Mở rộng hợp tác quốc tế về quốc phòng, góp phần nâng
cao vị thế, uy tín quốc tế của Quân đội, đất nước, vượt qua thách thức, ngăn ngừa
nguy cơ xung đột, chiến tranh. Triển khai thực hiện Chiến lược Hội nhập quốc tế
và Đối ngoại quốc phòng của Đảng, thực hiện kế sách giữ nước từ sớm, từ xa bằng
các biện pháp hòa bình, bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc, bảo đảm bình đẳng
cùng có lợi; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước, kết
hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, tạo sức mạnh tổng hợp để bảo vệ đất
nước. Theo đó, Việt Nam cần tăng cường và mở rộng hợp tác, xây dựng lòng tin với
các đối tác, nhất là đối tác chiến lược, các nước lớn, láng giềng, trong khu vực,
bạn bè truyền thống, tập trung vào các lĩnh vực mà các bên có thế mạnh. Chủ động
tham gia hợp tác đa phương về quốc phòng, hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp
quốc, huấn luyện, diễn tập chung về hỗ trợ nhân đạo, tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn,
hợp tác khắc phục hậu quả chiến tranh. Trong hoạt động đối ngoại, cần tranh thủ
tối đa sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế, nhất là trong đấu tranh bảo
vệ chủ quyền biên giới, biển, đảo. Nâng cao tính chiến đấu, kiên quyết giữ vững
các nguyên tắc chiến lược, nhưng khôn khéo, mềm dẻo về sách lược, không làm tổn
hại đến lợi ích quốc gia - dân tộc, độc lập, chủ quyền của đất nước. Cần cảnh
giác đề phòng trước sự thỏa hiệp của các nước lớn, không mắc mưu khiêu khích của
nước ngoài, nhất là các thế lực thù địch, kiên quyết, kiên trì giải quyết các
tranh chấp, bất đồng bằng biện pháp hòa bình, không để hình thành mâu thuẫn, tạo
cớ để nước ngoài và các thế lực thù địch lợi dụng gây xung đột, chiến tranh.
Thứ Hai, 8 tháng 6, 2020
KIÊN ĐỊNH ĐƯỜNG LỐI QUỐC PHÒNG TOÀN DÂN, CHIẾN TRANH NHÂN DÂN TRONG XÂY DỰNG NỀN QUỐC PHÒNG TOÀN DÂN
Có thể khẳng định, một cuộc chiến tranh nhân dân đích
thực thì không một thế lực nào có thể đánh bại được. Một cuộc chiến tranh nhân
dân như vậy cần phải chuẩn bị chu đáo mọi mặt ngay trong thời bình, xây dựng nền
quốc phòng toàn dân vững mạnh là cơ sở quan trọng để loại trừ chiến tranh. Sức
mạnh được chuẩn bị trước cùng với khả năng sẵn sàng chiến đấu của đất nước – tiềm
lực quốc phòng là điều kiện tiên quyết để giành thắng lợi khi chiến tranh xảy
ra. Theo đó, xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh cần được tiến hành toàn
diện, kiên quyết, triệt để ngay từ thời bình. Coi trọng xây dựng tiềm lực chính
trị, tinh thần, phát huy cao độ lòng yêu nước, ý chí kiên cường, bất khuất của
người dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước trong thực
hiện nhiệm vụ quốc phòng. Phát triển kinh tế nhanh, bền vững, không ngừng tăng
cường tiềm lực cho quốc phòng, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa của nền
kinh tế, độc lập, tự chủ trong hợp tác quốc tế về kinh tế. Nâng cao hiệu quả,
hiệu lực trong kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường quốc phòng,
an ninh; ứng dụng thành quả của khoa học công nghệ, phát triển công nghiệp quốc
phòng và trang bị ngày càng tốt hơn cho lực lượng vũ trang.
TĂNG CƯỜNG SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG, NÂNG CAO HIỆU LỰC, HIỆU QUẢ QUẢN LÝ CỦA NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI QUỐC PHÒNG
Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, nâng cao hiệu lực, hiệu
quả quản lý của Nhà nước đối với quốc phòng. Giữ vững sự lãnh đạo tuyệt đối,
trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với sự nghiệp quốc phòng, tăng cường hiệu lực,
hiệu quả quản lý của Nhà nước, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng
“thế trận lòng dân”, nền tảng chính trị, tinh thần là nhân tố quyết định thắng
lợi của sự nghiệp quốc phòng. Vì thế, phải tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo,
sức chiến đấu của Đảng, nhất là năng lực nắm bắt, đánh giá, dự báo tình hình và
ra các quyết định có tính đột phá, vượt trội về quốc phòng; năng lực hoạch định
đường lối, thể chế hóa và tổ chức thực hiện chủ trương, nghị quyết về quốc
phòng. Để thực hiện được điều đó, Đảng ta phải thực sự trong sạch, vững mạnh, bản
lĩnh, trí tuệ, đoàn kết, kỷ cương, gắn bó mật thiết với nhân dân, kiên quyết đấu
tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối
sống và các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, tham nhũng, v.v. Nâng
cao hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước và hoạt động của chính quyền các cấp,
thực hiện nghiêm Hiến pháp, Luật Quốc phòng, Chiến lược Quốc phòng cả trong thời
bình và thời chiến. Thường xuyên củng cố, kiện toàn cơ quan, cán bộ làm công
tác quốc phòng ở các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan trực thuộc Chính phủ; coi trọng
quản lý Nhà nước về quốc phòng theo pháp luật, kiên quyết đấu tranh chống các
nhận thức sai trái, đề cao lợi ích kinh tế, coi nhẹ lợi ích quốc phòng. Ngoài
ra, cần phát huy cao độ vai trò của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đặc biệt là
trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội và nhân dân
trong thực hiện nhiệm vụ quốc phòng. Một Đảng bản lĩnh, trí tuệ, hệ thống chính
trị trong sạch, vững mạnh, nhân dân đồng lòng, Quân đội trung thành, tin cậy
thì không một thế lực nào có thể xâm phạm được, đây là nhân tố bên trong, cơ bản,
quan trọng, quyết định đối với quốc phòng.
QUỐC PHÒNG TỐI ƯU CỦA VIỆT NAM LÀ KHÔNG PHẢI TIẾN HÀNH CHIẾN TRANH
Việt Nam là dân tộc yêu chuộng hòa bình, luôn coi
trọng giữ vững ổn định bên trong và hòa hiếu, hữu nghị với các quốc
gia, dân tộc khác để xây dựng và phát triển đất nước. Dưới sự lãnh đạo của
Đảng Cộng sản Việt Nam, nhân dân Việt Nam, trong đó Quân đội nhân dân
là lực lượng nòng cốt xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững chắc, nhằm ngăn
ngừa nguy cơ chiến tranh, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa và nền hòa
bình bền vững mà không phải tiến hành chiến tranh. Đó là mục tiêu cơ bản,
tối thượng của quốc phòng Việt Nam.
CẢNH GIÁC VỚI THỦ ĐOẠN LỢI DỤNG GÓP Ý VÀO CÁC VĂN KIỆN ĐẠI HỘI XIII CỦA ĐẢNG ĐỂ CÔNG KÍCH, XUYÊN TẠC VỀ CÔNG TÁC NHÂN SỰ.
Để chuẩn bị cho Đại hội, công tác quy hoạch nguồn cán
bộ được cấp ủy, tổ chức đảng các cấp chuẩn bị chặt chẽ, thống nhất. Căn cứ kế
hoạch tổng thể, cán bộ trong diện quy hoạch được cử đi đào tạo, bồi dưỡng,
luân chuyển công tác để rèn luyện, thử thách qua thực tiễn, với nhiều cương vị
công tác từ thấp đến cao. Quá trình này được các cấp tiến hành chặt chẽ, bảo đảm
dân chủ, khách quan, công khai, minh bạch; kiên quyết không để những người có
tham vọng quyền lực, chạy chức, chạy quyền, chạy cơ cấu, bè phái, cục bộ, lợi
ích nhóm, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”,
“tự chuyển hóa”, quan liêu, tham nhũng,… vào cấp ủy khóa mới. Rõ ràng, đây là
bước chuẩn bị nhân sự chủ động từ sớm, từ xa, khoa học và công khai của các cấp
cho Đại hội XIII. Sự thực đó bác bỏ mọi xuyên tạc cho rằng: quy hoạch nguồn cán
bộ của Đại hội là “thiếu minh bạch”, vì “lợi ích nhóm”; là “xóa bỏ quyền của
các đại biểu dự đại hội”; là “tước đi quyền tự do, dân chủ trong việc ứng cử, đề
cử và bầu cử của các đại biểu dự Đại hội”!, v.v.
Thứ Ba, 2 tháng 6, 2020
NHẬN DIỆN NỘI DUNG TUYÊN TRUYỀN TRONG CÁC “CHIẾN DỊCH” TUYÊN TRUYỀN CHỐNG PHÁ ĐẠI HỘI XIII CỦA ĐẢNG
Nội dung tuyên truyền trong các “chiến dịch” được hướng
theo một chủ đề thống nhất, như: Tuyên truyền chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng;
tuyên truyền chống phá vai trò lãnh đạo của Đảng, đòi xóa bỏ Điều 4 Hiến pháp
2013; tuyên truyền chống phá cương lĩnh, dự thảo các văn kiện Đại hội; tuyên
truyền xuyên tạc nguyên tắc tổ chức, vấn đề nhân sự Đại hội XIII… Chẳng hạn
như, thực hiện chiến dịch chống phá cương lĩnh, dự thảo các văn kiện Đại hội
XIII, nhiều trang mạng của các tổ chức phản động lưu vong và số đối tượng chống
đối trong nước đã đồng loạt tán phát các bài viết có nội dung xuyên tạc cương
lĩnh, đường lối của Đảng. Đồng thời, kêu gọi sửa đổi “toàn diện” văn kiện, đường
lối chính trị theo hướng đa nguyên, đa đảng, xóa bỏ vai trò “độc tôn” của Đảng;
thay đổi hệ thống tổ chức bộ máy Nhà nước; xây dựng nền kinh tế đa sở hữu bắt đầu
từ năm 2021. Có thể thấy rõ ý đồ này qua các bài viết: “Vài suy nghĩ trước thềm
Đại hội XIII”, “Việt Nam: Liệu Đại hội Đảng XIII sẽ có khác biệt?”, “Các nhóm
thân hữu và tắc nghẽn thể chế đang gây hại cho Việt Nam”, “Góp ý chuẩn bị Đại hội
XIII Đảng Cộng sản Việt Nam”, “Về Đảng cầm quyền”, “Bản kiến nghị về Đại hội
XIII”… Cá biệt, có bài viết, đối tượng còn đưa ra “lộ trình” cải cách thể chế ở
Việt Nam theo 2 giai đoạn: Giai đoạn 1: Chuyển đổi Đảng Cộng sản Việt Nam từ Đảng
nắm quyền thành Đảng cầm quyền, với cương lĩnh, điều lệ mới theo hướng hòa giải,
hòa hợp dân tộc và dân chủ hóa đất nước. Giai đoạn 2: Thực hiện cải cách hệ thống
chính trị - nhà nước hiện tại thành nhà nước pháp quyền với Hiến pháp mới và thể
chế chính trị dân chủ đa nguyên.
CẢNH GIÁC VỚI VIỆC LỢI DỤNG VIỆC CHỐNG THAM NHŨNG ĐỂ CHỐNG PHÁ VĂN KIỆN ĐẠI HỘI XIII CỦA ĐẢNG
Tham nhũng vốn là một hiện tượng xã hội gắn
liền với sự hình thành giai cấp, đồng hành và tồn tại ở mọi nhà
nước. Ở Việt Nam, những năm qua, vấn đề này cũng diễn ra hết sức nhức nhối; Đảng
và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, giải pháp quyết liệt phòng, chống rất hiệu
quả tệ nạn đó. Cần khẳng định rằng, không phải đến bây giờ Đảng ta mới đề cập tới
đấu tranh chống tham nhũng, mà vấn đề này Đảng đã nhận thức và cảnh báo từ rất
sớm. Nhìn lại các kỳ đại hội Đảng từ sau đổi mới, các văn kiện Ðảng thường
xuyên đề cập và nêu quyết tâm cao về phòng, chống nguy cơ suy thoái, tham
nhũng, tiêu cực. Ngay từ giữa nhiệm kỳ của Ðại hội VII, Ðảng ta đã xác định:
tham nhũng và các tệ nạn xã hội, cùng với sự tụt hậu xa hơn về kinh tế; chệch
hướng xã hội chủ nghĩa; âm mưu và hành động “diễn biến hòa bình” của các thế lực
thù địch, là bốn nguy cơ của đất nước và chế độ. Tại Đại hội VIII, nhiệm vụ chống
tham nhũng được đặt ra mạnh mẽ hơn (Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 (lần 2) là
minh chứng cụ thể). Các Ðại hội IX, X và nhất là nhiệm kỳ Đại hội XI, với Nghị
quyết Trung ương 4, nhiệm vụ phòng, chống tham nhũng được đặt ra với quyết tâm
chính trị rất cao. Đặc biệt, tại Đại hội XII, nhiệm vụ này được đặt ra rất quyết
liệt, với: “cơ chế phòng ngừa để không thể tham nhũng; cơ chế răn đe, trừng trị
để không dám tham nhũng”1 và “cơ chế bảo đảm để không cần tham nhũng”2. Dưới
sự chỉ đạo trực tiếp của đồng chí Tổng Bí thư, công tác này được tiến hành quyết
liệt, bảo đảm công minh, chính xác, kịp thời, hiệu quả. Tính từ đầu nhiệm kỳ đến
nay, cấp ủy và Ủy ban Kiểm tra các cấp thi hành kỷ luật 1.111 tổ chức đảng,
18.265 cấp ủy viên các cấp và 54.573 đảng viên. Trong đó, Ban Chấp hành Trung
ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư thi hành kỷ luật 08 tổ chức đảng, 45 đảng
viên; Ủy ban Kiểm tra Trung ương thi hành kỷ luật 111 đảng viên;
trong đó, 92 cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý, gồm: 02 Ủy viên Bộ
Chính trị, 21 ủy viên và nguyên ủy viên Trung ương, 38 sĩ quan trong
lực lượng Công an và Quân đội... Nhờ đó, đã góp phần củng cố niềm tin của
cán bộ, đảng viên, nhân dân đối với Đảng và Nhà nước trong phòng, chống tham
nhũng “không có vùng cấm, không có ngoại lệ”; đồng thời, bác bỏ luận điệu cho rằng:
“Độc đảng lãnh đạo không thể chống được tham nhũng”!
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)