Hiển thị các bài đăng có nhãn chiến tranh nhân dân. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn chiến tranh nhân dân. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 29 tháng 3, 2022

QUÂN ĐỘI HÙNG MẠNH – ĐẤT NƯỚC MỚI HÙNG CƯỜNG

Lịch sử cách mạng Việt Nam cho thấy, QĐND Việt Nam luôn là lực lượng nòng cốt BVTQ, trong thế trận chiến tranh nhân dân. Nghệ thuật quân sự Việt Nam ngay từ xa xưa đã thực hiện phép dụng binh “ngụ binh ư nông”- quân gửi trong dân.

Với chức năng, nhiệm vụ của mình, quân đội là lực lượng không thể thay thế, không thể phủ nhận, là công cụ sắc bén, hữu hiệu bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ, lợi ích quốc gia, dân tộc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ XHCN.

Trong khi đó, tính chất, yêu cầu nhiệm vụ BVTQ trong điều kiện mới ngày càng cao; tình hình thế giới, khu vực diễn biến phức tạp, mau lẹ, tiềm ẩn nhiều nguy cơ tác động đến nhiệm vụ BVTQ. Các vấn đề xung đột, tranh chấp chủ quyền biển, đảo, biên giới diễn ra phức tạp.

Các thế lực thù địch đẩy mạnh chống phá cách mạng Việt Nam, kích hoạt sự “chuyển màu” về chế độ, cố tình hạ bệ vai trò của Đảng và QĐND Việt Nam... Trước tình hình đó, nếu Việt Nam không có một đội quân thực sự “Cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại” thì liệu nhiệm vụ BVTQ có thể bảo đảm trong mọi tình huống, nhằm tạo môi trường hòa bình, ổn định, làm nền tảng cho sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước?

Thực tế cho thấy, kể từ sau ngày đất nước hoàn toàn giải phóng, Bắc Nam sum họp một nhà, thì vẫn chưa có bất kỳ phút giây những người lính Cụ Hồ được ngơi nghỉ trong cuộc chiến giữ hòa bình, ấm no, hạnh phúc cho nhân dân.

Trong mọi giai đoạn lịch sử, thời kỳ phát triển, quân đội luôn là lực lượng đi đầu và khẳng định những đóng góp to lớn đối với sự nghiệp cách mạng, nhất là trong suốt hành trình hơn 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện đất nước.

Vậy nên, với chức năng, nhiệm vụ được giao, QĐND Việt Nam-lực lượng nòng cốt BVTQ rất cần những đầu tư tương xứng để có đủ tiềm lực, thực lực và sức mạnh bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước, nhân dân giao phó.

Ở đây, cần hiểu đúng và đủ về chủ trương xây dựng nền quốc phòng toàn dân và đặt nhiệm vụ xây dựng quân đội trong mối quan hệ tổng thể xây dựng 3 thứ quân: Bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân tự vệ. Trong đó, với tầm nhìn chiến lược, các lực lượng phải từng bước được đầu tư để hiện đại hóa, chính quy hóa, nhưng trên hết và trước hết phải ưu tiên xây dựng QĐND Việt Nam trong mối quan hệ với các bộ phận, lực lượng khác của LLVT.

Bởi thế, trong nhiều năm qua, Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương luôn nhất quán quyết tâm xây dựng quân đội cách mạng, nhưng đồng thời phải tiến lên chính quy, tinh nhuệ, hiện đại. Nghị quyết Trung ương các khóa XI, XII, XIII, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ IX, X, XI đều xác định phải đẩy nhanh tiến độ, chất lượng từng bước tiến lên hiện đại, ưu tiên xây dựng một số lực lượng trong quân đội tiến thẳng lên hiện đại.

Đại hội XIII của Đảng nêu rõ mục tiêu phấn đấu: Đến năm 2025, cơ bản xây dựng quân đội, tinh, gọn, mạnh, tạo tiền đề vững chắc, phấn đấu năm 2030 xây dựng QĐND cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại... Đó là mục tiêu khách quan, đòi hỏi tất yếu của sự nghiệp BVTQ. Do đó, việc tập trung quan tâm, đầu tư nguồn lực cho xây dựng quân đội là nhiệm vụ chính trị của toàn Đảng, toàn dân và sự nghiệp cách mạng.

Thứ Năm, 18 tháng 6, 2020

BẢO VỆ TƯ TƯỞNG CỦA V.I.LÊNIN TIẾN HÀNH CHIẾN TRANH NHÂN DÂN BẢO VỆ TỔ QUỐC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

Hiện nay, có nhiều quan điểm khác nhau cho rằng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam phải dựa vào một lực lượng nào đó ở bên ngoài mới thực sự vững chắc, bảo đảm sự thành công của chủ quyền lãnh thổ, biển đảo trước nguy cơ áp đặt của các nước lớn. Hoặc là, phải giao cho chính quyền thân Mỹ trước đây sống lưu vong ở nước ngoài để duy trì sự tồn vong của đất nước… Tất cả những quan điểm đó là hoàn toàn sai lầm, là lừa bịp nhân dân, hòng thực hiện những mưu đồ chính trị đen tối, bởi lẽ Đảng và nhân dân ta đã trung thành với chủ nghĩa Mác – Lênin, coi học thuyết Bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa của V.I.Lênin là một cẩm nang không chỉ được kiểm chứng trong chiến tranh cách mạng trước đây mà trong cả tương lai khi chiến tranh xảy ra.

Thứ Hai, 8 tháng 6, 2020

KIÊN ĐỊNH ĐƯỜNG LỐI QUỐC PHÒNG TOÀN DÂN, CHIẾN TRANH NHÂN DÂN TRONG XÂY DỰNG NỀN QUỐC PHÒNG TOÀN DÂN

Có thể khẳng định, một cuộc chiến tranh nhân dân đích thực thì không một thế lực nào có thể đánh bại được. Một cuộc chiến tranh nhân dân như vậy cần phải chuẩn bị chu đáo mọi mặt ngay trong thời bình, xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh là cơ sở quan trọng để loại trừ chiến tranh. Sức mạnh được chuẩn bị trước cùng với khả năng sẵn sàng chiến đấu của đất nước – tiềm lực quốc phòng là điều kiện tiên quyết để giành thắng lợi khi chiến tranh xảy ra. Theo đó, xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh cần được tiến hành toàn diện, kiên quyết, triệt để ngay từ thời bình. Coi trọng xây dựng tiềm lực chính trị, tinh thần, phát huy cao độ lòng yêu nước, ý chí kiên cường, bất khuất của người dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước trong thực hiện nhiệm vụ quốc phòng. Phát triển kinh tế nhanh, bền vững, không ngừng tăng cường tiềm lực cho quốc phòng, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế, độc lập, tự chủ trong hợp tác quốc tế về kinh tế. Nâng cao hiệu quả, hiệu lực trong kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường quốc phòng, an ninh; ứng dụng thành quả của khoa học công nghệ, phát triển công nghiệp quốc phòng và trang bị ngày càng tốt hơn cho lực lượng vũ trang.

Thứ Ba, 17 tháng 3, 2020

BẢO VỆ TƯ TƯỞNG CỦA V.I.LÊNIN TIẾN HÀNH CHIẾN TRANH NHÂN DÂN BẢO VỆ TỔ QUỐC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

Hiện nay, có nhiều quan điểm khác nhau cho rằng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam phải dựa vào một lực lượng nào đó ở bên ngoài mới thực sự vững chắc, bảo đảm sự thành công của chủ quyền lãnh thổ, biển đảo trước nguy cơ áp đặt của các nước lớn. Hoặc là, phải giao cho chính quyền thân Mỹ trước đây sống lưu vong ở nước ngoài để duy trì sự tồn vong của đất nước… Tất cả những quan điểm đó là hoàn toàn sai lầm, là lừa bịp nhân dân, hòng thực hiện những mưu đồ chính trị đen tối, bởi lẽ Đảng và nhân dân ta đã trung thành với chủ nghĩa Mác – Lênin, coi học thuyết Bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa của V.I.Lênin là một cẩm nang không chỉ được kiểm chứng trong chiến tranh cách mạng trước đây mà trong cả tương lai khi chiến tranh xảy ra.

Thứ Ba, 2 tháng 1, 2018

Ý nghĩa cuộc tổng tiến công và nổi dậy mậu thân 1968 với xây dựng chiến tranh nhân dân, bảo vệ Tổ quốc hiện nay

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968 mãi mãi khắc sâu vào lịch sử dân tộc như một bản anh hùng ca bất diệt của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, đồng thời để lại cho chúng ta nhiều bài học kinh nghiệm quý báu về nghệ thuật quân sự để vận dụng, phát triển trong điều kiện mới của chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc.
Một là, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, nắm chắc tình hình; có các chủ trương, đường lối lãnh đạo đúng đắn, sáng tạo phù hợp với thực tiễn phát triển của chiến tranh cách mạng trong điều kiện mới của Việt Nam.
Để bảo vệ vững chắc Tổ quốc, trước hết, không ngừng tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với nền quốc phòng, xây dựng các lực lượng vũ trang nhân dân vững mạnh. Bài học kinh nghiệm của cuộc Tổng tiến công càng cho thấy, Đảng phải có đường lối đúng đắn, sáng tạo, trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, xác định rõ mục tiêu cách mạng, phát triển học thuyết quân sự Việt Nam; xuất phát từ thực tiễn, phân tích tình hình cụ thể để tìm ra quy luật và hành động theo quy luật, nhất là quy luật chiến tranh kiểu mới của địch - chiến tranh vũ khí công nghệ cao.
Cách mạng nước ta hiện nay bên cạnh những nhân tố thuận lợi thúc đẩy quá trình đối mới đất nước, giành nhiều thành tựu quan trọng (đặc biệt khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) và được bầu làm ủy viên không thường trực của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2008 - 2009, uy tín và vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế không ngừng nâng cao), chúng ta cũng đang phải vượt qua nhiều khó khăn, thử thách, nhất là việc các thế lực thù địch chống phá bằng chiến lược "diễn biến hoà bình", gây bạo loạn, lật đổ, âm mưu thúc đẩy "tự diễn biến", tạo cớ can thiệp dưới các hình thức. Vì vậy, đòi hỏi việc phát triển chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc cần có những bước phát triển mới, cả về quy mô, tính chất, yêu cầu các cấp, các ngành phải nhạy bén, sáng tạo, thường xuyên nắm chắc tình hình, xử lý tốt những tình huống phức tạp xảy ra, không để đất nước bị động, bất ngờ về chiến lược. Thường xuyên nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, chủ động đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn thâm độc của kẻ thù, giữ vững ổn định chính trị - xã hội, tăng cường củng cố quốc phòng - an ninh, đẩy lùi nguy cơ chiến tranh, tạo môi trường hoà bình, thuận lợi cho sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước.
Hai là, phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc và yếu tố chính trị - tinh thần.
Xây dựng và phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc là vấn đề có ý nghĩa chiến lược quan trọng tạo nên sức mạnh vô địch trong chiến tranh cũng như trong hoà bình xây dựng, phát triển đất nước. Do đó, cần chăm lo khối đại đại đoàn kết ngay từ thời bình, để "lo giữ nước khi nước còn chưa nguy" theo kinh nghiệm truyền thống của cha ông. Nghị quyết Đại hội X của Đảng chỉ rõ: "Đảng ta luôn coi vấn đề dân tộc và đoàn kết các dân tộc là vấn đề chiến lược, cơ bản, lâu dài của sự nghiệp cách mạng nước ta… là nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu và là nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc".
Xây dựng, phát huy tốt yếu tố chính trị - tinh thần của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta là nhân tố làm chuyển hoá so sánh lực lượng để "lấy ít địch nhiều", "lấy nhỏ thắng lớn", là nét độc đáo của nền nghệ thuật quân sự Việt Nam cần nhân lên trong điều kiện mới. Phát huy yếu tố chính trị - tinh thần trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, khơi dậy tinh thần yêu nước, quả cảm, ý chí quyết tâm chiến đấu, trí thông minh, sáng tạo, truyền thống chống ngoại xâm trong suốt chiều dài lịch sử mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc.
Ba là, xây dựng các khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố vững chắc, làm nền tảng của thế trận chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc.
Thực tiễn sự kiện lịch sử này cho thấy, vai trò quan trọng của lực lượng tại chỗ, của thế trận chiến tranh nhân dân. Do đó, ngay từ thời bình phải chăm lo xây dựng các khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố thành thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân vững chắc, bảo đảm tính toàn diện, nhưng có trọng tâm, trọng điểm, trong đó tập trung xây dựng vững mạnh về chính trị, phát triển vững chắc về kinh tế, ổn định về xã hội. Trên cơ sở tạo thế bố trí chiến lược chung của cả nước, chú trọng vào các khu vực phòng thủ then chốt, các địa bàn chiến lược, vùng biên giới, biển, đảo, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số; gắn kết chặt chẽ giữa kinh tế với quốc phòng và quốc phòng với kinh tế ngay trong từng dự án cũng như trong quy hoạch của từng địa phương và tổng thể cả nước. Chăm lo bảo đảm tốt đời sống của nhân dân, thực hiện dân chủ, nhất là dân chủ ở cơ sở, góp phần xây dựng "thế trận lòng dân" vững chắc. Đồng thời, xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các tổ chức đảng, hiệu lực quản lý, điều hành của chính quyền các cấp. Đẩy mạnh cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng, quan liêu, lãng phí nhằm củng cố vững chắc niềm tin của quần chúng nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa.
Bốn là, phát triển tiềm lực quốc phòng, quân sự.
Phát triển tiềm lực quốc phòng, quân sự tạo ra khả năng về vật chất và tinh thần có thể huy động được cho nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, giữ vững hoà bình, ngăn ngừa mọi âm mưu, hành động gây chiến tranh của các thế lực thù địch, sẵn sàng đánh thắng chiến tranh xâm lược ở mọi quy mô, nếu xảy ra. Sức mạnh của chiến tranh bảo vệ Tổ quốc là sức mạnh tổng hợp, vì vậy, xây dựng tiềm lực quốc phòng, quân sự phải nhằm góp phần tạo ra sức mạnh tổng hợp, chủ động chuẩn bị, gắn liền với mỗi bước tăng trưởng, phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Hiện nay, cần tận dụng những thời cơ thuận lợi của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế để mở rộng quan hệ hợp tác, trao đổi, học tập kinh nghiệm, nhất là về khoa học - kỹ thuật hiện đại, nhằm đi tắt đón đầu, phục vụ sự phát triển công nghiệp quốc phòng, công tác nghiên cứu khoa học quân sự và nghệ thuật quân sự, đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc.
Năm là, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân trong sạch, vững mạnh làm nòng cốt của chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc.

Xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, trước hết là quân đội nhân dân và công an nhân dân chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, xứng đáng là lực lượng chính trị tuyệt đối trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân, làm nòng cốt trong sự nghiệp củng cố quốc phòng - an ninh, bảo vệ Tổ quốc. Đồng thời, phát huy sức mạnh tổng hợp của quần chúng nhân dân, các lực lượng và cả hệ thống chính trị, trong đó lực lượng vũ trang ba thứ quân đóng vai trò chủ đạo. Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X xác định: "Nâng cao chất lượng tổng hợp, sức chiến đấu để lực lượng vũ trang thật sự là lực lượng chính trị trong sạch, vững mạnh, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân, được nhân dân tin cậy, yếu mến". Theo đó, chúng ta phải thường xuyên xây dựng quân đội vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng, tổ chức, có số lượng và cơ cấu hợp lý, có chất lượng tổng hợp, sức chiến đấu ngày càng cao, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Trong quá trình xây dựng quân đội phải coi trọng cả lực lượng thường trực, lực lượng dự bị động viên, dân quân tự vệ, nhằm đáp ứng tốt yêu cầu ngày càng cao của cách mạng./.

Vai trò của thế trận chiến tranh nhân dân trong chiến dịch “Điện Biên Phủ trên không”

Giữ vị trí trọng yếu về nhiều mặt, trong 12 ngày đêm cuối năm 1972, Hà Nội lại một lần nữa oằn mình chống chọi với các cuộc tấn công đánh phá của kẻ thù. Trong khói bom lửa đạn, truyền thống yêu nước, truyền thống đoàn kết được hun đúc qua hàng ngàn năm lịch sử, đặc biệt là thế trận toàn dân đánh giặc được quân và dân Thủ đô phát huy cao độ.
Thế trận chiến tranh nhân dân ở Hà Nội được triển khai đa dạng, nhiều tầng, nhiều lớp với nhiều hình thức phong phú. Trước khi cuộc tập kích bắt đầu, chính quyền thành phố Hà Nội đã tổ chức sơ tán khoảng 30 vạn người ra khỏi nội thành. Sau đêm 18-12-1972, đêm đầu tiên máy bay B52 “rải thảm”, lệnh sơ tán khẩn cấp và triệt để được thông báo tới toàn dân. Những dòng người hối hả rời Thủ đô. Họ tỏa về các vùng nông thôn, tìm đến vòng tay đùm bọc, che chở của bà con ven thị thành. Tuy không khí vội vã, nhưng hàng chục vạn người đã ra đi trong trật tự an toàn. Những người ở lại Hà Nội yên tâm bám trụ và sẵn sàng chiến đấu sinh tử với quân thù.
Không chỉ tổ chức cho nhân dân sơ tán, để triển khai thế trận chiến tranh nhân dân hiệu quả, chính quyền Hà Nội đã tổ chức hệ thống còi báo động rộng khắp. Do đó, mỗi khi nhận được lệnh máy bay địch xâm phạm vào vùng trời nước ta, còi báo động trong thành phố vang lên từng hồi liên tục. Các loa phóng thanh trên mọi nẻo đường truyền đi tiếng nói điềm tĩnh, dõng dạc của phát thanh viên: Đồng bào chú ý! Đồng bào chú ý! Máy bay địch cách Hà Nội một trăm cây số. Lực lượng vũ trang về vị trí chiến đấu, mọi người dân nhanh chóng đến nơi ẩn nấp. Lúc này, cả thành phố sẵn sàng chiến đấu!
Cùng với quá trình triển khai sơ tán và tổ chức báo động, Hà Nội đã phát động phong trào toàn dân bắn máy bay địch, lấy lực lượng phòng không ba thứ quân làm nòng cốt, xây dựng và phát triển phòng không của dân quân tự vệ. Hai lực lượng phòng không của dân quân tự vệ Hà Nội được tổ chức hiệu quả, đó là lực lượng trực chiến, gồm các tổ bắn máy bay thấp, bố trí và cơ động trên các trận địa đã chọn lựa và lực lượng không trực chiến, vừa tiến hành sản xuất, vừa sẵn sàng chiến đấu, khi có báo động thì triển khai tại các công sự đã chuẩn bị trước để bắn máy bay địch. Theo tính toán, trong 12 ngày đêm, lực lượng chiến đấu, phục vụ chiến đấu của tự vệ Hà Nội, lúc cao điểm, lên tới gần 54.000 người, sử dụng trên 500 súng trung liên, đại liên và súng máy cao xạ, triển khai tại 295 trận địa.
Điểm nổi bật thể hiện thế trận chiến tranh nhân dân là hình ảnh toàn dân làm công tác bảo đảm giao thông, vận chuyển. Hà Nội vốn là địa bàn tập trung các đầu mối giao thông đường bộ, đường sắt, đường sông của miền Bắc, có nhiều kho tàng lớn. Do đó, bảo đảm giao thông vận tải trở thành một mặt trận sôi động và ác liệt. Khi cuộc đánh phá của không quân Mỹ bắt đầu, Hà Nội xác định phải kiên quyết bảo đảm giao thông vận tải thông suốt, liên tục, an toàn để phục vụ sản xuất, sẵn sàng chiến đấu.
Để giành thắng lợi trên mặt trận này, Hà Nội đã phát huy vai trò nòng cốt lực lượng giao thông vận tải chuyên nghiệp và lực lượng công binh làm nhiệm vụ xung kích ở những trọng điểm bị địch đánh phá. Bên cạnh đó, chính quyền thành phố triển khai rộng rãi lực lượng bảo đảm giao thông vận tải không chuyên, bao gồm các tổ ứng trực và khắc phục hậu quả ở các tuyến giao thông, các bến vượt, các cầu nhỏ với sự tham gia của dân quân tự vệ.
Việc tổ chức và kết hợp chặt chẽ các hoạt động của hai lực lượng không chuyên và lực lượng chuyên nghiệp trên mặt trận giao thông vận tải là sự vận dụng sáng tạo nghệ thuật chỉ đạo bảo đảm giao thông vận tải trong chiến tranh nhân dân chống lại kẻ thù. Do làm tốt công tác này, dù các mục tiêu giao thông vận tải trên địa bàn thành phố bị đánh phá liên tục, nhưng lực lượng bảo đảm giao thông vận tải của chiến tranh nhân dân đã kiên cường bám trụ, kịp thời khắc phục hậu quả, bảo đảm được sự thông suốt trên các tuyến chính, phục vụ sản xuất và ổn định đời sống nhân dân. Dưới những đợt B52 rải thảm, vắt qua sông Đuống, sông Hồng vẫn có những chiếc cầu phao và cầu treo sừng sững, cùng những chuyến phà ngày đêm qua lại, giữ vững mạch máu giao thông, bảo đảm chi viện các trận địa đánh địch.  
Sức mạnh đoàn kết
Ngợi ca sự anh dũng, quả cảm của quân dân Hà Nội, một số khách nước ngoài từng ở Việt Nam trong những ngày khói lửa, đã nhận thấy trên gương mặt người Hà Nội hiện lên vẻ điềm tĩnh lạc quan và niềm tự tin đáng khâm phục. Phóng viên Mỹ Rai-bâu (Rainbow) viết trên tờ Tin nhanh mô tả: Nét mặt của họ có một vẻ đẹp tự nhiên, một vẻ bình tĩnh thư thái mà tôi chưa từng thấy ở bất cứ nơi nào khác. Nhưng đáng khâm phục hơn, trong tiếng bom đạn rung trời chuyển đất và trong những đống đổ nát tan hoang trên mảnh đất “Thăng Long chiến địa”, người ta bỗng thấy những tốp thanh niên, nam nữ lao nhanh về các trận địa phòng không, giúp bộ đội tiếp đạn, tải thương, thay lá ngụy trang, khắc phục hậu quả; các bà mẹ tay xách, nách mang những rổ trái cây, những ấm nước chè xanh đến từng khẩu đội thăm hỏi, động viên các pháo thủ. Giữa những ngôi nhà sụp đổ, cạnh những đống lửa đang bốc cháy lên rừng rực, bóng các anh công an áo vàng, những chị em y tá, cứu thương, những đội viên dân phòng nhanh chóng xuất hiện, hối hả đào bới, cứu những người bị sập hầm, băng bó, chữa ngạt cho những người bị nạn, cứu những căn nhà bị cháy hoặc tháo gỡ những quả bom đang chờ nổ.
Cũng trong 12 ngày đêm đầy khói lửa này, những sân bay MIG, trận địa tên lửa, trận địa cao xạ trên địa bàn Hà Nội trở thành những mục tiêu tấn công của không quân Mỹ để triệt phá những đường băng, xóa sổ những chốt thép kiên cường trên mặt đất. Nhưng chỉ ít phút sau khi sân bay và trận địa bị bom Mỹ cày xới đã có ngay những lực lượng cứu trợ của nhân dân, không nề nguy hiểm, phối hợp với bộ đội công binh, nhanh chóng san lấp các hố bom, sửa chữa những đường băng, ụ pháo để cho máy bay tiếp tục cất cánh, cho đạn tên lửa và đạn cao xạ vạch trời lao đi tìm diệt máy bay địch.
Đồng hành cùng nhân dân Hà Nội, đồng bào Sài Gòn, bà con ruột thịt miền Nam và nhân dân cả nước luôn dõi theo và hòa nhịp vào bản hợp xướng của thế trận chiến tranh nhân dân đánh địch. Ở Hải Phòng, quân và dân nơi đây đã anh dũng chiến đấu, đánh thắng oanh liệt cuộc tập kích của đế quốc Mỹ; trực tiếp bắn rơi 17 máy bay các loại, trong đó có 4 máy bay chiến lược B52, 1 máy bay F111. Tại Thái Nguyên, quân và dân Thái Nguyên bắn rơi 2 máy bay B52 của địch. Tính chung trong 12 ngày đêm, quân và dân ta đã bắn rơi 81 máy bay Mỹ, trong đó có 34 máy bay B52, 5 máy bay F111 và 42 máy bay chiến thuật khác. Bị thất bại nặng nề, đế quốc Mỹ buộc phải kết thúc cuộc tập kích, trở lại bàn đàm phán Pa-ri, ký Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam vào ngày 27-1-1973.
Đứng trên bình diện tổng thể, thắng lợi “Điện Biên Phủ trên không” có sự đóng góp to lớn của thế trận chiến tranh nhân dân. Trong thế trận đó, một cao trào toàn dân làm công tác phòng tránh, toàn dân bắn máy bay địch, toàn dân làm công tác giao thông vận tải, toàn dân hợp tác và giúp đỡ bộ đội chiến đấu,… đã được kết hợp nhuần nhuyễn; cộng với trí thông minh, lòng dũng cảm của chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam đã góp phần quyết định thực hiện thắng lợi chiến lược “đánh cho Mỹ cút” và chuẩn bị đầy đủ tiền đề tiến đến “đánh cho Ngụy nhào”, hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Đã 45 năm trôi qua, nhưng giá trị của thế trận chiến tranh nhân dân chống lại cuộc tập kích chiến lược của Mỹ cuối tháng 12-1972 vẫn mang đầy đủ tính lý luận và thực tiễn sâu sắc. Những bài học đúc kết này vẫn luôn được vận dụng sáng tạo trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hôm nay và mai sau./.