Hiển thị các bài đăng có nhãn quy định. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn quy định. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 2 tháng 1, 2024

MÔI TRƯỜNG NÀO CŨNG CÓ QUY TẮC, QUY ĐỊNH RIÊNG

Tục ngữ có câu: “Quốc có quốc pháp, gia có gia quy”, từ gia đình -“tế bào của xã hội” đến cộng đồng quốc tế, ở đâu cũng có quy tắc, quy định riêng. Theo đó, để tồn tại, phát triển, mỗi cá nhân nhất thiết phải tôn trọng, chấp hành và tuyệt đối không được phép tự ý vượt quá những “lằn ranh đỏ” mà tổ chức đặt ra. Điều đó nhắc nhở chúng ta rằng, tự do mà mỗi người có được là “tự do trong khuôn khổ” chứ không phải “tự do vô tổ chức, vô kỷ luật”. Vậy nên, bất cứ ai cho rằng “rời bỏ hàng ngũ quân đội, công an để được làm chính mình” chỉ là sự mơ hồ ảo tưởng, một suy nghĩ viển vông, vô căn cứ.

Quân đội là lực lượng nòng cốt trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa thiêng liêng, cao cả. Để hoàn thành trọng trách được Đảng, Tổ quốc và nhân dân giao phó, mỗi cán bộ, chiến sĩ đều phải trải qua quá trình rèn luyện đặc biệt với những đòi hỏi rất cao cả về trí lực lẫn thể lực. Vậy nên, kỷ luật và ý thức tổ chức kỷ luật là hai thành tố không thể thiếu, luôn song hành, trở thành nét đặc trưng riêng của “Bộ đội Cụ Hồ”. Trong đó, "kỷ luật là sức mạnh của Quân đội”, còn ý thức tổ chức kỷ luật tự giác, nghiêm minh là nét đẹp cao quý trong phẩm chất, nhân cách người quân nhân cách mạng và những người tự do nhất chính là những người tự giác chấp hành kỷ luật nghiêm minh nhất. Ý chí sắt đá, sẵn sàng đương đầu với mọi khó khăn, gian khổ cũng giống như “ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong” từ lâu đã thấm sâu vào nếp sống, nếp nghĩ của các thế hệ cán bộ, chiến sĩ; là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, góp phần quan trọng tạo nên sức mạnh chiến đấu, chiến thắng của Quân đội ta. Ngược lại, đối với những người “cả thèm chóng chán”, “dễ làm khó bỏ” thì dẫu có đi đâu, làm gì cũng sẽ có chung một kết quả, đó là sự thất bại. 

Thứ Năm, 16 tháng 2, 2023

KÊ KHAI TÀI SẢN: CHỚ ĐỂ CHÁY NHÀ MỚI RA MẶT CHUỘT

“Thu nhập không trung thực” là một trong 9 biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống được Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến," "tự chuyển hóa" trong nội bộ” chỉ mặt, điểm tên. Đây cũng là vấn đề được Đảng ta rất quan tâm lãnh đạo chấn chỉnh, khắc phục; được dư luận xã hội đặc biệt quan tâm.

Căn bệnh đã di căn

Chắc hẳn nhiều người vẫn còn nhớ cựu Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Nai rơi vào vòng lao lý với nhiều sai phạm, trong đó có việc kê khai tài sản không trung thực. Trước khi bị xử lý, cán bộ này thuộc diện phải kê khai tài sản và đều đặn thực hiện qua mỗi năm. Ấy nhưng, khi cơ quan điều tra vào cuộc mới phát hiện hành vi tham nhũng, nhận hối lộ với số tiền lên tới hàng chục tỷ đồng; tài sản kê khai và tài sản thực chênh nhau một cách bất thường.

Những câu chuyện tương tự như trường hợp nêu trên không hề hiếm. Hàng loạt quan chức hầu tòa trong thời gian qua thì có ngần ấy cán bộ phạm phải việc kê khai tài sản, thu nhập không trung thực; biển thủ, trục lợi khối tài sản khổng lồ của Nhà nước, của nhân dân thành của riêng. Nhiều người lý giải, sở dĩ những cán bộ này không trung thực bởi đây là phần việc “bất khả thi”, vì không thể lý giải nguồn gốc tài sản. Mặt khác, làm vậy thì chẳng khác gì câu chuyện “lạy ông tôi ở bụi này”.

Đáng nói là hiện nay, dù đã có khá đầy đủ, hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến vấn đề kê khai tài sản, thu nhập và công tác quản lý, kiểm soát sự minh bạch trong kê khai tài sản, thu nhập của cán bộ thuộc diện phải kê khai nhưng vấn nạn kê khai giả dối, thiếu trung thực vẫn diễn ra ở nhiều nơi. Điều đó cho thấy, cốt tử của vấn đề nằm ở phẩm chất, đạo đức của cán bộ kê khai tài sản, thu nhập. Họ đã thực sự bị suy thoái, biến chất, rơi vào “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Theo báo cáo của Chính phủ về công tác phòng, chống tham nhũng gửi Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Năm 2022, các bộ, ngành, địa phương xác minh tài sản, thu nhập với người có nghĩa vụ kê khai tài sản, thu nhập được lựa chọn ngẫu nhiên cho thấy: Có 7.662 người được xác minh tài sản, thu nhập, 4.934 cơ quan, tổ chức, đơn vị đã được kiểm tra việc thực hiện và có 74 người kê khai chưa đúng quy định, đã được chấn chỉnh, kiểm điểm, xử lý theo quy định. Như vậy, nếu cấp có thẩm quyền tiến hành xác minh kê khai tài sản, thu nhập thì tất yếu sẽ lòi ra những cá nhân kê khai không đúng, không trung thực. Trong khi phần việc này chỉ được tiến hành ngẫu nhiên trong số vài phần trăm cán bộ, càng cho thấy việc kê khai tài sản, thu nhập không trung thực đã và đang là vấn nạn đáng báo động.

Sự nguy hại từ kê khai tài sản, thu nhập không trung thực của cán bộ trước hết gây ra việc thất thoát khối lượng tài sản khổng lồ của Nhà nước, nhưng lớn hơn là gây mất niềm tin của nhân dân đối với đội ngũ cán bộ. Thế mới có chuyện, người dân kháo nhau về tài sản cán bộ giống như những tảng băng trôi. Tài sản được kê khai chỉ là phần nổi, còn phần chìm lớn hơn gấp nhiều lần. Thế mới có chuyện, dân không tin những cán bộ giàu lên một cách chính đáng, mà thường suy diễn, quy chụp cán bộ giàu là bởi tham nhũng mà có. Nhiều người dân cũng mặc định đã là cán bộ lãnh đạo cấp cao thì tất yếu phải giàu có hơn quần chúng. Và nếu thấy cán bộ gặp hoàn cảnh khó khăn thì quy chụp rằng cán bộ ấy đang cố tình mị dân, giả nghèo giả khổ, chứ chắc hẳn tài sản thực đã được chia năm xẻ bảy, lấp liếm, trá hình bằng nhiều hình hài khác nhau.

Cũng bởi tâm lý xã hội ấy mà không ít cán bộ giàu có thật sự lại sinh ra tâm lý e ngại khi kê khai tài sản. Họ thậm chí giấu giếm đi sự giàu có chính đáng để tránh “miệng lưỡi thế gian” không cần thiết. Đây cũng là một thực tế cần được nhận diện, phê bình, khắc phục. Bởi lẽ, cán bộ cũng là con người, là công dân của một đất nước. Ngoài thực hiện các nhiệm vụ theo chức trách, nhiệm vụ tổ chức giao, cán bộ còn tham gia các hoạt động xã hội khác, trong đó có hoạt động phát triển kinh tế. Việc cán bộ có tài-đức, làm kinh tế đúng pháp luật, gặt hái thành công, trở nên giàu có chính đáng là rất đỗi bình thường. Thực tế cho thấy, có không ít cán bộ, đảng viên năng động trong công tác và trong phát triển kinh tế tư nhân đã mang lại động lực tích cực cho đồng nghiệp, bà con xóm giềng và nhân dân ở địa phương nơi họ công tác, sinh sống. Cũng có không ít mô hình phát triển kinh tế, phong trào tăng gia sản xuất, kinh doanh hiệu quả ở các địa phương được hình thành, được thúc đẩy và truyền cảm hứng từ chính những người cán bộ, đảng viên có tư duy năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, sẵn sàng chia sẻ kinh nghiệm với cộng đồng.

Gắn chặt “kê” với “kiểm”

Phải nhận rõ một thực tế là chúng ta đang duy trì nền nếp việc kê khai tài sản, thu nhập của cán bộ, thế nhưng tổ chức và cơ quan chức năng chưa thật sự coi trọng việc xác minh, kiểm kê, kiểm soát việc kê khai tài sản, thu nhập của cán bộ. Đến hẹn lại lên, cán bộ điền vào những mẫu phiếu có sẵn về nguồn thu và những phát sinh tài sản, nhưng chưa có cơ quan, tổ chức nào (cả trong nội bộ) thực hiện chức năng thẩm định, kiểm kê, kiểm soát một cách thường xuyên nhằm xác minh kịp thời tính trung thực của nó. Thành thử, tích tiểu thành đại, đến khi khối tài sản của cán bộ trở nên bất thường thì mới sinh ra hoài nghi, lật ngược vấn đề rồi đi đến xử lý kiểu “mất bò mới lo làm chuồng”. Trong nhiều tình huống khác, đến khi cán bộ rơi vào vòng lao lý, vi phạm pháp luật Nhà nước thì cháy nhà mới ra mặt chuột.

Dư luận cho rằng: Nếu việc xác minh, kiểm kê, kiểm soát được thực hiện đồng thời với việc kê khai tài sản, thu nhập thì chắc chắn việc cán bộ kê khai gian dối, thiếu trung thực sẽ được khắc phục cơ bản; những tài sản bất minh, không rõ nguồn gốc cũng được phát hiện từ sớm, giúp kịp thời phê bình, uốn nắn cán bộ, ngăn chặn tiêu cực lớn. Ngược lại, nếu chỉ đơn thuần coi trọng việc kê khai mà chưa chú trọng đến công tác xác minh, kiểm kê, kiểm soát tài sản, thu nhập thì coi như chúng ta chỉ làm nửa vời, thiếu tròn khâu và đây là kẽ hở cho những gian dối, thiếu trung thực trong kê khai tài sản, thu nhập của cán bộ.

Nhiều ý kiến cho rằng, việc cần làm hiện nay là nên triển khai một đợt xác minh, kiểm kê, kiểm soát rộng khắp ở mọi đối tượng cán bộ, trước hết là những người đứng đầu, cán bộ chủ trì, chủ chốt. Cần tiến hành đồng bộ trong toàn hệ thống chính trị và xem đây là một việc hết sức bình thường của tổ chức, chứ không chờ đến khi có dấu hiệu vi phạm mới xúc tiến, triển khai. Nguyên tắc xác minh, kiểm kê, kiểm soát tài sản cần vận hành từ trên xuống dưới; cấp trên kiểm soát tài sản của cấp dưới; tổ chức kiểm tra, kiểm soát tài sản của cá nhân... Đây chính là một bước xốc lại chất lượng của việc kê khai tài sản, thu nhập nhằm biết được toàn cảnh thực trạng tài sản của cán bộ, tạo cơ sở vững chắc cho các bước triển khai tiếp theo.

Thực tế cho thấy, không ít bộ, ngành, địa phương đã xác minh tài sản, thu nhập với người có nghĩa vụ kê khai tài sản, thu nhập được lựa chọn ngẫu nhiên; có địa phương tiến hành việc bốc thăm để kiểm kê, kiểm soát việc kê khai tài sản, thu nhập thì đã thu được kết quả thấy rõ. Những cán bộ không trung thực sớm bị phát hiện; có cá nhân bị mất chức, bị điều chuyển công tác, miễn nhiệm, xử lý kỷ luật. Đây là cách làm đúng đắn, hợp lòng dân, là cơ sở để cơ quan chức năng Trung ương nghiên cứu, nhân rộng, vận hành trong toàn hệ thống. Bởi thế, đông đảo người dân cho rằng, về lâu dài, việc xác minh, kiểm tra, kiểm soát tài sản tất yếu phải tiến tới thực hiện đồng bộ chứ không thể bốc thăm, hay lựa chọn ngẫu nhiên. Trước mắt, cần quan tâm thực hiện triệt để, đồng bộ ở đối tượng người đứng đầu và cán bộ phụ trách những lĩnh vực nhạy cảm, dễ phát sinh tham nhũng, tiêu cực. Từ đó sẽ tạo ra tác động rất lớn để cơ quan chức năng có những đánh giá, tổng kết, rút kinh nghiệm, giúp đội ngũ công chức, viên chức không dám tiêu cực.

Sờ gáy “tài sản chìm”

Việc xác minh, kiểm kê, kiểm soát kê khai tài sản, thu nhập của cán bộ cần quan tâm sâu sát, kỹ lưỡng cả "tài sản nổi" và "tài sản chìm" của từng cá nhân. Đây là phần việc cần thiết, bởi nhiều năm trước, chúng ta thường nhận diện, đánh giá cán bộ giàu có qua những căn biệt thự, xe sang, cuộc sống sung túc, đầy đủ... Thế nhưng, với mức sống hiện tại, những câu chuyện ấy không còn là tâm điểm dư luận. Một phần vì chất lượng đời sống xã hội đi lên, cả người dân, nhất là chủ doanh nghiệp cũng đã có cuộc sống dư dả, đầy đủ. Trong khi những cán bộ vốn "biến hình" thu vén cá nhân, có tài sản bất minh lại đủ hiểu "sức mạnh cuồng phong" của cuộc chiến phòng, chống tham nhũng, tiêu cực do Trung ương lĩnh xướng. Bởi thế, họ tìm mọi cách điều chỉnh, thích nghi, tạo hình hài cuộc sống phù hợp. Họ không thể hiện sự giàu có, thậm chí còn giả nghèo giả khổ. Trong khi đó, khối tài sản của không ít cán bộ rất lớn, được phân tán, biến hình ở nhiều nơi-đó được xem là “tài sản chìm”.

Chính vì vậy, cơ quan chức năng cần có giải pháp, biện pháp phù hợp để kiểm soát, xác thực kê khai; chú trọng phối hợp, liên thông giữa các cơ quan trong khâu xác minh; tăng cường các biện pháp xử lý mạnh mẽ, đủ sức răn đe đối với các tài sản bất minh, không chứng minh được nguồn gốc. Đặc biệt, cần sớm thực hiện “số hóa kê khai tài sản”. Tại Kỳ họp thứ tư, Quốc hội khóa XV, Quốc hội yêu cầu Chính phủ, Thanh tra Chính phủ tăng cường kiểm tra, thanh tra, giám sát việc kê khai tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức. Sau năm 2025, thực hiện chuyển đổi số 100% công tác kiểm soát tài sản, thu nhập bằng việc sử dụng công nghệ số, dữ liệu số. Đây được xem là bước tiến mới cả về lý luận và thực tiễn công tác kiểm soát tài sản, thu nhập, góp phần nâng cao hiệu quả phòng ngừa tham nhũng, tiêu cực. Bởi lẽ, khi số hóa các dữ liệu liên quan đến việc kê khai sẽ giúp lưu trữ tốt hơn và các cơ quan chức năng dễ dàng tìm kiếm, truy xuất các thông tin liên quan đến tài sản, thu nhập của cán bộ khi có yêu cầu.

Tuy nhiên, việc số hóa cũng chỉ là một giải pháp để kiểm soát tài sản, thu nhập của cán bộ, cần đồng thời thực hiện hiệu quả các giải pháp khác; quan trọng là hoàn thiện các chính sách, pháp luật trong quản lý kinh tế, quản lý xã hội; chú trọng đẩy mạnh lộ trình vận hành, duy trì xã hội “không tiền mặt”; hạn chế việc sử dụng tiền mặt trong các giao dịch toàn xã hội, nhất là những giao dịch có giá trị lớn như mua nhà, bất động sản, xe ô tô, chứng khoán và các hoạt động đầu tư, cổ phần, góp vốn... của cán bộ. Đa dạng các kênh chính thống tiếp nhận thông tin của quần chúng, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị-xã hội, khu dân cư nơi cán bộ, đảng viên cư trú. Đặc biệt là phải có biện pháp quản lý sự minh bạch nguồn gốc tài sản trong sở hữu và giao dịch toàn xã hội chứ không chỉ dừng lại ở việc kiểm soát tài sản, thu nhập đối với từng cán bộ, đảng viên.

Việc kê khai tài sản hiện nay được tiến hành chủ yếu theo “mùa vụ”, đến dịp, đợt thì đồng loạt kê khai, nhưng giải pháp này xem ra chưa phát huy cao nhất trách nhiệm và tính tự giác của cán bộ. Bởi thế, cần có thêm những quy định cụ thể khác mang lại hiệu quả sát thực, ví như việc biến động tài sản, thu nhập theo định mức cụ thể bắt buộc cán bộ phải kê khai bổ sung, báo cáo kịp thời với tổ chức chứ không chờ đến cuối năm, hoặc khi có yêu cầu của cơ quan chức năng. Trong khi đó, nhiều ý kiến đề xuất việc công khai kết quả kê khai tài sản, thu nhập của cán bộ ở nơi sinh sống và làm việc một cách phù hợp. Chỉ có như vậy thì đồng nghiệp, cấp dưới và quần chúng mới nắm bắt thực chất thu nhập, biến động tài sản của cán bộ để giám sát hiệu quả.

Theo: Nguyễn Tấn Tuân

Thứ Năm, 1 tháng 12, 2022

XÂY DỰNG CHUẨN MỰC ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG CHO CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN TRONG TÌNH HÌNH MỚI

Hiện nay, đất nước đang bước vào thời kỳ mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế sâu, rộng. Tình hình mới đặt ra rất nhiều yêu cầu mới về chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên.

Đã vậy, thực tế công tác xây dựng Đảng cho thấy còn “Một bộ phận cán bộ, đảng viên phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí, ngại khó, ngại khổ, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa””(1). Tình hình này đặt ra cho chúng ta nhiệm vụ phải từng bước xây dựng được chuẩn mực đạo đức cách mạng và chuẩn mực ứng xử đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên.

Theo từ điển Tiếng Việt, chuẩn là “cái được chọn làm căn cứ để đối chiếu, để hướng theo đó mà làm cho đúng”, chuẩn mực là “chuẩn”(2). Chuẩn mực khác với nguyên tắc - “là điều cơ bản định ra, nhất thiết phải tuân theo trong một loạt việc làm”, hoặc nên tránh, không nên làm(3). Chuẩn mực cũng khác với quy tắc - “là những điều quy định mọi người phải tuân theo trong một hoạt động chung nào đó”(4).

Có thể hiểu chuẩn mực đạo đức cách mạng là những tiêu chuẩn đạo đức cách mạng và những tiêu chuẩn ứng xử đạo đức cách mạng có tính khuôn mẫu, mực thước được toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta công nhận dùng làm căn cứ, cơ sở để đánh giá và điều chỉnh hành vi ứng xử của cán bộ, đảng viên, là căn cứ để xác định việc nên làm và việc không nên làm, giúp cán bộ, đảng viên với tư cách chủ thể đạo đức có căn cứ, cơ sở điều chỉnh hành vi ứng xử đạo đức của mình hướng tới chân - thiện - mỹ và phục vụ sự nghiệp cách mạng của Đảng. Khi còn sống, Chủ tịch Hồ Chí Minh dùng khái niệm tư cách đạo đức của cán bộ, đảng viên - về thực chất cũng là chuẩn mực đạo đức của cán bộ, đảng viên.

Chúng tôi cho rằng, những chuẩn mực đạo đức cách mạng mà Hồ Chủ tịch xây dựng vẫn còn nguyên giá trị trong giai đoạn hiện nay. Do vậy, xây dựng chuẩn mực đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên cũng là xây dựng những chuẩn mực đạo đức cách mạng theo tư tưởng Hồ Chí Minh. Đó là:

1. Trung với Tổ quốc, hiếu với nhân dân. Trung với Tổ quốc và hiếu với nhân dân là những chuẩn mực đạo đức đầu tiên cao nhất của người cán bộ cách mạng. Tuy nhiên: “ngày xưa trung là trung với vua. Hiếu là hiếu với cha mẹ mình thôi”; còn ngày nay, “trung là trung với Tổ quốc, hiếu là hiếu với nhân dân”(5). Trung với Tổ quốc là trung thành với lợi ích của Tổ quốc, của dân tộc, của Ðảng, với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam, trung thành với đường lối đổi mới của Đảng. Tiêu chuẩn này cũng đòi hỏi cán bộ, đảng viên phải quán triệt tinh thần “lợi ích của cá nhân nhất định phải phục tùng lợi ích của Đảng... Nghĩa là phải đặt lợi ích của Đảng lên trên hết, lên trước hết. Vì lợi ích của Đảng tức là lợi ích của dân tộc, của Tổ quốc.

Vô luận lúc nào, vô luận việc gì, đảng viên và cán bộ phải đặt lợi ích của Đảng ra trước, lợi ích của cá nhân lại sau”(6).

Hiếu với dân là không chỉ yêu thương cha mẹ mình, “mà còn phải thương cha mẹ người, phải cho mọi người đều biết thương cha mẹ”(7). Trung, Hiếu trong chuẩn mực đạo đức cách mạng gắn bó mật thiết với nhau và nhằm phục vụ mục tiêu độc lập dân tộc, hạnh phúc cho nhân dân.

2. Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư.

Cần, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh “là siêng năng, chăm chỉ, cố gắng dẻo dai”(8); “Cần không phải là làm xổi. Nếu làm cố chết cố sống trong một ngày, một tuần, hay một tháng, đến nỗi sinh ốm đau, phải bỏ việc. Như vậy không phải là cần. Cần là luôn luôn cố gắng, luôn luôn chăm chỉ, cả năm cả đời. Nhưng không làm quá trớn. Phải biết nuôi dưỡng tinh thần và lực lượng của mình, để làm việc cho lâu dài”(9). Tuy nhiên, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng yêu cầu Cần phải gắn với kế hoạch, nghĩa là phải tính toán cẩn thận, sắp đặt gọn gàng khi làm việc thì Cần mới có hiệu quả, lười biếng là kẻ thù to nhất của Cần. Người căn dặn: “Công việc bất kỳ to nhỏ, đều có điều nên làm trước, điều nên làm sau. Nếu không có kế hoạch, điều nên làm trước mà để lại sau, điều nên làm sau mà đưa làm trước, như thế thì sẽ hao tổn thì giờ, mất công nhiều mà kết quả ít”(10). Như vậy thì Cần cũng vô nghĩa. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng yêu cầu “Cần và chuyên phải đi đôi với nhau. Chuyên nghĩa là dẻo dai, bền bỉ. Nếu không chuyên, nếu một ngày cần mà mười ngày không cần, thì cũng vô ích”(11).

Kiệm, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh “Là tiết kiệm, không xa xỉ, không hoang phí, không bừa bãi. CẦN với KIỆM, phải đi đôi với nhau, như hai chân của con người.

CẦN mà không KIỆM, “thì làm chừng nào xào chừng ấy”. Cũng như một cái thùng không có đáy; nước đổ vào chừng nào, chảy ra hết chừng ấy, không lại hoàn không.

KIỆM mà không CẦN, thì không tăng thêm, không phát triển được. Mà vật gì đã không tiến tức phải thoái. Cũng như cái thùng chỉ đựng một ít nước, không tiếp tục đổ thêm vào, lâu ngày chắc nước đó sẽ hao bớt dần, cho đến khi khô kiệt”(12). Kiệm đòi hỏi không chỉ tiết kiệm của cải, tiền bạc, nguyên vật liệu mà còn phải tiết kiệm cả thời giờ, tiết kiệm sức dân, sức người. “Thời giờ cũng cần phải tiết kiệm như của cải.

Của cải nếu hết, còn có thể làm thêm. Khi thời giờ đã qua rồi, không bao giờ kéo nó trở lại được...

Muốn tiết kiệm thời giờ, thì việc gì ta cũng phải làm cho nhanh chóng, mau lẹ. Không nên chậm rãi. Không nên “nay lần mai lữa”.

Tiết kiệm thời giờ là Kiệm, và cũng là Cần”(13).

Nhưng để Kiệm có kết quả thì phải khéo tổ chức công việc. Điều cần lưu ý là điểm mới trong quan niệm về Kiệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh là “Tiết kiệm không phải là bủn xỉn.

Khi không nên tiêu xài thì một đồng xu cũng không nên tiêu. Khi có việc đáng làm, việc ích lợi cho đồng bào, cho Tổ quốc, thì dù bao nhiêu công, tốn bao nhiêu của, cũng vui lòng. Như thế mới đúng là kiệm.

Việc đáng tiêu mà không tiêu, là bủn xỉn, chứ không phải là kiệm.

Tiết kiệm phải kiên quyết không xa xỉ”(14).

Liêm, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh “là trong sạch, không tham lam”(15). “Chữ LIÊM phải đi đôi với chữ KIỆM. Cũng như chữ KIỆM phải đi đôi với chữ CẦN.

Có KIỆM mới LIÊM được. Vì xa xỉ mà sinh tham lam.

Tham tiền của, tham địa vị, tham danh tiếng, tham ăn ngon, sống yên đều là BẤT LIÊM.

Người cán bộ, cậy quyền thế mà đục khoét dân, ăn của đút, hoặc trộm của công làm của tư”(16), người buôn gian, bán lậu, người nhân lúc khó khăn mà bắt chẹt dân,v.v. đều là bất liêm. Người “Gặp việc phải, mà sợ khó nhọc nguy hiểm, không dám làm, là tham vật úy lạo. Gặp giặc mà rút ra, không dám đánh là tham sinh úy tử. Đều làm trái với chữ LIÊM”(17). Do vậy, cán bộ chẳng những phải thực hành CẦN, KIỆM mà còn phải thực hành chữ LIÊM trước để làm kiểu mẫu cho dân.

Chính, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh “là không tà, nghĩa là thẳng thắn, đứng đắn. Điều gì không đứng đắn, thẳng thắn, tức là tà.

CẦN, KIỆM, LIÊM, là gốc rễ của CHÍNH. Nhưng một cây cần có gốc rễ, lại cần có ngành, lá, hoa, quả mới là hoàn toàn. Một người phải Cần, Kiệm, Liêm, nhưng còn phải CHÍNH mới là người hoàn toàn...

Làm việc CHÍNH, là người THIỆN.

Làm việc TÀ, là người ÁC.

Siêng năng (cần), tần tiện (kiệm), trong sạch (liêm), CHÍNH là THIỆN.

Lười biếng, xa xỉ, tham lam, là tà, là ác”(18).

Chí công vô tư, là làm bất cứ việc gì cũng phải nghĩ về Tổ quốc, Dân tộc, Đảng trước hết. Người cán bộ, đảng viên “Đem lòng chí công vô tư mà đối với người, đối với việc”(19). Nếu “Lòng mình chỉ biết vì Đảng, vì Tổ quốc, vì đồng bào thì mình sẽ tiến đến chỗ chí công vô tư. Mình đã chí công vô tư thì khuyết điểm sẽ càng ngày càng ít, mà những tính tốt... ngày càng thêm”(20). Những tính tốt ấy là Nhân, Nghĩa, Trí, Dũng, Liêm.

Với chuẩn mực ứng xử của người cán bộ, đảng viên, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu:

1) Đối với mình, không được tự kiêu, tự đại; luôn luôn cầu tiến bộ; luôn luôn tự kiểm điểm, tự phê bình; “Tự mình phải chính trước, mới giúp được người khác chính. Mình không chính, mà muốn người khác chính là vô lý”(21). “Nếu chính mình tham ô bảo người ta liêm khiết có được không? Không được. Mình trước hết phải siêng năng, trong sạch thì mới bảo người ta trong sạch, siêng năng được”(22).

2) Đối với người, “Chớ nịnh hót người trên. Chớ xem khinh người dưới. Thái độ phải chân thành, khiêm tốn, phải thật thà đoàn kết. Phải học người và giúp người tiến tới. Phải thực hành chữ Bác-Ái”(23).

3) Đối với việc, “Phải để công việc nước lên trên, trước việc tư, việc nhà.

Đã phụ trách việc gì, thì quyết làm cho kỳ được, cho đến nơi, đến chốn, không sợ khó nhọc, không sợ nguy hiểm. Bất kỳ việc to, việc nhỏ, phải có sáng kiến, phải có kế hoạch, phải cẩn thận, phải quyết làm cho thành công. Việc thiện thì dù nhỏ mấy cũng làm. Việc ác thì dù nhỏ mấy cũng tránh. Việc gì dù lợi cho mình, phải xét nó có lợi cho nước không? Nếu không có lợi, mà có hại cho nước thì quyết không làm.

Mỗi ngày cố làm một việc lợi cho nước (lợi cho nước tức là lợi cho mình), dù là việc nhỏ”(24). Như vậy, người cán bộ, đảng viên luôn phải đặt lợi ích của Tổ quốc, dân tộc, của Đảng lên trên hết.

Để xây dựng được những chuẩn mực đạo đức này cho cán bộ, đảng viên cần thực hiện các giải pháp cơ bản sau:

Mỗi cán bộ, đảng viên căn cứ vào vị trí, chức năng nhiệm vụ cụ thể của mình phải cụ thể hóa được các tiêu chí trung với nước, hiếu với dân, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư và thái độ ứng xử với mình, với người và với việc cho phù hợp.

Phát huy vai trò của nhân dân, trong xây dựng chuẩn mực đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên. Bởi lẽ, đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn “so với số nhân dân thì số đảng viên chỉ là tối thiểu, hàng trăm người dân mới có một người đảng viên. Nếu không có nhân dân giúp sức, thì Đảng không làm được việc gì hết… Rời xa dân chúng là cô độc. Cô độc thì nhất định thất bại”(25). Hơn nữa, nếu chúng ta lôi cuốn được nhân dân tham gia kiểm tra, giám sát, phòng, chống những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên thì việc xây dựng chuẩn mực đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên sẽ hiệu quả hơn.

Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng với chủ trương “Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện các quy định, quy chế nhằm giữ nghiêm kỷ luật, kỷ cương, nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát”(26) và bảo đảm đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên.

Phát huy tinh thần tích cực, chủ động và thực hiện nghiêm túc quy định của Đảng về trách nhiệm nêu gương, chức vụ càng cao càng phải gương mẫu, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương trong xây dựng chuẩn mực đạo đức cách mạng. Mỗi đảng viên tự giác nêu gương để khẳng định vai trò tiên phong, gương mẫu, tạo sự lan tỏa những tấm gương sáng về đạo đức cách mạng. Đồng thời, tăng cường đấu tranh chống các quan điểm, hành vi phản đạo đức, phi đạo đức. Cổ vũ, biểu dương các gương sáng đạo đức tạo ảnh hưởng sâu, rộng trong Đảng và ngoài xã hội. Thực hiện tốt các giải pháp này sẽ từng bước xây dựng được chuẩn mực đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên.

GS, TS TRẦN VĂN PHÒNG

Thứ Năm, 8 tháng 9, 2022

BỘ Y TẾ BAN HÀNH QUY ĐỊNH MỚI, BÃI BỎ YÊU CẦU ĐEO KHẨU TRANG KHI TIẾP XÚC GẦN

Bộ Y tế vừa ban hành Hướng dẫn sử dụng khẩu trang phòng, chống dịch COVID-19 tại nơi công cộng. Theo hướng dẫn mới này, khu vực trường học, chung cư không nằm trong hướng dẫn sử dụng khẩu trang như quy định trước đó.

Trong "Hướng dẫn sử dụng khẩu trang phòng, chống dịch COVID-19 tại nơi công cộng" vừa được Bộ Y tế ban hành, tất cả người dân, trừ trẻ em dưới 5 tuổi ở khu vực công bố cấp độ dịch mức độ 3, 4 (vùng cam và đỏ) phải đeo khẩu trang khi ra nơi công cộng.

Bộ Y tế khẳng định, việc sử dụng khẩu trang tại nơi công cộng là một biện pháp dự phòng cá nhân góp phần làm giảm sự lây lan của dịch COVID-19 trong cộng đồng, bảo vệ sức khỏe người dân, nhất là đối tượng nguy cơ cao như người có bệnh nền, cao tuổi, người suy giảm miễn dịch, béo phì.

Theo hướng dẫn, nơi công cộng được hiểu là nơi phục vụ chung cho nhiều người tại những địa điểm có không gian kín như rạp hát, rạp chiếu phim, vũ trường, nhà hàng..., hoặc các địa điểm có không gian mở như sân vận động, công viên, đường phố, bến xe.

Bộ Y tế quy định các trường hợp bắt buộc phải sử dụng khẩu trang áp dụng chung với người có biểu hiện bệnh viêm đường hô hấp cấp, người mắc hoặc nghi ngờ mắc COVID -19; tất cả các đối tượng (trừ trẻ em dưới 5 tuổi) khi đến nơi công cộng thuộc khu vực đã được công bố cấp độ dịch ở mức độ 3 hoặc mức độ 4.

Bắt buộc đeo khẩu trang với các trường hợp cụ thể như sau:

Tại cơ sở y tế; nơi cách ly y tế; nơi lưu trú mà có người đang cách ly y tế hoặc đang theo dõi, giám sát y tế: Áp dụng với tất cả các đối tượng (trừ những người cách ly ở trong phòng đơn, người bị suy hô hấp, người bệnh đang phải thực hiện thủ thuật y tế theo chỉ định của bác sĩ, trẻ em dưới 5 tuổi).

Khi sử dụng phương tiện giao thông công cộng (máy bay, tàu hỏa, tàu thủy, tàu điện, phà, xe khách, xe buýt, taxi,...): Áp dụng với hành khách; người điều khiển, người phục vụ trên phương tiện giao thông công cộng, nhân viên phục vụ, người quản lý, người lao động tại nhà ga, bến xe, bến tàu, nhà chờ khi tiếp xúc trực tiếp với hành khách.

Tại trung tâm thương mại, siêu thị, chợ đầu mối: áp dụng với nhân viên phục vụ, người quản lý, người lao động khi tiếp xúc trực tiếp với khách hàng.

Tại nơi có không gian kín, thông khí kém (quán bar, vũ trường; karaoke; cơ sở dịch vụ xoa bóp, làm đẹp; phòng tập thể dục, thể hình, cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn, uống phục vụ tại chỗ; rạp chiếu phim, nhà hát, rạp xiếc, nhà thi đấu, trường quay): Áp dụng với nhân viên phục vụ, người bán hàng, người quản lý, người lao động khi tiếp xúc trực tiếp với khách hàng.

Tại cơ sở văn hóa, du lịch, nơi tổ chức sự kiện tập trung đông người (các công trình di tích; bảo tàng, thư viện, triển lãm, nhà trưng bày; khu du lịch, khu vui chơi, giải trí; sự kiện văn hóa, thể dục, thể thao; lễ cưới, lễ tang, lễ hội, hội chợ): áp dụng với nhân viên phục vụ, người quản lý, người lao động, người bán hàng khi tiếp xúc trực tiếp với khách hàng và người tham dự.

Tại nơi tiếp nhận hồ sơ, nơi giao dịch: áp dụng với nhân viên tiếp nhận hồ sơ, nhân viên giao dịch khi tiếp xúc trực tiếp với khách hàng.

Bộ Y tế yêu cầu các sở y tế phối hợp với các đơn vị liên quan trực tiếp hướng dẫn, tổ chức triển khai thực hiện; kiểm tra, giám sát, xử lý các trường hợp vi phạm quy định bắt buộc sử dụng khẩu trang trên địa bàn quản lý.

Người đứng đầu các tổ chức, cơ sở, địa điểm, khu vực được giao quản lý trong phạm vi áp dụng hướng dẫn chịu trách nhiệm việc tổ chức triển khai; đôn đốc, nhắc nhở, kiểm tra, giám sát; tuyên truyền, phổ biến và tạo điều kiện thuận lợi để mọi người biết, thực hiện.

Như vậy, so với hướng dẫn đeo khẩu trang phòng, chống dịch COVID-19 tại nơi công cộng do Bộ Y tế ban hành tháng 2-2021, những nơi tập trung đông người như chung cư; trường học; khu vui chơi, rèn luyện sức khỏe, khu vực hoạt động ngoài trời; điểm dừng khi tham gia giao thông, không nằm trong hướng dẫn áp dụng sử dụng khẩu trang phòng chống dịch COVID-19.

Ngoài ra, ở hướng dẫn trước, tất cả những người tham gia hoạt động nơi công cộng phải đeo khẩu trang khi tiếp xúc gần dưới 2 mét, quy định này cũng đã không còn ở hướng dẫn mới.

Bộ Y tế cũng nhấn mạnh, các trường hợp khác ngoài các địa điểm, đối tượng đã quy định ở trên được khuyến khích sử dụng khẩu trang khi đến nơi công cộng.

Thứ Hai, 29 tháng 8, 2022

NGHIÊN CỨU BỔ SUNG CÁC QUY ĐỊNH VỀ TRÁCH NHIỆM GIẢI TRÌNH ĐỐI VỚI TÀI SẢN CỦA NGƯỜI THÂN KHI CÓ CƠ SỞ NGHI NGỜ

Theo Ủy viên Thường trực Uỷ ban Pháp luật Đỗ Đức Hiển, một bất cập lớn trong hoạt động thanh tra thời gian qua, đó là việc thu hồi tiền, tài sản của Nhà nước bị chiếm đoạt, sử dụng sai mục đích được phát hiện trong quá trình thanh tra và khắc phục kiến nghị xử lý sau thanh tra đạt tỷ lệ thấp. Tuy nhiên, qua rà soát các quy định của dự thảo Luật thanh tra (sửa đổi) đang được đưa ra lấy ý kiến tại kỳ họp thứ 3, Quốc hội khoá XV cho thấy, dường như giải pháp cho bất cập nêu trên chưa được chú trọng.

Mặc dù dự thảo Luật có quy định về việc tạm giữ tiền, đồ vật, giấy phép (Điều 78) nhưng biện pháp này không được áp dụng trong trường hợp đối tượng thanh tra có hành vi tẩu tán tài sản. Bên cạnh đó, mặc dù khoản 3 Điều 66 dự thảo Luật có quy định việc chuyển hồ sơ sang cơ quan điều tra, song lại chưa có quy định về việc chuyển tiếp biện pháp ngăn chặn cũng như cơ chế phối hợp giữa các cơ quan.

Theo quy định của dự thảo Luật thì việc áp dụng biện pháp phong toả tài khoản, tạm giữ tiền, đồ vật sử dụng trái phép chỉ được thực hiện đối với tiền, tài sản trong phạm vi thanh tra. Trường hợp phát hiện tiền, tài sản có liên quan đến hành vi vi phạm pháp luật và phát hiện có dấu hiệu của việc chuyển dịch tài sản nhưng không thuộc phạm vi thanh tra thì người có thẩm quyền trong hoạt động thanh tra cũng không được áp dụng các biện pháp nêu trên.

Để tăng cường hơn nữa hiệu lực, hiệu quả của công tác thu hồi tiền, tài sản nói chung, qua hoạt động thanh tra nói riêng, Ủy viên Thường trực Uỷ ban Pháp luật Đỗ Đức Hiển đề xuất bổ sung một số biện pháp ngăn chặn mà cơ quan thanh tra có thể áp dụng nhằm phòng ngừa nguy cơ tẩu tán tiền, tài sản. Theo đó, cùng với việc nghiên cứu giao trưởng đoàn thanh tra có thẩm quyền quyết định phong toả tài khoản của đối tượng thanh tra, thì cũng cần nghiên cứu giao trưởng đoàn thanh tra có thể áp dụng cả biện pháp tạm giữ tiền, đồ vật, giấy tờ nếu có căn cứ cho rằng đối tượng thanh tra sẽ tẩu tán các tài sản này. Bên cạnh đó, đối với tài sản là động sản phải đăng ký quyền sở hữu hoặc bất động sản, cần nghiên cứu bổ sung biện pháp tạm dừng việc đăng ký, chuyển dịch, thay đổi hiện trạng tài sản của đối tượng thanh tra nhằm ngăn chặn hoặc tạm dừng các hành vi chuyển quyền sở hữu, sử dụng, tẩu tán, hủy hoại, thay đổi hiện trạng tài sản của đối tượng thanh tra.

Đối với trường hợp phát hiện có vi phạm pháp luật có dấu hiệu tội phạm, thì cùng với việc chuyển hồ sơ sang cơ quan điều tra để xử lý theo trình tự, thủ tục tố tụng hình sự, cần bổ sung quy định về cơ chế phối hợp, chuyển tiếp đối với các biện pháp ngăn chặn mà trưởng đoàn thanh tra, người ra quyết định thanh tra đã thực hiện. Đồng thời, cần nghiên cứu bổ sung quy định cho phép đoàn thanh tra hoặc thanh viên viên thực hiện việc xác minh, kê biên đối với tài sản của đối tượng thanh tra cần thu hồi.

“Các quy định này nếu được bổ sung cũng sẽ góp phần tăng tính chủ động, tự chịu trách nhiệm của đoàn thanh tra, thanh tra viên trong quá trình thực hiện nhiệm vụ”, ông Hiển nói.

Song ông Hiển cũng lưu ý, đi cùng với việc mở rộng thẩm quyền cũng cần quy định trình tự thủ tục thực hiện chặt chẽ và có cơ chế tăng cường giám sát của các cơ quan có liên quan.

Về lâu dài, theo ông Hiển phải nghiên cứu bổ sung các quy định trong pháp luật phòng chống tham nhũng về trách nhiệm giải trình đối với tài sản của người thân trong gia đình hoặc người có liên quan khi có cơ sở nghi ngờ những người này giúp đối tượng thanh tra tẩu tán, che giấu tài sản có được từ hành vi vi phạm pháp luật.

“Với tài sản tăng thêm mà họ không giải trình được hợp lý thì cơ quan chức năng được quyền khởi kiện vụ án dân sự tại toà án có thẩm quyền để có phán quyết về nguồn gốc của phần tài sản, thu nhập đó theo trình tự khởi kiện vụ án dân sự”, ông Hiển đề xuất.

Phát biểu tại Hội nghị toàn quốc tổng kết 10 năm công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh yêu cầu: Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện đồng bộ thể chế về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, quản lý kinh tế – xã hội và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; kịp thời khắc phục những bất cập, bịt kín những “khoảng trống”, “kẽ hở” để “không thể tham nhũng, tiêu cực”.

Cùng với đó, tiếp tục hoàn thiện và thực hiện nghiêm các quy định về công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình trong hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị; kiểm soát có hiệu quả tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn; cải cách hành chính và xây dựng đội ngũ cán bộ có đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ trong giai đoạn mới.

Đặc biệt, phải xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực thật sự có bản lĩnh, thật sự liêm chính, trong sạch. Phải phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trước hết và ngay trong các cơ quan phòng, chống tham nhũng, tiêu cực

“Nhất là sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Đây mới là cái gốc, cái nguy hiểm nhất, dẫn đến tham nhũng, hư hỏng; không chỉ làm mất tiền, mất của, mà còn mất người, thậm chí mất cả chế độ”, Tổng Bí thư lưu ý.

Lời phát biểu của Tổng Bí thư cho thấy quyết tâm mạnh mẽ của Đảng, Nhà nước trong lãnh đạo, chỉ đạo, hoàn thiện thể chế pháp luật trong cuộc đấu tranh PCTN nói chung và công tác thu hồi tài sản tham nhũng ở nước ta nói riêng; tạo sức lan toả mạnh mẽ trong toàn xã hội, với quyết tâm chính trị cao hơn, hành động mạnh mẽ hơn, tạo bước chuyển lớn trong cuộc chiến chống tham nhũng.

Có thể thấy, thể chế nói chung, thể chế về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực nói riêng, trọng tâm là hoàn thiện thể chế kiểm soát quyền lực là yếu tố cơ bản, nền tảng, có tác dụng ngăn chặn từ gốc hành vi tham nhũng, tiêu cực. Vì vậy, phải xây dựng cho được một cơ chế phòng ngừa chặt chẽ để “không thể tham nhũng”; một cơ chế răn đe, trừng trị nghiêm khắc để “không dám tham nhũng”; và một cơ chế bảo đảm để “không cần tham nhũng”.

Cần phải khẳng định, đấu tranh phòng chống tham nhũng, tiêu cực là vấn đề rất phức tạp, gay go. Phòng, chống tham nhũng là “chống giặc nội xâm”, đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên không chỉ đấu tranh với những người khác mà ngay cả với chính bản thân mình. Vì vậy, bên cạnh các giải pháp bổ sung, hoàn thiện về thể chế, thì giải pháp quan trọng hơn cả vẫn là yếu tố con người. Bởi các quy định pháp luật dù hoàn hảo đến đâu nhưng người có chức vụ, quyền hạn hay thực thi pháp luật tâm không sáng, lòng không trong, thì vẫn cố tìm mọi cách lợi dụng kẽ hở pháp luật để trục lợi, tham nhũng tiêu cực.

Hơn hết, cần chú trọng nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu đối với công tác thu hồi tài sản tham nhũng, chống mọi biểu hiện tiêu cực, tham nhũng. Xử lý nghiêm “không có vùng cấm” đối với các đối tượng tham nhũng nói chung và các sai phạm, tiêu cực trong quá trình thu hồi tài sản tham nhũng nói riêng; đưa nội dung thu hồi tài sản tham nhũng vào chương trình kiểm tra, giám sát hàng năm của cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, tổ chức, đơn vị mình…

Nếu không thực hiện đồng bộ, quyết liệt các biện pháp này, kẻ tham nhũng không bao giờ từ bỏ ý định lợi dụng kẽ hở pháp luật để vơ vét, che giấu tài sản, thậm chí là “hy sinh đời bố củng cố đời con“…!

Vy Anh

Thứ Tư, 17 tháng 8, 2022

NHỮNG ĐIỂM MỚI TRONG CÔNG TÁC TUYỂN CHỌN VÀ GỌI CÔNG DÂN NHẬP NGŨ NĂM 2023

Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 37/2022/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quốc phòng, cơ yếu; quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia; trên các vùng biển, đảo và thềm lục địa của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Nghị định 37/2022/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 120/2013/NĐ-CP ngày 9/10/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quốc phòng, cơ yếu, trong đó, sửa đổi, bổ sung Điều 6 vi phạm quy định về kiểm tra, khám sức khỏe thực hiện nghĩa vụ quân sự.

Nghị định quy định: Phạt tiền từ 10 - 12 triệu đồng đối với hành vi không có mặt đúng thời gian hoặc địa điểm kiểm tra, khám sức khỏe ghi trong lệnh gọi kiểm tra hoặc khám sức khỏe nghĩa vụ quân sự của Chỉ huy trưởng Ban Chỉ huy Quân sự cấp huyện theo quy định của Luật Nghĩa vụ quân sự mà không có lý do chính đáng (quy định cũ phạt tiền từ 800.000 - 1.200.000 đồng).

Đối với hành vi cố ý không nhận lệnh gọi kiểm tra, khám sức khỏe nghĩa vụ quân sự của Chỉ huy trưởng Ban Chỉ huy Quân sự cấp huyện theo quy định của Luật Nghĩa vụ quân sự mà không có lý do chính đáng sẽ bị phạt tiền từ 12 - 15 triệu đồng.

Bên cạnh đó, phạt tiền từ 15 - 20 triệu đồng đối với một trong các hành vi sau: Người được khám sức khỏe có hành vi gian dối làm sai lệch kết quả phân loại sức khỏe của mình nhằm trốn tránh nghĩa vụ quân sự; đưa tiền, tài sản, hoặc lợi ích vật chất khác trị giá đến dưới 2.000.000 đồng cho cán bộ, nhân viên y tế hoặc người khác để làm sai lệch kết quả phân loại sức khỏe của người được kiểm tra hoặc người được khám sức khỏe nghĩa vụ quân sự nhằm trốn tránh nghĩa vụ quân sự (quy định cũ phạt tiền từ 2-4 triệu đồng).

Hành vi không chấp hành lệnh gọi kiểm tra, khám sức khỏe nghĩa vụ quân sự sẽ bị phạt tiền từ 25 - 35 triệu đồng.

Nghị định cũng sửa đổi, bổ sung Điều 7 vi phạm quy định về nhập ngũ. Cụ thể, phạt tiền từ 30 - 40 triệu đồng đối với hành vi không có mặt đúng thời gian hoặc địa điểm tập trung ghi trong lệnh gọi nhập ngũ mà không có lý do chính đáng (quy định cũ phạt tiền từ 1,5 - 2,5 triệu đồng).

Hành vi gian dối nhằm trốn tránh thực hiện lệnh gọi nhập ngũ sau khi đã có kết quả khám tuyển sức khỏe nghĩa vụ quân sự đủ điều kiện nhập ngũ theo quy định sẽ bị phạt tiền từ 40 - 50 triệu đồng; phạt tiền từ 50 - 75 triệu đồng đối với hành vi không chấp hành lệnh gọi nhập ngũ, trừ 2 trường hợp quy định nêu trên.

Nghị định số 37/2022/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 22/7/2022.

Thứ Năm, 2 tháng 12, 2021

THÔNG TIN "TỪ NGÀY 1-12, QUÂN NHÂN, CÔNG AN XUẤT NGŨ KHÔNG CÒN HƯỞNG TRỢ CẤP XUẤT NGŨ VÀ HỌC NGHỀ" LÀ CHƯA CHÍNH XÁC

Vừa qua, Thủ tướng đã ban hành Quyết định 35/2021 về việc bãi bỏ 27 văn bản quy phạm pháp luật. Trong đó, có hai văn bản liên quan đến chế độ của quân nhân, công an xuất ngũ là Quyết định 595/1993 và Quyết định 113/2004 sẽ được bãi bỏ từ 1-12 tới.

Hai quyết định này quy định về chế độ đối với sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan, binh sĩ quân đội nhân dân (gọi tắt là quân nhân); sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ công an nhân dân (gọi tắt là công an nhân dân) chưa đủ điều kiện hưởng chế độ hưu trí khi xuất ngũ về địa phương.

Tuy nhiên, hiện nay các trợ cấp theo quyết định trên đã được quy định trong Luật Nghĩa vụ quân sự năm 2015, Luật Công an nhân dân năm 2018 và các văn bản hướng dẫn hai luật này.

Cụ thể, đối với chế độ cho quân nhân khi xuất ngũ được quy định tại khoản 3 Điều 50 Luật Nghĩa vụ quân sự 2015 và Điều 7 Nghị định 27/2016.

Theo đó, hạ sĩ quan, binh sĩ khi xuất ngũ được hưởng chế độ bảo hiểm xã hội một lần theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội. Đồng thời hạ sĩ quan, binh sĩ khi xuất ngũ được trợ cấp xuất ngũ một lần, cứ mỗi năm phục vụ trong quân đội được trợ cấp bằng hai tháng tiền lương cơ sở tại thời điểm xuất ngũ.

Hạ sĩ quan, binh sĩ phục vụ tại ngũ thời hạn đủ 30 tháng, khi xuất ngũ được trợ cấp thêm hai tháng phụ cấp quân hàm hiện hưởng. Trường hợp, cá nhân xuất ngũ trước thời hạn 30 tháng thì thời gian phục vụ tại ngũ từ tháng thứ 25 đến dưới 30 tháng được trợ cấp thêm một tháng phụ cấp quân hàm hiện hưởng.

Hạ sĩ quan, binh sĩ hoàn thành nghĩa vụ phục vụ tại ngũ theo quy định của Luật Nghĩa vụ quân sự khi xuất ngũ được trợ cấp tạo việc làm bằng sáu tháng tiền lương cơ sở theo quy định của Chính phủ tại thời điểm xuất ngũ.

Đối với sĩ quan, hạ sĩ quan công an khi xuất ngũ sẽ được hưởng các chế độ theo khoản 3 Điều 41 Luật Công an nhân dân 2018 và Điều 5 Nghị định 49/2019.

Sĩ quan, hạ sĩ quan xuất ngũ được hưởng các chế độ sau:

- Chế độ bảo hiểm xã hội và các chế độ khác theo quy định của pháp luật.

- Trợ cấp một lần, cứ mỗi năm công tác được tính bằng một tháng tiền lương hiện hưởng.

- Trợ cấp một lần của thời gian tăng thêm với mức cứ một năm được trợ cấp bằng một tháng tiền lương của tháng liền kề trước khi sĩ quan, hạ sĩ quan thôi phục vụ trong công an nhân dân.

Ngoài ra, sĩ quan, hạ sĩ quan công an khi xuất ngũ được hưởng trợ cấp tạo việc làm bằng sáu lần mức lương cơ sở tại thời điểm xuất ngũ.

Thứ Hai, 18 tháng 10, 2021

GIẢI PHÁP CƠ BẢN GIÁO DỤC CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ KHÔNG GIAN MẠNG HIỆN NAY

Trong giáo dục các quy định của pháp luật về quản lý không gian mạng cần phổ biến các điều khoản của Bộ luật Hình sự 2015 (Mục 2, Điều 285-294) liên quan đến lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông; Nghị định số 72/2013/NĐ-CP ngày 15-7-2013 của Chính phủ và Thông tư số 09/2014/BTTTT ngày 19-8-2014 của Bộ Thông tin và Truyền thông về hoạt động quản lý, cung cấp, sử dụng thông tin trên trang thông tin điện tử và mạng xã hội, những hành vi bị nghiêm cấm trong sử dụng mạng xã hội. 

Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục Luật An ninh mạng năm 2018. Luật An ninh mạng được xây dựng nhằm bảo vệ người dùng hợp pháp trên không gian mạng; phòng ngừa, đấu tranh, làm thất bại hoạt động sử dụng không gian mạng xâm phạm an ninh quốc gia, chống Nhà nước, tuyên truyền phá hoại tư tưởng, phá hoại nội bộ, kích động biểu tình, phá rối an ninh trên mạng của các thế lực phản động. Phòng ngừa, ngăn chặn, ứng phó, khắc phục hậu quả của các đợt tấn công mạng, khủng bố mạng và phòng, chống nguy cơ chiến tranh mạng.

Tuyên truyền sâu rộng về những hành vi bị cấm trong Luật An ninh mạng, nhất là các hành vi sử dụng không gian mạng để tuyên truyền chống Nhà nước; tổ chức, hoạt động, cấu kết, xúi giục, mua chuộc, lừa gạt, lôi kéo, đào tạo, huấn luyện người chống Nhà nước; xuyên tạc lịch sử, phủ nhận thành tựu cách mạng, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xúc phạm tôn giáo, phân biệt đối xử về giới, phân biệt chủng tộc; thông tin sai sự thật; hoạt động mại dâm, tệ nạn xã hội; phá hoại thuần phong, mỹ tục; xúi giục, lôi kéo, kích động người khác phạm tội; thực hiện tấn công mạng, khủng bố mạng, gián điệp mạng, tội phạm mạng; lợi dụng hoặc lạm dụng hoạt động bảo vệ an ninh mạng để xâm phạm chủ quyền, lợi ích, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân hoặc để trục lợi.

Các hình thức giáo dục cần được vận dụng đa dạng, phong phú và linh hoạt như: phối hợp giữa cơ quan chức năng với các cơ quan, địa phương, đơn vị, doanh nghiệp, cơ sở giáo dục tổ chức nói chuyện chuyên đề, phổ biến pháp luật; tuyên tuyền Luật An ninh mạng; các cuộc thi tìm hiểu về an toàn thông tin; góp ý xây dựng chương trình giáo dục an toàn thông tin mạng của các cơ sở giáo dục hoặc tham gia biên soạn các tài liệu liên quan đến an toàn thông tin mạng. 

Thứ Tư, 13 tháng 10, 2021

BẮT BỆNH VÀ TRỊ BỆNH DỨT ĐIỂM

Liên tục trong thời gian qua, ở nhiều nơi diễn ra tình trạng cán bộ hưu trí, cán bộ nghỉ chế độ, cán bộ bị kỷ luật buộc phải rời khỏi tổ chức... có những phát ngôn thiếu chuẩn mực, tuyên bố “cạch mặt” tổ chức, bôi nhọ cơ quan, đơn vị cũ; nêu chính kiến đi ngược lại với quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng, Nhà nước. Thậm chí, một số cá nhân còn chủ ý cổ xúy hoặc vô tình bị các lực lượng thù địch lợi dụng, lôi kéo tham gia vào các hoạt động tuyên truyền chống phá cách mạng Việt Nam.

Phải khẳng định ngay, những cá nhân nêu trên đã tự đánh mất mình, rơi vào “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Họ đã mặc nhiên quay lưng với chính hệ tư tưởng, quan điểm, lý tưởng cống hiến trong suốt quãng đời công tác trước đây của bản thân. Chính họ đã tự xúc phạm, giẫm đạp lên quá khứ của chính mình!

Vì sao lại thế? Có muôn nghìn câu trả lời. Cũng thấy rõ muôn vàn lý do, nguyên nhân đưa đến thực trạng đó. Nào là do những xích mích, mất lòng trong hàng ngũ lúc còn đương chức; do về hưu phải đối diện với sự cô đơn, cô độc, lại có nhiều thời gian nên “rảnh rỗi sinh nông nổi”; do thiếu thông tin, không tìm hiểu cặn kẽ sự việc... nên nhận thức phiến diện, cực đoan; do tác động từ âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù, nhất là khi chúng xác định nhóm công dân này là một trong những đối tượng có thể tập trung lợi dụng, lôi kéo...

Thế nhưng, dù căn nguyên ra sao thì vấn đề cốt tử vẫn nằm ở bản lĩnh chính trị và bản chất của những người từng khoác lên mình màu áo đảng viên và danh dự, tư cách người cán bộ cách mạng. Thực tế cho thấy, một khi cán bộ thật sự có bản lĩnh, chí công, vô tư phục vụ tổ chức, cơ quan, đơn vị, sống chân thành, tử tế với đồng chí, đồng đội lúc đương chức thì khi nghỉ hưu, rời tổ chức, họ vẫn một lòng gắn bó với sự nghiệp của tập thể. Họ vẫn theo dõi, quan sát từng bước phát triển, trưởng thành của tổ chức, xem đó là nguồn hạnh phúc của mình. Thậm chí, nhiều người còn chủ động tham mưu, hiến kế, giúp đỡ thế hệ đi sau hoàn thành nhiệm vụ. Nhiều cán bộ khi nghỉ hưu hoặc luân chuyển đi nơi khác... vẫn nhận được sự quan tâm, động viên, kính trọng của đồng nghiệp, anh em nơi cơ quan cũ. Cấp trên đương chức, nhân viên, đồng nghiệp vẫn thường xuyên lui tới thăm hỏi, trò chuyện, giữ mối liên hệ mật thiết, sẻ chia vui buồn. Ngược lại, những kẻ đã, đang và sẽ hống hách, rao giảng, kêu than trên mạng xã hội thì lúc đương chức tâm địa có lẽ cũng có vấn đề...

Nói như vậy sẽ không hẳn là đúng với mọi trường hợp, mà câu chuyện này còn chịu sự chi phối đa chiều bởi các quy luật tâm lý-xã hội. Có nghĩa, bất cứ ai nghỉ hưu, bị thải loại, rời xa tổ chức cũ... cũng đều ít nhiều rơi vào các biểu hiện, vấn đề của tư tưởng, tâm lý. Con người ta sẽ không tránh khỏi những nỗi buồn khách quan và sự hẫng hụt về mặt tinh thần khi phải bắt đầu một nếp sống mới. Nói như vậy để thấy, việc quan tâm, làm tốt công tác tư tưởng cho đối tượng sắp nghỉ hưu, đối tượng tinh giản... cần phải được cấp ủy, lãnh đạo, chỉ huy các cấp tiến hành thường xuyên, liên tục. Bởi có một thực tế là, ở một số cơ quan, đơn vị hiện nay, việc tiến hành công tác tư tưởng cho cán bộ trước và sau khi nghỉ công tác vẫn bị coi nhẹ, ít có sự động viên, quan tâm thường xuyên.

Thế nhưng, dù các tác động khách quan có đến mức nào đi chăng nữa thì yếu tố chủ quan vẫn giữ vai trò quyết định. Nhiều cá nhân trước khi nghỉ hưu vẫn mưu toan giữ ghế, tham vọng bám trụ lại tổ chức vì quyền lợi riêng nên thật khó chiến thắng được sự xung đột tâm lý cá nhân. Và nhất là khi mưu cầu tư lợi không đạt được thì sinh ra bệnh tư tưởng, rồi “giận cá chém thớt”, làm những chuyện trái khoáy... khiến dư luận phải dị nghị, xem thường!

Nhiều chuyên gia tâm lý cho rằng: Trong khi toàn Đảng và cả hệ thống chính trị đang quyết liệt thực hiện chủ trương “có lên, có xuống, có vào, có ra” thì tinh thần này phải được thấu triệt đến mọi cấp, mọi ngành, mọi địa phương. Từng cấp ủy, tổ chức phải đẩy mạnh giáo dục để cán bộ lúc đương chức luôn thông suốt về tư tưởng, nhận thức rõ việc nghỉ hưu, rời tổ chức là việc đương nhiên, tất yếu. Từng cá nhân phải cố gắng duy trì quan điểm dù đang công tác hay nghỉ công tác thì đều giữ đúng chức phận của mình; là người đảng viên kiên định, kiên trung của Đảng. Có được tư duy và cách nghĩ đó thì chắc chắn việc nghỉ hưu, rời tổ chức sẽ tự nó trở nên thanh thản, nhẹ nhàng...

Còn xét dưới góc độ tổ chức, đối với những trường hợp vừa rời tập thể đã hòa vào đám đông một cách tiêu cực thì cần phải được cấp có thẩm quyền nhận diện, đấu tranh phê bình nghiêm khắc; thậm chí xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật để giáo dục chung. Thực tế nhiều năm qua cho thấy, những trường hợp như đã nêu ở trên diễn ra khá phổ biến, ở nhiều cơ quan, đơn vị, nhưng việc xử lý vẫn chưa triệt để, nghiêm khắc. Có chăng chỉ là sự nhắc nhở, động viên, đối thoại, cảnh tỉnh... rồi “đâu lại vào đấy”. Do vậy, cùng với giáo dục, thuyết phục, các cơ quan chức năng cần có thái độ quyết liệt xử lý thực trạng này. Khi phát hiện các đối tượng lợi dụng mạng xã hội để nói xấu Đảng, chế độ, bôi nhọ tổ chức, cơ quan, đơn vị thì kiên quyết xử lý nghiêm minh đến cùng, đúng người, đúng mức độ vi phạm, “không có vùng cấm, không có ngoại lệ”...

Làm cán bộ, đảng viên của Đảng thì cần phải khắc ghi và hiểu sâu sắc lời dạy quý báu của Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Một dân tộc, một đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân"./.

Thứ Năm, 2 tháng 9, 2021

THỰC HIỆN NGHIÊM QUY ĐỊNH GIÃN CÁCH, CÁCH LY XÃ HỘI ĐỂ NGĂN CHẶN DỊCH COVID-19

Hiện nay, với tốc độ lây lan rất nhanh của biến thể Delta, dịch bệnh không lây theo chuỗi từ người này sang người kia mà lây theo chùm ca bệnh, F0 tăng theo cấp số nhân,… Để ứng phó với tình huống này trong điều kiện chưa có đủ nguồn vaccine, thuốc đặc trị thì biện pháp giãn cách, cách ly xã hội là giải pháp quyết định để ngăn chặn dịch lây lan trong cộng đồng. Chỉ có thực hiện triệt để giãn cách giữa người với người, gia đình với gia đình mới chặt đứt được chuỗi lây nhiễm của virus SARS-CoV-2. Theo đó, nhiều tỉnh, thành phố đã áp dụng biện pháp giãn cách xã hội trên phạm vi toàn tỉnh, thành phố theo quy định tại Chỉ thị số 16/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ theo nguyên tắc “ai ở đâu ở đó”; mọi người dân ở tại nhà, chỉ ra ngoài trong trường hợp thật sự cần thiết như: mua lương thực, thực phẩm, thuốc men, cấp cứu; đi công tác công vụ, làm việc tại cơ quan, công sở, làm việc tại nhà máy, cơ sở sản xuất, cơ sở kinh doanh dịch vụ, hàng hóa thiết yếu được phép hoạt động… Tuy nhiên, trên thực tế ở một số nơi, việc thực hiện giãn cách xã hội chưa nghiêm, còn một số người vi phạm các quy định ở các mức độ khác nhau, đã làm cho công tác phòng, chóng dịch chưa đạt được kết quả nhu mong muốn.

Vì vậy, để việc thực hiện giãn cách xã hội đạt hiệu quả cao, chính quyền cơ sở cần làm thực chất, nghiêm ngặt, mạnh mẽ, quyết liệt, chặt chẽ ngay từ đầu, xuyên suốt trong tất cả các cấp trên nguyên tắc “ai ở đâu ở đó”; dứt khoát không để người dân tự phát rời khỏi địa bàn đang có dịch làm lây lan sang các địa bàn, địa phương khác… Để làm được điều đó, bên cạnh thực hiện nhanh chóng và nghiêm ngặt các quy định phòng chống dịch thì chính quyền và các lực lượng chức năng cần tăng cường kiểm tra, kiểm soát tại chỗ và lưu động, kiên quyết xử lý nghiêm các tổ chức, cá nhân vi phạm quy định trong phòng, chống dịch bệnh COVID-19. Đặc biệt, cơ quan chức năng cần kiên quyết khởi tố đối với các trường hợp cố tình vi phạm quy định về phòng chống dịch bệnh để răn đe.

Thứ Năm, 3 tháng 6, 2021

BẦU CỬ DIỄN RA THÀNH CÔNG, ĐÚNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT

Ngày 23-5-2021 ghi một dấu mốc quan trọng trong tiến trình phát triển của đất nước. Hơn 69 triệu cử tri đã thực hiện quyền và nghĩa vụ thiêng liêng, bỏ phiếu bầu những người đại diện cho mình tại Quốc hội khóa XV và HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021-2026.

Tính đến 22 giờ ngày 23-5, cả nước có 99,16% cử tri đi bầu cử, trong đó nhiều địa phương có tỷ lệ cử tri đi bỏ phiếu rất cao, như Hậu Giang (99,99%); Trà Vinh (99,98%); Lào Cai (99,98%)...

Tổng Thư ký Quốc hội, Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội, Chánh Văn phòng Hội đồng Bầu cử Quốc gia Bùi Văn Cường đánh giá, cuộc bầu cử đã diễn ra hết sức thành công và đúng quy định của pháp luật. Còn Ủy viên Hội đồng Bầu cử Quốc gia, Bộ trưởng Nội vụ Phạm Thị Thanh Trà nhìn nhận đây là một cuộc bầu cử thành công toàn diện, đảm bảo dân chủ, bình đẳng, đúng quy định và đúng pháp luật. Không khí Ngày Bầu cử thực sự là ngày hội lớn của toàn dân.

Cuộc bầu cử cũng thu hút sự quan tâm lớn của truyền thông và dư luận quốc tế. Đa số đánh giá cao sự thành công của cuộc bầu cử trong bối cảnh khó khăn do dịch Covid-19 gây ra.  

Những thông tin trên một lần nữa bác bỏ các bài viết, ý kiến, luận điệu phiến diện, xuyên tạc bầu cử ở nước ta của các thế lực thù địch.

Bình luận về vấn đề này, trang Facebook Vững tin theo Đảng viết: Dù các tổ chức chống phá Việt Nam vẫn tìm mọi cách để xuyên tạc cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND các cấp nhưng thực tế những gì diễn ra đã minh chứng cho sự ưu việt của nền dân chủ ở Việt Nam, đó là nền dân chủ của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.  

Theo trang Facebook Việt Nam mến yêu: Qua kỳ bầu cử Quốc hội và HĐND các cấp lần này, một lần nữa chúng ta có thể thấy ý thức chính trị trong mỗi người dân lớn đến nhường nào. Đó chính là niềm tin của người dân, lòng dân đối với chế độ, đối với Đảng, Nhà nước, trong việc xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.

Thứ Năm, 6 tháng 5, 2021

XỬ LÝ VI PHẠM QUY ĐỊNH PHÒNG, CHỐNG DỊCH ĐỐI VỚI BN 2899 VÀ CÁC TỔ CHỨC, CÁ NHÂN LIÊN QUAN

Theo thông tin từ Văn phòng Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh Hà Nam, ngày 2/5, UBND tỉnh Hà Nam đã chỉ đạo các sở, ngành chức năng tiến hành xử lý vi phạm các quy định phòng, chống dịch Covid-19 đối với BN 2899 và các tổ chức, cá nhân liên quan.

Đối với cá nhân ông N.V.Đ (BN 2899), sinh năm 1993, trú tại thôn Quan Nhân, xã Đạo Lý, huyện Lý Nhân, là công dân Việt Nam, từ Nhật Bản về, đã hoàn thành thực hiện cách ly ở Đà Nẵng nhưng khi về địa phương không thực hiện nghiêm các quy định về phòng, chống dịch theo Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm, các quy định của Chính phủ, Ban Chỉ đạo quốc gia phòng, chống dịch Covid-19 và địa phương, vẫn tổ chức liên hoan, ăn uống, di chuyển trong cộng đồng, gây lây lan dịch bệnh cho các cá nhân khác. Trước mắt, UBND tỉnh Hà Nam chỉ đạo các cơ quan chức năng xem xét xử lý phạt hành chính, đồng thời giao Công an tỉnh và các ngành thực thi pháp luật rà soát lại hồ sơ vụ việc, nếu đủ căn cứ sẽ truy cứu hình sự đối với ông N.V.Đ.

Đối với ông Lương Thanh Ngọc, Trạm trưởng Trạm Y tế xã Đạo Lý, huyện Lý Nhân có trách nhiệm trong việc, mặc dù ngày 24/4, ông N.V.Đ có những biểu hiện ho, sốt, lại mới nhập cảnh về Việt Nam nhưng chưa xử lý và giải quyết kịp thời sự việc, gây ra hậu quả lây nhiễm dịch bệnh ra cộng đồng. Trước mắt yêu cầu kiểm điểm, làm rõ trách nhiệm và tùy theo mức độ vi phạm sẽ có hình thức kỷ luật phù hợp.

Đối với các tập thể, cá nhân khác, UBND tỉnh Hà Nam giao cho Công an tỉnh rà soát toàn bộ hồ sơ, cá nhân nào thuộc Sở Y tế, huyện Lý Nhân và xã Đạo Lý vi phạm thì sẽ xử lý theo quy định của pháp luật./.

Thứ Sáu, 15 tháng 1, 2021

TIẾP TỤC ĐỔI MỚI QUY TRÌNH XÂY DỰNG PHÁP LUẬT

Luật Sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật được Quốc hội (QH) khóa XIV thông qua và chính thức có hiệu lực từ ngày 1-1-2021 tạo cơ sở pháp lý cho tiến trình đổi mới công tác xây dựng pháp luật ở nước ta. Luật có những quy định mới, tạo điều kiện thuận lợi hơn để Mặt trận Tổ quốc (MTTQ) Việt Nam, các tổ chức thành viên khác của mặt trận và các cơ quan, tổ chức khác, cá nhân tham gia góp ý kiến về đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật và dự thảo văn bản quy phạm pháp luật. Đối với dự thảo văn bản quy phạm pháp luật đã được phản biện xã hội thì hồ sơ dự án, dự thảo gửi thẩm định, thẩm tra, trình cơ quan có thẩm quyền phải bao gồm văn bản phản biện xã hội. Trong quá trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, cơ quan, tổ chức, ĐBQH chủ trì soạn thảo và cơ quan, tổ chức liên quan có trách nhiệm tạo điều kiện để các cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia góp ý kiến về đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật, để MTTQ Việt Nam thực hiện phản biện xã hội đối với dự thảo văn bản quy phạm pháp luật; tổ chức lấy ý kiến của đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản quy phạm pháp luật. Ý kiến tham gia về đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật và ý kiến phản biện xã hội đối với dự thảo văn bản quy phạm pháp luật phải được nghiên cứu, giải trình, tiếp thu trong quá trình chỉnh lý dự thảo văn bản.

Nhà nước Việt Nam là Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Nhà nước được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật. Đảng và Nhà nước ta luôn nhận thức sâu sắc sự cần thiết xây dựng hệ thống pháp luật thống nhất, đồng bộ, toàn diện, là cơ sở xây dựng bộ máy nhà nước trong sạch, vững mạnh.  

Trong quá trình xây dựng pháp luật, chúng ta đã tham khảo và bảo đảm các bộ luật, luật, nghị quyết được ban hành phải tương thích với luật pháp quốc tế. Thế nhưng không thể bê nguyên xi luật pháp quốc tế về Việt Nam. Đã từng có những luận điệu của thế lực thù địch “gợi ý” rằng "chỉ cần lấy nguyên luật pháp của quốc tế về áp dụng ở Việt Nam để đỡ tốn tiền làm luật". Đây là quan điểm sai lầm và vô cùng nguy hiểm bởi chúng ta là người Việt Nam. Chúng ta phải xây dựng hệ thống pháp luật phù hợp với điều kiện đất nước Việt Nam, bảo đảm lợi ích lâu dài của Tổ quốc và nhân dân Việt Nam.  

Trước những luận điệu xuyên tạc, bóp méo bản chất quy trình xây dựng pháp luật của QH, xuyên tạc lịch sử 75 hào hùng của QH, mỗi người dân cần nâng cao nhận thức, nhận diện và cảnh giác trước những luận điệu sai trái của các thế lực thù địch để chủ động phòng tránh, không để bị tác động, gây hoang mang tư tưởng hoặc thay đổi nhận thức chính trị vì những luận đó. Đặc biệt, đối với mỗi ĐBQH cần phát huy hơn nữa vai trò trách nhiệm trước cử tri, thận trọng khi phát ngôn để các thế lực thù địch không thể “thêm mắm, thêm muối” lợi dụng nhằm đạt được những mục đích xấu xa, đen tối của chúng.

Thực tế, trong thời gian qua, hoạt động giám sát của QH đã liên tục đổi mới và ngày càng có hiệu quả, xứng đáng với sự tin cậy của cử tri và nhân dân. Tiếc rằng, một số người do không biết hoặc cố tình xuyên tạc nên đã có cái nhìn sai lệch về hoạt động này. Có người còn phát biểu “giám sát của QH Việt Nam không “dám” và không “sát”...