Thứ Năm, 19 tháng 10, 2017

“Tự soi, tự sửa” để ngăn chặn, đẩy lùi các biểu hiện suy thoái

Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên ở nước ta hiện nay đã “làm tổn thương tình cảm và suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng”, nếu không bị ngăn chặn, đẩy lùi, thì đây sẽ “là một nguy cơ trực tiếp đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ”. Chính vì vậy, Nghị quyết Đại hội XII của Đảng đã xác định đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi có hiệu quả sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong nội bộ là một nhiệm vụ trọng tâm của công tác xây dựng Đảng.
Suy thoái tư tưởng chính trị được hiểu là sự biến đổi về phẩm chất chính trị của mỗi người theo chiều hướng xấu, từ chỗ nể nang, ngại va chạm, ngại khó, ngại khổ, lười học tập lý luận chính trị... dần dần đi đến xa rời những nguyên tắc, tôn chỉ, mục đích của Đảng, giảm sút niềm tin, phai nhạt lý tưởng cách mạng. Sự suy thoái về tư tưởng chính trị thường diễn ra từ từ, thầm lặng, trong một quá trình dài với những mức độ khác nhau, thể hiện ở nhận thức, thái độ, lời nói, hành vi của con người. Suy thoái đạo đức, lối sống là sự xuống cấp về đạo đức, thay đổi lối sống theo hướng tiêu cực, phá vỡ các chuẩn mực đạo đức và những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc.
Muốn ngăn chặn, đẩy lùi các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống phải bắt đầu từ việc cán bộ, đảng viên “tự soi, tự sửa”. “Tự soi, tự sửa” là mỗi người tự kiểm điểm, tự soi lại mình, cái gì tốt thì phát huy, cái gì khiếm khuyết thì tự điều chỉnh, cái gì xấu thì tự gột rửa, tự sửa chữa.
Việc “tự soi, tự sửa” đòi hỏi người cán bộ, đảng viên phải có tính tự giác, thật thà và trung thực, nhất là khi “tự soi, tự sửa” những hạn chế, khuyết điểm của bản thân. Các biểu hiện suy thoái, nhất là suy thoái về tư tưởng chính trị thuộc phạm trù ý thức, nó ẩn khuất, ngấm ngầm trong suy nghĩ, trong tư tưởng con người, nhiều khi được che đậy kín đáo, rất khó phát hiện, nếu cán bộ, đảng viên không nghiêm túc và tự giác “tự soi” mình thì việc “tự sửa” sẽ khó mang lại kết quả.
“Tự soi, tự sửa” theo các biểu hiện nêu trong Nghị quyết Trung ương 4, (khoá XII) là một giải pháp rất quan trọng, có tính quyết định để ngăn chặn, đẩy lùi các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Bởi vì, các biểu hiện suy thoái ở một bộ phận cán bộ, đảng viên chủ yếu từ mình mà ra và tự mình là chính. Cho nên, bản thân mỗi cán bộ, đảng viên phải tự mình soi xét, khi thấy có biểu hiện suy thoái phải quyết tâm sửa chữa và tự giác khắc phục. Cấp ủy, tổ chức đảng dù có tích cực giáo dục đến mấy và công tác kiểm tra, giám sát có chặt chẽ đến đâu, nhưng nếu cán bộ, đảng viên không tự giác, không kiên quyết thì rất khó đẩy lùi những biểu hiện thuộc về ý thức của con người.
Việc “tự soi, tự sửa” phải được tiến hành một cách chủ động, ngăn chặn từ xa, đẩy lùi từ sớm, ngay từ khi nó bắt đầu xuất hiện trong suy nghĩ, trong hành động của mình và điều quan trọng là phải thực hiện thường xuyên như “ngày nào cũng ăn cho khỏi đói, rửa mặt cho khỏi bẩn”.
Để việc “tự soi, tự sửa” đạt hiệu quả cao hơn, cần có môi trường tốt để cán bộ, đảng viên phát huy tính tự giác của mình, đó là chi bộ thực sự vững mạnh, đoàn kết. Chi bộ là nơi cán bộ, đảng viên hàng ngày tiếp xúc với nhau, đối diện với nhau; ở đó, cái tốt, cái chưa tốt, cái tích cực, cái tiêu cực,... đều được bộc lộ rõ. Nếu trong sinh hoạt chi bộ, nguyên tắc tập trung dân chủ luôn được thực hiện tốt và phát huy cao độ; người đứng đầu cấp ủy thực sự là “thủ lĩnh”, gương mẫu trong mọi việc, nhất là đi đầu trong việc “tự soi, tự sửa”; một tập thể cấp ủy đoàn kết, thống nhất về tư tưởng và hành động; đội ngũ đảng viên luôn chân thành và cởi mở, sẵn sàng chia sẻ, quan tâm lẫn nhau trên tinh thần thương yêu đồng chí, thì mọi khuyết điểm, dù nhỏ nhất sẽ được mọi người chia sẻ để cùng nhau sửa chữa, khắc phục. Một môi trường sinh hoạt lành mạnh như thế, đảng viên sẽ không sợ nói ra khuyết điểm của mình, mà mong muốn được mọi người giúp đỡ để bản thân tiến bộ và trưởng thành hơn.
Mặt khác, dù cán bộ, đảng viên có tự giác “tự soi, tự sửa”, nhưng do đặc điểm tâm lý của con người thường có sự bảo thủ, chủ quan trong nhận thức, dễ thấy cái sai, khuyết điểm của người khác nhưng lại khó nhận thấy mặt hạn chế, thiếu sót của mình, cho nên, rất cần sự gợi ý, gợi mở của người đứng đầu cấp ủy và những ý kiến đóng góp của tập thể chi bộ.

“Tự soi, tự sửa” là công việc đầy cam go, có khi khó khăn, đau đớn, vì tự ái, vì thói quen, hoặc vì nguyên nhân khác; có khi vì sợ mất thể diện, mất uy tín mà không dám “vạch áo cho người xem lưng”. Đó là một cuộc đấu tranh, giữa tình cảm và lý trí, giữa sự cầu thị và tính bảo thủ, giữa mặt tốt và mặt xấu trong mỗi con người; là thử thách thực sự đối với bản lĩnh của người cán bộ, đảng viên, đòi hỏi mỗi người muốn tiến bộ phải có dũng khí để vượt qua chính mình.

Phê phán luận điểm Đảng Cộng sản Việt Nam không thể chống tham nhũng, suy thoái

Hiện nay, toàn Đảng, toàn dân đang triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XII và các nghị quyết Trung ương, đặc biệt là Nghị quyết Trung ương 4 về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng - chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Lợi dụng tình hình dư luận xã hội đang bức xúc về tệ nạn tham nhũng, suy thoái của một số cán bộ, đảng viên, nhất là những người giữ các vị trí lãnh đạo cơ quan chính quyền, quản lý kinh tế; công tác xây dựng Đảng, ngăn chặn đẩy lùi tham nhũng, suy thoái của Đảng còn không ít hạn chế, khuyết điểm, dẫn đến kết quả chưa đạt mục tiêu, yêu cầu đặt ra, một số người đã tung ra luận điểm “Đảng Cộng sản Việt Nam không thể đấu tranh chống tham nhũng, suy thoái thành công”.
Luận điểm này chỉ là lẻ tẻ của một số người và chỉ dựa trên mấy luận chứng chủ quan, võ đoán như: Tham nhũng, suy thoái là căn bệnh kinh niên của chế độ độc đảng cầm quyền; vì xã hội ta thiếu dân chủ nên không thể chống tham nhũng, suy thoái thành công; đã nhiều lần phát động chống tham nhũng, suy thoái nhưng đều không thành công, tệ nạn lại càng gia tăng... Từ đó, họ kết luận cuộc đấu tranh chống tham nhũng, suy thoái của Đảng Cộng sản Việt Nam không thể thành công.
Cuộc đấu tranh chống tham nhũng, suy thoái có thành công hay không phải dựa trên những chứng cứ lịch sử, lại phải có cách đánh giá khách quan, toàn diện, dự báo đúng chiều hướng phát triển của tình hình.Điều quan trọng hơn hết là đảng nào có mục tiêu vì nước, vì dân, giáo dục, quản lý tốt cán bộ, đảng viên, thì có thể hạn chế đến mức thấp nhất nạn tham nhũng, suy thoái, không gây nên những tiêu cực lớn đối với xã hội.
Đảng Cộng sản Việt Nam kể từ khi ra đời, lãnh đạo cuộc đấu tranh giành chính quyền, cán bộ, đảng viên của Đảng tuyệt đại đa số đều là những nhà cách mạng tự nguyện từ bỏ lợi ích bản thân, xả thân chiến đấu hy sinh vì sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc. Trong cuộc đấu tranh lưu huyết một sống, một chết dưới ách thống trị tàn bạo của chính quyền thực dân phong kiến cũng đã có những người không chịu nổi thử thách gian nguy, tự rời bỏ hàng ngũ cách mạng, thậm chí đầu hàng địch, phản bội cách mạng. Những người thiếu kiên trung với cách mạng, có biểu hiện dao động, cầu an đã bị đào thải. Nhưng đó chỉ là những trường hợp cá biệt. Đảng không vì thế mà yếu đi. Đảng càng trong sạch và ngày càng phát triển vững mạnh, được các tầng lớp nhân dân tin tưởng, tôn vinh vai trò lãnh đạo và tình nguyện chiến đấu dưới ngọn cờ vinh quang của Đảng...
Trong kháng chiến, đảng viên cộng sản là những người tiên phong nhận nhiệm vụ khó khăn, nguy hiểm, chấp nhận hy sinh bản thân mình để giành thắng lợi cho cách mạng. Họ đã trở thành những anh hùng bất tử, nêu tấm gương sáng cho bộ đội và nhân dân noi theo quyết chiến quyết thắng với quân thù. Khi đó, cũng có một số người phạm vào tội lỗi tham ô, lãng phí, quan liêu. Chủ tịch Hồ Chí Minh lên án, gọi đó là “giặc nội xâm”, là bạn đồng minh của thực dân và phong kiến. Tội lỗi đó làm hại đến tính mệnh và tài sản của nhân dân, làm mất thanh danh, uy tín của Đảng và Nhà nước. Chính vì sự tự giác nêu gương của cán bộ, đảng viên và việc Đảng, Nhà nước xử lý không khoan nhượng đối với những người phạm tội với cách mạng, với nhân dân, đã khiến cho Đảng trong sạch vững mạnh, lãnh đạo kháng chiến thắng lợi.
Trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc, biết bao cán bộ, đảng viên Quân đội ngày đêm ở nơi xa xôi biển đảo, biên cương canh giữ chủ quyền đất nước; nhiều cán bộ, đảng viên Công an dũng cảm chiến đấu trên mặt trận thầm lặng, giữ gìn an ninh chính trị và cuộc sống yên bình cho nhân dân; những cán bộ, đảng viên trực tiếp sản xuất vất vả trong nhà máy, trên đồng ruộng; những cán bộ, đảng viên lao động trí óc ngày đêm miệt mài nghiên cứu, sáng tạo, đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp chung, không tính toán thiệt hơn, không đòi hỏi sự ưu ái cho riêng mình.
Đó là những bằng chứng lịch sử minh chứng cho đánh giá của Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII: “Nhìn một cách tổng thể, trong suốt quá trình xây dựng, trưởng thành và lãnh đạo cách mạng, Đảng ta xứng đáng là lực lượng lãnh đạo. Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ và vị thế như ngày nay. Đó là kết quả sự nỗ lực phấn đấu không ngừng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, trong đó có sự hy sinh quên mình và đóng góp quan trọng của đội ngũ cán bộ, đảng viên”.

Như vậy, từ thực tế nền chính trị các quốc gia trên thế giới và lịch sử chế độ chính trị Việt Nam thời hiện đại đã chứng tỏ chế độ một đảng cầm quyền không phải là nguyên nhân sinh ra tệ nạn tham nhũng, suy thoái trong xã hội. Vấn đề dân chủ trong xã hội, đây là một vấn đề lớn, không một quốc gia nào dám tự coi là đã thực hiện một cách hoàn hảo. Mỗi quốc gia, dân tộc thực hiện dân chủ xã hội tùy thuộc vào tình hình chính trị - xã hội, sự hoàn thiện  hệ thống pháp luật, trình độ phát triển kinh tế, xã hội, truyền thống, phong tục, tập quán dân tộc và trình độ dân trí… 

Thứ Ba, 17 tháng 10, 2017

CHỐNG PHÁ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG - MƯU ĐỒ KHÔNG THAY ĐỔI CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH


Đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên của toàn Đảng hiện nay.  Mặc dù thế giới đương đại trong nửa cuối thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI có những biến đổi sâu sắc, song chủ nghĩa Mác – Lê-nin với bản chất cách mạng và khoa học vẫn là một cơ sở lý luận quan trọng hàng đầu hướng dẫn nhận thức và cải tạo thế giới. Lý tưởng về một chủ nghĩa cộng sản đem lại công bằng, hạnh phúc, không còn áp bức, bóc lột vẫn là ước mơ, hoài bão của hàng triệu con người trên toàn cầu. Ở Việt Nam, tư tưởng Hồ Chí Minh được ra đời từ sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lê-nin vào điều kiện cụ thể của đất nước, trên cơ sở kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại. Đó là hệ thống quan điểm toàn diện, sâu sắc về những vấn đề cơ bản, nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam, cả trước đây và hiện nay. Trên tinh thần đó, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lấy chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động. Như vậy, sự lựa chọn nền tảng tư tưởng của Đảng hoàn toàn không phải ngẫu nhiên, mà mang tính khách quan, khoa học.
Thực tế lãnh đạo đất nước hơn 87 năm qua đã cho thấy, nhờ kiên định vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng đã lãnh đạo cách mạng Việt Nam không ngừng phát triển, giành những thắng lợi to lớn. Những thắng lợi đó đã đưa nước ta từ một xứ thuộc địa nửa phong kiến trở thành một quốc gia độc lập, tự do, phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa; nhân dân ta từ thân phận nô lệ đã trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ xã hội; đất nước ta đã thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu, đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, có quan hệ quốc tế rộng rãi, vị thế đất nước ngày càng được nâng lên. Tuy nhiên, sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa là chưa có tiền lệ, có nhiều khó khăn phức tạp. Do những nguyên nhân khách quan và chủ quan, trong quá trình lãnh đạo, Đảng ta không tránh khỏi những khuyết điểm, thậm chí sai lầm. Đó cũng là điều bình thường của một Đảng cầm quyền. Vấn đề quan trọng là Đảng ta không bảo thủ, trì trệ; đã kịp thời tự kiểm điểm một cách nghiêm túc để nhận ra và kiên quyết sửa chữa, khắc phục. Thế nhưng, trong nhiều năm qua, các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị, bất mãn, với mục tiêu chống phá Đảng Cộng sản Việt Nam, mà trước hết là tập trung chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng đã lợi dụng và thổi phồng những hạn chế đó, rồi xuyên tạc, quy chụp nguyên nhân là do chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh.
Viện dẫn sự đổ vỡ mô hình xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu, họ rêu rao rằng, chủ nghĩa Mác – Lê-nin là lỗi thời, tội lỗi, đã và đang đi vào diệt vong; chủ nghĩa đó chỉ phù hợp nhất thời đối với nước Nga vào thế kỷ XX, không phù hợp với Việt Nam. Học thuyết của C. Mác chỉ là giả thuyết không tưởng. Sứ mệnh của giai cấp công nhân “đào mồ chôn chủ nghĩa tư bản, xây dựng một xã hội mới tốt đẹp hơn vạn lần xã hội cũ” là viển vông. Theo họ, giai cấp công nhân, trong đó có cả lãnh tụ của giai cấp đó là những người có học vấn thấp, giỏi lắm chỉ có thể lật đổ được chế độ xã hội cũ, chứ không thể lãnh đạo cải tạo và xây dựng thành công một xã hội tốt đẹp hơn, nhất là trong thời đại khoa học - công nghệ phát triển. Họ rêu rao vậy, nhưng trên thực tế thì sao? Ai cũng biết, chủ nghĩa đế quốc với bản chất xâm lược, hiếu chiến là căn nguyên của mọi cuộc chiến tranh trên thế giới, là nguồn gốc gây ra nỗi thống khổ đau thương của nhân loại và hiện vẫn đang diễn ra ở nhiều quốc gia, nhất là Bắc Phi, Trung Đông. Thế nhưng họ trốn tránh điều đó; hơn thế, còn ngụy biện hết sức lố bịch, rằng: chính nguyên lý về đấu tranh giai cấp và nguyên tắc “tập trung, dân chủ” của chủ nghĩa Mác – Lê-nin là sự cổ vũ cho bạo lực và độc tài.
Bên cạnh đó, các thế lực thù địch, phần tử cơ hội còn ra sức xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh. Họ cho rằng: Hồ Chí Minh là người theo tư tưởng dân tộc chủ nghĩa, lấy chủ nghĩa Mác – Lê-nin làm phương tiện để thực hiện tư tưởng của mình nên đã tạo ra những sai lầm lịch sử. Chúng còn tìm mọi cách để bôi nhọ, xuyên tạc nhân cách đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh, bất chấp việc Người là hiện thân của nhân văn, biểu tượng về nhân cách, luôn ở trong con tim, khối óc của nhân dân Việt Nam và thế giới vì những đóng góp xứng đáng của Người vào sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người.
Dù các thế lực thù địch có nói gì đi chăng nữa, thực tiễn luôn là thước đo chuẩn xác nhất để kiểm chứng sự đúng - sai học thuyết, đường lối lãnh đạo của các chính đảng. Những thành tựu rất đáng tự hào, khởi đầu từ Cách mạng Tháng Tám trong 72 năm qua, nhất là hơn 30 năm đổi mới của cách mạng Việt Nam là minh chứng hùng hồn, không ai có thể xuyên tạc, bác bỏ được vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam và nền tảng tư tưởng của Đảng.
Cũng không phải ngẫu nhiên, Hồ Chí Minh được Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) tôn vinh là “Anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa kiệt xuất của Việt Nam”. Sự hưởng ứng tích cực, tự giác việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh theo các chỉ thị của Bộ Chính trị khóa X, khóa XI của đảng viên, cán bộ và đông đảo đồng bào cả nước, Việt kiều ở khắp nơi trên thế giới là minh chứng cho sự lan tỏa và sức sống sâu rộng của tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trong đời sống xã hội hiện nay.
Việc phủ nhận vai trò độc tôn lãnh đạo của Đảng cũng là điều được các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị, bất mãn ráo riết, điên cuồng thực hiện trong suốt những năm qua. Những đòi hỏi phi lý về đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập; thực hiện “tam quyền phân lập”, dân chủ, nhân quyền theo kiểu phương Tây; thiết lập nền kinh tế tư nhân hóa tuyệt đối; “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang..., là thủ đoạn nham hiểm không phải ai cũng có thể nhận biết được ngay. Sự chống phá đó ngày càng có sự phát triển, biến đổi về thủ đoạn; từ lợi dụng xu thế toàn cầu hóa, sự bùng nổ về công nghệ thông tin, truyền thông, tăng cường hợp tác, mở cửa của Đảng, Nhà nước ta, đến lợi dụng ngay những khuyết điểm, sai lầm trong tổ chức quản lý kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh, sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận cán bộ, đảng viên của Đảng, v.v. Đáng chú ý là, bên cạnh các thế lực thù địch, các phần tử chống cộng cực đoan, gần đây còn có sự phụ họa của một số phần tử cơ hội chính trị, bất mãn và cả một số ít cán bộ, đảng viên bị chúng lợi dụng. Dù có cố tình che đậy như thế nào chăng nữa, nhưng mục đích, mưu đồ của chúng không hề thay đổi là nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Những ý kiến như vậy đã được làm rõ từ lâu và đã bị thực tế lịch sử hoàn toàn bác bỏ. Dân chủ và sự phát triển, ổn định của một quốc gia không phụ thuộc vào đa đảng hay độc đảng mà phụ thuộc chủ yếu vào bản chất của đảng cầm quyền khi đảng đó đại diện và phục vụ cho ai là chủ yếu. Viện dẫn những điều cơ bản trên, để thấy rằng, thực tế cách mạng Việt Nam khẳng định, nền tảng tư tưởng của Đảng vẫn còn nguyên giá trị, là “kim chỉ nam” dẫn dắt nhân dân ta tiến tới “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Vì vậy, thực hiện đổi mới, xây dựng và phát triển đất nước theo con đường độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trên cơ sở lấy chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng của Đảng ta là hoàn toàn đúng đắn, phù hợp với xu thế thời đại.


Có phải thời đại hiện nay cách mạng khoa học – công nghệ đã thay thế cách mạng xã hội chủ nghĩa


Thế giới đang vận động biến đổi mạnh mẽ dưới tác động của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại. Có thể nói cách mạng khoa học - công nghệ đã tạo ra nhứng bước đột phá để nhân loại tiến lên phía trước. Lợi dụng thực tế đó, các học giả tư sản và các phần tử chống cộng, cơ hội, xét lại ra sức tuyên truyền, xuyên tạc, coi cách mạng khoa học - công nghệ là phương pháp duy nhất để xây dựng tương lai cho loài người, cho rằng thời đại ngày nay là thời đại cách mạng khoa học - công nghệ thay thế hoàn toàn cách mạng xã hội chủ nghĩa. Vì vậy, việc nhận thức đúng đắn quan điểm trên, chỉ ra thực chất vấn đề là yêu cầu cấp thiết hiện nay.
Nghiên cứu quan điểm trên ta có thấy rõ thực chất quan điểm trên nhằm hạ thấp vai trò của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa, sâu xa hơn phủ nhận Chủ nghĩa Mác - Lênin từ học thuyết đấu tranh giai cấp, để thay thế nó bằng lý thuyết kỹ trị của phương Tây. Chúng ta có thể nhìn nhận trên mấy vấn đề sau:
Một là, không thể phủ nhận vai trò quan trọng của cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại. Những phát minh, khám phá từ cuộc cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại đã tạo ra những ảnh hưởng sâu sắc trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, không chỉ nâng cao khả năng cho con người, mà còn giúp con người làm chủ đời sống của mình và tạo ra những của cải vật chất ngày càng nhiều đáp ứng với nhu cầu phát triển của xã hội. Tuy nhiên, cách mạng khoa học - công nghệ chỉ đơn thuần thay đổi xã hội loài người về yếu tố kỹ thuật, không thể thay thế các mối quan hệ xã hội của con người, không thể giúp điều hòa các mâu thuẫn lợi ích đối kháng giữa các bộ phận người khác nhau trong xã hội.
Hai là, nhiều phát minh từ cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại, khi được con người đem ra ứng dụng vào đời sống, đã bị biến đổi trở thành những phương tiện gây ra đau thương, chết chóc cho nhân loại. Chúng ta có thể thấy rõ các cuộc chiến tranh hiện đại, với lượng vũ khí khổng lồ có sức hủy diệt lớn, đã gây ra những tổn thất nghiêm trọng và làm chậm tiến trình phát triển của nhân loại. Như vậy, mục đích sử dụng thành tựu từ cách mạng khoa học - công nghệ đã bị chi phối bởi lợi ích chính trị, kinh tế, xã hội của các giai tầng cầm quyền trong xã hội, mà giải quyết nó đòi hỏi phải có một cuộc cách mạng sâu sắc, toàn diện và triệt để, trên tất cả mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.
Ba là, trong xã hội hiện nay quan hệ giai cấp, dân tộc vẫn tồn tại, các mâu thuẫn lợi ích giữa các bộ phận người khác nhau luôn đan cài tạo thành các mạng lưới phức tạp. Để xã hội loài người vận động tiến lên tất yếu phải đòi hỏi giải quyết triệt để các quan hệ đó, đơn thuần sử dụng yếu tố kỹ thuật chỉ đem đến những thay đổi trong đời sống của con người, mà không giúp khắc phục được nguyên nhân sâu xa của mọi vấn đề, của mọi mâu thuẫn trong xã hội hiện nay là sự tồn tại của chế độ tư hữu và quan hệ lợi ích. Thực tế cũng cho thấy, chủ nghĩa tư bản đã có những điều chỉnh và thích nghi lớn về nhiều mặt, điều đó cũng góp phần làm dịu bớt tình trạng mâu thuẫn giai cấp, nhưng không thể khắc phục triệt để và hoàn toàn mâu thuẫn cơ bản, nội tại của nó. Sự tồn tại của các cuộc chiến tranh, xung đột, khủng hoảng và các vấn đề toàn cầu gay gắt là biểu hiện của những mâu thuẫn nội tại không thể điều hòa được của chủ nghĩa tư bản. Nó đặt ra yêu cầu phải có một cuộc cách mạng xã hội mới để xóa bỏ quan hệ cũ thiết lập quan hệ mới và xây dựng xã hội mới phù hợp với nguyện vọng của toàn thể nhân loại tiến bộ, cuộc cách mạng đó chỉ có thể là cách mạng xã hội chủ nghĩa với mục tiêu giải phóng hoàn toàn giai cấp, dân tộc, xã hội và con người mà thôi.
Mặc dù thế giới đã và đang trải qua những biến đổi sâu sắc, chủ nghĩa xã hội đang trong giai đoạn thoái trào, chủ nghĩa tư bản còn tồn tại nhiều tiềm năng phát triển, nhưng Đảng ta luôn nhận thức đúng đắn và sâu sắc được tính chất, mâu thuẫn và nội dung của thời đại, chỉ rõ: Thời đại hiện nay là thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới, được mở đầu bằng cách mạng tháng Mười Nga 1917, là thời đại đấu tranh cho thắng lợi của hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội, gắn liền với cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa và cuộc cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại. Cần quán triệt và nắm vững tư tưởng đó trong cuộc đấu tranh chống lại các quan điểm sai trái, phản động, phản khoa học mà các thế lực thù địch đã và đanh tiến hành hiện nay.



CHỐNG LẠI ÂM MƯU CHỐNG PHÁ TRÊN LĨNH VỰC TƯ TƯỞNG, VĂN HÓA


Để chống phá cách mạng Việt Nam, các thế lực thù địch coi “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hoá là mũi đột phá, hòng làm tan rã niềm tin, gây hỗn loạn về lý luận, tư tưởng, tạo ra “những khoảng trống” để đưa hệ tư tưởng tư sản thâm nhập vào cán bộ, đảng viên và nhân dân, tiến tới chuyển hóa, xóa bỏ hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa. Bởi vậy, nhận rõ bộ mặt thật của thủ đoạn thâm độc này để có phương sách đấu tranh phù hợp, hiệu quả là rất cần thiết.
Không mấy khó hiểu khi các thế lực thù địch sử dụng con bài tư tưởng, văn hóa làm đòn tấn công phủ đầu, dọn đường thực hiện các thủ đoạn khác để chống phá cách mạng nước ta. Bởi, chúng hiểu quá rõ vai trò to lớn của tư tưởng, văn hóa trong chỉ đạo hành động của con người và định hướng quá trình đi lên của một quốc gia, dân tộc. Thực tế cho thấy, nền tảng văn hóa, tư tưởng vững chắc sẽ làm cho con người luôn gắn bó với cộng đồng, tạo sức mạnh nội sinh, sự đồng thuận xã hội, truyền thống yêu nước, thương nòi, khối đại đoàn kết toàn dân tộc và sự phát triển bền vững trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Nếu tư tưởng, văn hóa không vững, sẽ dẫn đến sự thiếu đồng nhất, phân rã về tư tưởng trong xã hội; lai căng, xuống cấp về bản sắc văn hóa; suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; người dân thiếu niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước và con đường đi lên của dân tộc. Và điều đó sẽ dẫn đến hậu quả: chính trị khủng hoảng, kinh tế trì trệ, pháp luật kém hiệu lực, nền tảng xã hội lung lay, tạo mảnh đất màu mỡ để các thế lực thù địch “tự tung tự tác” bằng những mưu mô, thủ đoạn để chuyển hóa, thay đổi chế độ. Tình trạng đó sẽ dẫn đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đội ngũ cán bộ, đảng viên và trong xã hội, gây nên những tổn thất khó lường đối với sự nghiệp cách mạng của dân tộc và vận mệnh của Đảng, chế độ. Kịch bản này đã từng xảy ra ở Liên Xô và các nước Đông Âu vào những năm 90 của thế kỷ XX.
Trong chiến lược “Diễn biến hòa bình”, trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa, âm mưu chống phá của các thế lực thù địch đối với cách mạng nước ta là không thay đổi. Bởi mục tiêu cuối cùng của chúng là xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và chế độ xã hội chủ nghĩa, đưa Việt Nam phát triển theo quỹ đạo tư bản chủ nghĩa. Để đạt điều đó, chúng từng bước phá vỡ, đẩy lùi lý luận chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh ra khỏi nền tảng tư tưởng của Đảng, đời sống tinh thần của xã hội với thủ đoạn tuyên truyền, rằng: “Chủ nghĩa Mác – Lê-nin đã thuộc về quá khứ, một quá khứ thật oanh liệt, đầy hào hùng và những bi kịch, mà không thuộc về hiện tại, lại càng không thuộc về tương lai”; “Tư tưởng Hồ Chí Minh không còn phù hợp với điều kiện mới của kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, nên không thể lấy tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng”, v.v. Đồng thời, tăng cường công kích, xuyên tạc đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và mục tiêu, con đường độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội mà dân tộc ta đã lựa chọn. Chúng lý sự rằng, con đường đó “không còn phù hợp với quy luật của lịch sử, làm cho đất nước không thể phát triển” và đòi Việt Nam từ bỏ con đường đi lên theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Càng gần đến thời điểm tiến hành Đại hội lần thứ XII của Đảng thì chiến dịch chống phá của các thế lực thù địch càng được đẩy lên cao. Lợi dụng việc Đảng ta tổ chức lấy ý kiến trong Đảng và nhân dân về dự thảo các văn kiện trình Đại hội XII, chúng tập trung chống phá đường lối, Cương lĩnh, nhân sự cấp cao của Đảng và cho rằng “Văn kiện Đại hội XII sắp tới chỉ mang tính lý luận hình thức, không dám chỉ ra khuyết điểm, mâu thuẫn cơ bản trong xã hội, không giải quyết được những bức xúc của nhân dân, đặc biệt là vấn đề dân chủ, nhân quyền và phòng, chống tham nhũng”. Từ đó, đòi hỏi được thành lập nhóm “đặc biệt” có toàn quyền chuẩn bị dự thảo, báo cáo chính trị và đề xuất những ý kiến theo nhận thức chủ quan mà không câu nệ vào Hiến pháp, Cương lĩnh, Điều lệ Đảng. Thông qua mạng xã hội, với cái gọi là “Chân dung quyền lực”, chúng bịa đặt, thổi phồng thiếu sót, khuyết điểm, bôi nhọ danh dự cán bộ lãnh đạo chủ chốt Đảng, Nhà nước, Quân đội, Công an, gây sự phân tâm, nghi ngờ, phai nhạt niềm tin của quần chúng nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa.
Cùng với đó, các thế lực thù địch còn thúc đẩy “dân chủ hóa” hoạt động Quốc hội, lợi dụng “cải cách hành chính” nhằm chuyển hóa chế độ chính trị ở nước ta thông qua việc đòi “cải tổ hệ thống chính trị, cải tổ Chính phủ, cải tổ cách thức điều hành đất nước”; tăng cường quảng bá “3 trụ cột”: xã hội dân sự, kinh tế thị trường và nhà nước pháp quyền theo hướng tư bản chủ nghĩa, làm cho Việt Nam chệch con đường xã hội chủ nghĩa.
Với mưu đồ chuyển hóa hệ thống thang giá trị trong đời sống văn hóa, tinh thần của người Việt Nam, chúng phủ nhận Hội nghị Trung ương 9 (khóa XI) khi cho rằng, đánh giá thành tựu 15 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 (khóa X) là hoàn toàn “thiếu cơ sở” vì thực tế cho thấy ở Việt Nam, đạo đức xã hội đang bị “băng hoại nghiêm trọng”, các quyền tự do báo chí, ngôn luận, biểu tình của người dân đã bị Đảng “khất nợ”, v.v. Tranh thủ những yếu tố khách quan xuất hiện trong bối cảnh nước ta đổi mới, mở cửa, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, các thế lực thù địch đẩy mạnh truyền bá các “giá trị” văn hóa, lối sống phương Tây, hệ tư tưởng tư sản; xóa bỏ truyền thống văn hóa, chuẩn mực đạo đức, lối sống tốt đẹp của dân tộc, làm phai nhạt bản sắc xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Thông qua con đường hợp tác trên các lĩnh vực: giáo dục - đào tạo, quốc phòng - an ninh, báo chí, truyền thông, hội thảo, triển lãm, tài trợ,… để từng bước hình thành các tổ hợp, tập đoàn, câu lạc bộ, nhóm nhà báo, báo tư nhân, trang thông tin điện tử, cơ quan ngôn luận của “lực lượng dân chủ” ở Việt Nam. Lợi dụng cuộc đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực, chúng xuyên tạc thực trạng xã hội, khoét sâu yếu kém, làm ra vẻ như ở Việt Nam đang có khủng hoảng về kinh tế - xã hội, tình trạng tham nhũng tràn lan, không kiểm soát được, v.v. Trên lĩnh vực văn học - nghệ thuật, báo chí, xuất bản, chúng ra sức vận động thành lập “Văn đoàn độc lập”, “Hội nhà báo độc lập”, “Công đoàn độc lập”; tán phát một số cuốn sách được xuất bản ở hải ngoại, như: “Con đường Việt Nam” của Trần Huỳnh Duy Thức, “Bên thắng cuộc” của Huy Đức, “Đèn cù” của Trần Dĩnh,… nhằm “bôi nhọ” đời tư của các cán bộ lãnh đạo cao cấp của Đảng, v.v.
Chúng nhen nhóm hình thành, củng cố các tổ chức, “liên tôn” để tập hợp lực lượng, tung tin xuyên tạc Việt Nam “vi phạm tự do, dân chủ, nhân quyền”, “đàn áp những người bất đồng chính kiến” và kích động quần chúng gây rối, chống đối chính quyền. Đồng thời, khuyến khích tư tưởng hẹp hòi, tâm lý kỳ thị dân tộc, hướng đồng bào về cái gọi là “Vương quốc Mông tự trị”, “Nhà nước Đề ga Mông - ta - nha”, “Vương quốc Khơ me Crôm”; đẩy mạnh các hoạt động tài trợ, đào tạo, nhen nhóm chuẩn bị lực lượng chống đối, thúc đẩy di cư tự do, vượt biên trái phép, khiếu kiện đền bù giải phóng mặt bằng, tranh chấp đất đai, hoạt động của các phần tử đội lốt tôn giáo,… gây mất an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn. Đáng chú ý là, chúng tăng cường liên kết giữa các tổ chức phản động trong nước với nước ngoài để dựng “ngọn cờ”, tập hợp lực lượng, hình thành phe phái đối lập với Đảng Cộng sản Việt Nam; triệt để lợi dụng các phương tiện thông tin, như: in-tơ-nét, viễn thông, đài phát thanh nước ngoài, phát hành ấn phẩm, tờ rơi,… để đăng tin, bài, tán phát tài liệu chống phá ta, nhất là vào dịp Đảng ta tiến hành đại hội các cấp tiến tới Đại hội XII của Đảng.
Đối với lực lượng vũ trang, các thế lực thù địch xác định: “Đảng Cộng sản Việt Nam còn đứng vững là do vẫn nắm được lực lượng vũ trang, nếu đánh đổ được lực lượng này, Đảng Cộng sản Việt Nam sẽ mất chỗ dựa, khi đó chế độ Cộng sản Việt Nam sẽ tan rã giống như Đông Âu và Liên Xô trước đây”, nên chúng ra sức tác động chuyển hóa, đòi “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang bằng nhiều thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt. Chúng tập trung phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng trong xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng, làm suy giảm lòng tin, phai nhạt mục tiêu, lý tưởng chiến đấu; kích động gây rối nội bộ, chia rẽ lực lượng vũ trang với nhân dân, Quân đội với Công an và các tổ chức, đoàn thể xã hội khác. Không những thế, chúng còn đòi tách Quân đội ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng, từng bước thực hiện “dân sự hóa Bộ Quốc phòng”, “hành chính hóa quân sự”, nhằm biến Quân đội thành đội quân chuyên nghiệp, nhà nghề, phi chính trị. Cùng với đó, chúng đẩy mạnh tuyên truyền, xâm nhập các loại văn hóa độc hại, lối sống cơ hội, thực dụng, ích kỷ, hẹp hòi, vô cảm vào trong các đơn vị, đầu độc đời sống tinh thần của cán bộ, chiến sĩ, với mục đích hình thành lối sống tiêu cực, đi ngược lại thuần phong, mỹ tục của dân tộc và bản chất, truyền thống tốt đẹp của quân đội cách mạng - “Bộ đội Cụ Hồ”, v.v.
Có thể khẳng định, chiến lược “Diễn biến hòa bình”, mà trọng tâm là thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa là một âm mưu, thủ đoạn hết sức nguy hiểm, thâm độc. Xét về nội dung tuy không mới, nhưng về thủ đoạn, cách thức tiến hành thì chúng có sự điều chỉnh. Nguy hiểm hơn, hoạt động tuyên truyền, chống phá của các thế lực thù địch tập trung vào đối tượng chủ yếu là thế hệ trẻ, các doanh nhân, trí thức, văn nghệ sĩ, nhà báo; đi sâu vào vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa, vùng có đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống - nơi mà trình độ dân trí so với mặt bằng chung của cả nước còn thấp, đời sống vật chất, tinh thần còn nhiều khó khăn. Bởi vậy, hơn lúc nào hết, chúng ta cần đề cao cảnh giác, nhận diện đúng và chủ động đấu tranh làm thất bại âm mưu, hành động chống phá của các thế lực thù địch, bảo vệ vững chắc trận địa tư tưởng của Đảng, bản sắc văn hóa của dân tộc. Đối với các đơn vị Quân đội, cần làm tốt việc quán triệt các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, nhiệm vụ của các đơn vị; nắm vững định hướng chính trị, tư tưởng; tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy đảng, cán bộ chủ trì và vai trò của ban chỉ đạo chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa ở từng cấp. Toàn quân tập trung giáo dục nâng cao nhận thức về chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; tăng cường công tác lãnh đạo, quản lý tư tưởng, xây dựng bản lĩnh chính trị, kiên định mục tiêu, lý tưởng chiến đấu cho cán bộ, chiến sĩ; giữ vững và phát huy bản chất giai cấp công nhân, truyền thống vẻ vang của Quân đội trong từng thời kỳ; ngăn chặn, đẩy lùi các biểu hiện tiêu cực, lạc hậu, chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Đồng thời, xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh, đơn vị vững mạnh toàn diện, môi trường văn hóa phong phú, lành mạnh; nâng cao sức “tự đề kháng”, quản lý chặt chẽ tình hình tư tưởng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong từng tổ chức, cá nhân, góp phần giữ vững trận địa tư tưởng của Đảng trong Quân đội, đảm bảo cho Quân đội luôn là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và Nhân dân, đóng vai trò nòng cốt trong giữ vững ổn định chính trị, tăng cường quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới


CẢNH GIÁC VỚI THỦ ĐOẠN CỦA KẺ THÙ LỢI DỤNG VẤN ĐỀ TÔN GIÁO CHIA RẼ KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC


Thời gian qua, lợi dụng những hạn chế, yếu kém trong quản lý, điều hành xã hội của chính quyền các cấp về vấn đề đầu tư, ô nhiễm môi trường, giải phóng mặt bằng, đền bù giải tỏa,… các phần tử cực đoan trong tôn giáo nói chung, công giáo nói riêng đã có các hoạt động vi phạm pháp luật Nhà nước, trái với giáo lý tôn giáo. Được sự tiếp tay của các thế lực phản động bên ngoài, những kẻ cực đoan đội lốt tôn giáo kêu gọi, kích động giáo dân tụ tập, biểu tình, tuần hành, gây rối, tấn công người thi hành công vụ, đập phá phương tiện, cản trở hoạt động giao thông, gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội trên một số địa bàn.
Nhìn lại lịch sử, Việt Nam là nước đa tôn giáo. Mặc dù nguồn gốc, đặc điểm và thời điểm hình thành, phát triển của mỗi tôn giáo có khác nhau, nhưng nhìn chung các tôn giáo luôn có tinh thần bao dung, đoàn kết, gắn bó trong đại gia đình các dân tộc, tôn giáo Việt Nam. Cộng đồng các tôn giáo luôn đồng hành cùng dân tộc, đóng góp một phần quan trọng trong quá trình xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước. Nhận thức đúng vai trò của các tôn giáo và các tín đồ tôn giáo, Đảng và Nhà nước ta luôn có quan điểm, chính sách đúng đắn và khẳng định: “Tín ngưỡng tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân. Đạo đức tôn giáo có nhiều điều phù hợp với công cuộc xây dựng xã hội mới”; thường xuyên quan tâm, tạo điều kiện cho các tổ chức tôn giáo sinh hoạt theo hệ thống giáo lý, giáo luật và quy định của pháp luật Việt Nam. Do đó đã cổ vũ, động viên đồng bào theo đạo và các chức sắc tôn giáo chung sức, chung lòng cùng cộng đồng, làm tròn nghĩa vụ, trách nhiệm công dân đối với Tổ quốc.
Thế nhưng với bản chất thù địch, các thế phản động đang ráo riết lợi dụng vấn đề “tôn giáo” coi đó là vũ khí đặc biệt quan trọng để phá hoại, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, làm mất ổn định chính trị - xã hội ở Việt Nam bằng những thủ đoạn và phương thức tinh vi, phức tạp nhằm gây mất ổn định an ninh chính trị, an toàn xã hội trên địa bàn... Sự chống phá quyết liệt của những kẻ cực đoan trong tôn giáo cùng sự “hà hơi, tiếp sức” của các thế lực thù địch bên ngoài đã làm cho một số người nhẹ dạ cả tin trong bà con giáo dân lầm tưởng rằng việc làm đó là đi theo “tiếng gọi của Chúa”, để rồi nghe lời xúi giục, bị kích động và tham gia vào những hoạt động trái pháp luật.
Chúng ta hãy cảnh giác, chủ động và tích cực đấu tranh lật tẩy những mưu đồ đen tối của những kẻ trá hình đội lốt tôn giáo trước ánh sáng công lý để bảo vệ và phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế, đem lại cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc cho Nhân dân.


Thứ Hai, 16 tháng 10, 2017

CẢNH GIÁC TRƯỚC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC CỦA KẺ THÙ


Gần đây, lợi dụng chủ trương của Đảng về đẩy mạnh đấu tranh chống tham nhũng, chống “lợi ích nhóm”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, các thế thực tìu địch lớn tiếng cho rằng: “Tất cả những chuyện về suy thoái, chuyện về “diễn biến”, rồi “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, hay điều gì đó, thì chỉ nhằm “triệt phe phái”, là “tranh nhau ghế”; rằng Hội nghị Trung ương 4 là biểu hiện của sự “bế tắc” giải pháp cho các vấn đề xã hội … Các thế lực thù địch, phản động lợi dụng những vụ việc, sự kiện cụ thể để xuyên tạc, để “lái” nhận thức xã hội về cuộc đấu tranh chống tham nhũng, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của Đảng ta sang mục tiêu phủ nhận vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam. Có thể khẳng định rằng, tất cả những luận điệu của họ đều xuyên tạc sự thật, phá hoại chính cuộc đấu tranh này; đồng thời nhằm chia rẽ nội bộ Đảng, Nhà nước, mối quan hệ giữa Đảng ta với nhân dân. Và mục tiêu cuối cùng của chúng là chuyển hóa chế độ ta sang mô hình “dân chủ, nhân quyền”, “đa nguyên, đa đảng” ngoại nhập.
Với tinh thần thẳng thắn, Đảng đã phân tích, nhận thức sâu sắc sự nguy hiểm của tình trạng suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống trong đội ngũ cán bộ, đảng viên. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: “Từ suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống dẫn tới “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nguy hiểm khôn lường, có thể dẫn tới tiếp tay, hoặc câu kết với các thế lực xấu, thù địch, phản bội lại lý tưởng và sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc”. Chính vì vậy, Đảng ta đang đẩy mạnh công tác xây dựng chỉnh, chỉnh đốn với quyết tâm chính trị cao nhất, bằng những biện pháp có bài bản, từng bước, vững chắc để xứng đáng với vai trò của mình và niềm tin của nhân dân. Tực hiện chỉ đạo của Trung ương, nhiều vụ án lớn đã được đưa ra xét xử trong thời gian qua, những vấn đề tiêu cực ở nhiều bộ, ngành, địa phương đang được xử lý kiên quyết, được nhân dân hoan nghênh, tin tưởng và đồng thuận. Đông đảo cán bộ, nhân dân ta xác định, mặc dù xã hội ta vẫn còn những vấn đề phải giải quyết, thậm chí có cả những vấn đề bức xúc, nhưng không có lực lượng chính trị nào có đủ lương tâm, trí tuệ và sức mạnh hơn Đảng Cộng sản Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng, hoàn thiện chế độ xã hội và bảo vệ Tổ quốc.