cái gì, thụ hưởng được cái gì. Và cũng chính điều này khẳng định sự khác biệt về bản chất của chế độ XHCN so với chế độ TBCN. Rõ ràng là chúng ta không chỉ xác định con đường mà chúng ta còn nỗ lực cao độ để đi trên con đường CNXH; chúng ta không phải xác định mục tiêu xa vời mà được cụ thể hóa sinh động trong việc thụ hưởng các giá trị CNXH của mỗi người dân Việt Nam. Đó cũng là những lí lẽ sắc sảo nhất về sự gắn kết giữa lý luận và thực tiễn của con đường cách mạng XHCN ở Việt Nam.

Kiên định niềm tin vào con đường chủ nghĩa xã hội đã chọn: Cả lý luận và thực tiễn cho thấy con đường CNXH là con đường đúng đắn, hiện thực, phù hợp với xu thế thời đại và khát vọng của dân tộc Việt Nam. Xây dựng CNXH là kiến tạo một kiểu xã hội mới về chất, đây là cả một sự nghiệp sáng tạo vĩ đại, đầy gian nan thử thách, một sự nghiệp tự giác, liên tục, hướng đích lâu dài, không thể chủ quan nóng vội, cũng không bi quan dao động, lung lay niềm tin. Vì vậy, cần thống nhất tư tưởng, nhận thức về CNXH và con đường đi lên CNXH trên cơ sở đó kiên định niềm tin vào tương lai và sự thắng lợi của CNXH. Đồng thời phát huy mạnh mẽ vai trò của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị cho quá trình xây dựng CNXH. Đó cũng chính là cội nguồn sức mạnh để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta nỗ lực phấn đấu, cống hiến, xây dựng và hiện thực hóa CNXH trên đất nước Việt Nam./. 

Thứ Hai, 16 tháng 10, 2023

CHỦ NGHĨA XÃ HỘI VẪN LÀ SỰ LỰA CHỌN CỦA TƯƠNG LAI

Sự sụp đổ của Liên Xô và Đông Âu đã giáng một đòn nặng nề không chỉ vào mô hình CNXH của Liên Xô và các nước Đông Âu, mà còn vào cả chính học thuyết Mác - Lênin và hệ tư tưởng XHCN. Trước hiện thực lịch sử bi thảm đó, đã có một số người dao động, bi quan, nghi ngờ sự đúng đắn của CNXH khoa học.

Sự sụp đổ của chủ CNXH ở Liên Xô và Đông Âu do nhiều nguyên nhân: khách quan, chủ quan, bên trong, bên ngoài, chủ yếu, thứ yếu. Nhưng chung quy do nguyên nhân sâu xa là, trong quá trình xây dựng CNXH, bên cạnh những thành tựu vĩ đại, đã có những khiếm khuyết, nhược điểm nghiêm trọng về mô hình xây dựng, phát triển chậm được phát hiện và khắc phục, gây ra tình trạng trì trệ kinh tế - xã hội, dẫn tới khủng hoảng. Nguyên nhân chủ yếu và trực tiếp là, trong cải tổ, Ðảng Cộng sản Liên Xô đã mắc những sai lầm rất nghiêm trọng về chính trị, tư tưởng và tổ chức. Ðó là đường lối xét lại, phản bội chủ nghĩa Mác - Lênin của một số nhân vật lãnh đạo đảng. Chủ nghĩa đế quốc đã lợi dụng những khó khăn và sai lầm về đường lối của Liên Xô và các nước XHCN Ðông Âu, chúng đẩy mạnh chiến lược “Diễn biến hòa bình” cực kỳ thâm độc, can thiệp toàn diện, vừa tinh vi, vừa trắng trợn vào nội bộ các nước XHCN. Cuối cùng, chủ nghĩa đế quốc đã “không đánh mà thắng”. Dĩ nhiên, chúng không thể làm được điều này, nếu cải tổ có đường lối đúng đắn, nếu hơn 20 triệu đảng viên cộng sản Liên Xô có tinh thần cảnh giác cách mạng và sức chiến đấu cao, không để nội bộ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” khiến cho bọn cơ hội, xét lại và phản bội thao túng cơ quan lãnh đạo của Ðảng, nếu có sự cố kết chặt chẽ giữa Ðảng, Nhà nước và nhân dân Liên Xô.

Trước hiện thực đó, Đảng ta chỉ rõ, sự sụp đổ của CNXH ở Liên Xô và Đông Âu đó là sự sụp đổ của một mô hình xây dựng CNXH hiện thực, chứ không phải là sự sụp đổ của một học thuyết khoa học và cách mạng. Vì vậy, tại Đại hội VII (tháng 6-1991), trước những khó khăn và phức tạp của tình hình trong nước và quốc tế, Đảng ta vẫn tiếp tục khẳng định con đường cách mạng của nước ta là “nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”. Đây cũng là lần đầu tiên trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Đảng ta phác thảo ra mô hình chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam; đưa ra quan niệm, cách thức, biện pháp, bước đi phù hợp với điều kiện cụ thể của đất nước. Để từ đó chúng ta định hướng con đường đi tới, không mắc phải những sai lầm như các mô hình CNXH hiện thực trước đó, đồng thời khẳng định Việt Nam tiếp tục kiên định con đường đi lên CNXH mà Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn.

Kiên định và đổi mới con đường đi lên CNXH ở Việt Nam đã và đang chứng minh tính đúng đắn, khoa học và cách mạng. Nhưng cũng phải thừa nhận rằng, trong một số thời điểm nhận thức của chúng ta về CNXH chưa đầy đủ cả lý luận và thực tiễn, dẫn đến xây dựng CNXH mang tính.ập khuôn, máy móc, giáo điều, không chú ý đến tính đặc thù. Ngay cả hiện nay, không ít vấn đề lý luận và thực tiễn về CNXH và con đường đi lên CNXH ở nước ta vẫn chưa được làm sáng tỏ, cần được nghiên cứu, nhận thức để vận dụng phù hợp vào điều kiện cụ thể của đất nước.

Quá trình đổi mới đất nước hiện nay bên cạnh những thành tựu to lớn đạt được, thì còn những hạn chế, yếu kém do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan mang lại, nhưng nguyên nhân chủ quan vẫn là chủ yếu. Vì con đường quá độ lên CNXH ở Việt Nam là chưa có tiền lệ trong lịch sử, xuất phát điểm thấp, vì vậy trong quá trình đó chúng ta không tránh khỏi những khó khăn, sai lầm và đã từng phải trả giá. Điều quan trọng là Đảng ta đã nhận ra sai lầm, khuyết điểm để sửa chữa, lãnh đạo sự nghiệp đổi mới đất nước ngày phát triển đúng hướng. Từ một đất nước nghèo phải nhập khẩu lương thực, đến nay chúng ta chuyển sang xuất khẩu lương thực, ra khỏi nhóm nước nghèo, kém phát triển, bước vào nhóm nước có mức thu nhập trung bình và đang hướng đến mục tiêu trở thành nước công nghiệp hiện đại theo định hướng XHCN. Thế và lực của Việt Nam trên trường quốc tế tiếp tục được khẳng định, là thành viên có trách nhiệm được cộng đồng quốc tế ghi nhận. Quá trình đó đang cho thấy con đường đi lên CNXH ở nước ta ngày càng được nhận thức đầy đủ và làm sáng tỏ.

Vậy, chẳng lẽ từ bỏ con đường cách mạng đúng đắn đang đi? Câu trả lời là không bao giờ! Đó chỉ là luận điệu của các thế lực thù địch nhằm chống phá con đường cách mạng nước ta, hoặc là của một bộ phận nhận thức không đúng về CNXH, lập trường và bản lĩnh chính trị không vững vàng, biểu hiện sự suy thoái về tư tưởng chính trị. Thực tiễn lịch sử đang cho thấy, không phải bất cứ quốc gia nào đi theo chế độ tư bản chủ nghĩa thì đều phát triển. Trong hơn 190 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới đang phát triển theo con đường tư bản chủ nghĩa thì số nhiều trong đó là các nước đói nghèo, lạc hậu, bất ổn về chính trị. Một số nước tư bản phát triển hiện nay có nguồn gốc giàu có chủ yếu là do vơ vét tài nguyên, bóc lột sức lao động ở các nước thuộc địa và ở chính quốc trước đây. Chính chủ nghĩa tư bản đang tạo ra khoảng cách giàu nghèo ngày càng lớn, phân hóa xã hội ngày càng sâu sắc, đang để lại một châu Phi đói nghèo, lạc hậu; một châu Mỹ nợ nần chồng chất và một châu Âu khủng hoảng kinh tế và bất ổn chính trị. Trong khi đó, đất nước Việt Nam đã phải trải qua hơn 1000 năm chống Bắc thuộc, gần 100 năm chống đế quốc, thực dân, điều kiện hòa bình để xây dựng đất nước chỉ mới có khoảng 40 năm, vì vậy những thành tựu đạt được hiện nay là vô cùng to lớn: chính trị - xã hội ổn định, kinh tế tăng trưởng luôn ở mức cao so với các nước trong khu vực, đời sống vật chất và tinh thần của người dân không ngừng được nâng cao. Nói tóm lại, đất nước và con người Việt Nam đang ngày càng “thay da đổi thịt”, không ngừng tăng trưởng và phát triển một cách toàn diện. Thử hỏi trên thế giới này có được mấy dân tộc trải qua lịch sử hào hùng như vậy?

Hiện nay, có ý kiến xuyên tạc rằng, Việt Nam đang đổi mới nửa vời, kinh tế thị trường định hướng XHCN là “đầu Ngô mình Sở” - CNXH chỉ là hình thức, còn bản chất đã ngả theo con đường tư bản chủ nghĩa. Đây là luận điệu nhằm phủ nhận những thành quả của sự nghiệp đổi mới và quá trình phát triển nhận thức về CNXH ở Việt Nam. Như chúng ta biết, lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin là học thuyết mở, có giá trị phương pháp luận. Do đó, V.I.Lênin cho rằng, “Tất cả các dân tộc đều sẽ đi lên chủ nghĩa xã hội, đó là điều không thể tránh khỏi, nhưng tất cả các dân tộc đều tiến tới chủ nghĩa xã hội không phải một cách hoàn toàn giống nhau; mỗi dân tộc sẽ đưa đặc điểm của mình vào hình thức này hay hình thức khác của chế độ dân chủ, vào loại này hay loại khác của chuyên chính vô sản, vào nhịp độ này hay nhịp độ khác của việc cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với các mặt khác nhau của đời sống xã hội”. Đồng thời, V.I.Lênin cũng căn dặn: “Chúng ta không hề coi lý luận của Mác như là một cái gì đã xong xuôi hẳn và bất khả xâm phạm; trái lại, chúng ta tin rằng lý luận đó chỉ đặt nền móng cho môn khoa học mà những người xã hội chủ nghĩa cần phải phát triển hơn nữa về mọi mặt, nếu họ không muốn trở thành lạc hậu đối với cuộc sống”.

Trong một thời gian dài chúng ta nhận thức chưa đầy đủ về CNXH, đặc biệt là trước đổi mới, hệ quả là đất nước rơi vào khủng hoảng về kinh tế - xã hội trầm trọng. Xuất phát từ thực tiễn đó, Đảng ta đã nhận thức lại CNXH khoa học phù hợp với điều kiện cụ thể của đất nước. Vì vậy, từ Đại hội VI của Đảng (tháng 12-1986), con đường đổi mới đã được thông qua. Sự đổi mới ở đây không có nghĩa là từ bỏ con đường XHCN, mà đổi mới để nhận thức đúng, đầy đủ hơn về CNXH ở Việt Nam. Đổi mới ở đây là đổi mới tư duy, mà trước hết là tư duy kinh tế. Vì vậy, nếu trước đổi mới, quan niệm kinh tế thị trường, nhà nước pháp quyền là sản phẩm của chủ nghĩa tư bản, đối lập một cách trừu tượng CNXH với chủ nghĩa tư bản, thì nay nhận thức lại đúng đắn hơn, coi kinh tế thị trường, nhà nước pháp quyền là sản phẩm phát triển chung của nhân loại đạt được dưới chủ nghĩa tư bản, cần phải kế thừa yếu tố hợp lý, vận dụng sáng tạo vào quá trình xây dựng CNXH ở Việt Nam.

Nên nhớ rằng, trong Tuyên Ngôn của Đảng Cộng sản, C.Mác nhấn mạnh: “Đặc trưng của chủ nghĩa cộng sản không phải là xóa bỏ chế độ sở hữu nói chung, mà là xóa bỏ chế độ sở hữu tư sản”; “Chủ nghĩa cộng sản không tước bỏ của ai cái khả năng chiếm hữu những sản phẩm xã hội cả. Chủ nghĩa cộng sản chỉ tước bỏ quyền dùng sự chiếm hữu ấy để nô dịch lao động của người khác”. Do vậy, trong thời kỳ quá độ lên CNXH và kể cả trong CNXH, việc tồn tại kinh tế thị trường, sở hữu tư nhân là tất yếu. Sở hữu tư nhân ở đây với tư cách là quyền chiếm hữu sản phẩm do chính lao động tạo ra, chứ không phải sở hữu với tư cách là một chế độ chính trị - xã hội - dùng quyền sở hữu đó để đi bóc lột sức lao động của người khác làm cơ sở tồn tại của chế độ. 

Vì vậy, thay vì “bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa” nay nhận thức đúng hơn là “bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa”. Điều đó có nghĩa là, chỉ bỏ qua việc xác lập địa vị thống trị của quan hệ sản xuất, kiến trúc thượng tầng tư bản chủ nghĩa, hay nói cách khác là bỏ qua chế độ chính trị tư bản chủ nghĩa, còn tất cả những thành tựu về kinh tế, khoa học kỹ thuật, công nghệ, khoa học quản lý... của nhân loại đạt được dưới chủ nghĩa tư bản phải kế thừa, vận dụng trong quá trình xây dựng CNXH ở Việt Nam. Vì vậy, quá trình đổi mới, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam là hoàn toàn đúng đắn, chứ không phải là ngả theo con đường tư bản chủ nghĩa như sự xuyên tạc của các quan điểm sai trái, thù địch.

Dù thời thế có đổi thay, nhưng mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với CNXH ở nước ta là không bao giờ thay đổi. Độc lập dân tộc là điều kiện để đi lên chủ nghĩa xã hội, ngược lại chủ nghĩa xã hội là điều kiện để đảm bảo độc lập dân tộc. Vì đây “là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử”. Đương nhiên, vấn đề không chỉ là mục tiêu, lý tưởng, mà điều quan trọng là phải tìm ra giải pháp, bước đi, cách làm khoa học, sáng tạo nhằm thực hiện cho bằng được mục tiêu, lý tưởng đã xác định. CNXH của chúng ta xây dựng không phải là CNXH bị hiểu sai và làm sai, mà là CNXH khoa học, CNXH đổi mới đúng đắn trên tinh thần phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và thực tiễn đất nước.

 


Chủ Nhật, 17 tháng 9, 2023

ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI LÀ SỰ LỰA CHỌN DUY NHẤT ĐÚNG ĐẮN CỦA CÁCH MẠNG VIỆT NAM

Trong thời gian qua, các thế lực thù địch trong và ngoài nước vẫn thường xuyên chống phá, xuyên tạc, bác bỏ con đường đi lên CNXH ở Việt Nam. Khi CNXH ở Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ, các thế lực thù địch đã vui mừng, hí hửng cho rằng: “Chủ nghĩa xã hội là sai lầm của lịch sử”, “Chủ nghĩa xã hội đã cáo chung",“Việt Nam lựa chọn và kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội là sai lầm, theo vết xe đổ của Liên Xô”. Đây là những luận điệu sai trái, không phù hợp với thực tiễn lịch sử nước ta.

Thực tế lịch sử chứng minh rằng, khi thực dân Pháp xâm lược Việt Nam năm 1858 đến trước năm 1930 thế kỷ XX, ở Việt Nam đã có hàng trăm cuộc khởi nghĩa, phong trào chống thực dân Pháp nổ ra theo nhiều khuynh hướng khác nhau, nhưng cuối cùng đều bị thất bại, nguyên nhân chủ yếu do thiếu một đường lối chính trị đúng đắn lãnh đạo (chưa giải quyết đúng đắn mâu thuẫn cơ bản của dân tộc Việt Nam lúc đó, thiếu một tổ chức cách mạng (một đảng chính trị), thiếu lực lượng cách mạng được tập hợp rộng rãi các giai cấp, tầng lớp trong xã hội Việt Nam lúc đó).

Trong bối cảnh mất nước như vậy, với khát vọng giải phóng dân tộc và bằng thiên tài của mình, ngày 5 - 6 -1911, Nguyễn Ái Quốc ra đi tìm đường cứu nước, Người tìm đến chủ nghĩa Mác - Lênin, chuẩn bị những điều kiện cần thiết để thành lập Đảng. Sau một thời gian chuẩn bị đầy đủ cho sự ra đời Đảng Cộng sản ở Việt Nam, ngày 03 - 02 - 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời. Hội nghị thành lập Đảng thông qua các văn kiện: Chánh cương vắn tắt của Đảng, Sách lược vắn tắt của Đảng, Chương trình tóm tắt của Đảng, Điều lệ vắn tắt của Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong đó, Chánh cương vắn tắt của Đảng xác định đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam “chủ trương làm sư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”. Như vậy, mục tiêu chiến lược được nêu ra trong Cương lĩnh đầu tiên của Đảng đã làm rõ nội dung của cách mạng thuộc địa nằm trong phạm trù cách mạng vô sản, chính là làm cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân tiến lên CNXH. Giải phóng dân tộc và giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội gắn liền mật thiết với nhau thể hiện ở mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH.

Như vậy, sau khi hoàn thành giải phóng dân tộc, cách mạng Việt Nam sẽ tiến lên CNXH, đường lối chiến lược này được xác định ngay từ khi Đảng ra đời, trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng. Đó là yêu cầu của lịch sử, từ thực tiễn lịch sử cách mạng Việt Nam. Trải qua hơn 90 năm lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn kiên định, nhất quán con đường cách mạng đã lựa chọn.

 


Thứ Ba, 1 tháng 8, 2023

VIỆT NAM QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI LÀ TẤT YẾU KHÁCH QUAN

Thời gian vừa qua trên một số trang mạng xã hội xuất hiện bài viết: “Quá độ – nói phét vượt thời gian”, của bọn cơ hội chính trị, chống đối Đảng nhằm xuyên tạc và phủ nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, nhưng sự thật chúng đã nhầm bởi lẽ: Con đường phát triển của mỗi chế độ xã hội nói chung, của chế độ xã hội chủ nghĩa trên thế giới và ở Việt Nam nói riêng là quá trình quanh co phức tạp. Sau sự khủng hoảng, sụp đổ mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên xô, một số nước Đông Âu, Đảng ta khẳng định: Lịch sử thế giới đang trải qua những bước quanh co; song, loài người cuối cùng nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội vì đó là quy luật tiến hóa của lịch sử. Đại hội XI của Đảng tiếp tục khẳng định: Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử.

Mặc dù Chủ nghĩa tư bản đã có những thay đổi để thích ghi với thực tiễn, song bản chất không bao giờ thay đổi vẫn là chế độ người bóc lột người. Ngày nay chủ nghĩa tư bản hiện đại bước sang giai đoạn cao là chủ nghĩa tư bản toàn cầu hóa, tuy đạt được nhiều thành tựu giải phóng, phát triển lực lượng sản xuất, phát triển khoa học và công nghệ nên đã đạt được năng suất lao động cao. Song chủ nghĩa tư bản vẫn không thể khắc phục được những mâu thuẫn cơ bản vốn có của nó, khi dịch Covid – 19 bùng phát lại càng bộc lộ rõ bản chất chế độ chính trị – xã hội là không phải vì nhân dân lao động. Mặt khác, Việt Nam là nước nông nghiệp lạc hậu, lại bị chiến tranh tàn phá rất nặng nề về mọi mặt. Sau đại thắng mùa xuân 1975, đất nước thống nhất, Đảng lãnh đạo cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa. Với đường lối đổi mới, hội nhập quốc tế, trong 35 năm qua chúng ta đã đạt được nhiều thành tự to lớn trên tất cả các lĩnh vực, đúng như Đại hội XIII đã đánh giá: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”. Những thành tựu to lớn ấy khẳng định con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam là hoàn toàn đúng đắn, không thể thay đổi. Do đó, các phần tử cơ hội chính trị có nói gì đi chăng nữa, cũng chỉ là tìm cách xuyên tạc, bôi nhọ con đường cách mạng mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lực chọn. Mục đích cuối cùng của chúng là muốn chia rẽ mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân nhằm làm suy yếu nội bộ, tạo thời cớ can thiệp để làm đổi màu chế độ chính trị của nước ta theo quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản. Vì thế, mỗi người dân Việt Nam hãy cảnh giác, không bị mắc mưu của những luận điểm xuyên tạc và phản động đó.

 

 


THANH NIÊN VIỆT NAM KIÊN ĐỊNH, VỮNG VÀNG ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI THEO TINH THẦN NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI XIII

Kế thừa và phát huy những giá trị to lớn của Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại, Thanh niên Việt Nam nguyện tiếp bước con đường của Đảng, Bác Hồ và thế hệ cha, ông đi trước luôn kiên định mục tiêu, lý tưởng của Đảng, tiếp tục nhận thức rõ về trách nhiệm của thế hệ trẻ. Xung kích, sáng tạo, cống hiến đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, góp phần đưa đất nước vững bước trên con đường đi lên chủ nghĩa xã hội theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng. Trong giai đoạn hiện nay, tình hình thế giới, khu vực có nhiều biến động diễn biến phức tạp khó lường. Những vấn đề toàn cầu, như: bảo vệ hòa bình, an ninh con người, thiên tai, dịch bệnh, an ninh xã hội và an ninh phi truyền thống, nhất là an ninh mạng, biến đổi khí hậu, nước biển dâng, ô nhiễm môi trường, cùng với đó là xung đột vũ trang, sắc tộc, tôn giáo, tranh chấp biên giới, biển đảo, sự can thiệp tầm ảnh hưởng các nước lớn trên thế giới…. cuộc đấu tranh giai cấp và dân tộc của nhân dân các nước vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội diễn ra rất phức tạp.

Qua 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, lý luận về đường lối đổi mới, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta ngày càng được hoàn thiện và từng bước được hiện thực hóa. Chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện hơn so với những năm trước đổi mới. Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử là kết tinh sức sáng tạo của Đảng và nhân dân ta, khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta là phù hợp với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại; khẳng định sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Chính lẽ đó thế hệ trẻ Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng đã nhận thức sâu sắc những giá trị về bài học quý báu sau các sự kiện chính trị xảy ra ở Liên Xô và các nước Đông Âu vào những năm thập kỷ 90 thế kỷ XX, dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta đã lãnh đạo đất nước đổi mới một cách toàn diện, sâu sắc, có hiệu quả, kiên quyết khắc phục những sai lầm, thiếu sót trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. 

Đại hội lần thứ VI của Đảng (năm 1986) đã đánh dấu mốc cho công cuộc đổi mới toàn diện đất nước. Thực hiện nguyên tắc chỉ đạo sự nghiệp đổi mới được Đảng ta luôn quán triệt: “Đổi mới trên nền tảng tư tưởng là chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, vì độc lập dân tộc, vì chủ nghĩa xã hội”. Trong nhận thức và áp dụng về lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội bất kỳ điều kiện, hoàn cảnh nào cũng tuân thủ theo các quy luật, nguyên tắc. Không được nóng vội dao động, bi quan, đổi hướng, thay đổi mục tiêu, con đường mà Đảng và nhân dân đã chọn. Đó vừa là mục tiêu, tư tưởng, vừa là sự lựa chọn cách thức, bước đi phù hợp với điều kiện thực tiễn cụ thể của nước ta, dưới sự lãnh đạo của Đảng để từng bước hiện thực hóa con đường mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn - con đường độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. 

Các chủ trương, đường lối, quan điểm của con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta của Đảng ta qua các kỳ đại hội thể hiện rõ qua các văn kiện như: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991 (bổ sung, phát triển năm 2011) khẳng định: “Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử”. Hiến pháp năm 2013 tiếp tục hiến định: “Đảng Cộng sản Việt Nam là Đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”. Kết quả công cuộc đổi mới đất nước dưới sự lãnh đạo sáng suốt và tài tình của Đảng từ Đại hội VI của Đảng (tháng 12 - 1986) đến Đại hội XIII, Đảng ta khẳng định: “Với tất cả sự khiêm tốn, chúng ta vẫn có thể nói rằng: Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”. Đất nước ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội và tình trạng kém phát triển, trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình, đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Kinh tế tăng trưởng khá, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa từng bước được hình thành, phát triển. Chính trị - xã hội có bước phát triển, bộ mặt đất nước và đời sống nhân dân có nhiều thay đổi. Dân chủ xã hội chủ nghĩa được phát huy và ngày càng mở rộng. Đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố và tăng cường. Công tác xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền và cả hệ thống chính trị được đẩy mạnh. Sức mạnh về mọi mặt của đất nước được nâng lên; kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và chế độ xã hội chủ nghĩa. Quan hệ đối ngoại ngày càng mở rộng và đi vào chiều sâu; vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao.

Để thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII cần phải đưa ra các giải pháp nhằm tạo sự thống nhất về nhận thức và hành động của các cấp bộ Đoàn trong việc thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, “Đẩy mạnh giáo dục nâng cao nhận thức, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật, bảo vệ môi trường, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc của người Việt Nam, đặc biệt là thế hệ trẻ”. Qua đó, tăng cường giáo dục lý tưởng cách mạng, lòng yêu nước, nuôi dưỡng hoãi bão, khát vọng vươn lên trong thanh thiếu niên “Chú trọng hơn giáo dục, đạo đức nhân cách năng lực sáng tạo và các giá trị cốt lõi, nhất là giáo dục tinh thần yêu nước, tự hào, tự tôn dân tộc, truyền thống và lịch sử dân tộc ý thức trách nhiệm xã hội cho các tầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ…”. Đồng thời, chăm lo, phát triển thanh thiếu niên và phát huy tinh thần xung kích, tình nguyện, sáng tạo của thanh niên tham gia phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ quốc, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội. Để thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII cần phải tăng cường giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống văn hoá, lòng yêu nước, tự hào dân tộc, khát vọng phát triển đất nước; phát huy vai trò của thanh niên trong tham gia phát triển kinh tế, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trẻ, thúc đẩy học tập và sử dụng ngoại ngữ, công nghệ thông tin, tiên phong trong thực hiện chủ trương đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia, phát triển kinh tế số; tham gia phát triển xã hội bền vững, bảo vệ môi trường, chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu, phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai, dịch bệnh; nâng cao nhận thức, trách nhiệm của thanh thiếu niên về đảm bảo quốc phòng, an ninh, xung kích tham gia bảo vệ Tổ quốc; chăm lo, giáo dục, bồi dưỡng và bảo vệ trẻ em, thiếu niên, nhi đồng; nâng cao hiệu quả công tác quốc tế thanh niên; chủ động, tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng; mở rộng mặt trận đoàn kết, tập hợp thanh niên; xây dựng tổ chức Đoàn, Hội vững mạnh; nâng cao hiệu quả công tác bồi dưỡng, giới thiệu đoàn viên ưu tú cho Đảng xem xét, kết nạp; chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ trẻ; tham gia tích cực vào hoạt động giám sát, phản biện xã hội, tham vấn chính sách.

Để thực tốt các giải pháp hành động này, Các cấp ủy Đảng, thủ trưởng các cấp cần lãnh đạo, chỉ đạo các tổ chức Đoàn đưa ra các mục tiêu, nội dung, giải pháp thực hiện để triển khai một cách có hiệu quả nhất nhằm góp phần thực hiện thắng lợi nghị quyết đại hội đã đề ra. Bên cạnh những giải pháp quan trọng, dài hạn tiếp tục được xác định trong  Văn kiện Đại hội XIII của Đảng và có bước phát triển, đã có nhiều nội dung mới, quan trọng trong công tác thanh niên được nhấn mạnh. Đó là “nuôi dưỡng hoài bão, khát vọng vươn lên; nêu cao tinh thần trách nhiệm của thanh niên đối với đất nước, với xã hội”; quan điểm phát triển thế hệ trẻ “lành mạnh, toàn diện, hài hòa cả về trí tuệ, thể chất và giá trị thẩm mỹ” và “Chăm lo nuôi dưỡng, giáo dục, bảo vệ thiếu niên, nhi đồng; dành những điều kiện tốt nhất, sự chăm lo chu đáo nhất cho trẻ em - tương lai của đất nước”.

Đi theo con đường Cách mạng Tháng Mười Nga, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Lãnh tụ Hồ Chí Minh, sự nghiệp cách mạng Việt Nam hơn 90 năm qua đã giành được những thắng lợi to lớn mang tính bước ngoặt lịch sử. Qua Đại hội XIII của Đảng lại một lần nữa được khẳng định với các quan điểm, đổi mới toàn diện trong nhận thức. Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và tuổi trẻ cả nước bày tỏ ý chí quyết tâm, bằng hành động cụ thể đưa Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng vào cuộc sống, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, vì tương lai tươi sáng của thế hệ trẻ./.

 

 


Thứ Hai, 20 tháng 2, 2023

VIỆT NAM QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI LÀ TẤT YẾU KHÁCH QUAN

Thời gian vừa qua trên một số trang mạng xã hội xuất hiện bài viết: “Quá độ – nói phét vượt thời gian”, của bọn cơ hội chính trị, chống đối Đảng nhằm xuyên tạc và phủ nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, nhưng sự thật chúng đã nhầm bởi lẽ: Con đường phát triển của mỗi chế độ xã hội nói chung, của chế độ xã hội chủ nghĩa trên thế giới và ở Việt Nam nói riêng là quá trình quanh co phức tạp. Sau sự khủng hoảng, sụp đổ mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên xô, một số nước Đông Âu, Đảng ta khẳng định: Lịch sử thế giới đang trải qua những bước quanh co; song, loài người cuối cùng nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội vì đó là quy luật tiến hóa của lịch sử. Đại hội XI của Đảng tiếp tục khẳng định: Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử.

Mặc dù Chủ nghĩa tư bản đã có những thay đổi để thích ghi với thực tiễn, song bản chất không bao giờ thay đổi vẫn là chế độ người bóc lột người. Ngày nay chủ nghĩa tư bản hiện đại bước sang giai đoạn cao là chủ nghĩa tư bản toàn cầu hóa, tuy đạt được nhiều thành tựu giải phóng, phát triển lực lượng sản xuất, phát triển khoa học và công nghệ nên đã đạt được năng suất lao động cao. Song chủ nghĩa tư bản vẫn không thể khắc phục được những mâu thuẫn cơ bản vốn có của nó, khi dịch Covid – 19 bùng phát lại càng bộc lộ rõ bản chất chế độ chính trị – xã hội là không phải vì nhân dân lao động. Mặt khác, Việt Nam là nước nông nghiệp lạc hậu, lại bị chiến tranh tàn phá rất nặng nề về mọi mặt. Sau đại thắng mùa xuân 1975, đất nước thống nhất, Đảng lãnh đạo cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa. Với đường lối đổi mới, hội nhập quốc tế, trong 35 năm qua chúng ta đã đạt được nhiều thành tự to lớn trên tất cả các lĩnh vực, đúng như Đại hội XIII đã đánh giá: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”. Những thành tựu to lớn ấy khẳng định con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam là hoàn toàn đúng đắn, không thể thay đổi. Do đó, các phần tử cơ hội chính trị có nói gì đi chăng nữa, cũng chỉ là tìm cách xuyên tạc, bôi nhọ con đường cách mạng mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lực chọn. Mục đích cuối cùng của chúng là muốn chia rẽ mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân nhằm làm suy yếu nội bộ, tạo thời cớ can thiệp để làm đổi màu chế độ chính trị của nước ta theo quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản. Vì thế, mỗi người dân Việt Nam hãy cảnh giác, không bị mắc mưu của những luận điểm xuyên tạc và phản động đó.

Thứ Ba, 14 tháng 2, 2023

ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI VẪN LÀ Ý CHÍ, NGUYỆN VỌNG CỦA NHÂN DÂN VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY.

       Ước mơ, khát vọng ngàn đời của người Việt Nam là: Tổ quốc độc lập, hòa bình, thống nhất, phát triển, nhân dân có cuộc sống tự do, hạnh phúc. Trong bài viết “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam", Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: "nhân dân Việt Nam đã trải qua một quá trình đấu tranh cách mạng lâu dài, khó khăn, đầy gian khổ hy sinh để chống lại ách đô hộ và sự xâm lược của thực dân, đế quốc để bảo vệ nền độc lập dân tộc và chủ quyền thiêng liêng của đất nước, vì tự do, hạnh phúc của nhân dân", "Ngay khi mới ra đời và trong suốt quá trình đấu tranh cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn luôn khẳng định: chủ nghĩa xã hội là mục tiêu, lý tưởng của Đảng Cộng sản và nhân dân Việt Nam; đi lên chủ nghĩa xã hội là yêu cầu khách quan, là con đường tất yếu của cách mạng Việt Nam".

Trong giai đoạn hiện nay, ý chí, khát vọng của người dân Việt Nam vẫn là độc lập dân tộc và CNXH; bảo vệ vững chắc nền độc lập, thống nhất của Tổ quốc, xây dựng, phát triển đất nước hùng cường, phồn vinh, hạnh phúc, sánh vai với các nước trên thế giới, có vị thế xứng đáng trên bản đồ thế giới, có trách nhiệm cao trong giải quyết các vấn đề toàn cầu trên tinh thần tôn trọng, hòa bình, hợp tác và phát triển. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng thành công rất tốt đẹp ở nhiều phương diện, trong đó có sự quan tâm, đóng góp, ủng hộ của toàn xã hội. Các mục tiêu, nhiệm vụ giải pháp đến năm 2025, 2030, 2045 mà Văn kiện Đại hội xác định nhận được sự đánh giá cao và đồng tình của người dân. Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu Hội đồng nhân các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026 được dư luận đánh giá cao, đặc biệt là sự tham gia trên 99% của cử tri, có nơi đạt 100% cử tri đi bầu. Các đại biểu trúng cử cơ bản tập trung, đúng người có tài, có đức, số phiếu tín nhiệm rất cao. Trong cuộc chiến chống "giặc" COVID-19, cả thế giới đều ghi nhận nước ta là số ít quốc gia kiểm soát và chống dịch hiệu quả nhất, trong đó có sự ủng hộ, đồng tình tuyệt đối, tham gia của các cấp, các ngành và toàn dân... Thực tế đó đã chứng minh, người dân Việt Nam luôn tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, tin tưởng vào thắng lợi của sự nghiệp đổi mới, vào con đường đi lên CNXH- con đường mà Đảng, Bác Hồ, các thế hệ cha anh đã lựa chọn và đổ biết bao mồ hôi xương máu mới giành được. Đi lên CNXH vẫn là ý chí, nguyện vọng của người dân Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

 

 

 

Thứ Tư, 12 tháng 10, 2022

THANH NIÊN VIỆT NAM KIÊN ĐỊNH, VỮNG VÀNG ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI THEO TINH THẦN NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI XIII

Kế thừa và phát huy những giá trị to lớn của Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại, Thanh niên Việt Nam nguyện tiếp bước con đường của Đảng, Bác Hồ và thế hệ cha, ông đi trước luôn kiên định mục tiêu, lý tưởng của Đảng, tiếp tục nhận thức rõ về trách nhiệm của thế hệ trẻ. Xung kích, sáng tạo, cống hiến đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, góp phần đưa đất nước vững bước trên con đường đi lên chủ nghĩa xã hội theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng. Trong giai đoạn hiện nay, tình hình thế giới, khu vực có nhiều biến động diễn biến phức tạp khó lường. Những vấn đề toàn cầu, như: bảo vệ hòa bình, an ninh con người, thiên tai, dịch bệnh, an ninh xã hội và an ninh phi truyền thống, nhất là an ninh mạng, biến đổi khí hậu, nước biển dâng, ô nhiễm môi trường, cùng với đó là xung đột vũ trang, sắc tộc, tôn giáo, tranh chấp biên giới, biển đảo, sự can thiệp tầm ảnh hưởng các nước lớn trên thế giới…. cuộc đấu tranh giai cấp và dân tộc của nhân dân các nước vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội diễn ra rất phức tạp.

Qua 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, lý luận về đường lối đổi mới, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta ngày càng được hoàn thiện và từng bước được hiện thực hóa. Chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện hơn so với những năm trước đổi mới. Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử là kết tinh sức sáng tạo của Đảng và nhân dân ta, khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta là phù hợp với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại; khẳng định sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Chính lẽ đó thế hệ trẻ Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng đã nhận thức sâu sắc những giá trị về bài học quý báu sau các sự kiện chính trị xảy ra ở Liên Xô và các nước Đông Âu vào những năm thập kỷ 90 thế kỷ XX, dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta đã lãnh đạo đất nước đổi mới một cách toàn diện, sâu sắc, có hiệu quả, kiên quyết khắc phục những sai lầm, thiếu sót trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. 

Đại hội lần thứ VI của Đảng (năm 1986) đã đánh dấu mốc cho công cuộc đổi mới toàn diện đất nước. Thực hiện nguyên tắc chỉ đạo sự nghiệp đổi mới được Đảng ta luôn quán triệt: “Đổi mới trên nền tảng tư tưởng là chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, vì độc lập dân tộc, vì chủ nghĩa xã hội”. Trong nhận thức và áp dụng về lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội bất kỳ điều kiện, hoàn cảnh nào cũng tuân thủ theo các quy luật, nguyên tắc. Không được nóng vội dao động, bi quan, đổi hướng, thay đổi mục tiêu, con đường mà Đảng và nhân dân đã chọn. Đó vừa là mục tiêu, tư tưởng, vừa là sự lựa chọn cách thức, bước đi phù hợp với điều kiện thực tiễn cụ thể của nước ta, dưới sự lãnh đạo của Đảng để từng bước hiện thực hóa con đường mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn - con đường độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. 

Các chủ trương, đường lối, quan điểm của con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta của Đảng ta qua các kỳ đại hội thể hiện rõ qua các văn kiện như: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991 (bổ sung, phát triển năm 2011) khẳng định: “Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử”. Hiến pháp năm 2013 tiếp tục hiến định: “Đảng Cộng sản Việt Nam là Đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”. Kết quả công cuộc đổi mới đất nước dưới sự lãnh đạo sáng suốt và tài tình của Đảng từ Đại hội VI của Đảng (tháng 12 - 1986) đến Đại hội XIII, Đảng ta khẳng định: “Với tất cả sự khiêm tốn, chúng ta vẫn có thể nói rằng: Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”. Đất nước ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội và tình trạng kém phát triển, trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình, đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Kinh tế tăng trưởng khá, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa từng bước được hình thành, phát triển. Chính trị - xã hội có bước phát triển, bộ mặt đất nước và đời sống nhân dân có nhiều thay đổi. Dân chủ xã hội chủ nghĩa được phát huy và ngày càng mở rộng. Đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố và tăng cường. Công tác xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền và cả hệ thống chính trị được đẩy mạnh. Sức mạnh về mọi mặt của đất nước được nâng lên; kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và chế độ xã hội chủ nghĩa. Quan hệ đối ngoại ngày càng mở rộng và đi vào chiều sâu; vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao.

Để thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII cần phải đưa ra các giải pháp nhằm tạo sự thống nhất về nhận thức và hành động của các cấp bộ Đoàn trong việc thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, “Đẩy mạnh giáo dục nâng cao nhận thức, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật, bảo vệ môi trường, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc của người Việt Nam, đặc biệt là thế hệ trẻ”. Qua đó, tăng cường giáo dục lý tưởng cách mạng, lòng yêu nước, nuôi dưỡng hoãi bão, khát vọng vươn lên trong thanh thiếu niên “Chú trọng hơn giáo dục, đạo đức nhân cách năng lực sáng tạo và các giá trị cốt lõi, nhất là giáo dục tinh thần yêu nước, tự hào, tự tôn dân tộc, truyền thống và lịch sử dân tộc ý thức trách nhiệm xã hội cho các tầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ…”. Đồng thời, chăm lo, phát triển thanh thiếu niên và phát huy tinh thần xung kích, tình nguyện, sáng tạo của thanh niên tham gia phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ quốc, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội. Để thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII cần phải tăng cường giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống văn hoá, lòng yêu nước, tự hào dân tộc, khát vọng phát triển đất nước; phát huy vai trò của thanh niên trong tham gia phát triển kinh tế, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trẻ, thúc đẩy học tập và sử dụng ngoại ngữ, công nghệ thông tin, tiên phong trong thực hiện chủ trương đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia, phát triển kinh tế số; tham gia phát triển xã hội bền vững, bảo vệ môi trường, chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu, phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai, dịch bệnh; nâng cao nhận thức, trách nhiệm của thanh thiếu niên về đảm bảo quốc phòng, an ninh, xung kích tham gia bảo vệ Tổ quốc; chăm lo, giáo dục, bồi dưỡng và bảo vệ trẻ em, thiếu niên, nhi đồng; nâng cao hiệu quả công tác quốc tế thanh niên; chủ động, tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng; mở rộng mặt trận đoàn kết, tập hợp thanh niên; xây dựng tổ chức Đoàn, Hội vững mạnh; nâng cao hiệu quả công tác bồi dưỡng, giới thiệu đoàn viên ưu tú cho Đảng xem xét, kết nạp; chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ trẻ; tham gia tích cực vào hoạt động giám sát, phản biện xã hội, tham vấn chính sách.

Để thực tốt các giải pháp hành động này, Các cấp ủy Đảng, thủ trưởng các cấp cần lãnh đạo, chỉ đạo các tổ chức Đoàn đưa ra các mục tiêu, nội dung, giải pháp thực hiện để triển khai một cách có hiệu quả nhất nhằm góp phần thực hiện thắng lợi nghị quyết đại hội đã đề ra. Bên cạnh những giải pháp quan trọng, dài hạn tiếp tục được xác định trong  Văn kiện Đại hội XIII của Đảng và có bước phát triển, đã có nhiều nội dung mới, quan trọng trong công tác thanh niên được nhấn mạnh. Đó là “nuôi dưỡng hoài bão, khát vọng vươn lên; nêu cao tinh thần trách nhiệm của thanh niên đối với đất nước, với xã hội”; quan điểm phát triển thế hệ trẻ “lành mạnh, toàn diện, hài hòa cả về trí tuệ, thể chất và giá trị thẩm mỹ” và “Chăm lo nuôi dưỡng, giáo dục, bảo vệ thiếu niên, nhi đồng; dành những điều kiện tốt nhất, sự chăm lo chu đáo nhất cho trẻ em - tương lai của đất nước”.

Đi theo con đường Cách mạng Tháng Mười Nga, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Lãnh tụ Hồ Chí Minh, sự nghiệp cách mạng Việt Nam hơn 92 năm qua đã giành được những thắng lợi to lớn mang tính bước ngoặt lịch sử. Qua Đại hội XIII của Đảng lại một lần nữa được khẳng định với các quan điểm, đổi mới toàn diện trong nhận thức. Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và tuổi trẻ cả nước bày tỏ ý chí quyết tâm, bằng hành động cụ thể đưa Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng vào cuộc sống, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, vì tương lai tươi sáng của thế hệ trẻ./.